Baûo veä moâi tröôøng (thoâng qua nhöõng quy ñònh cuûa phaùp luaät veà nhöõng haønh vi bò nghieâm caám vaø nhöõng haønh vi ñöôïc khuyeán khích) laø ñieàu kieän voâ cuøng[r]
Trang 1Định nghĩa về phát triển bền vững được đưa ra từ Hội nghị Rio de Janero năm
1992 về môi trường sống và phát triển chỉ trực tiếp đề cập tới phương diện sinh thái đã tỏ ra chật hẹp, không đáp ứng được những thay đổi của thời đại, cần phải dược
Trang 2mở rộng cho phù hợp với những vấn đề, những thách thức đang đặt ra cho toàn nhân loại Xuất phát từ cách tư duy như vậy, những năm gần đây, trong các công trình nghiên cứu của mình, đa số các tác giả đều chỉ ra rằng, ngoài định hướng sinh thái, phát triển bền vững còn bao gồm cả các định hướng kinh tế, văn hoá, xã hội và
an ninh, quốc phòng
Khoản 4 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 của Việt Nam đã đưa ra định nghĩa : “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” Tuy nhiên, vì được đưa ra trong Luật Bảo vệ môi trường nên định nghĩa này cũng chưa đề cập hết đầy đủ nội hàm của khái niệm phát triển bền vững
Cho đến nay, định nghĩa phát triển bền vững được hiểu dưới nhiều khía cạnh và theo các cách tiếp cận khác nhau Theo cách hiểu chung nhất, Phát triển bền vững là sự tăng trưởng và phát triển liên tục, vững chắc trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, bảo vệ quốc phòng và an ninh
Có các tiêu chí để xác định một đất nước có phát triển bền vững hay không, đó là:
- Tăng trưởng kinh tế liên tục và vững chắc ;
- Có sự phát triển tiến bộ về văn hoá, xã
Trang 3hội ;
- Môi trường được bảo vệ và phát triển ;
- Có nền quốc phòng và an ninh vững
chắc
Trong các yếu tố cần thiết đòi hỏi cho
phát triển bền vững đất nước, tăng trưởng
kinh tế được coi là yếu tố cơ bản nhất, có
ý nghĩa quyết định để phát triển bền vững,
bởi lẽ :
- Tăng trưởng kinh tế đảm bảo nguồn tài
chính cần thiết để bảo vệ môi trường ;
- Tăng trưởng kinh tế chi phối tiến bộ kỹ
thuật, là cái cần thiết để thay thế các
nguồn tài nguyên thiên nhiên bằng tiền và
các công nghệ ;
- Chỉ có tăng trưởng kinh tế mới có thể
xoá bỏ được nghèo nàn, bảo đảm phát
triển tiến bộ về văn hoá, xã hội ;
- Tăng trưởng kinh tế bảo đảm điều kiện
vật chất cho nền quốc phòng, an ninh
Đơn vị kiến thức 1:
Vai trò của pháp luật đối với sự phát
triển bền vững của đất nước
Mức độ kiến thức:
HS hiểu vai trò của pháp luật đối với sự
phát triển bền vững của đất nước trong
từng lĩnh vực cụ thể
Cách thực hiện:
Trong lĩnh vực kinh tế
GV đặt vấn đề:
Có người cho rằng, để phát triển kinh tế
đất nước thì chỉ cần có các chủ trương,
chính sách là đủ mà không cần phải có
pháp luật Em có đồng ý với ý kiến này
không?
