Nếu như nhà thơ Nguyễn Bính say sưa và bất ngờ thốt lên :“Mùa xuân là cả một mùa xanh” thì điều đầu tiên đã làm rung động, chạm đến tâm hồn Thanh Hải chính là sắc tím của bông hoa.(2) B[r]
Trang 2LT: CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN
VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ
Trang 3MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1 Kiến thức: Giúp HS:
- Khắc sâu kiến thức về kiểu bài NL về một đoạn / bài thơ.
- Nắm vững hơn về cách làm bài văn NL về một đoạn/ bài thơ.
2 Kĩ năng:
- Rèn các kĩ năng làm bài văn NL về một đoạn/ bài thơ.
- Rèn kĩ năng nêu và triển khai luận điểm.
3 Thái độ:
- HS chủ động, tự giác, tích cực trong việc rèn kĩ năng viết đoạn/ bài văn NL về một đoạn / bài thơ.
Trang 4- Nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ( tư tưởng, tình cảm, nghệ thuật ) được thể hiện qua ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu Ta cần phân tích các yếu tố ấy để có những nhận xét, đánh giá cụ thể, xác đáng.
- Bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần có bố cục mạch lac, rõ ràng;
có lời văn gợi cảm, thể hiện rung động chân thành của người viết.
I Củng cố kiến thức
1 Khái niệm:
- Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là trình bày nhận xét, đánh giá của mình về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ ấy.
Trang 5
- Muốn rút ra những nhận xét, đánh giá về tư tưởng, tình cảm, nghệ thuật của
đoạn thơ, bài thơ – ta phải khám phá về vẻ đẹp và ý nghĩa biểu đạt của ngôn
ngữ thơ, hình ảnh, nhịp thơ, giọng điệu và giá trị của các biện pháp nghệ thuật( chọn bình câu chữ, hình ảnh, giọng điệu, nhịp thơ, cách gieo vần ).
- Người viết vừa phải nắm vững phương pháp làm bài văn nghị luận văn
học( xây dựng bố cục mạch lạc, rõ ràng; cách lập luận chặt chẽ; nêu và giải quyết
luận điểm 1 cách lôgic ), vừa phải có năng lực cảm thụ văn chương( khả năng
thẩm bình để tìm được cái hay, cái đẹp trong thơ).
- Phải hiểu đúng, hiểu sâu về tác phẩm thì mới có được những cảm nhận, đánh giá của mình về những giá trị đặc sắc của tác phẩm.
- Phải biết kết hợp hài hòa giữa nêu ý kiến khái quát (luận điểm)với phân tích,
nhận xét và thẩm bình cụ thể ; lời văn gợi cảm, thể hiện sự rung động chân thành của người viết.
- Có thể trích dẫn ý kiến của người khác để bài viết thêm sâu sắc, sinh động.
* LƯU Ý
Trang 62 Đề bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.
Có mệnh lệnh cụ thể Không có mệnh lệnh.
Mệnh lệnh + Vấn đề
nghị luận
Mệnh lệnh + Tên bài thơ ( đoạn thơ)
Vấn đề nghị luận
Đề bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ
Trang 7Đề 1:Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về tình đồng đội của những
người chiến sĩ lái xe được thể hiện trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”
Có mệnh lệnh, có vấn đề nghị luận, có tên bài thơ
Đề 2:Viết đoạn văn về tình đồng đội của những người chiến sĩ lái xe được thể hiện
trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính ”
Có vấn đề nghị luận, có tên bài thơ
Đề 3:Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”
Có mệnh lệnh, có tên bài thơ
Đề 4:Viết đoạn văn về tình đồng đội của những người chiến sĩ lái xe
Có vấn đề nghị luận
Cho các đề sau:
Trang 83 Cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.
