Ngoài huyện lỵ Thọ Xuân - trung tâm kinh tế, chính trị, vãn hóa của huyện - nằm ngay bên hữu ngạn sông Chu, huyện còn có khu đô thi công nghiệp Lam Sơn - Sao Vàng, [r]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN
ĐỂ TÀI TRỌNG DlỂM CẤP DẠI HỌC QUỐC GIA
NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG CẤP HUYỆN, ÚNG DỤNG CHO CÁC HUYỆN ĐẬC TRƯNG (THƯỜNG XUÂN, THỌ XUÂN,
HẬU LỘC) CỦA TỈNH THANH HOÁ
BÁO CÁO CHUVễN Đ€
ĐIỀU TRA, THU THẬP sổ LIỆU Tư LIỆU VỂ DIỀU KIỆN TựNHIẼN, KINH TẾ XÃ
HỘI VÀ HIỆN TRẠNG Nlỗl TRƯỞNG HUYỆN THỌ XUÂN
PGS.TS Vũ Quyết Thắng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
ĐẠI HỌC QUỐC GIA M/ì NỌI ĨRUNG TÂM THÕNG |'HU VIỆN
p r / 8 6 ? ~
Trang 2MỞ ĐẦU
Thọ Xuân là huyện nằm ờ phía tây tỉnh Thanh Hóa, được mệnh danh là vùng đất
“địa linh nhân kiệt” có vị thế chiến lược trọng yếu trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước
và giữ nước Ngoài huyện lỵ Thọ Xuân - trung tâm kinh tế, chính trị, vãn hóa của huyện - nằm ngay bên hữu ngạn sông Chu, huyện còn có khu đô thi công nghiệp Lam Sơn - Sao Vàng, một trong bốn khu kinh tế động lực của tĩnh Thanh Hóa và khu di tích lịch sử Lam Kinh đang trờ thành vùng đất đầy tiềm năng, đã và đang mờ ra triển vọng lớn cho sự phát triển của ngành công nghiệp và du lịch Thêm vào đó, nhờ được cấu tạo bởi hai dạng địa hình: bán sơn địa (trung du) - rất thích hợp với trồng cây công nghiệp
- và đồng bằng châu thổ phì nhiêu, cùng với hệ thống sông Chu, sông Cầu Chày, sông Hoàng Giang, hệ thống sông Nông Giang, Đập Bái Thượng,., đã khẳng định thế mạnh của Thọ Xuân trong phát triển nền nông nghiệp toàn diện Chính những ưu thế này đã tạo cho Thọ Xuân những cơ hội to lớn trong phát triển nền kinh tế đa dạng Tuy nhiên, quá trình đô thị hoá và sự phát triển kinh tế mạnh với tốc độ cao đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng môi trường Thêm vào đó, sức chứa về không gian kinh
tế, xã hội có giới hạn trong khi yêu cầu phát triển lại rất lớn, việc hình thành và phát triển khu đô thị, công nghiệp, các khu vực nông thôn, làng nghề thiếu quy hoạch hợp lý
dễ dẫn đến sự quá tải, suy thoái môi trường, sự biến mất của các hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái vùng bãi bồi sông Chu, phá vỡ cảnh quan thiên nhiên, tạo ra mâu thuẫn, xung đột trong phát triển chồng chéo giữa các ngành công nghiệp, du lịch, nông nghiệp và
hạ tầng
Trang 3CHƯƠNG 1
HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TÊ XÃ HỘI HUYỆN THỌ XUÂN
1.1 ĐIỂU K IỆN T ự NHIÊN
Thọ Xuân nằm ở vị trí cửa ngõ nối liền đồng bằng với trung du miền núi, có dòng sông Chu - con sông lớn thứ hai của tỉnh đi qua từ đầu huyện đến cuối huyện, có sân bay quân sự Sao Vàng, có đường Hồ Chí Minh và Quốc lộ 47 chạy qua, Với những điều kiện này Thọ Xuân đã thực sự trở thành một vùng đất mở rất thuận lợi cho việc hội nhập, giao lưu với tất cả các vùng miền trong và ngoài tỉnh Từ Thọ Xuân cũng có đường đi tắt qua Triệu Sơn - Như Xuân để vào Nghệ An rồi từ Thọ Xuân có thể qua đất bạn Lào theo tuyến đường đi Thường Xuân - Bát Mọt hoặc đi Ngọc Lặc - Lang Chánh -