HS trao đổi, phát biểu
1 Vai trò của pháp luật đối với sự phát triển bền vững của đất nước
Trong lĩnh vực kinh tế
Thứ nhất, pháp luật tạo ra khung pháp
lí cần thiết của họat động kinh doanh
Thứ hai, pháp luật ghi nhận và bảo
đảm quyền tự do kinh doanh của công dân để khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng trong xã hội
Thứ ba, thông qua các quy định về
thuế, pháp luật khuyến khích các họat động kinh doanh trong những ngành, nghề có lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 4GV giảng:
Để tăng trưởng kinh tế đất nước, Nhà nước
sử dụng nhiều công cu, phương tiện, biện
pháp khác nhau, trong đó, pháp luật được
coi là phương tiện không thể thiếu Chủ
trương, chính sách là cần thiết nhưng
không đủ để tạo ra một trật tự pháp lí cần
thiết cho hoạt động kinh doanh Không có
pháp luật, sản xuất - kinh doanh sẽ hỗn
loạn, không ổn định và tất nhiên kinh tế
đất nước sẽ không thể tăng trưởng được
GV giảng về cách thức mà pháp luật tác
động đến sự tăng trưởng kinh tế đất nước:
+ Muốn phát triển và tăng trưởng kinh tế
cần phải có hệ thống pháp luật về kinh tế
có khả năng kích thích sản xuất, khơi dậy
mọi tiềm năng của xã hội:
Trước hết, phải tạo ra khung pháp lý cần
thiết cần thiết cho hoạt động kinh doanh
Pháp luật phải đảm bảo quyền tự do kinh
doanh của công dân
Pháp luật về thuế phải tạo ra động lực
kích thích và thúc đẩy kinh doanh phát
triển
+ Nền kinh tế phát triển và tăng trưởng
liên tục, ổn định là tiền đề cho sự phát
triển bền vững của đất nước
Trong lĩnh vực văn hóa
GV hỏi:
- Em có cho rằng, trong quá trình xây
dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam
cần phải có pháp luật không?
HS trao đổi, phát biểu
GV giảng:
Pháp luật góp phần phát huy giá trị văn
Trong lĩnh vực văn hóa
Pháp luật giữ vai trò chủ đạo, tác động tích cực vào sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam
Những quy định của pháp luật về văn hóa góp phần phát huy giá trị văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân lọai, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao dân trí, xây dựng đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam
Trong lĩnh vực xã hội
Pháp luật có vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển trong lĩnh vực xã hội
Trong nền kinh tế thị trường, nhiều vấn đề xã hội phát sinh, cần phải được giải quyết: dân số và việc làm; bất bình
Trang 5hoá dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại,
xây dựng đạo đức và lối sống tốt đẹp của
con người Việt Nam, nhờ đó mà góp phần
tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước Không có pháp luật, nền văn
hoá đất nước khó có thể được bảo vệ và
phát triển theo đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước
Tiết 2:
Trong lĩnh vực xã hội
GV hỏi:
- Nếu không có pháp luật mà chỉ có
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước thì có thể giải quyết được các vấn đề
xã hội hay không?
HS trao đổi, phát biểu
GV giảng:
Không có pháp luật sẽ dẫn đến tình trạng
ai muốn làm gì thì làm, bất bình đẳng xã
hội sẽ gia tăng, người nghèo không được
chăm sóc, tệ nạn xã hội không được đẩy
lùi
Thông qua các quy định của pháp luật mà
vấn đề dân số , việc làm, vấn đề tệ nạn xã
hội, …được từng bước giải quyết
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
GV hỏi :
- Những năm qua, phát triển kinh tế ‟ xã
hội ở nước ta còn dựa nhiều vào việc khai
thác tài nguyên thiên nhiên; công nghệ
sản xuất còn sử dụng nhiều năng lượng,
nguyên liệu, thải ra nhiều chất độc gây ô
nhiễm môi trường Theo em, để ngăn
ngừa, hạn chế tình trạng này, Nhà nước
cần phải làm gì?
đẳng xã hội và tăng nhanh khoảng cách giàu nghèo; bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; xóa đói giảm nghèo; tệ nạn xã hội; đạo đức và lối sống; v.v… Các vấn đề xã hội trên đây chỉ có thể được giải quyết một cách hiệu quả nhất thông qua các quy định của pháp luật
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Các quy định của pháp luật có tác dụng ngăn ngừa, hạn chế tác động xấu của con người trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên nhằm bảo vệ có hiệu qua môi trường và tài nguyên thiên nhiên
Trang 6HS trao đổi, phát biểu
GV giảng:
Trước thực trạng việc khai thác tài nguyên
thiên nhiên, việc sản xuất kinh doanh ở
nước ta là một trong những nguyên nhân
làm suy thoái môi trường, Nhà nước cần
phải áp dụng nhiều biện pháp, trong đó,
quan trọng nhất là các biện pháp phát
triển khoa học-công nghệ:
+ Đầu tư để từng bước thay đổi trang thiết
bị kĩ thuật lạc hậu thải ra nhiều chất khí
và bụi gây ô nhiễm môi trường
+ Đầu tư phát triển mạnh khoa học - công
nghệ nhằm tạo ra các sản phẩm có thể
thay thế sản phẩm khai thác từ tự nhiên
Để thực hiện các biện pháp này thì đòi hỏi
phải đầu tư rất nhiều vốn cho công tác
nghiên cứu và mua các trang thiết bị kĩ
thuật tiên tiến, hiện đại
GV hỏi tiếp:
- Các em cho biết vai trò của pháp luật
đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường?
