ÔN THI GIẢI PHẪU BỆNH 2 THÚ Y. Nó được chia thành giải phẫu học đại thể và giải phẫu học vi thể. Giải phẫu học đại thể (hay còn được gọi là giải phẫu học định khu) nghiên cứu về những cấu trúc cơ thể người có thể nhìn được bằng mắt thường. Giải phẫu học vi thể nghiên cứu về những cấu trúc cơ thể người nhỏ và chỉ nhìn thấy được qua kính hiển vi. Giải phẫu học vi thể bao gồm mô học và tế bào học. Tương tự như cơ thể động vật, cơ thể người cũng bao gồm các hệ cơ quan gồm...
Trang 1GIẢI PHẪU BỆNH 2 Câu 1: Thiếu máu do Leptospirosis?
-Leptospirosis là bệnh của gia súc, loài gặm nhấm và người gây ra bởi các Serovars của L.interrogans, phân bố trên toàn thế giới khi điều kiện môi trường thích hợp
-Trên những thú mang trùng, VSV sống trong thận và đường sinh dục, đồng thời được bài thải ra ngoài bằng nước tiểu và chất dịch sẩy thai
-VSV gây cảm nhiễm qua da và niêm mạc, sau đó vào máu và định vị ở gan, thận, tử cung
có thai Trong suốt thời kỳ có vi trùng trong máu, thú có thể bị hoàng đản do tiêu huyết và
hư hại gan Ở bò cái cho sữa, thể bán cấp của bệnh gây sốt và giảm sản lượng sữa
-Ở heo, thể bệnh có ý nghĩa nhất là sẩy thai và heo con chết Một số heo nái sẽ không đậu thai
-Bệnh gây hư hại gan, thận của ngựa con, ngựa cái sẩy thai và viêm mạch mạc mãn tính -Trên chó, việc tiêm vaccin sẽ làm giảm số trường hợp phát bệnh Xoắn khuẩn ở trong thận gây viêm thận kẽ tụ điểm hoặc phân tán Mặc dù có bệnh tích thận nặng nhưng thường chó không chết do suy thận Thú sống sót sẽ bài thải xoắn khuẩn qua nước tiểu hàng năm
-Chó chết vì bệnh thể cấp tính cũng có xuất huyết ở nhiều nơi Thận sưng và có đốm xuất huyết vùng vỏ Bệnh tích vi thể giai đoạn này thấy được biểu mô ống lượn thoái hóa và hoại
tử, phù mô kẻ
-Thú nhai lại chết do thể cấp tính có bệnh tích nổi bật nhất là hoại huyết trong mạch máu Những dấu hiệu này bao gồm: thiếu máu, hoàng đản, phù thủng phổi, gan thấm mật, bở và nhạt màu Thận sưng, màu đỏ đậm do thấm huyết sắc tố Nhiều đốm xuất huyết nhỏ lan rộng khắp nơi trên cơ thể
Câu 2: Bệnh cúm gia cầm?
