Việc đắp đê thực hiện suốt từ đầu nguồn cho tới bờ biển để ngăn nước lũ tràn ngập, gọi là đắp đê quai vạc.. Ngoài đắp đê ngăn nước sông, nhà Trần còn tổ chức đắp đê biển ngăn nước mặn.[r]
Trang 1LỊCH SỬ LỚP 4
Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
HỒ CHÍ MINH
Trang 4LƯỢC ĐỒ SÔNG NGÒI PHÍA BẮC NƯỚC VIỆT NAM Sông Mã
Sông Đà
Sông Hồng
Sông Đuống
Sông Cầu
Trang 5BẢN ĐỒ SÔNG NGÒI NƯỚC VIỆT NAM
Trang 6Theo Đại Sử ký chép, những năm 1238, 1243 nước tràn vào kinh thành, bến Triều Đông (còn gọi là bến Đông Bộ Đầu, nay chính là khu vực Hàng Than) và bến Thái Tổ (nay là phố Nguyễn Du) ngập trắng nước
Theo Đại Sử ký chép, những năm 1238, 1243 nước tràn vào kinh thành, bến Triều Đông (còn gọi là bến Đông Bộ Đầu, nay chính là khu vực Hàng Than) và bến Thái Tổ (nay là phố Nguyễn Du) ngập trắng nước
Trang 7Năm 1265, nước đã ngập phường Cơ Xá, năm 1270 nước
to đến mức đi lại trong thành phải dùng thuyền.
Năm 1265, nước đã ngập phường Cơ Xá, năm 1270 nước
to đến mức đi lại trong thành phải dùng thuyền.
Trang 9Khi có lũ lụt, tất cả mọi người dân không phân biệt trai
gái, giàu nghèo đều phải tham gia bảo vệ đê.
Trang 10Các vua Trần cũng tự mình trông nom việc đắp đê
Trang 11ĐÊ CƠ XÁ - CON ĐÊ ĐẦU TIÊN Ở MIỀN BẮC
Việc đắp đê thực hiện suốt từ đầu nguồn cho tới bờ
biển để ngăn nước lũ tràn ngập, gọi là đắp đê quai vạc.
Ngoài đắp đê ngăn nước sông, nhà Trần còn tổ chức đắp đê biển ngăn nước mặn Đê biển là những công trình mới có từ thời Trần.
Trang 14ĐÊ YÊN PHỤ NGÀY NAY
Trang 15ĐÊ SÔNG HỒNG
Trang 17KÈ ĐÊ VÀ GIA CỐ ĐÊ TRÊN CÁC SÔNG
Trang 18KÈ ĐÊ
VÀ GIA
CỐ ĐÊ TRÊN BIỂN
CÀ MAU
KÈ ĐÊ
VÀ GIA
CỐ ĐÊ TRÊN BIỂN
CÀ MAU