HS trao đổi, phát biểu
GV giảng:
Bảo vệ môi trường (thông qua những quy
định của pháp luật về những hành vi bị
nghiêm cấm và những hành vi được
khuyến khích) là điều kiện vô cùng quan
trọng để phát triển bền vững đất nước
Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh
GV hỏi :
- Vai trò của pháp luật đối với lĩnh vực
quốc phòng và an ninh?
HS trao đổi, phát biểu
GV giảng:
Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh Pháp luật là cơ sở để tăng cường tiềm lực quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, thông qua đó tạo ra môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường, bảo đảm cho đất nước có đầy đủ điều kiện để phát triển bền vững
Trang 7Pháp luật trong lĩnh vực quốc phòng và an
ninh là điều kiện không thể thiếu trong
phát triển bền vững
GV tổng hợp nội dung vai trò của pháp
luật đối với phát triển bền vững đất nước:
Nói đến vai trò của pháp luật đối với sự
phát triển bền vững của đất nước là nói
đến sự tác động của pháp luật trong quá
trình phát triển của các lĩnh vực kinh tế,
văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường và bảo
đảm quốc phòng, an ninh Pháp luật có thể
thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển bền
vững đất nước nói chung, trong từng lĩnh
vực cụ thể nói riêng, đặc biệt là trong lĩnh
vực kinh tế và bảo vệ môi trường
Trong lĩnh vực kinh tế, vai trò của pháp
luật được thể hiện ở sự tác động của pháp
luật đến quá trình tăng trưởng kinh tế đất
nước Nếu pháp luật có các quy định thông
thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ
chức, cá nhân, động viên và thu hút họ
vào công việc kinh doanh thì sẽ khơi dậy
và phát huy mọi tiềm năng to lớn trong xã
hội, làm cho mọi tổ chức, cá nhân có điều
kiện kinh doanh có hiệu quả, làm giàu cho
mình và cho xã hội ; từ đó kinh tế tăng
trưởng, là điều kiện để phát triển bền
vững đất nước
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, vai trò
của pháp luật được thể hiện ở các quy
định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân
trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ và trong đời sống cộng đồng phải khai
thác, sử dụng tài nguyên môi trường đúng
các tiêu chuẩn, quy định ; hạn chế đến
2 Một số nội dung cơ bản của phát luật trong sự phát triển bền vững của đất nước
a) Một số nội dung cơ bản của pháp luật về phát triển kinh tế
Trang 8mức tối đa tác động xấu của con người
vào quá trình khai thác, sử dụng tài
nguyên thiên nhiên Pháp luật hành chính,
hình sự có các chế tài xử lý nghiêm minh
các hành vi vi phạm từ phía cá nhân, tổ
chức trong quá trình khai thác, sử dụng tài
nguyên môi trường và bảo vệ môi trường
Thông qua các quy định của pháp luật về
bảo vệ môi trường cùng các quy định xử
phạt vi phạm hành chính và xử lý vi phạm
hình sự, pháp luật góp phần quan trọng
vào việc bảo vệ môi trường, là một trong
các yếu tố cấu thành cần thiết của phát
triển bền vững
Tiết 3:
Đơn vị kiến thức 2:
Một số nội dung cơ bản của phát luật
trong sự phát triển bền vững của đất
nước
Đơn vị kiến thức 2.1:
º Một số nội dung cơ bản của pháp luật
về phát triển kinh tế
Mức độ kiến thức:
HS hiểu được một số nội dung của pháp
luật về phát triển kinh tế
Cách thực hiện:
GV sử dụng phương pháp thuyết trình kết
hợp đàm thoại
Quyền tự do kinh doanh của công dân
GV yêu cầu HS đọc Điều 13 Luật Doanh
nghiệp năm 2005 ( trong SGK)
GV hỏi:
- Kinh doanh là gì?