*Triệu chứng lâm sàng:
-Nhiễm virus cúm có độc lực cao (HPAI) dẫn đến sự suy nhược đáng kể với những biểu hiện như xù lông, biếng ăn, khát nước rất nhiều, ngừng đẻ trứng và tiêu chảy phân lỏng Trên gà trưởng thành, mào và yếm sưng phồng, phù xung quanh mắt Mào thường xanh tím
ở phần chóp và có thể có nhiều bọng chứa huyết tương hay máu trên bề mặt với những vùng sậm màu do những đốm hoại tử và xuất huyết bầm Những trứng cuối cùng được đẻ ra sau khi bị sự tấn công mạnh mẽ của bệnh thường không có vỏ Tiêu chảy bắt đầu với dạng nước màu xanh lá cây sáng và tiến triển hoàn toàn sang màu trắng Phù đầu nếu có thường đi liền với phù cổ Kết mạc sưng huyết và sưng phồng, đôi khi có xuất huyết Chân, giữa khuỷu chân và bàn chân có thể có những vùng xuất huyết lan rộng Những dấu hiệu hô hấp có thể
là một đặc điểm có ý nghĩa của bệnh Dựa trên những liên quan về khí quản Sự tích tụ chất nhầy có thể thay đổi
Trang 2*Bệnh tích đại thể:
-Gia cầm thường chết đột ngột và trên gia cầm non có thể không có các bệnh tích nào ngoại trừ sung huyết của các bắp cơ và mất nước Nếu không phải dạng cấp tính thì trên gia cầm trưởng thành thường có những bệnh tích có ý nghĩa bao gồm phù dưới da đầu, cổ, có dịch trong lỗ mũi và khoang miệng của gia cầm bị khám tử.Màng kết bị sung huyết trầm trọng
và đôi khi xuất huyết Khí quản không có biểu hiện gì đặc biệt ngaoij trừ có quá nhiều dịch tiết nhầy trong lòng ống Bệnh tích có thể rất nghiêm trọng cùng với viêm khí quản xuất huyết tương tự như bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm Khi gia cầm được mổ ra có thể thấy những điểm xuất huyết bằng đầu định ghim bên trong ức khi lật ra Có rất nhiều đốm xuất huyết trên bề mặt bụng, bề mặt thanh mạc và phúc mạc Thận xuất huyết nghiêm trọng
và thỉnh thoảng các ống dẫn bị nghẽn do các lớp muối urat
-Trên gà đẻ, buồng trứng có thể bị xuất huyết hay thoái hóa với những vùng hoại tử sẫm màu Xoang bụng thường chứa đầy lòng đỏ trứng do trứng bị vỡ dẫn đến viêm túi khí và viêm xoang bụng trầm trọng, gia cầm có thể sống 7-10 ngày
-Có thể gặp xuất huyết trên các bề mặt nhầy của dạ dày tuyến, đặc biệt là nơi tiếp giáp với
mề Lớp lót bên trong mề dễ bong tróc, thường có những điểm xuất huyết và ăn mòn phía dưới Màng nhày ruột non cũng có những điểm xuất huyết, đặc biệt là những nốt lympho như các mảng hạch trên manh tràng
-Gia cầm có thể chết trong 24h đầu trước khi có những biểu hiện bệnh, thường là khoảng 48h, kéo dài 1 tuần Một vài gà mái bị tác động nghiêm trọng đôi khi có thể bình phục -Trên gà giò, dấu hiệu bệnh thường không rõ ràng với sự suy nhược, chán ăn và tỷ lệ chết gia tăng trước khi có những biểu hiện bất thường đầu tiên Phù mặt, cổ và những dấu hiệu thần kinh như trẹo cor và mất thăng bằng cũng được ghi nhận
-Bệnh trên gà Tây tương tự như trên gà đẻ nhưng kéo dài lâu hơn khoảng 2-3 ngày và đôi khi có sưng các xoang
-Trên vịt nuôi và ngỗng, những dấu hiệu suy nhược, chán ăn và tiêu chảy tương tự như trên
gà đẻ dù thường sưng các xoang Gia cầm non thường xuất hiện những biểu hiện thần kinh -Tiên lượng cho những đàn bị mắc bệnh cúm gà độc lực cao, xấu Tỷ lệ bệnh và tỷ lệ chết gần như 100% trong 2-12 ngày sau khi có những dấu hiệu bệnh tích đầu tiên
Câu 3:Viêm tử cung?