* Bước 2: Tìm ý
- Đọc kĩ đoạn thơ, bài thơ nhiều lần , đọc liền mạch từ đầu đến cuối bài
để nắm được nội dung, mạch cảm xúc chính, từ đó rút ra những nhận xét đúng đắn(cảm xúc chủ đạo của bài)
- Tìm xem cảm hứng chủ đạo đó được biểu hiện cụ thể ở những điểm nào( có mấy ý chính - luận điểm)
- Phát hiện các chi tiết nghệ thuật được biểu hiện trong từng luận điểm
đó Chỉ ra biện pháp nghệ thuật và phân tích tác dụng của chúng.
* Bước 1: Tìm hiểu đề
- Xác định thể loại: ( Trong đề bài nghị luận về 1 đoạn thơ, bài thơ thường
có những từ sau: phân tích, cảm nhận, suy nghĩ).
- Vấn đề cần nghị luận: (đề tài, nội dung của đề)
- Phạm vi nghị luận: do đề yêu cầu hoặc người viết tự lựa chọn.
a Các bước làm bài:
Trang 9- KB: Khái quát giá trị, ý nghĩa của đoạn thơ, bài thơ
+ Các luận điểm được cụ thể hóa thành các luận cứ, trình bày bằng thao tác phân tích (hoặc bình giảng) có kết hợp với các phép lập luận chính của văn nghị luận: giải thích, chứng minh, bình luận
* Bước 4: Viết bài.( Triển khai dàn ý vừa lập thành các đoạn văn, bài văn)
* Bước 5: Đọc lại bài văn và sửa lỗi.
b Cách tổ chức, triển khai luận điểm:
- Nêu các nhận xét, đánh giá và sự cảm nhận riêng của người viết gắn với sự phân tích, bình giá ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu, nội dung cảm xúc của tác phẩm
Trang 10- Các luận điểm cần được xây dựng rõ ràng, hợp lý, có sự liên kết chặt chẽ và cùng làm sáng tỏ vấn đề nghị luận.
- Mỗi luận điểm được triển khai trong một đoạn văn theo phép lập luận phù hợp với bố cục và mạch cảm xúc của bài
- Những suy nghĩ, cảm nhận luôn gắn với sự phân tích, bình giảng cụ thể; tập trung phân tích những hình ảnh, chi tiết tiêu biểu, đặc sắc làm điểm nhấn
- Tình cảm chân thành; thể hiện sự rung cảm tha thiết với tác giả, tác phẩm
Lưu ý:
Trang 11II Luyện tập
1 BT1: Hình tượng người lính trong bài “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật
a Tìm hiểu đề:
- Dạng đề: Đề không có mệnh lệnh – người viết tự xác định
- Thao tác nghị luận: phân tích, chứng minh, bình luận, đối sánh văn học, liên hệ, rút
ra bài học cho bản thân
- Phạm vi NL: 1 nội dung trong bài thơ: hình tượng người lính trong bài “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính”
b Tìm ý:
- Giải thích: hình tượng, đặc điểm của hình tượng văn học?
- Hình tượng người lính có tầm quan trọng đặc biệt trong cuộc k/c và trở thành biểu tượng đẹp cho tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mĩ hào hùng
- Những nét đẹp của hình tượng người lính trong “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính” Nét đẹp ấy được thể hiện qua những hình ảnh, chi tiết đặc sắc nào? giọng điệu, các biện pháp nghệ thuật gì? …
- Bàn luận, đánh giá, liên hệ - khẳng định hình tượng người lính trong bài thơ là cao đẹp, giàu ý nghĩa
Trang 12c Lập dàn ý.
Dàn ý đại cương a.Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
- Cảm nhận chung về hình tượng người lính trong “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính”
b Thân bài
* Giải thích: hình tượng, đặc điểm của hình tượng văn học?
* Hình tượng người lính trong “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính” đã được nhà thơ Phạm Tiến Duật khắc họa bằng chất liệu hiện thực sống động của cuộc sống chiến trường với ngôn ngữ và giọng điệu thơ tự nhiên, khỏe khoắn, ngang tàng để tạo nên một hình tượng điển hình về người lính Trường Sơn thời chống Mĩ với những nét đẹp tuyệt vời Họ đã trở thành biểu tượng đẹp cho tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mĩ hào hùng.