HS trao đổi, phát biểu
GV giảng:
Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một,
Quyền tự do kinh doanh của công dân Quyền tự do kinh doanh được qui định trong Hiến pháp và các luật về kinh doanh
Tự do kinh doanh có nghĩa là mọi công dân khi có đủ điều kiện do pháp luật quy định đều có quyền tiến hành họat động kinh doanh sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận đăng kí kinh doanh
Trang 9một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi
Theo định nghĩa này, kinh doanh bao gồm
ba loại hoạt động khác nhau là hoạt động sản xuất, hoạt động tiêu thụ sản phẩm và hoạt động dịch vụ Cả ba loại hình hoạt động này đều nhằm mục đích chính là thu lợi nhuận
Vậy, các hoạt động kinh doanh được biểu hiện như thế nào?
Hoạt động sản xuất là hoạt động quan trọng nhất của con người Trong khái niệm kinh doanh, hoạt động này được hiểu là quá trình các tổ chức, cá nhân lao động để tạo ra sản phẩm vật chất cho xã hội Các sản phẩm do sản xuất tạo ra được biểu hiện ở nhiều thể loại khác nhau, bao gồm các sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp… Ví dụ: sản xuất xe đạp, xe máy, quần áo, đồ dùng gia đình
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm là hoạt động thương mại nhằm thực hiện lưu thông hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng Thông qua hoạt động này, sản phẩm từ các cơ sở sản xuất được chuyển đến người tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức Ví dụ: buôn bán vật tư, hàng công nghiệp, hàng tiêu dùng, hàng văn phòng phẩm
Hoạt động dịch vụ là hoạt động phục vụ cho nhu cầu của sinh hoạt của con người, như hoạt động kinh doanh khách sạn, hoạt động sửa chữa máy móc, thiết bị, hoạt
Trang 10động tư vấn và giới thiệu việc làm…
GV hỏi tiếp
- Các em hiểu thế nào là quyền tự do kinh
doanh của công dân?
HS trao đổi, phát biểu
GV giảng:
Quyền tự do kinh doanh có nghĩa là, mọi
công dân khi có đủ điều kiện do pháp luật
quy định đều có quyền tiến hành hoạt
động kinh doanh sau khi được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền chấp nhận đăng ký
kinh doanh
Quyền tự do kinh doanh được hiểu theo
các nội dung sau đây:
Một là, công dân có quyền tự do lựa chọn
và quyết định kinh doanh mặt hàng nào
Ví dụ: sản xuất đồ điện, hàng tiêu dùng,
hoặc buôn bán hàng may mặc
Hai là, công dân có quyền quyết định quy
mô kinh doanh lớn hay nhỏ, mức vốn đầu
tư nhiều hay ít, địa bàn kinh doanh rộng
hay hẹp
Ba là, công dân có quyền lựa chọn và
quyết định hình thức tổ chức kinh doanh
Ví dụ : có thể thành lập công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh
nghiệp tư nhân, hoặc có thể không cần
thành lập công ty mà chỉ cần đăng ký kinh
doanh hình thức cá nhân hoặc hộ gia đình
GV kết luận:
Quyền tự do kinh doanh của công dân là
quyền của mỗi người được tự do tiến hành
hoạt động kinh doanh theo quy định của
pháp luật, tự do lựa chọn ngành nghề, lĩnh
vực kinh doanh, tự do lựa chọn quy mô và
Nghĩa vụ của công dân khi thực hiện
các họat động kinh doanh
- Kinh doanh đúng ngành, nghề ghi trong giấy phép kinh doanh và những ngành, nghề mà pháp luật không cấm;
- Nộp thuế đầy đủ theo quy định của pháp luật;
- Bảo vệ môi trường;
- Tuân thủ các quy định về quốc phòng,
an ninh, trật tự, an tòan xã hội v.v…
Trang 11hình thức tổ chức kinh doanh
Nghĩa vụ của công dân khi thực hiện
các họat động kinh doanh
GV hỏi:
- Theo em, theo quy định của pháp luật, nhà kinh doanh phải thực hiện những nghĩa vụ gì?