*Nguyên nhân: Sau khi sinh, tử cung thường bị viêm do sự can thiệp, đẻ khó và nhiễm vật
lạ vào tử cung, sự suy nhược của cơ thể thú mẹ, sự căng thẳng do sinh đẻ, sẩy thai, đẻ khó, sót nhau, đôi khi do viêm tử cung đặc thể
*Triệu chứng:
Trang 3-Toàn thân suy nhược, thân nhiệt tăng, mạch tăng, thở nhanh, tử cung co teo lại chậm, thành
tử cung viêm nặng dễ rách, chảy các tiết vật và tiết chất rất hôi thối, dịch có màu trắng xám
có lẫn máu hay tế bào, nêu do clostridium tetani sẽ có khí thoái ra ở âm hộ
-Bệnh viêm tử cung có biểu hiện viêm tại lớp niêm mạc tử cung, nặng hơn sẽ ăn sâu vào lớp
cơ tử cung (có máu) và gây thủng lớp tương mạc tử cung, thú sẽ chết
-Trên heo nái: chứng viêm tử cung đi đôi với viêm vú (phù lỏng) và mất sữa trong hội chứng MMA
-Trên ngựa: đôi khi tồn đọng một mảnh nhỏ nhau thai cũng gây bệnh và biểu lộ dạng viêm cấp tính
-Trên dê, cừu: bệnh viêm tử cung thường đi đôi với hiện tượng sót nhau
*Điều trị:
-Bệnh được điều trị kịp thời sẽ mau lành và ít ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của thú -Điều trị không tích cực hay không đúng phương pháp sẽ dẫn đến hậu quả: thú bị nhiễm trùng máu, hôn mê và chết Bệnh nặng khi điều trị khỏi cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của thú Một số trường hợp viêm tử cung kết hợp với tồn thể vàng gây ra pyometra -Khi thú bị sót nhau hay đẻ khó can thiệp cần chú ý tránh vấy nhiễm cho tử cung
-Đặt viên thuốc kháng sinh + sulfamide, tiêm kháng sinh điều trị toàn thân
-Đối với heo: nên thụt rửa tử cung ngày 2 lần bằng dung dịch sát trùng nhẹ và đặt viên kháng sinh
Câu 4:Bệnh giả dại?
*Bệnh tích đại thể: thường không có hoặc có rất ít và khó phát hiện Tuy nhiên khi có sự hiện diện của bệnh tích đại thể sẽ góp phần định hướng cho chẩn đoán đồng thời kết hợp với lịch sử bệnh và các dấu hiệu lâm sàng Viêm mũi hoại tử có sợi huyết thường thấy nhưng có thể bị nhầm, trừ khi tách đôi phần đầu ra để khảo sát toàn bộ xoang mũi Bệnh tích có thể lan rộng đến thanh quản thậm chí đến phần cuối của khí quản Viêm hạch hạnh nhân hoại tử cũng thường thấy kèm với sưng và xuất huyết hạch lâm ba của xoang miệng và đường hô hấp trên Bệnh tích của đường hô hấp dưới (nếu có) sẽ từ phổi tới những điểm hoại tử nhỏ rải rác, xuất huyết hoặc viêm phổi
-Viêm kết mạc hóa sừng thì phổ biến và thường thấy trên giống heo trắng bởi vì sự mất màu gây kích ứng khiến chảy nhiều nước mắt và tích tụ chất tiết quanh mắt
-Những điểm hoại tử màu vàng trắng điển hình có thể nằm rải rác trên gan, lách và chỉ có thể thấy bên dưới bề mặt thanh mạc.Những bệnh tích này thường thấy trên heo còn nhỏ thiếu miễn dịch thụ động
Trang 4-Heo nái vừa mới sẩy thai có thể thấy viêm nội mạc tử cung nhẹ, vách tử cung thường dày