Bá Thước - Quan Hóa để sang tỉnh Hủa Phăn Từ Thọ Xuân cũng có thể đi được đến Hòa Bình theo đường qua Ngọc Lặc - cẩm Thủy và đến Ninh Bình theo đường Yên Định - Vĩnh Lộc đi Phố Cát (Thạch Thành) Nếu theo đường sông Chu, gặp sông Mã ở Ngã Ba Giàng (Thiệu Hóa) có thể đến được hầu khắp các vùng trong, ngoài tỉnh
Từ thành phố Thanh Hóa, theo trục đường 47 đến huyện lỵ Thọ Xuân chỉ có 36km Từ Thọ Xuân lên biên giới Na Mèo gần 150km và ra thủ đô Hà Nội theo con đường Hồ Chí Minh cũng chỉ hơn 130km
Chính vị trí địa lý đặc biệt như vậy đã tạo cho Thọ Xuân nhiều thế mạnh và sắc thái riêng mà nhiều vùng đất khác không có
1.1.2 Địa hình
Thọ Xuân là một huyện đồng bằng nối liền với trung du và miền núi Với vị trí địa lý đặc biệt, địa hình Thọ Xuân phân chia thành hai dạng địa hình cơ bản là vùng trung du đổi núi thấp và vùng đồng bằng rộng lớn tiêu biểu của xứ Thanh
* Vùng trung du (vùng bán sơn địa)
Vùng bán sơn địa trải rộng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, bao gồm 11 xã, 2 thị trấn Vùng này chiếm 53% diện tích đất đai của toàn huyện và được chia thành 2 tiểu vùng:
Trang 4Vùng đồi núi thấp bao quanh phía Tây Nam (địa hình có độ cao từ 20-150m) của huyện, gồm 5 xã, 2 thị trấn (gồm phần lớn diện tích của nông trường Sao Vàng).
Nhìn chung vùng bán sơn địa của Thọ Xuân hầu hết là những đồi núi thấp chạy liền mạch nhấp nhô như bát úp, nhiều chỗ lại bằng phẳng nên rất thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp, lâm nghiệp và cây ăn quả khác
* Vùng đồng bằng
Vùng đồng bằng bao gồm 27 xã và 1 thị trấn nằm về hai phía tả ngạn và hữu ngạn sông Chu Diện tích tự nhiên của vùng này chiếm gần 50% diện tích đất đai toàn huyện Vùng này cũng có thể chia ra làm 2 tiểu vùng: Vùng đồng bằng hữu ngạn sông Chu (gồm 17 xã và 1 thị trấn) và Vùng đồng bằng tả ngạn sông Chu (gồm 9 xã.)
Mặc dù vùng đồng bằng huyện Thọ Xuân bị chia cắt thành nhiều cánh đồng có bình độ khác nhau, tạo ra những khu vực lòng chảo cục bộ gây ngập úng nhưng đây vẫn là vùng trọng điểm lúa số 1, số 2 của tỉnh Thanh Hóa
Như vậy, địa hình huyện Thọ Xuân là vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung
du, độ dốc lớn có chiều nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam Địa hình này thuận lợi cho việc kiến thiết các hệ thống thủy lợi tiêu thoát nước trong mùa mưa lũ song cũng gây ra tình trạng rửa trôi, xói mòn làm mất độ phì của đất
1.1.3 Khí hậu
Khí hậu huyện Thọ Xuân có tính chất xen giữa hai mùa: mùa đông gió lạnh, khô
và mùa hè mưa nhiều có bão lụt kèm theo Nhìn chung khí hậu rất thuận lợi cho việc phát triển canh tác nông - lâm nghiệp Tuy nhiên, ở mỗi vùng địa hình giữa vùng trung