HS trao đổi, phát biểu
GV giảng:
+ Mọi doanh nghiệp được tự chủ đăng ký và thực hiện kinh doanh những ngành, nghề mà pháp luật không cấm Ví dụ : Cấm kinh doanh các ngành, nghề gây phương hại đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam và sức khoẻ của nhân dân
+ Kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng ký
+ Đối với doanh nghiệp kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật quy định phải có vốn pháp định hoặc chứng chỉ hành nghề, thì doanh nghiệp đó chỉ được đăng ký kinh doanh khi có đủ vốn hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật (ví dụ: mở cửa hàng bán thuốc tân dược, thuốc phục vụ cho sản xuất nông nghiệp) + Nộp thuế đầy đủ và đúng hạn theo quy định của pháp luật
+ Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, các
cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm :
Tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
„Thực hiện các biện pháp bảo vệ môi
Trang 12trường nêu trong báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt, bản cam kết bảo vệ môi trường đã đăng ký và tuân thủ tiêu chuẩn môi trường
Phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đối với môi trường từ các hoạt động của mình
Khắc phục ô nhiễm môi trường do hoạt động của mình gây ra
Tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người lao động trong cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của mình
Nộp thuế môi trường, phí bảo vệ môi trường
GV nêu câu hỏi:
- Trong các nghĩa vụ khi kinh doanh, nghĩa vụ nào là quan trọng nhất?
HS trao đổi, phát biểu
GV giảng:
Trong các nghĩa vụ này, nghĩa vụ nộp thuế được coi là quan trong nhất Thuế là khoản tiền từ thu nhập mà tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật phải nộp vào ngân sách nhà nước
Thuế ra đời và tồn tại cùng với nhà nước, là khoản thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Nhà nước không thể tồn tại được nếu không có nguồn thu từ thuế
Thuế dùng để chi cho những công việc chung của Nhà nước và xã hội : chi trả lương cho cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước ; dùng vào việc xây dựng nền quốc phòng và bảo đảm an ninh, trật tự xã hội ; để xây dựng công trình kết cấu hạ
Trang 13tầng của đất nước như đường giao thông, sân bay, bến cảng ; để đầu tư tài chính thúc đẩy các ngành kinh tế quốc dân, tập trung đầu tư xây dựng những ngành kinh tế mũi nhọn, những vùng kinh tế trọng điểm ; để phát triển giáo dục - đào tạo như xây dựng trường học, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, thực hiện đổi mới nội dung chương trình các môn học ; để giải quyết các vấn đề văn hoá - xã hội
Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện nay ở nước ta được thực hiện theo Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2003 Theo Luật này, có các mức thuế khác nhau đối với các cơ sở kinh doanh như sau :
„ Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở kinh doanh là 28%
„ Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở kinh doanh tiến hành tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác từ 28 đến 50% phù hợp với từng dự án, từng cơ sở kinh doanh
Trang 14+ Thuế giá trị gia tăng : Là khoản thuế
tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá,
dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản
xuất, lưu thông đến tiêu dùng Ví dụ:
Hàng hoá được sản xuất ra từ nhà máy,
nếu được bán trên thị trường thì phải nộp
thuế giá trị gia tăng, tức là giá bán trên thị
trường lần đầu Nếu bán tiếp làn sau với
giá cao hơn thì phần chênh lệch giữa giá
bán lần đầu với giá bán lần sau là giá phải
tính thuế
Mức thuế suất được quy định riêng đối với
từng loại hàng hoá, dịch vụ, tuỳ thuộc vào
tính chất, vị trí, vai trò của hàng háo ấy
đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống
xã hội nước ta Theo Luật Thuế Giá trị gia
tăng, mức thuế suất dao động từ 0% đến
10%
Đối tượng phải nộp thuế giá trị gia tăng là
tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và tổ chức, cá
nhân khác nhập khẩu hàng hoá
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt : Là thuế thu đối
với một số mặt hàng hoá và dịch vụ đặc
biệt được sản xuất trong nước hoặc được
nhập khẩu vào Việt Nam
Đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt trước
hết là hàng hoá, bao gồm : thuốc lá điếu,
xì gà, rượu, bia, ô tô dưới 24 chỗ ngồi,
xăng các loại, điều hoà nhiệt độ có công
suất từ 90.000 BTU trở xuống, bài lá, vàng
mã, hàng mã ngoài hàng hoá, đối tượng
phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt còn bao
gồm các loại dịch vụ như : kinh doanh vũ
trường, mát xa, ka-ra-ô-kê, kinh doanh
b) Một số nội dung cơ bản của pháp luật về phát triển về văn hóa
Pháp luật về sự phát triển văn hóa
Việt Nam được quy định trong Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, Luật Di sản văn hóa, Luật Xuất bản, Luật Báo chí, v.v…
Đó là hệ thống quy định của pháp luật về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; nguyên tắc quản lí nhà nước về văn hóa; xây dựng đời sống văn hóa, nếp sống văn minh, gia đình văn hóa; nghiêm cấm, lọai trừ truyền bá tư tưởng và văn hóa phản động, đồi trụy; giữ gìn và phát triển các
Trang 15casino, trò chơi bằng máy giắc-pót, kinh
doanh giải trí có đặt cược, kinh doanh gôn,
bán thẻ hội viên, vé chơi gôn, kinh doanh
xổ số
Đối tượng nộp thuế là tổ chức, cá nhân
sản xuất, nhập khẩu hàng hoá và kinh
doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế
tiêu thụ đặc biệt
Căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá
tính thuế và thuế suất Giá tính thuế là giá
do cơ sở sản xuất bán ra tại nơi sản xuất
chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt; đối với
hàng hoá nhạp khẩu là giá tính thuế nhập
khẩu cộng thuế nhập khẩu
Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt có mức là
từ 10% đến 75%, tuỳ theo các loại hàng
hoá, dịch vụ Ví dụ : sản xuất hoặc nhập
khẩu hàng bia chai, bia hộp thì phải nộp
thuế với mức là 75% ; đối với dịch vụ kinh
doanh gôn, bán thẻ hội viên, vé chơi gôn
thì mức thuế suất là 10%
+ Thuế thu nhập đối với người có thu nhập
cao : Là thuế thu đối với công dân Việt
Nam ở trong nước hoặc đi công tác nước
ngoài và cá nhân khác định cư tại Việt
Nam, người nước ngoài làm việc tại Việt
Nam có thu nhập cao theo quy định của
pháp luật
Theo Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với
người có thu nhập cao năm 1997 (được sửa
đổi, bổ sung năm 2004), từ ngày 1‟7‟
2004, người phải nộp thuế thu nhập là
công dân Việt Nam và cá nhân khác định
cư tại Việt Nam có thu nhập trên 5 triệu
đồng/tháng, người nước ngoài cư trú tại
di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể; xác định trách nhiệm của Nhà nước tạo mọi điều kiện để nhân dân được thưởng thức những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị
Trang 16Việt Nam và người Việt Nam lao động, công tác ở nước ngoài có thu nhập trên 8 triệu đồng/tháng
HS trao đổi, phát biểu
GV nhận xét, điều chỉnh, bổ sung
GV giảng:
Pháp luật về phát triển văn hoá Việt Nam là hệ thống các quy phạm pháp luật về xây dựng nền văn hoá Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá; xây dựng đời sống văn hoá, nếp sống văn hoá, gia đình văn hoá ; nghiêm cấm, loại trừ truyền bá tư tưởng và văn hoá phản động, đồi truỵ ; giữ gìn và phát triển các di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể ; tôn trọng đạo dức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam ; tạo điều kiện cho các hoạt động xuất bản và thông tin đại chúng phát triển ; bảo đảm dân chủ cho mọi hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật để nhân dân được hưởng thụ những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị Các quy định này của pháp luật được thể hiện trong Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí
Trang 17tuệ, Luật Di sản văn hoá, Luật Xuất bản,
Luật Báo chí và trong các nghị định hướng
dẫn thi hành các luật này
GV đặt vấn đề:
Pháp luật về phát triển văn hoá bao gồm
nhiều nội dung khác nhau, trong đó một
trong những nội dung quan trong nhất là
pháp luật về di sản văn hoá
Thế nào là di sản văn hoá ? Pháp luật về
di sản văn hoá bao gồm những nội dung gì
?
HS trao đổi, phát biểu:
GV giảng:
+ Di sản văn hoá bao gồm di sản văn hoá
phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là
sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch
sử, văn hoá, khoa học, được lưu truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác
Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm
tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa
học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết,
được lưu truyền bằng truyền miệng,
truyền nghề, trình diễn và các hình thức
lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng
nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ
thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng,
diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống,
lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền
thống, tri thức về y, dược học cổ truyền,
về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền
thống dân tộc và những tri thức dân gian
khác
Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật
chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học,
bao gồm di tích lịch sử ‟ văn hoá, danh
c) Một số nội dung cơ bản của pháp luật trong phát triển các lĩnh vực xã hội
Pháp luật khuyến khích các cơ sở kinh
doanh tạo ra nhiều việc làm mới