và phù thủng Nếu khám màng nhau sẽ thấy viêm hoại tử Thai bị sẩy có thể còn tươi, xác gầy hoặc thỉnh thoảng bị khô Một vài heo trong ổ đẻ có thể bình thường nhưng một số con khác thì yếu hoặc chết sau khi sinh Thai hoặc heo con theo mẹ thường có những điểm hoại
tử ở gan và lách như từng mô tả ở trên cũng như những điểm hoại tử xuất huyết trên phổi và hạch hạnh nhân Tiền sử sẩy thai đi kèm với những điểm hoại tử là những gợi ý mạnh mẽ cho hướng chẩn đoán bệnh giả dại Phù thủng bao tinh hoàn là bệnh tích đại thể duy nhất được báo cáo trên đường sinh dục của thú đực
-Viêm ruột hoại tử ở đoạn dưới không tràng và hồi tràng cũng được báo cáo ở thú non
Câu 5: Viêm da do Demodex (mò bao lông)
*Cách sinh bệnh:
-Demodex sống và phát triển trong bao lông và tuyến nhờn, ngoài ra còn trong tuyến mồ hôi, tuyến mỡ, các hạch dưới da Từ khi thú còn nhỏ có thể mang Demodex nhưng chưa phát bệnh, khi nào sức đề kháng giảm sẽ tạo cơ hội tốt cho Demodex phát triển gây bệnh -Demodex vào bao lông và tuyến nhờn gây viêm mãn tính và làm da ửng đỏ, có những nốt sừng và rụng lông Khi vi khuẩn xâm nhập tạo thành mụn mủ hoặc ổ mủ, kí chủ có thể bị nhiễm độc máu, suy kiệt và chết Bệnh thường xuất hiện đặc trưng ở xung quanh 2 mắt và môi
*Triệu chứng và bệnh tích:
-Việc truyền lấy chủ yếu do tiếp xúc Bệnh có thể thấy ở gia súc vài ngày sau khi sinh, sau
đó tỉ lệ nhiễm cao dần do gia súc non tiếp xúc trực tiếp với gia súc già
-Demodex thường bắt đầu gây bệnh ở vùng đầu, 2 gò má và quanh hốc mắt, sau đó là vùng chân trước, viêm vùng da giữa 2 kẽ chân và 2 bên bụng, rụng lông, biểu bì phồng lên, sần sùi, có vẩy tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập Staphylococcus là vi khuẩn thường gặp nhất, chúng tạo thành ổ mủ hay mụn mủ trên da lâu ngày có thể gây nhiễm trùng máu, suy kiệt và chết
-Tác hại của Demodex nặng hay nhẹ còn do nhiều yếu tố như tuổi, chó lông dài hay ngắn, tình trạng dinh dưỡng tốt hay xấu, mức độ rối loạn kích thích tố
-Bệnh có 2 dạng: cục bộ và toàn thân
+Cục bộ: thú bị rụng lông tập trung ở 2 mắt (gọi là chó đeo mắt kiếng) và 4 chân Tổn thương cục bộ dạng nhẹ thường không phát triển thành dạng viêm mủ kế phát Bệnh xảy ra
ở mọi lứa tuổi
+Toàn thân: Thú nhiễm toàn thân da ửng đỏ, rỉ dịch nhầy lẫn máu kèm với mủ bị viêm do Staphylococcus, lông rụng từng mảng lớn và có mùi hôi
Trang 5-Bệnh còn làm suy giảm miễn dịch do xuất hiện trong huyết thanh 1 nhân tố kìm hãm phản ứng của lympho T
*Điều trị:
-Dùng Neo-cemex thoa, Amitraz để tắm
-Dùng Ivermectin 1% (1ml/12-15 kgP) chích dưới da, tuần 1 lần, từ 6-8 tuần
-Chống phụ nhiễm kế phát dùng kháng sinh Lincomycin, Ceftriaxone và kháng viêm
Dexamethasone
-Dùng thuốc bổ trợ Lesthiolin-C, Bidizym, Bepanthene
Câu 6: Bệnh gạo bò?
