1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN PP ren chinh ta cho HS THCS

9 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 53,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song , việc dừng hẵn không đề cập đến chính tả ở bậc học sau đã làm cho một số đông học sinh tuỳ tiện khi viết chữ... Cụ thể ở trờng trung học cơ sở Hà Lan , nơi tôi đang công tác , việc

Trang 1

Phần I : đặt vấn đề

I lý do chọ đề tài

Ngôn ngữ âm thanh trong một thời gian rất dài để trở thành công

cụ duy nhất để con ngời có thẻe truyền đạt cho nhau những kinh nghiệm sản xuất và đấu tranh Tuy nhiên việc sử dụng ngôn ngữ

âm thanh không phải không có những hạn chế nhất định Ngôn ngữ âm thanh ( tức là lời nói ) chỉ có hiệu lực trong một phạm vi nhất định Ngoài phạm vi ấy , ngời này không thể nghe đợc tiếng nói của ngời kia Nh vậy , ngôn ngữ âm thanh có sự hạn chế nhất

định về mặt không gian Để khắc phục mặt hạn chế đó , con ngời

đã tìm ra một hình thức thông tin mới , thông tin bằng chữ Nh vậy , chữ viết ra đời do nhu cầu thông tin liên lạc

Chữ viết là hệ thống ký hiệu đồ hoạ đã đợc sử dụng để cố định hoá ngôn ngữ âm thanh Chức năng của chữ viết là đại diện cho lời nói So với lời nói thì chữ viết xuất hiện sau Vì vậy , chữ viết phải phụ thuộc vào lời nói Khi chữ viết và lời nói không có sự phù hợp nữa thì phải cải tiến chữ viết

Chữ quốc ngữ của ngời Việt ( Tiếng Việt ) là hệ thống chữ viết ghi

âm Trong đó chính tả là sự chuẩn hoá hình thức của ngôn ngữ tiếng Việt Đó là một hệ thống các quy tắc về cách viết các âm vị ,

âm tiết , từ , cách dùng các dấu câu , lối viết hoa Từ đó , chính tả

có vai trpf rất lớn trong việc thể hiện thông tin của chữ viết Viết

đúng chính tả sẽ làm cho việc truyền tin một cách chính xác đến ngi\ời nhận ,ngời nghe Ngợc lại , trong một số trờng hợp a\sai chính tả

sẽ dẫn đến nhiều cách hiểu trái ngợc đến thông tin định chuyển tải , có khi dẫn đến sự hiểu nhầm tai hại

Trong nhà trờng , vai trò của chính tả rất quan trọng Một văn bản viết đúng chính tả thể hiện một nhận thức đúng đắn về tiếng Việt Viết đúng chính tả cũng là một phần góp cho sự trong sáng của ngôn ngữ tiếng việt

II Tình hình chính tả trong trờng trung học cơ sở

Học sinh học chữ và rèn luyện viết chính tả ngay từ khi học lớp 1 Trong suốt thời gian học Tiểu học , công việc này diễn ra đều đặn

và thờng xuyên trong chơng trình Đến lớp 7 ( Cải cách giáo dục 1994 ) thì việc rèn luyện chính tả dừng lại để học các môn văn hoá

Trong chơng trình Văn – Tiếng Việt bậc trung học cơ sở không đề cập đến việc rèn chính tả cho học sinh nữa Điều đó cũng phù hợp với

đặc điểm chơng trình giáo dục Bởi việc viết chính tả chỉ tồn tại

ở Tiểu học , lên bậc trung học cơ sở học sinh đã thành thạo chính tả từng con chữ Song , việc dừng hẵn không đề cập đến chính tả ở bậc học sau đã làm cho một số đông học sinh tuỳ tiện khi viết chữ

Trang 2

Năm học 2002 – 2003 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đa việc luyện

chính tả vào trung học cơ sở do bộ môn ngữ văn đảm nhiệm Điều này là một việc làm hết sức cần thiết và phù hợp với thực tế học sinh của chúng ta hiện nay