du đồi núi và vùng đồng bằng khí hậu có những nét khác biệt, chênh lệch nhau cả về nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, gió, sương, Về mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, một số đất nhẹ ở địa hình cao hay đất đồi núi dốc ở 11 xã phía Tây Nam và Bắc, Đông Bắc sẽ bị xói mòn, rửa trôi nhiều chất dinh dưỡng và keo đất, còn những vùng trũng thấp sẽ bị ngập úng, gây ra hiện tượng yếm khí thiếu ô xy trong đất v ề mùa đông hanh khô, nước bốc hơi mạnh, chân đất cao dễ bị khô hạn, tạo điều kiện cho sự hình thành các kết von, đá ong trong đất
Theo số liệu điều tra khảo sát của các cơ quan khí tượng trong tỉnh, huyện các đặc trưng về khí hậu của huyện Thọ Xuân thể hiện như sau:
Trang 5- Sương mù: thường xuất hiện trong mùa đông và mùa xuân
- Sương muối: Những năm rét nhiều thì thường xuất hiện sương muối (vào tháng
là 7.630 km2 (ở Việt Nam chiếm khoảng 41%) Phần sông chảy qua Việt Nam dài 145
km và phần chảy qua huyện Thọ Xuân dài 29,4 km Thượng nguồn có độ dốc lớn, lòng sông sâu, bề ngang sông hẹp dòng chảy uốn khúc, bắt nguồn từ những vùng núi cao có những cánh rìmg đại ngàn cộng thêm sự tác động của hướng núi cũng như hướng gió thịnh, làm cho nước sông không ổn định và có sự chênh lệch rất lớn giữa mùa mưa và mùa khô cạn Theo số liệu điều tra cho biết:
Trang 6- Sương mù: thường xuất hiện trong mùa đông và mùa xuân
- Sương muối: Những năm rét nhiều thì thường xuất hiện sương muối (vào tháng
là 7.630 km2 (ở Việt Nam chiếm khoảng 41%) Phần sông chảy qua Việt Nam dài 145
km và phần chảy qua huyện Thọ Xuân dài 29,4 km Thượng nguồn có độ dốc lớn lòng sông sâu, bề ngang sông hẹp dòng chảy uốn khúc, bắt nguồn từ những vùng núi cao có những cánh rừng đại ngàn cộng thêm sự tác động cùa hướng núi cũng như hướng gió thịnh, làm cho nước sông không ổn định và có sự chênh lệch rất lớn giữa mùa mưa và mùa khô cạn Theo số liệu điều tra cho biết:
Trang 7- Lượng nước về mùa mưa của sông Chu chỉ trong 3 tháng từ tháng 8 đến tháng
10 chiếm 75% - 85% tổng lượng nước cả năm Lưu lượng nước lũ lớn nhất tại Bái Thượng với 6.000m3/s, lưu lượng trung bình là 25m3/s, kiệt nhất là 19m3/s
- Cường lũ biến động mạnh, bình quân 15-20 km/h, có khi lên đến 80km/h - 100km/h Thời gian lũ kéo dài bình quân 7 ngày/trận, lớn nhất 15 ngày Tháng có lũ lớn nhất là tháng 9 Mùa lũ nước sông cao hơn trong đồng 2 - 4m, mùa kiệt nước sông lại thấp hơn trong đồng 5 - 7m
Trên địa bàn huyện Thọ Xuân có một nhánh sông Chu là Khe Trê bắt nguồn từ xã Nguyệt ấn (Ngọc Lặc), chảy qua xã Xuân Thiên, Thọ Minh rồi đổ ra sông Chu, lòng khe hẹp và sâu
Sông Chu đóng một vai trò hết sức quan trọng về nhiều mặt đối với vùng đất huyện Thọ Xuân, tạo cho Thọ Xuân một khu vực đồng bằng phù sa mới tiêu biểu và rộng lớn nhất của xứ Thanh để canh tác nông nghiệp
* Sông Cầu Chày
Bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Khê, huyện Ngọc Lặc, chảy theo ranh giới 2 huyện Thọ Xuân và Yên Định, chiều dài khoảng 87,5 km, diện tích lưu vực là 551 km2, phần chảy qua địa phận Thọ Xuân là 24 km, lưu lượng lũ lớn nhất là 136 m3/s, lưu lượng kiệt 0,7m3/s
* Sông Hoàng.