-Căn bệnh là ấu trùng Cysticercus bovis kí sinh ở cơ tim, cơ lưỡi, cơ đùi… có hình bọc nhỏ, hơi tròn, màu trắng trong, dài 5-9mm, rộng 3-6mm, trong bọc chứa dịch thể trong suốt và một đầu sán lộn ngược ra phía ngoài Đầu sán này có 4 giác bám Không có đỉnh và móc đỉnh
-Sán trưởng thành là Taeniarhynehus saginatus kí sinh ở ruột non người, dài 4-12m, gồm 1000-2000 đốt sán Đầu sán tròn có 4 giác bám to, không có đỉnh và móc đỉnh
-Vòng đời: Sán trường thành kí sinh ở ruột non người, đốt già thường rụng 1 hoặc nhiều đốt (27 đốt) và theo phân ra ngoài Khi đốt sán phân hủy, trứng sán khuếch tán ra môi trường ngoài Nếu bò ăn phải, trứng sán vào đường tiêu hóa đến ruột, thai 6 móc được nở ra và xuyên qua thành ruột theo hệ tuần hoàn về tim và đến các cơ lưỡi, cơ đùi…Ở đó hình thành
ấu trùng Cysticercus bovis sau 3-6 tháng (thành gạo bò) Khi người ta ăn phải gạo bò, ấu trùng vào ruột, đầu nhô ra bám vào niêm mạc ruột Sau khoảng 3 tháng thành sán trưởng thành, mỗi ngày sán có thể dài thêm 8-9 đốt
-Dịch tễ học:
+Tình hình phân bố: có nhiều ở châu Á và châu Phi Ở Việt Nam, tình hình nhiễm tùy theo khu vực, nơi nuôi nhiều bò hay ăn thịt bò tái tỉ lệ cao Một số vùng núi ít nuôi bò thì ít thấy bệnh
+Vật chủ trung gian nhiễm gạo không những ở bò mà còn ở trâu, dê, cừu, hươu…
+Hình thức nhiễm bệnh: người mắc sán dây bò do ăn thịt chưa chín, còn bò mắc gạo do ăn phải đốt sán người thải ra
Câu 7: Bệnh thiếu Canxi và Phospho trên gia cầm?
-Canxi và phospho là 2 nguyên liệu chủ yếu cho việc hình thành nên xương và vỏ trứng của gia cầm Đồng thời trong mô cơ thể canxi còn duy trì chức năng hoạt động của mô thần kinh, xúc tác quá trình đông máu, tăng hoạt dộng của mô cơ vân, cơ tim, duy trì hoạt động
Trang 6của tế bào, tạo điện thế sinh học trên mặt bằng tế bào và xúc tác men trypsin trong quá trình tiêu hóa protein thức ăn
-Còn phospho ngoài chức năng tạo xương nó còn tham gia vào thành phần axit nucleic, tham gia vào hệ thống men tiêu hóa tinh bột và mỡ, tham gia trong chất đệm của máu và làm trung gian cho điều hòa hoocmone với tác dụng tổng hợp protein, phân gải lipid, hoạt hóa các men khác nhau và tổng hợp steroid
-Sự thiếu hụt canxi và phospho sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động trong cơ thể Với đặc điểm rõ nhất là gia cầm bại liệt, đẻ non, đẻ giảm và tỷ lệ ấp nở thấp
*Nguyên nhân:
-Do khẩu phần ăn không cung cấp đủ canxi và phospho (thiếu bột sò, bột xương, bột cá, bánh dầu lạc, đậu tương…)
-Do chuồng trại làm quá kín, ánh sáng buổi sáng không chiếu vào cơ thể gà được nên chất ergosteron (tiền vitamin D2) không chuyển thành vitamin D2 được Thiếu vitamin D2 là thiếu yếu tố điều hòa sự hấp thu canxi từ thức ăn vào cơ thể
-Do chuồng trại che kín mà không bổ sung premix có vitamin D2, D3 vào khẩu phần ăn nên gia cầm cũng không thể hấp thu canxi từ thức ăn vào cơ thể được
-Do khẩu phần ăn chứa lượng chất béo (dầu, mỡ) quá cao, làm giảm khả năng hấp thụ Ca, P -Do cơ thể gia cầm bị một số bệnh truyền nhiễm hay dinh dưỡng làm viêm đường tiêu hóa
và teo tuyến tụy tạng gây ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ Ca, P từ thức ăn vào cơ thể -Do tuyến phó giáp trạng bị teo nên không sản sinh ra hoocmone Canxitonin và
Parathoocmon Hai hoocmone này có tác dụng điều hòa Ca, P trong máu
*Triệu chứng:
-Đối với gà con và gà giò:
+Gà đi lại không bình thường, co giật và run rẩy
+Một số gà con mới nở thấy xương mềm, mỏ mềm hoặc chéo nhau
+Gà còi, lông mọc chậm, xù lông, sã cánh, gà hay mổ lông nhau và ăn những vật alj sau tiêu chảy
+Bệnh kéo dài dẫn đến ngón chân bị uốn cong, khớp xương bị sưng to, biến dạng Sau bại liệt nằm một chỗ rồi chết do biến chứng trụy tim mạch, viêm phổi, viêm ruột…
-Đối với gà đẻ: Trứng đẻ ra có vỏ mềm, mỏng hoặc không có vỏ, sau đó ngưng đẻ Trứng ấp
nở thấp
*Bệnh tích:
Trang 7-Xương ống chân mềm và xốp, dễ gãy.