Song , việc viết sai chính tả còn tồn tại ở số đông học sinh , kể cả bậc trung học phổ thông Qua thực tế giảng dạy và chấm chữa bài cho học sinh , tôi nhận thấy rằng tình trạng viết sai chính tả là rất nhiều Các em học yếu , kém viết sai chính tả là một lẽ , ngay cả các

em học sinh khá , thậm chí cả học sinh giỏi cũng viết sai chính tả Khi hỏi các em tại sao thì bản thân các em đó không lý giải đợc

hoặc có chăng thì cho là quen tay Bởi vì bản thân các em không hiểu đợc là sai hay đúng Việc viết sai chính tả của học sinh hiện nay chúng ta có thể bắt gặp bất cứ ở văn bản nào , bất cứ ở môn học gì dù đó là môn xã hội hay môn tự nhiên Đây là một thực trạng

chung của nhiều trờng trung học cơ sở Qua báo chí , qua các kỳ thi

đại học , qua điều tra cụ thể , ta nghe nhiều lời phàn nàn về lỗi

chính tả của các cô tú , cậu tú

Cụ thể ở trờng trung học cơ sở Hà Lan , nơi tôi đang công tác , việc học sinh mắc lỗi chính tả là nỗi băn khoăn , trăn trở của nhiều thầy , cô giáo , nhiều phụ huynh học sinh Trong đó , bản thân tôi là một giáo viên dạy văn , đã hết sức coi trọng việc sửa lỗi chính tả cho học sinh và bớc đầu thấy đợc kết quả khả quan ý thức đợc điều đó , tôi đã mạnh dạn áp dụng việc vừa dạy kiến thức văn học vừa kết hợp việc rèn chữ cho học sinh qua từng bài dạy , tiết dạy , thông qua việc chấm , chữa bài cho các em học sinh Tất cả những gì tôi đã thể hiện là để chuẩn chính tả cho các em học sinh trong trờng trung học cơ sở Đó chính là những gì tôi đã thể hiện thông qua đề tài sáng kiến kinh nghiệm : “ Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng ,

chuẩn chính tả tiếng Việt “

III Đối tợng và phạm vị nghiên cứu

Học sinh lớp 7 trờng trung học cơ sở Hà Lan

IV Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 9 năm 2005 đến tháng 5 năm 2006

Trang 3

Phần II : giải quyết vấn đề

I chính tả và một số đặc điểm của chuẩn chính tả

1 Đặc điểm đầu tiên của chuẩn chính tả là tính chất bắt buộc gần nh tuyệt đối của nó Đặc điểm này đòi hỏi ngời viết bao giờ cũng phải viết đúng chính tả Chữ viết có thể cha hợp lý , nhng khi

đã đợc thừa nhận thì ngời cầm bút không đợc tự ý viết khác đi Ai cũng biết rằng viết “ ghế “ , “ ghen “ không hợp lý và tiết kiệm bằng

“ gế “,“gen “ nhng chỉ có cách viết thứ nhất mới đợc coi là đúng chính tả

Vì vậy , khi nói đến chuẩn chính tả là nói đến tính chất pháp lệnh Trong chính tả không có sự phân biệt hợp lý hay không hợp lý , hay –dở mà chỉ có phân biệt đúng – sai , lỗi – không lỗi Đối với

chính tả , yêu cầu cao nhất là cách viết thống nhất , thống nhất trong mọi văn bản , mọi địa phơng

2 Do chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần nh tuyệt đối , cho nên nó ít bị thay đổi nh các chuẩn mực khác của ngôn ngữ Nói cách khác , chuẩn chính tả có tính chất ổn định , tính chất cố hữu khá rõ

II Một số quy định về chuẩn chính tả ( Theo UB khoa học xã

hội và Bộ Giáo dục )

1 Thống nhất viết nguyên âm

Trang 4

( Âm chính ) / i / bằng chữ cái i – Ví dụ : Lí luận , kĩ thuật , thẩm

mĩ v.v

- Khi cần phân biệt “ uy “ với “ ui” nh “ tuý “ với “ túi “ thì vần uy vẫn viết nh cũ Hoặc uy trong quy luật , quy tắc

+ i hoặc y đứng một mình hoặc đứng đầu âm tiết vẫn viết theo tói quen cũ Ví dụ : ý kiến , ỉ eo v.v

2 Khi trong thực tế đang tồn tại hai hình thức chính tả mà cha xác định đợc một chuẩn mực duy nhất thì chấp nhận cả hai hình thức ấy

Ví dụ : eo sèo / eo xèo ; sứ mạng / sứ mệnh v.v

3 Về cách viết hoa tên riêng tiếng Việt

a Tên ngời và tên nơi chốn

* Viết hoa tất cả các chữ cái đầu của từ mà không dùng gạch nối :