Bắt nguồn từ dãy núi phía Tây nông trường Sao Vàng, chảy qua địa phận các huyện Thọ Xuân, Triệu Sơn, Nông Cống, Đông Sơn và nhập vào sông Yên ở ngã ba Yên Sở, cách bờ biển gần 30 km Sông Hoàng có chiều dài khoảng 81 km, diện tích lưu vực là 336 km2 Nằm trong phạm vi huyện Thọ Xuân vói chiều dài là 29 km, diện tích lưu vực là 105 km2
Sông Hoàng có lưu lượng lũ lớn nhất khoảng 67,5 m3/s, lưu lượng kiệt là 0,1 m3/s Lòng sông quanh co uốn khúc, sông ngắn nên lũ tập trung khá nhanh, cùng một lúc đổ xuống vùng đổng bằng huyện Thọ Xuân tạo nên sự thay đổi đột ngột, gây ngập úng, lụt
Sông Hoàng còn có 1 nhánh trên đất Thọ Xuân, dài 10 km chảy qua các xã Thọ Nguyên, Xuân Khánh, Xuân Phong có tác dụng tiêu là chủ yếu
Đánh giá chung
Nhìn chung, hệ thống sông ngòi, khe suối b huyện Thọ Xuân rất phong phú, có
nước quanh năm Tổng lượng nước trên các sông đều lớn, khả năng lợi dụng nước
nguồn còn nhiều tiềm năng như đập Bái Thượng (ở sông Chu), đập Cầu Nha (ở sông
Cầu Chày) Ngoài những sông và khe trên, trên địa bàn huyện Thọ Xuân còn có nhiều
hổ, ao nằm phân tán rải rác Đáng kể nhất là: Hồ Mạ ở xã Quảng Phú với diện tích 39,8
Trang 8Scm với diện tích 8,75 ha; hồ cây Quýt ở xã Xuân Thắng với diện tích 3 ha; hồ Đông Trường ở thị trấn Sao Vàng với diện tích 0,95 ha.
Sông Chu ở Thọ Xuân là nơi tập trung nhiều hoạt động kinh tế như: cải tạo lòng sông trong việc điều tiết nguồn nước, điều tiết dòng sông chảy qua đập dâng nước, các
hệ thống tưới tự chảy, các trạm bơm Do đó, bộ mặt các dòng sông trong vùng có thể thay đổi đáng kể, quá trình bốc thoát hơi nước, nguồn nước mùa cạn ở các khu vực trong vùng đều có những biến đổi mạnh mẽ và quan trọng nhất là giải quyết nguồn nước tưới cho hàng chục vạn ha đất canh tác ở nhiều huyện trong tỉnh
Tuy nhiên, bên canh sự thuận lợi trên sông suối và nguồn nước tự nhiên nói chung của Thọ Xuân cũng gây ra những khó khăn, bất cập VI hệ thống sông phân bố không đều, lòng sông lại hẹp, ngắn, dốc và uốn khúc nhiều nên về mùa mưa nước dễ tập trung nhanh, gây úng lụt cục bộ trên diện rộng như sông Hoàng và sông Cầu Chày Trong mùa lũ, vấn đề bảo vệ an toàn các tuyến đê sông Chu là yêu cầu hết sức quan trọng, đòi hỏi rất nhiều công sức v ề mùa cạn, mực nước thấp nhất ở các sông cách mặt đất từ 5 -1 0 m, làm cho việc bơm tưới rất khó khăn
1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên
a Tài nguyên đất
Là huyện đồng bằng châu thổ sông Chu - sông Mã tiếp giáp với vùng trung du miền núi, đất đai của huyện được hình thành rõ rệt trên sản phẩm phong hóa của các loại đá mẹ và mẫu chất tích tụ từ tác động của sông
Theo các điều tra Nông hoá thổ nhưỡng diện tích 26.260,65ha (năm 2000), đất đai của huyện Thọ Xuân có thể chia thành 4 nhóm chính:
-Nhóm đât xám: Agrsols, diện tích: 8.931,0ha
-Nhóm đất phù xa: Fluvials, diện tích: 15.893,2ha
-Nhóm đất đỏ: Fersalsols, diện tích: 809,1 ha
-Nhóm đất tầng mỏng: Leptosls, diện tích: 627,3ha
b Tài nguyên nước
Trang 9Ngoài ra, hàng năm địa bàn huyện Thọ Xuân còn phải tiếp nhận một nguồn nước ngoại lai rất lớn từ Thường Xuân, Ngọc Lặc và Lang Chánh đổ về với lượng gần bằng 2/3 lượng nước về mùa mưa Nhưng do huyện có hệ thống thủy nông hoàn chỉnh (với rất nhiều hổ chứa nước và hệ thống tiêu thủy dồi dào) cho nên đến nay tình trạng lũ lụt, ngập úng đã được khắc phục một cách cơ bản Tuy nhiên, để khai thác và sừ dụng hiệu quả tối đa nguồn nước mặt, cần phải thường xuyên mở mang, gia cố thêm hệ thống giữ nước và tiêu nước.