* Những nét đẹp của hình tượng người lính trong “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính” :
- Tư thế hiên ngang, ung dung, tự tin, tự hào và đầy chất lãng mạn của người lính lái xe ( Khổ 1,2)
- Thái độ bất chấp, coi thường khó khăn, gian khổ, hiểm nguy; tâm hồn sôi nổi, trẻ trung của người lính.( Khổ 3,4)
- Tình đồng chí, đồng đội vô cùng sâu sắc, keo sơn.( Khổ 5.6)
- Lòng yêu nước cháy bỏng và ý chí quyết tâm chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam.( Khổ 7)
* Đánh giá
c Kết bài:
- Khẳng định giá trị, ý nghĩa của bài thơ.
- Liên hệ, rút ra bài học.
Trang 13Dàn ý chi tiết phần TB
* Giải thích: Hình tượng chính là hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng; là những đặc điểm, phẩm chất của một sự vật, nhân vật nào đó mà nhà văn muốn tập trung thể hiện Hình tượng văn học vừa mang tính khái quát, vừa mang những nét cụ thể, cá biệt, do đó nó vừa phản ánh được bản chất của cuộc sống, vừa làm nhân vật hiện lên cụ thể, sinh động như thật
* Hình ảnh người lính lái chiếc xe không kính đã được nhà thơ Phạm Tiến Duật khắc họa bằng chất liệu hiện thực sống động của cuộc sống chiến trường với ngôn ngữ và giọng điệu thơ tự nhiên, khỏe khoắn, ngang tàng để tạo nên một hình tượng điển hình về người lính Trường Sơn thời chống Mĩ với những nét đẹp tuyệt vời Họ đã trở thành biểu tượng đẹp cho tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mĩ hào hùng
* Chân dung người lính lái xe Trường Sơn được tác giả khắc họa qua hình ảnh những chiếc “ xe không kính” Xe không kính là biểu tượng của những khó khăn, thiếu thốn, gian khổ hiểm nguy Song chính cảm hứng về những chiếc xe không kính đã làm nền để nhà thơ ghi lại những khám phá của mình về vẻ đẹp của những chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn thời chống Mỹ Đó là tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, đó còn
là lòng lạc quan, yêu đời, tình đồng chí đồng đội thắm thiết và lòng yêu nước nồng nàn,
lý tưởng chiến đấu cao đẹp
Trang 14- Tư thế hiên ngang, ung dung, tự tin, tự hào và đầy chất lãng mạn của người lính lái xe ( Khổ 1,2):
Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn trời, nhìn đất, nhìn thẳng
→ Câu thơ 6 chữ với nhịp 2/2/2 đều đặn, biện pháp đảo ngữ - đảo từ “ ung dung” lên đứng đầu câu thơ kết hợp với điệp từ “nhìn”, từ gợi cảm “ nhìn thẳng” đã khắc họa lên
tư thế hiên ngang, chủ động, đàng hoàng, tự tin, thanh thản Tư thế ấy là một sự thách thức với bom đạn của kẻ thù
+ Tâm hồn lãng mạn, yêu thiên nhiên:
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
…
Như sa như ùa vào buồng lái