-Xương ức bị vặn vẹo
-Xương sườn có những nốt u do sưng khớp giữa phần xương và sụn của xương sườn
*Điều trị:
-Trong trường hợp bệnh bại liệt nặng hoặc đẻ non nhiều, có thể tiêm thuốc
-Gluconatcanxi 10%: tiêm bắp 10-20mg/kgP, liên tục 5-7 ngày
-ADE 500 tiêm bắp 0,1-0,2ml/gà mái đẻ Tiêm 1 lần, sau 15-30 ngày tiêm lần 2
-Trộn Calcivit ADE liều 1g/kg thức ăn hay pha 1g/lít nước liên tục mỗi ngày
-Pha Vetophes liều 1-2ml/lít nước uống, liên tục mỗi ngày
Câu 8: Các loại bướu cổ?
Bướu cổ là từ ngữ chỉ bất cứ sự lớn lên nào về hình thể không độc của tuyến giáp Có 4 loại: a) Bướu cổ keo trạng: còn gọi là bướu cổ đơn, do sự lớn lên đáng kể của các tiểu nang chứa đầy chất keo
-Vách các tiểu nang bị căng và biểu bì dẹt xuống Chất keo này chứa ít iod và ít giáp tinh
Sự thiếu iod nhẹ thường là nguyên do và đậu nành dường như cũng tạo ra loại bướu cổ này Thú không có triệu chứng phụ
b) Bướu cổ tân bào: được định bởi nốt nhỏ trong mô tuyến giáp, chúng có kích thước thay đổi lớn lao, hình cầu, ở rải rác trong mô tuyến giáp
-Những nốt này thường được xem là tân bào tuyến lành
-Vài nốt không có hoạt tính, một số khác tiết 1 cách tích cực giáp tinh(Thyroxin) và tạo ra tình trạng bội hoạt tuyến giáp và loại này được coi là tân bào lành có độc tính
-Tuyến to kiểu lổn nhổn: bệnh nhân thường không có triệu chứng, không cần điều trị
-Tuyến chỉ có 1 vị trí to tròn lên, còn lại cả tuyến giáp bình thường Trường hợp này cần theo dõi và xét nghiệm sinh thiết khi cần thiết để phát hiện sớm dấu hiệu ác tính của khối u
để kịp thời xử lý
c) Bướu cổ bệnh đần
-Thường có ở ngựa con, bê, cừu con và heo trong những vùng đất thiếu iod Do bệnh được ngăn ngừa dễ dàng bằng sự bổ sung 1 lượng nhỏ iod cho thú mẹ có mang nên thường ít xảy ra
Trang 8-Tuyến giáp lớn lên và trong những thú mới sinh bị bệnh, các thùy lớn có thể nhô ra một cách rõ rệt ở mỗi bên cổ
-Trong những trường hợp nặng, thú có thể bị mất lông đặc biệt ở heo và cừu Phù thủng dưới da có thể liên hệ với phù thủng niêm dịch được mô tả trong vùng cổ và có nhiều trường hợp thú có thể chết ngay lúc sinh ra
d) Bướu cổ lộ nhỡn:
-Sự xáo trộn này của người cũng được gọi là bệnh Grave hay bệnh Basedow không xảy ra ở thú
Câu 9: Viêm ruột xuất huyết do Parvovirus trên chó?