Ví dụ : Trần Quốc Toản ; Bình trị Thiên v.v

b Tên tổ chức , cơ quan : Viết hoa chữ cái đầu trong tổ hợp từ dùng làm tên :

Ví dụ : Đảng cộng sản Việt Nam ; Trờng Đại học Bách khoa v.v

4 Về cách viết tên riêng không phải tiếng Việt

a Nếu chữ nguyên ngữ dùng chữ cái La tin thì giữ nguyên chữ viết

nh nguyên ngữ

Ví dụ : Paris

b Nếu chữ nguyên ngữ dùng một hệ thống chữ cái khác thì áp dụng lối chuyển từ chính thức sang chữ Latin

Ví dụ : Lomonoxov , Moskow

c Nếu chữ viết nguyên ngữ không phải là chữ ghi âm bằng chữ cái ( ghi từng âm 0 thì dùng một cách phiên âm chính thức bằng chữ cái Latin

Ví dụ : Tokyo

d Những tên riêng đã có hình thức quen thuộc thì nói chung không cần thay đổi

Ví dụ : Pháp ; Anh ; Hi lạp ; Đỗ Tấn v.v

e Chỉ viết hoa âm tiết đầu

Ví dụ : Puskin

5 Về việc dùng dấu nối

a Dùng dấu nối trong các liên doanh nh : Khoa học – kĩ thuật ; Môn hoá - dợc ; Quảng nam - Đà nẵng v.v

b Dùng dấu nối khi chỉ giới hạn về không gian , thời gian , số lợng

Ví dụ : Chuyến tàu Hà Nội – Huế ; Thời kỳ 1945 – 1954 ; Sản lợng 5 –

7 tấn v.v

c Khi phân biệt ngày , tháng , năm

Trang 5

III một số lỗi chính tả thờng gặp ở học sinh và biện pháp sửa chữa

1 Lỗi chính tả do sai nguyên tắc chính tả hiện hành

a Lỗi do đánh sai vị trí dấu thanh điệu

Ví dụ : “ hoá “ thì viết là “ hóa “; “ quý “ thì viết là “ qúy “

b Lỗi do không nắm đợc quy tắc phân bố các ký hiệu cùng biểu thị một âm

Ví dụ : nghành ( ngh không đi trớc a ) ; kách ( k không đi trớc a trừ kali )

c Lỗi do không nắm đợc quy tắc viết hoa

Ví dụ : Trần bình trọng ; Nam định v.v

* Để khắc phục lỗi này , chỉ cần cho học sinh ghi nhớ và tuân thủ những đặc điểm và nguyên tắc kết hợp , quy tắc viết hoa của chữ

viết

2 Lỗi chính tả do viết sai với phát âm chuẩn

Đặc điểm phát âm đặc trng cho từng vùng khác với phát âm

chuẩn là nguyên nhân dẫn đến những cách viết sai chính tả Có thể quy những lỗi loại này thành ba dạng chủ yếu :

a Lỗi viết sai phụ âm đầu

- Lỗi do không phân biệt đợc tr và ch : Do cách phát âm của học sinh không phân biệt đợc tr – ch Có thể giúp các em nhớ một số quy tắc nhỏ để phân biệt tr – ch :

+ Tr không kết hợp với những vần bắt đầu bằng : oa , oă , oe , uê ( choáng , choai v.v.)

+ Từ láy phụ âm đầu phần lớn là ch ( Những từ láy phụ âm đầu là tr rất ít : trơ trọi , trống trãi v.v.)

- Lỗi do không phân biệt s và x

+ Hiện tợng này cũng là do đặc điểm phát âm không phân biệt ở lỗi này cần cho học sinh hiểu và nhớ một soó quy tắc phân biệt giữa

s và x nh sau :

+ S không kết hợp với các vần : oa , oă , oe , uê ( xuề xoà , xoay xở , xoen xoét v.v.)