→ hình ảnh tả thực: con đường, sao trời, cánh chim, điệp ngữ “ nhìn thấy”, “ thấy” cùng phép nhân hóa “ gió vào xoa mắt đắng”, h/ả so sánh “ như sa, như ùa” làm hiện lên hoàn cảnh gian khổ, bất lợi đồng thời nhà thơ đã diễn tả chính xác cái cảm giác, ấn tượng mạnh và đột ngột, căng thẳng, đầy thử thách khi ngồi trên chiếc xe lao nhanh về phía trước cùng với sự thú vị, xúc động, khoan khoái Qua đó thể hiện tâm hồn lãng mạn của người lái xe: anh vẫn chủ động chiêm ngưỡng, tận hưởng mọi vẻ đẹp của thiên nhiên Nhịp thơ dồn dập, khỏe khoắn, vừa gợi cảm giác về tốc độ của tiểu đội xe không kính, vừa mở ra tâm trạng hồ hởi, háo hức của người lính trên đường ra trận
Trang 15- Thái độ bất chấp, coi thường khó khăn, gian khổ, hiểm nguy; tâm hồn sôi nổi, trẻ trung của người lính:
Không có kính ừ thì có bụi
… Mưa ngừng gió lùa khô mau thôi
+ Hai câu đầu khổ 3,4: nói về hiện thực nghiệt ngã phải chấp nhận: bụi phun làm đầu tóc, mặt mũi trắng xóa như người già; mưa tuôn làm người ướt sũng Phép
so sánh “ Bụi phun … người già”, “ mưa …trời” -> sự khắc nghiệt của thiên nhiên và chiến trường
+ Hai câu sau khổ 3,4: tinh thần vượt lên khó khăn gian khổ, sự lạc quan, yêu đời
điệp cấu trú ngữ pháp: “ Không có kính, ừ thì…” và điệp ngữ “chưa cần” ->
giọng điệu ngang tàng, đùa tếu, làm bật lên thái độ thách thức, bất chấp gian khổ, hiểm nguy của người lính
từ láy “ phì phèo” -> sự tinh nghịch, trẻ trung; cười “ha ha” -> sảng khoái,
thích thú.-> trẻ trung, sôi nổi,lạc quan yêu đời
Ngôn ngữ giản dị, đậm chất khẩu ngữ, giọng điệu thản nhiên.
-> Hình ảnh người lính vừa mang nét đẹp giản dị, phong trần, vừa có nét kiêu hùng, lãng mạn
Trang 16- Tình đồng chí, đồng đội vô cùng gắn bó, sâu sắc, keo sơn:
Những chiếc xe từ trong bom rơi
… Lại đi, lại đi, trời xanh thêm
+ Khổ 5:
2 câu đầu: Sự hình thành của tiểu đội xe không kính: “ Những chiếc xe … tiểu đội” -> tả thực
-> sự tàn phá dữ dội, khốc liệt của CT.
2 câu sau: tình đồng chí của những người lính lái xe: “ Gặp bè bạn … vỡ rồi”.
Hình ảnh “ Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi” là hình ảnh thực mà cũng rất lãng mạn Gặp nhau,
người lính bắt tay vội vàng qua ô cửa kính vỡ để rồi lại tiếp tục công việc của mình Cái bắt tay thay cho lời chào, lời thăm hỏi, đồng thời qua cái bắt tay ấy, hình như người lính còn truyền cho nhau cả tình cảm, tâm hồn, niềm tin và nguồn sức mạnh để giúp nhau vượt qua tất cả những khó khăn, nguy hiểm của cuộc chiến.( So sánh với cái bắt tay trong “ Đồng chí) …
+ Khổ 6:
2 câu đầu: Tình đồng chí, đồng đội sâu sắc, thiêng liêng như tình cảm ruột thịt thiêng liêng :
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
2 câu sau: tình đồng đội đã tiếp thêm sức mạnh để người lính tiến về phía trước bằng cả niềm
tin và sức mạnh “ Võng mắc chông chênh” -> gian khổ, vất vả; tư thế hiên ngang, kiêu hãnh Điệp ngữ “ lại đi” khẳng định tư thế tiến lên phía trước, khí thế không ngừng nghỉ, còn h/ả “ trời xanh” là ẩn dụ cho hòa bình, cho độc lập, tự do của Tổ quốc, gợi lên tinh thần lạc quan, đầy hy vọng và khát vọng của người lính.
-> Hai khổ thơ đã làm rõ nét hơn nếp sinh hoạt khẩn trương nhưng vẫn đàng hoàng; tình đồng chí, đồng đội keo sơn; lòng dũng cảm, sự lạc quan của những chàng lính trẻ.
Trang 17- Vẻ đẹp của người lính lái xe Trường Sơn kết đọng ở lòng yêu nước cháy bỏng
và ý chí quyết tâm chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam:
Không có kính, rồi xe không có đèn
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
+ Điệp ngữ “không có” đã làm nên âm điệu nhanh, mạnh, khỏe khoắn, dồn dập cho cả đoạn thơ Phép liệt kê tăng cấp: không kính, không đèn, không mui, thùng xước và điệp ngữ “ không có” được nhắc lại ba lần như nhân lên ba lần khó khăn, thử thách -> mất mát, hy sinh chồng chất
+ Kết cấu đối lập bất ngờ, sâu sắc giữa người và xe, giữa vật chất và tinh thần, giữa vẻ bề ngoài và bên trong của chiếc xe: xe không có kính, không có đèn, không có mui, thùng có xước/ Xe vẫn chạy…có trái tim Hình ảnh hoán dụ “ trái tim” chỉ người lính lái xe , đồng thời nó còn gợi bầu nhiệt huyết yêu nước cháy bỏng, tình yêu đồng bào, đồng chí ở miền Nam ruột thịt -> Trái tim người lính thay thế cho tất cả những thiếu thốn để đưa chiếc xe ra chiến trường chi viện cho miền Nam Có thể nói hình ảnh “trái tim” chính là nhãn tự của bài thơ
đã làm bật lên chủ đề của bài thơ và làm ngời sáng vẻ đẹp của người chiến sĩ lái
xe Trường Sơn thời chống Mĩ
Trang 18* Đánh giá, bàn luận, so sánh: Hình ảnh người lính lái xe không kính đã được nhà thơ Phạm Tiến Duật khắc họa bằng chất liệu hiện thực sống động của cuộc sống chiến trường Ngôn ngữ và giọng điệu thơ tự nhiên, khỏe khoắn, mang cái ngang tàng của những người trẻ Chọn hình ảnh những chiếc xe không kính, Phạm Tiến Duật đã xây dựng thành một hình tượng điển hình nhằm phản ánh hiện thực chiến tranh và biểu dương tinh thần, ý chí của người lính Trường Sơn Đặc biệt tác giả đã khắc họa thành công chân dung người lính lái xe với nhiều phẩm chất cao quý Đó là
tư thế hiên ngang, dũng cảm, là thái độ bất chấp, coi thường nguy hiểm Đó còn là
vẻ đẹp của tình đồng chí, đồng đội và lòng yêu nước nồng nàn, cháy bỏng, ý chí chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Với những phẩm chất cao đẹp ấy, người lính lái xe trong bài thơ đã trở thành biểu tượng đẹp cho tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mĩ hào hùng:
“ Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai”
Rõ ràng, hình tượng người lính thời chống Mỹ đã tiếp nối, phát huy vẻ đẹp của người lính thời chống Pháp( trong bài “ Đồng chí”) ở chỗ yêu nước, dũng cảm kiên cường, luôn vượt lên gian khổ khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ với tình đồng chí, đồng đội sâu nặng, lãng mạn song các anh đã có sự phát triển vượt bậc: trẻ trung, sôi nổi, lạc quan yêu đời, hiên ngang, ý chí chiến đấu vì miền Nam, vì đất nước Đúng như Tố Hữu từng ca ngợi:
“ Lớp cha trước, lớp con sau
Đã thành đồng chí chung câu quân hành”
Trang 192 BT2: Viết một đoạn văn ( khoảng 12 câu) theo cách lập luận tổng –phân –
hợp nêu cảm nhận của em về khổ đầu bài thơ “ Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải Trong đoạn văn có sử dụng biện pháp nhân hóa, thành phần phụ chú và phép thế (Gạch dưới biện pháp nhân hóa, thành phần phụ chú và phép thế )
Gợi ý:
1 Câu chủ đề mở đoạn:
- Khổ thơ mở đầu bài thơ “ Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải đã mở ra trước mắt chúng ta bức tranh xuân tuyệt đẹp của thiên nhiên đất trời xứ Huế và tâm trạng say sưa, ngây ngất của nhà thơ:
Mọc giữa dòng sông xanh
Tôi đưa tay tôi hứng