* Nước ngâm
Nước ngầm ở Thọ Xuân nằm trong bối cảnh chung của Thanh Hoá không phong phú và phân bố không đồng đều giữa các vùng Phía Đông (đồng bằng) Thọ Xuân địa
hình hơi dốc từ Tây Bắc sang Đông Nam, địa chất ở đây là trầm tích hệ thứ 4 có bê dày
trung bình 60m tạo ra 3 lớp nước ngầm, 2 lớp dưới rất phong phú, lưu lượng 22-231/s,
độ khoáng l-2,2g/l Phủ lên hai lớp dưới là lớp nước trầm tích rất nghèo, lưu lượng chỉ
có 0,1-0,71/s Phía Tây (vùng đồi) bao gồm dải đồi thấp ven đồng bằng có độ cao trung bình trên dưới 20m Nước ngầm ở khu này phân thành 2 lớp, lớp trên lượng nước rất nghèo trong mùa khô Lớp dưới có độ sâu 70-80m, trữ lượng khá phong phú, lưu lượng 4-61/s Ngoài giếng khơi nhân dân còn sử dụng giếng khoan lấy từ mạch nước sâu phục
vụ sinh hoạt và đời sống
c Tài nguyên rừng
Với hơn 50% diện tích là đối núi thấp phân bố ở vùng trung du sông Chu, có điêu kiện đất đai, khí hậu thuận lợi, trước đây Thọ Xuân là huyện có rừng tự nhiên gần như phủ kín khắp các vùng địa hình Tây Bắc - Đông Nam của huyện Tuy nhiên, trong vài thập kỷ gần đây, rừng tự nhiên của Thọ Xuân đã bị thu hẹp và cạn kiệt do sự khai thác bừa bãi của con người Kết quả kiểm tra rừng năm 1999 cho thấy, Thọ Xuân còn lại 1.806 ha rừng, trong đó có 56,30 ha là rừng tự nhiên, 1.749,7 ha là rừng trồng Trong rừng trồng có 351,79 ha rừng gỗ có trữ lượng; 684 ha rừng tre, nứa, luồng; 713,73 ha rừng cao su
Hiện nay, huyện Thọ Xuân chỉ còn lại một số khu vực có rừng tự nhiên và rừng tái sinh đang được bảo vệ như rừng lim ở xã Xuân Phú, rừng ở khu di tích lịch sử văn hóa Lam Kinh và rừng nguyên sinh ờ khu vực đồi Chè ở phía đông núi Chẩu Tại những nơi này vẫn còn những cây to lớn có tuổi từ 100 năm đến vài trăm năm trở lên ,Theo thống kê của huyện đến năm 2005, toàn huyện có đất lâm nghiệp là 2.122,32 ha, trong đó đất rừng sản xuất là 2.014,54 ha, đất rừng phòng hộ là 107,78 ha Hiện tại đất đồi núi chưa sừ dụng (ở dạng còn hoang hóa) đang tiếp tục được khai thác
để trồng cây lâm nghiệp là 1.821,62 ha, trong số đó sẽ chọn ra 600 ha có độ dốc >15°
và >20° để trồng cây ăn quả tập trung Với đà này, dự báo trong vài năm tới (đến 2010), diện tích rừng đặc dụng, rừng trồng mới và mô hình nông lâm kết hợp chắc chắn sẽ đạt được 3.943,94 ha
Trang 10d Tài nguyên khoáng sản
Do không nằm trên phạm vi chính của đứt gãy sông Mã mà là vùng rìa tiếp nối vói đới cấu trúc sinh khoáng Sầm Nưa - Hoành Sem nên khoáng sản ở huyện Thọ Xuân không phong phú bằng các huyện miền núi khác trong tỉnh
Khoáng sản ở Thọ Xuân chủ yếu là khoáng sản phi kim loại Các loại khoáng sản phi kim loại phong phú và dồi dào nhất là nguồn cát, sỏi phân bố ở tất cả các xã ven đôi bờ sông Chu từ đầu huyện đến cuối huyện Đây là một nguồn lợi đáng kể do thiên nhiên ban tặng Chất lượng cát, sỏi ở huyện vừa sạch, vừa dễ khai thác Ngoài sự tiềm tàng về cát sỏi Thọ Xuân còn có nguồn đất sét dồi dào có thể phát triển nghề gach ngói Ngoài ra, ở Thọ Xuân còn phát hiện được các mỏ phốt phát ở khu vực núi Gò Tô (xã Xuân Châu), phân lân (xã Thọ Lâm) và mỏ than bùn ở các xã Xuân Sơn, Thọ Lâm, Xuân Tân và một số núi đá vôi nằm rải rác ở các địa điểm Xuân Châu (núi Gò Tô: 5,5ha), Xuân Thắng (núi Chẩu: 40,2ha), Thọ Xương (núi Mục), và một số điểm ở Mục Sơn, Bái Thượng, Nông trường Sao Vàng, Thọ Lâm
Nhìn chung, nguồn khoáng sản ở Thọ Xuân không phong phú và đa dạng về loại hình so với những vùng đất khác, những đây vẫn là một nguồn lực quan trọng và to lớn
để tận dụng khai thác phục vụ cho phát triển nền kinh tế trong huyện
Nhờ có cầu Hạnh Phúc, từ Lam Kinh về đền thờ Lê Hoàn có nhiều thuận lợi, có thể tạo ra “tour” du lịch và di tích lịch sử nổi tiếng Lam Kinh, đền thờ Lê Hoàn, thành nhà Hồ (Vĩnh Lộc) và ngược lại
Đặc biệt, Thọ Xuân còn có thể tạo ra tuyến du lịch cảnh quan đập Bái Thượng,
hệ thống sông Chu, nơi khởi đầu cho việc đưa nước tưới cho hàng chục vạn ha đất canh tác, hàng trăm ngàn con người sinh sống và môi trường trong lành của văn minh lúa nước
/ Tài nguyên nhân văn
Thọ Xuân là nơi có bề dày lịch sử, văn hóa cách mạng vơi 25 di tích được xếp hạng, trong đó 7 di tích Quốc gia và 18 di tích cấp tỉnh (xem phụ lục 1: Bảng thống kê
di tích lịch sử văn hóa đã xếp hạng huyện Thọ Xuân) Thiên nhiên, lịch sử và con người của vùng này đã hòa quyện, tạo nên truyền thống lịch sử văn hóa Thọ Xuân; mảnh đất “địa linh nhân kiệt” sản sinh ra nhiều Anh hùng dân tộc nổi tiếng kiệt xuất như: Lê Hoàn, vị vua thời tiền Lê đã góp nhiều công lao cho dân tộc và Lê Lợi người
Trang 11làm lên cuộc kháng chiến chống quân Minh, lập ra triều đại hậu Lê phát triển, hưng thịnh trong lịch sử Việt Nam.
Trong hai cuộc khàng chiến thần thánh của dân tộc, Thọ Xuân đã đóng góp nhiều sức người, sức của cho đất nước, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 67 bà mẹ được phong tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng; nhiều thương binh, liệt sỹ, anh hùng lực lượng vũ trang, nhiều giáo sư, tiến sỹ, chiến sỹ thi đua trong phong trào thi đua xây dựng đất nước Có thể nói Thọ Xuân là vùng đất hiếu học, quý trọng nhân tài, luôn xứng đáng với các bậc danh nhân tiền bối
Thọ Xuân là nơi có nhiều lễ hội truyền thống: Lễ hội Lê Hoàn 8/3 Âm lịch, lễ hội Lam Kinh 22/8 Âm lịch được tổ chức quy mô lớn, hàng vạn lượt người trên mọi miền Tổ quốc vê dự, ngoài ra còn có nhiều lễ hội quy mô cấp xã Đến năm 2000 trong phong trào xây dựng nếp sống văn hóa mới, Thọ Xuân có 19.000 gia đình đạt gia đình văn hóa, 97 làng, khu phố, cơ quan văn hóa, trong đó có 17 làng đạt danh hiệu làng văn hóa cấp tỉnh, 30 làng đạt cấp huyện
Thọ Xuân cũng là mảnh đất có nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng như: Bánh gai Tứ Trụ; 12 Xứ Láng trồng dâu nuôi tằm, quay tơ dệt lụa; thổ cẩm Xuân Phú, nón là Thọ Lộc, cót Bắt Căng
Với lịch sử văn hiến truyền thống của mảnh đất “địa linh nhân kiệt”, nhân dân cần cù, sáng tạo có ý chí tự lực, tự cường khắc phục khó khăn, kế thừa và phát huy những kinh nghiệm, thành quả đạt được nhằm phát triển nền kinh tế - văn hóa xã hội xứng đáng với truyền thống quê hương Thọ Xuân anh hùng
1.2 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN k i n h t ế - XÃ HỘI
1.2.1 Dân số
Thọ Xuân là một huyện lớn có 41 đơn vị hành chính, trong đó có 38 xã và 3 thị trấn với tổng diện tích đất tự nhiên là 30.304,69 ha Tính đến ngày 31/12/2005, dân số
toàn huyện là 235.436 người, đồng bào dân tộc ít chiếm khoảng 3%, đồng bào theo đạo
thiên chúa chiếm khoảng 10%, dân số vùng nông thôn chiếm khoảng 92% Mật độ dân
số bình quân 776 người/km2 Diễn biến dân số và cơ cấu dân số huyện Thọ Xuân qua các năm (xem phụ lục 2) theo xu hướng trong biểu đồ như sau:
Trang 1215 nông thôn
Biểu đồ 1: Diễn biến dân số và cơ cấu dân số huyện Thọ Xuân
Nhìn vào biểu đồ ta thấy, tốc độ tăng dân số của huyện trong giai đoạn
2001-2005 có xu hướng giảm dần (năm 2001 là 1,128% so với năm 2000, năm 2001-2005 là 0,419% so với năm 2000) Tốc độ tăng bình quân trong cả giai đoạn (2000-2005) là0,523% Tốc độ tăng dân số đô thị tăng dần (từ 0,459% năm 2002 lên 1,609% nãm 2005), tốc độ tăng dân số nông thôn giảm dần (từ 0,455% năm 2002 xuống 0,113% năm 2005) Theo đó cơ cấu dân số thành thị tăng dần, năm 2001 dân số thành thị
chiếm 8,5%, năm 2005 chiếm gần 9% trong tổng dân số.
Trên địa bàn toàn huyện, dân cư được phân bố như trong bản đồ sau:
Trang 13SÔKỢ > A «ổ *>
Hỉnh bản đồ hiện trạng phân bố dân cư huyện Thọ Xuân
Nhìn vào bản đồ phân bố dân cư ta thấy dân số phân bố không đều giữa các khu
vực trong huyện, ở khu vực các xã miền núi dân cư thưa thót, lẻ tẻ với mật độ dân số
trung bình khu vực là 373 người/km2, xã Xuân Phú chỉ có 196 người/km2 Trong khi tại các thị trấn và các xã vùng đồng bằng dân cư tập trung đông (Thị trấn Lam Sơn: 1.952 người/km2, Thị trấn Thọ Xuân: 3.240 người/km2, xã Nam Giang: 1.398 người/km2).1.2.2 Lao động
Trong giai đoạn 2001-2004, lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế có
xu hướng tăng lên Năm 2004, số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 92.680 người, chiếm 39,37% trong tổng số dân Số lao động phân bố trong các ngành kinh tế (xem phụ lục 2)
Theo điều tra mới đây nhất của huyện (2007), mật độ dân số bình quân tăng lên là
790 người/km2, tổng hợp dân số và lao động trong huyện như sau:
Trang 14Bảng I: Tổng hợp dân số và lao động huyện 2007
(người)
Tỷ lệ (%)
- Lao động khối cơ quan Nhà nước-quản lý kinh tế 4.107
Trong đó:
Nguồn: Báo cáo của phòng Môi trường-UBND huyện Thọ Xuân T6/2007
1.2.3 Đặc điểm kinh tế
a) Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trong giai đọan 1996 - 2000, tốc độ tăng trưởng bình quân là 10,3%/nãm (tỉnh 7,3%/năm), đến giai đoạn 2000-2005 tăng lên đạt mức bình quân là 11,7%/năm Năm
2006 tăng lên 13,2% (Bảng 2)
Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng kinh tê bình quân của huyện
Nguồn: Báo cáo tổng kết tình hình phát triển KT-XH của Huyện ủy Thọ Xuân
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, công nghiệp
- tiểu thủ công nghiệp, giảm tỷ trọng ngành nông - lâm nghiệp Nhưng tỷ trọng ngànhcông nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng chậm
Trang 15Bảng 3: Cơ cấu kinh tế của huyện (%)
+ Nông lâm nghiệp:
- Trồng trọt: Đã hình thành rõ nét các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, chuyên canh sản xuất gắn với thị trường Vụ đông trở thành vụ sản xuất chính, khả năng thâm canh cao, cây trồng đa dạng, đặc biệt là cây trồng có giá trị hàng hoá cao, giá trị sản xuất bình quân trên ha canh tác đến năm 2005 đạt 33,6% triệu đồng Năm
2005, sản lượng lương thực đạt mục tiêu đề ra 110.000 tấn Sản lượng mía nguyên liệu trên 200 nghìn tấn/năm Các cây công nghiệp: Lạc, đậu tương có sự tăng trường cả
về diện tích, năng suất và sản lượng
- Chăn nuôi phát triển: Năm 2005 đàn bò lai Sind, lẹm hướng nạc đều chiến trên 50% tổng đàn, phát triển nghề nuôi bò sửa; đưa tỷ trọng ngành chăn nuôi chiếm 39,4% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng 7,8% so với năm 2000
- Lâm nghiệp phát triển theo hướng lâm nghiệp xã hội, chăm sóc và bảo vệ rừng, nâng cao hiệu quả kinh tế lâm nghiệp
+ Công nghiệp -TTCN:
Giá trị sản xuất bình quân hàng năm tăng 18,6% Các ngành nghề truyền thống tiếp tục phát triển gắn với thị trường tiêu thụ, nghề trồng dâu nuôi tằm bước đầu được khôi phục Một số ngành nghề mới được du nhập, phát triển mạnh như chế biến bột giấy, mộc cao cấp, gỗ xẻ xuất khẩu Các cơ sờ sản x u ấ t CN - TTCN chủ yếu là khu vực kinh tế tư nhân với công nghệ được đổi mới
+ Dịch vụ - thương m ạ i:
Hệ thống dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển mạnh, đến năm 2005 các xã, thị trấn đã có bưu điện văn hoá xã; 100% xã, thị trấn có điện thoại; bình quân 3,3 máy điện thoại/100 dân Các dịch vụ thông tin điện từ, dịch vụ Internet
Trang 16dịch vụ vận tải phát triển mạnh ở các địa phương trong huyện; dịch vụ du lịch, lễ hội đang từng bước được coi trong.
+ Tài chính - tín dụng:
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 5 năm qua đều vượt kế hoạch tỉnh giao; đáp ứng chi thường xuyên, đảm bảo qui định của Luật Ngân sách Hoạt động túi dụng - ngân hàng có nhiều đổi mới Năm 2005, nguồn vốn huy động đạt 123 tỷ đồng
+ Các thành phần kinh tế:
Đến năm 2005, toàn huyện có 73 HTX; 250 trang trại và 48 doanh nghiệp Các thành phần kinh tế phát triển, đặc biệt là kinh tế HTX, kinh tế trang trại đã khẳng định lợi thế và vai trò tích cực trong việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, tham gia xoá đói, giảm nghèo, góp phần phân công lại lao động xã h ội
+ Kết cấu hạ tầng kinh tế - x ã hội:
Trong 5 năm qua đã đầu tư gần 400 tỷ đồng, tăng 2,7 lần so với thời kỳ 1996 - 2000; trong đó : nguồn vốn Trung ương, vốn tỉnh 51,2%, vốn ngân sách huyện, xã 27,7%, vốn dân đóng góp 21,1% Phong trào làm đường giao thông nông thôn được hưởng ứng rộng rãi, đã rải nhựa 31km đường liên xã, đường xã, 265km đường thôn, xóm được bê tông hoá Hệ thống đê, kè, cống được đầu tư, từng bước cứng hoá mặt đê Trung ương
c) Hiện trạng sử dụng đất
Theo thống kê, kiểm kê diện tích đất theo đơn vị hành chính, năm 2005 với diện tích tự nhiên 30.035,58ha tình hình đất đai được sử dụng như sau:
- Đất nông nghiệp: Diện tích 15.389,25 ha chiếm 51,24% diện tích đất tự nhiên
- Đất lâm nghiệp có rừng: Diện tích 2.122,32 ha chiếm 7,07% diện tích đất tựnhiên
- Đất chuyên dùng: Diện tích 4.446,83 ha chiếm 14,8% diện tích đất tự nhiên
- Đất ở: Diện tích là 2.658,28 ha chiếm 8,85% diện tích tự nhiên
- Đất chưa sử dụng: 3.015,9 ha chiếm 10,04% diện tích dự nhiên
Diện tích đất còn lại 2.403 ha đưa vào sử dụng ở những mục đích khác nhau, chiếm khoảng 8% diện tích đất tự nhiên
1.2.4 Văn hóa - xã hội
+ Giáo due - đào tao: Chất lượng giáo dục toàn diện và mũi nhọn được nâng lên
Cơ sở vật chất, trang thiết bị học đường được đầu tư nâng cấp, năm 2005 toàn huyện có
38 trường chuẩn quốc gia
+ Ván hoá - thông tin : Đổi mới về nội dung, hình thức tuyên truyền đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, đã khai trương xây dựng 159 làng, khu