( Từ láy phụ âm đầu có cả s và x ) Từ láy bộ phận vẫn thờng là x : loăn xoăn , loà xoà

+ Về nghĩa : Tên thức ăn thờng viết là x : xôi , xúc xích , lạp xờng .v.v

+ Những từ chỉ hơi ra : xì , xỉu , xọp , xẹp v.v

+ Những từ chỉ sụp xuống viết với s : sục , sụp , sẩy v.v

+ Những từ chỉ quan hệ ngữ pháp phần lớn là đi với s : sự , sẽ , sắp , sao v.v

Trang 6

- Lỗi do không phân biệt r , gi với d : Giúp học sinh nhớ một số quy tắc

để phân biệt r , gi với d nh sau :

+ R và gi không kết hợp với những vần : oa , oă , uâ , oe , uê , uy + Xét về nguồn gốc , không có từ Hán Việt đi với r ; Trong Hán Viẹt , D

đi với thanh ngã và nặng , Gi đi với thanh hỏi và sắc

+ Trong từ láy bộ phận vần : R láy với B và C , còn Gi và D không láy : bứt rứt , bủn rủn v.v R và D láy với lL , còn Gi không láy : liu diu , lim dim v.v

Nếu một số từ có hai hình thức viết , một trong hai hình thức đó viết với tr thì từ đó cũng viết với gi : Giăng – trăng ; giầu – trầu ; giai – trai v.v

b Lỗi viết sai phần vần ( Viết sai âm cuối hoặc âm chính )

Ví dụ : yêu / iêu ; ơu/iêu v.v

c Lỗi viết sai thanh điệu

Lỗi viết sai thanh điệu do sự phát âm không phân biệt giữa thanh hỏi và thanh ngã Để khắc phục lỗi này có thể giúp học sinh nhớ hai quy tắc :

Các chữ khởi đầu bằng nguyên âm chỉ mang dấu hỏi , không

mang dấu ngã : ả , ỷ lại , ảnh v.v.( Trừ 5 từ ngoại lệ : ẵm , ễ mình , ễnh bụng , ễnh ơng , ỡn ngực )

Các chữ Hán Việt bắt đầu bằng các phụ âm m , n , nh , l , v , d , ng chỉ mang dấu ngã không mang dấu hỏi : mã lực , lãnh tụ , vĩ nhân .v.v.( chỉ có một trờng hợp ngoại lệ : cây ngải )

Phần lớn từ láy điệp vần mang thanh hỏi

IV Những việc làm cụ thể

1 Thờng xuyên kiểm tra vở ghi và vở bài tập của học sinh Mục

đích là kịp thời uốn nắn , chỉ lỗi chính tả cho học sinh , giúp các

em nhận ra sự viết sai của mình , từ đó tự sửa chữa ngay , tránh lặp lại

Khuyến khích việc viết đúng , viết đẹp của học sinh

2 Khi chấm bài kiểm tra , ngoài việc nhận xét nội dung bài làm , phải luôn trú trọng đến việc phát hiện ra lỗi chính tả và sửa cho các

em , đồng thời ghi rõ yêu cầu học sinh phải sửa chữa ngay những lỗi trên

Ví dụ : ( Bài viết gồm 5 lỗi ) Hớng dẫn các em trình bày cách sửa lỗi

nh sau :

a Lỗi thanh điệu : Mỉ mản = Mĩ mãn

b Lỗi phần vần : hòn tròn = hoàn toàn ; mát rựi = mát rợi

c Lỗi phụ âm đầu : sạch xẽ = sạch sẽ ; cảm dác = cảm giác

Trang 7

Từ cách phát hiện lỗi chính tả và sắp xếp cho nó vào các lỗi thông th-ờng nào đến việc sửa cho đungs chính tả mà học sinh sẽ nhớ để tránh viết sai

3 Cần và rất nên có điểm thởng , điểm phạt ở các bài kiểm tra về vấn đề trình bày và chuẩn chính tả Đây cũng là một trong những việc làm để khuyến khích học sinh viết đúng chính tả

4 ở các giờ thực hành tập nói ( Phân môn tập làm văn ) tôi đã rất chú ý rèn và sửa chữa cách phát aam cho đúng giữa s và x , tr và ch ,

d và r và phân biệt giữa thanh hỏi với thanh ngã

5 Ra thêm các dạng bài tập rèn chính tả để học sinh có thể tự làm ở nhà đay là biện pháp rất có hiệu quả mà lại không mất thời gian trên lớp Biện pháp này vừa giúp học sinh viết đúng chính tả , vừa rèn luyện cho các em thói quen trình bày sạch , đẹp Biện pháp này đòi hỏi ngời giáo viên cần tận dụng thời gian các tiết trả bài , các buổi sinh hoạt lớp để giao bài tập chính tả cho học sinh

Các dạng bài tập thờng là :

Dạng A : Dạng bài tập điền phụ âm đầu

Điền ch hay tr ?

a “ úng tôi đều úng tuyển “( Chúng tôi đều

trúng tuyển )

b “ Ngời ồng đang lo ồng cây “( Ngời chồng

đang lo trồng cây )

Điền s hay x ?

a “ ơng uống đầy cả mặt ông “( Sơng xuống

đầy cả mặt sông )

b “ Hôm nay có úp , có ôi , có bún áo nóng ốt mời các cậu học inh ơi tạm “( Hôm nay có súp ,

xôi sáo xốt sinh xơi )

Điền R , D hay Gi ?

Chúng tôi ót ợu mời ông ám đốc

Dạng B : Dạng bài tập thanh điệu

Điền thanh hỏi , thanh ngã cho phù hợp :

Tôi không có tiền le , le ra tôi phai mang theo( lẻ .lẽ phải

)

Hoặc tìm lỗi và chữa lỗi :Bài giãi có thễ đúng có thễ sai

Dạng C : Dạng bài tập vần

Sửa lỗi cho câu : “ Anh ấy là tay nát riệu , đầu óc đôi khi hòn tòn

không bình thờng “

( nát rợu , hoàn toàn )

Dạng D : Dạng bài tập tổng hợp

Trang 8

Khoanh tròn vào chữ cái đầu của từ hoặc cụm từ viết đúng :

1 A Bản án ; B Bảng án 2 A án mây ; B áng mây

3 A Bàn quang ; B Bàng

quang

4 A Dản dị ; B Giản dị

5 A Dán giấy ; B Gián giấy 6 A Về hiêu ; B Về hu

( Các từ đúng là : 1A , 2B , 3B , 4B , 5A , 6B )

ở dạng bài tập này học sinh phải phân biệt đợc rõ lỗi để sửa lại cho

đúng

6 Kết hợp với các giáo viên bộ môn để cùng giúp học sinh viết cho

đúng hoặc tạo điều kiện để các em tự giúp nhau viết cho đúng chính tả

V kết quả đạt đợc

Từ việc làm trên , việc làm mà tôi luôn luôn áp dụng đối với học sinh

ở bất cứ lúc nào có thời gian và có cơ hội để sửa lỗi chính tả mà các

em mắc phải Bản thân tôi nhận thấy có kết quả tơng đối khả

quan

Kết quả cụ thể là :

Đầu năm học 2007 – 2008: Lớp 7A có 14 / 36 em thờng viết sai chính tả

Trong đó : 3 em học lực khá

4 em học lực trung bình

7 em học lực yếu

Cuối năm học : Số em học sinh viết sai lỗi chính tả đã giảm đáng

kể : chỉ còn 5 em có học lực yếu

Phần III : kết thúc vấn đề

Trong chữ viết của chúng ta ( chữ quốc ngữ ) là chữ theo nguyên tắc ghi âm Âm thanh và hình thức cấu tạo của từ đợc ghi bằng các chữ cái Cho nên khi viết văn bản cần ghi lại đúng âm thanh và

hình thức cấu tạo của chữ viết Nếu viết sai sẽ không hiểu đợc

chính xác và không làm cho ngời đọc văn bản lĩnh hội đợc nội dung ,

ý nghĩa Nh thế sẽ làm cho sự giao tiếp không đạt đợc hiệu quả mong muốn

Từ lý do trên , tôi thấy việc nhắc nhở và giúp các em học sinh bậc

Trang 9

thiết Giúp cho các em hiểu và sử dụng đúng ngôn ngữ tiếng Việt – thứ ngôn ngữ giàu đẹp của dân tộc ta

Nói tóm lại : Học sinh viết đợc đúng chính tả điều quan trọng là : Nhớ đợc nghĩa của từ ở mặt chữ viết

Đợc viết nhiều , tiếp cận nhiều với văn bản đúng

Trên đay là kinh nghiệm nhỏ tôi rút ra từ thực tế của bản thân kính mong sự góp ý của các anh , chị đồng nghiệp để kinh nghiệm này hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Bỉm Sơn , ngày 20 tháng 3 năm

2008

Ngời thực hiện

Kiều Văn Kặp

Ngày đăng: 02/02/2021, 20:02

w