*Dịch tễ:
-Tuổi mắc bệnh: bệnh nghiêm trọng ở chó từ 6-16 tuần tuổi, tuy nhiên mọi lứa tuổi khác đều
có thể mắc bệnh
-Nguồn virus chính là phân và nước
-Virus xâm nhập phổ biến qua đường tiêu hóa
-Lây lan: trực tiếp từ chó này đến chó khác, gián tiếp do tiếp xúc với môi trường vấy nhiễm phân thú bệnh
-Đối với thú chưa nhiễm bệnh thì mức độ cảm thụ có thể đến 100%, nhưng chó sau khi tiêm chủng hoặc cảm nhiễm tựu nhiên được miễn dịch
*Cơ chế gây bệnh:
-Sau khi xâm nhập 2-4 ngày virus vào máu gây nhiễm trùng máu, dồng thời kèm theo sự phát triển của virus trong mô lympho ở vùng hầu họng Virus phát triển trong những khe của tế bào ruột non và xuất hiện trong phân 3-4 ngày
-Sau khi bị nhiễm, đạt mức độ cao nhất khi dấu hiệu lâm sàng đầu tiên được phát hiện, lúc này ruột non bị phá hủy Virus cò nhân lên ở tế bào cơ tim gây viêm cơ tim cấp tính và cũng phát triển ở tế bào lympho, tế bào tủy xương dẫn đến giảm thiểu số lượng bạch cầu, làm cơ thể thú suy giảm miễ dịch
*Triệu chứng:
-Thể viêm ruột: Thời gian nung bệnh từ 3-5 ngày
+Tập trung trên chó 2-4 tháng tuổi, chó ủ rũ, bỏ ăn, sốt kéo dài khi triệu chứng tiêu chảy nặng xuất hiện
+Nhiệt độ giảm dần nếu chó bị suy nhược
Trang 9+Ói mửa và tiêu chảy nặng, phân lúc đầu thối sau đó phân có màu hồng hoặc đỏ tươi tùy vị trí virus tấn công vào ruột
+Phân có lẫn niêm mạc ruột, có lẫn keo nhầy và có mùi đặc trưng
+Chó suy nhược nhanh và mất nước dữ dội
-Thể viêm cơ tim:
+Thường xảy ra với tỷ lệ thấp trên chó con nhỏ hơn 2 tháng tuổi
+Thú suy tim, niêm mạc nhợt nhạt hoặc thâm tím, gan sưng, túi mật sưng, tim nhợt nhạt, nhão, lớp mỡ quanh tim và cơ tim xuất huyết Trong thể này các biểu hiện ruột không rõ ràng, chó chết nhanh
-Thể kết hợp: làm chó chết nhanh
+Thoái hóa cơ tim, tim suy nhược, mất nước
+Tiêu chảy, ói mửa nặng, mất nước nhanh
*Bệnh tích:
-Bệnh tích đại thể:
+Lách không có dạng đồng nhất
+Hạch màng treo ruột triển dưỡng và xuất huyết, ruột nở rộng, sung huyết hay xuất huyết thành ruột non mỏng do có sự hao mòn của nhung mao ruột, niêm mạc ruột bong tróc +Gan có thể sưng, túi mật căng
+Trong thể cơ tim thường thấy thủy thủng ở phổi
-Bệnh tích vi thể:
+Hoại tử và tiêu chảy tế bào lympho trong mảng Peyer
+Trong trung tâm mầm, trong các hạch bạch huyết màng ruột Trên chó con còn bú tùy theo giai đoạn phát triển của bệnh mà có bệnh tích, thủy thủng hoặc hoại tử, hóa sợi với sự
có mặt hay không những thể vùi ái base trong nhân của sợi cơ tim
Câu 10: Bệnh cầu trùng gà?
*Nguyên nhân: Chủ yếu do các loại cầu trùng như: Eimeria tenella (ký sinh ở manh tràng), Eimeria necatnix (ký sinh ở ruột non), E acervulina, E maxima, E bruneti
*Phương thức lây truyền: lây lan chủ yếu qua đường tiêu hóa do gà ăn phải nang của cầu trùng có trong thức ăn, nước uống bị nhiễm mầm bệnh
*Triệu chứng:
Trang 10-Eimeria tenella (cầu trùng kí sinh ở manh tràng): chủ yếu xảy ra ở gà từ 2-8 tuần tuổi Có 2 thể bệnh:
+Thể cấp tính: gà ủ rủ, ăn ít, uống nước nhiều, lúc đầu đi phân có bọt màu vàng hoặc hơi trắng, sau phân có màu đỏ nâu do lẫn máu (phân gà sáp), gà đi lại khó khăn, xã cánh, xù lông, mắt trũng sâu, niêm mạc nhợt nhạt, chân gập lại, quỵ xuống và chết sau khi có biểu hiện co giật từng cơn
+Thể mãn tính: bệnh tiến triển chậm hơn như gầy ốm, xù lông, kém ăn, chân đi như bị liệt, tiêu chảy bất thường Do tính chất bệnh không điển hình khó chẩn đoán Ở thể này gà là vật mang mầm bệnh
-Eimeria necatrix (cầu trùng ký sinh ở ruột non): ký sinh chủ yếu tá tràng gà giò, gà lớn (lớn hơn 4 tháng tuổi)
+Triệu chứng của bệnh biểu hiện không rõ dễ nhầm lẫn với bệnh khác Gà cũng gầy yếu,
xù lông, kém ăn, chậm lớn, tiêu chảy, phân sáp, có khi phân lẫn máu tươi, gà mái mắc bệnh thường giảm đẻ
*Bệnh tích:
-Eimeria tenella: Xuất huyết niêm mạc manh tràng và trương to ở 2 manh tràng Manh tràng
có tính đàn hồi màu xanh thẫm Mổ ra manh tràng có xuất huyết lấm tấm và đầy máu Nặng thì 2 manh tràng xuất huyết, hoại tử từng mảng đen
-Eimeria necatrix: Tá tràng sưng to, ruột phình to từng đoạn khác thường, chỗ vách ruột trương to thường dễ vỡ, trong ruột chứa chất lỏng bẩn thối có lợn cợn bã đậu Bề mặt niêm mạc ruột dày lên có nhiều điểm trắng đỏ Bệnh nặng thường thấy máu tươi lẫn lộn với các chất chứa trong ruột (tiêu phân sống)
Câu 11: Bệnh dịch tả vịt? (có vaccin)
*Triệu chứng: Thời gian nung bệnh từ 3-7 ngày, tiến trình của bệnh diễn ra trong vòng 1-5 ngày
-Vịt đẻ: bơi kém, nằm ủ rủ trên mặt nước, chảy nước mắt nước mũi, hay bị chết đột ngột và xác chết mập, máu chảy ra từ các lỗ tự nhiên Sản lượng trứng giảm khoảng 25-40% Vịt bỏ
ăn, vô cũng khát nước, xã cánh, đầu gục, thất đều vận động, xù lông, tiêu chảy phân xanh nhiều nước Vịt bị liệt hoặc di chuyển phải lắc đầu cổ và mình
-Vịt thịt (2-7 tuần tuổi): tiêu chảy mất nước, gầy ốm, mỏ xanh nhạt, lỗ huyệt nhuộm máu và
bị phù đầu
-Vịt đực: khi bị bệnh chết dương vật thoát ra ngoài
*Bệnh tích: