1. Trang chủ
  2. » Ôn tập Toán học

conduongcoxua welcome to my blog

42 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 47,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Caùc nhaø quaûn lyù giaùo duïc luoân tìm toøi ñeà ra nhöõng bieän phaùp quaûn lyù hoaït ñoäng GDÑÑ cho hoïc sinh moät caùch hôïp lyù, goùp phaàn tích cöïc “xaây döïng nhöõng con ngöôøi t[r]

Trang 1

Tên đề tài: CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO

CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CỦA TRƯỜNG THPT

DẦU GIÂY

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

- Giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sực nghiệp của đảng và nhà nước vàtồn dân

- Đạo đức là cốt lõi của nhân cách vì vậy giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ làviệc làm vơ cùng quan trọng, là sứ mệnh lịch sử mà xã hội giao phĩ cho nhàtrường

II THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI.

- Sự xơ cứng trong các mối quan hệ xã hội và lối sống hưởng thụ thực dụng đang làm cho nhân cách của một bộ phận học sinh phát triển lệch lạc thiếu lành mạnh.

3)Nội dung đề tài

1 Cơ sở pháp lý và thưc tiễn của vấn đề nghiên cứu

a, cơ sở lý luận

b, Cơ sở thực tiễn

2 Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức của trường THPT DầuGiây

a, Cơ sở đề ra những biện pháp với những định hướng chung

b, Một số biện pháp quản lý nậng cao giáo dục đạo đức cho hoc sinh

III LỜI KẾT :

Trang 2

A PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài:

Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và củatoàn dân Để phát triển sự nghiệp giáo dục, cần tăng cường hiệu quả quản lýnhà nước về giáo dục, cần tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dụcnhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ côngnghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổquốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh

Đạo đức là mặt cốt lõi của nhân cách, nó chi phối quan hệ con người vớicon người; con người với xã hội và thiên nhiên; để hình thành và phát triểnnhân cách thì phải hình thành và rèn luyện các phẩm chất đạo đức Giáo dụcđạo đức là trách nhiệm của toàn xã hội mà nhà trường giữ vai trò trọng trách

Vì thế giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là vấn đề cấp thiết, là sứ mệnh lịch sửmà xã hội đã giao phó cho nhà trường:

“Thiện ác nguyên lai vô định tính

Đa do giáo dục đích nguyên nhân”

(Hồ Chí Minh)

Trong xu hướng toàn cầu hóa diễn ra trong mọi mặt đời sống xã hội, chúng

ta đang phải đối mặt với những thách thức của thời đại: đó là hiện tượng suythoái về đạo đức, mờ nhạt lý tưởng, chạy theo lối sống thực dụng trong một sốthanh niên, học sinh làm ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục đạo đức của nhàtrường Trước tình hình đó, việc tăng cường giáo dục đạo đức cho học sinhcàng trở nên ý nghĩa cấp thiết hơn bao giờ hết Trong các lĩnh vực giáo dục,giáo dục đạo đức có ý nghĩa quan trọng Cho dù ở giai đoạn nào của lịch sử thìnét chung của đạo đức vẫn là yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, hướng tới cái thiện,chống lại cái ác, hướng về mối quan hệ đẹp đẽ giữa con người với con người,với thiên nhiên và xã hội, đồng thời là kết quả của sự tự giáo dục Giáo dụcđạo đức là mặt quan trọng của giáo dục nhân cách con người Nhân cách là sựthống nhất giữa phẩm chất và năng lực (giữa Đức và Tài) Nhân cách là cấutạo mới do từng người tự hình thành nên và phát triển trong quá trình sống vàgiao tiếp, học tập, lao động, vui chơi Đạo đức được coi là nên tảng trongphẩm chất, nhân cách con người Đạo đức là gốc, là cốt lõi của nhân cách Dođó trong nhà trường phải luôn chú trọng giáo dục cả Đức lẫn Tài Bác Hồ kínhyêu của chúng ta đã từng dạy:

“Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả Tài lẫn Đức Đức là đạo đức cách mạng Đó là cái gốc quan trọng nhất.” “Nếu thiếu đạo đức, con người không phải là con người bình thường và cuộc sống xã hội sẽ không phải là cuộc sống xã hội bình thường, ổn định.”

Trang 3

Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và nhân dân ta đòi hỏi thế hệ trẻthanh niên, học sinh, sinh viên phải trở thành lực lượng tiên phong có tài năng,đạo đức, có tinh thần trách nhiệm và lý tưởng sống cao đẹp Họ là lực lượngnòng cốt tin cậy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thànhcông quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trong những năm gần đây, nền kinh tế thị trường, kinh tế tri thức đã tácđộng trên mọi mặt của đời sống xã hội thì mặt trái của nó cũng len lõi, xâmnhập vào tầng lớp thanh niên, học sinh làm họ suy giảm phẩm chất, chạy theolối sống tầm thường, thực dụng, thiếu hoài bảo lập thân, lập nghiệp vì tươnglao của bản thân và đất nước Điều đáng lo ngại là những tệ nạn xã hội đã tácđộng vào nhà trường làm cho một bộ phận học sinh chậm tiến bộ, khó giáodục, thậm chí hư hỏng, phạm pháp Dư luận đặc biệt quan tâm đến việc giáodục tư tưởng đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ giai đoạn hiện nay

Trường trung học phổ thông trong huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai thuộc

trường ở vùng sâu vùng xa, cho nên cũng không thoát khỏi những bất cập, mặttrái của nền cơ chế thị trường Học sinh bỏ học rất nhiều, phần lớn bỏ học là

do vi phạm đạo đức, hạnh kiểm yếu kém, vi phạm tệ nạn xã hội, pháp luật…Là hiệu trưởng của nhà trường, tôi rất quan tâm và trăn trở Chính vì vậy tôi

chọn đề tài “ Các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục đạo đức của Hiệu trưởng trường THPT Dầu Giây, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.” Nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục cho học sinh.

II Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ởcác trường THPT Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp cụ thể, khả thi, phùhợp với đặc điểm nhà trường nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dụcđạo đức ở trường THPT Dầu Giây

III Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nắm vững cơ sở pháp lý và cơ sở lý luận nói chung về biện pháp quản lýhoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức ởtrường THPT Dầu Giây trong năm học 2011-2012

- Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động

giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Dầu Giây, huyện Thống Nhất

IV Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Giáo dục đạo đức là vấn đề rất lớn, rất đa dạng và phức tạp đồng thời làvấn đề rất bức xúc hiện nay Ở đề tài này, do thời gian nghiên cứu và điềukiện còn hạn chế chúng tôi chỉ tập trong nghiên cứu một số biện pháp quản lý

Trang 4

của Hiệu trưởng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức ở trường

THPT Dầu Giây, huyện Thống Nhất.Tỉnh Đồng Nai.

V Phương pháp nghiên cứu

1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Nghiên cứu tài liệu, văn bản, chỉ thị, nghị quyết, sách báo… có nội dung liênquan đến đề tài nghiên cứu, sàng lọc thông tin, tập hợp những vấn đề cơ bảnlàm cơ sở lý luận vững chắc cho đề tài, hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu như:Tìm hiểu các khái niệm, thuật ngữ hoạt động giáo dục đạo đức, đặc điểm tâmlý, phương pháp giáo dục học sinh THPT, xu thế giáo dục, chương trình đổimới giáo dục THPT…

2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp quan sát: quan sát cử chỉ, hành vi, thái độ học sinh khi tổchức hoặc tham gia các hoạt động giáo dục đạo đức

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Tìm hiểu thực trang, nhận thức vaitrò hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh và các lực lượng tham gia giáo

dục, việc tổ chức các hoạt động này ở các trường THPT trong huyện Thống

Nhất - Phương pháp tọa đàm: Trò chuyện, trao đổi với học sinh, giáo viên, phụhuynh học sinh, chính quyền địa phương để đánh giá nhận thức, hành vi, tháiđộ, hạnh kiểm của học sinh, đánh giá các biện pháp tổ chức hoạt động giáodục đạo đức cho học sinh và ảnh hưởng của nó tới việc hình thành nhân cáchhọc sinh

- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến của cán bộ Sở giáo dục & đào tạo,Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Ủy ban chăm sóc và bảo vệ trẻ em,cán bộ pháp lý về việc quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh

B PHẦN NỘI DUNG

Trang 5

CHƯƠNG I: CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

I Cơ sở pháp lý:

Chương I, điều 2 Luật Giáo dục đã được Quốc hội nước CỘNG HÒA XÃHỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM khóa XI thông quan ngày 14/06/2005 có chỉ rõvề mục tiêu giáo duc:

“Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…”

Nhận thức được giáo dục đạo đức là nhân tố nâng cao giáo dục toàn diện,

trong chỉ thị số 22/2005/CT-BGD&ĐT ngày 29/07/2005 có đoạn: “….Triển khai thực hiện luật giáo dục 2005 và giai đoạn 2 của chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010; tạo bước chuyển biến cơ bản về quản lý giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục; thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển toàn diện nhằm đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước…” và trong hướng dẫn 6744/BGĐ& ĐT – GDTrH ngày 04/08/2005 của Bộ giáo dục và đạo tạo có chỉ rõ: “…Đẩy mạnh giáo dục toàn diện, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức cho học sinh…”

Mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 đã chỉ rõ mục tiêu

giáo dục phổ thông: “Thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí, thể mỹ, cúng cấp học vấn phổ thông cơ bản, hệ thống và có tính hướng nghiệp, tiếp cận trình độ các nước pháy triển trong khu vực Xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động tích cực sáng tạo, lòng ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống.”

Chỉ thị 71/2008/CT-BGDĐT về tăng cường phối hợp nhà trường, gia đình và

xã hội trong công tác giáo dục ban hành ngày 23/12/2008 cũng đã nêu: “Tăng cường phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, đoàn thể trong trường: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội sinh viên Công đoàn và các tổ chức khác trong việc giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, pháp luật, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên…”

II Cơ sở lý luận:

1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Đạo đức là một hình thái ý thức XH, xuất hiện từ buổi bình minh của lịch sửxã hội loài người Những tư tưởng đạo đức, đạo đức học đã hình thành hơn 26thế kỉ trước đây trong triết học phương đông: Trung Quốc, Ấn Độ… và triết họcphương tây: Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại… Nó được hoàn thiện và phát triển

Trang 6

cơ sở các chế độ kinh tế – xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao, mà đỉnh caonhất của nó là đạo đức mới: Đạo đức Cộng sản mà xã hội ta đã và đang xâydựng.

Theo quan điểm học thuyết Mác – Lê Nin: đạo đức là một hình thái ý thứcxã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội, nóphản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Nếu tồn tại xã hội thay đổi thìđạo đức cũng thay đổi theo Do vậy đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp vàtính dân tộc

Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy định, chuẩn mực nhằm hướngcon người tới cái chân, cái thiện, cái mỹ, chống lại cái giả, cái ác, cái xấu…Các chuẩn mực đạo đức xuất hiện do nhu cầu của đời sống xã hội là sản phẩmcủa lịch sử xã hội, do cơ sở KT-XH quyết định Bất ký trong thời đại nào củalịch sử, đạo đức con người đều được đánh giá theo khuôn phép chuẩn mực vàquy tắc đạo đức Đạo đức là sản phẩm của xã hội, cùng với sự phát triển củasản xuất, các mối quan hệ của xã hội, hệ thống các quan hệ đạo đức, ý thứcđạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó ngày càng phát triển, ngày càng nângcao, phong phú, đa dạng và phức tạp hơn

Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội, trong đời sống của conngười, đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảm

bảo cho các cá nhân và cộng đồng tồn tại và phát triển : “Đạo đức đã trở thành mục tiêu, đồng thời cũng là động lực để phát triển XH” và “Đạo đức cũng như ý thức đã là sản phẩm xã hội và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại.”

Vai trò, động lực tinh thần to lớn của đạo đức đối với sự phát triển, tiến bộ

XH được nhiều nhà khoa học ngày nay thừa nhận và được mọi thời đại quantâm Ở nước ta Chủ tịch Hồ Chí Minh là người tiếp thu những quan điểm đạođức Mác-Lênin và thật sự làm một cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức

Người gọi đó là đạo đức mới: đạo đức cách mạng: “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu, nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải là danh vọng cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người.”

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của người Cách mạng Nộidung cơ bản trong quan điểm CM là: Trung với nước, hiếu với dân; cần kiệm,liêm chính, chí công vô tư, yêu thương con người; tinh thần quốc tế trong sáng.Quan điểm của người về đạo đức là những quan điểm thật sự khoa học, biệnchứng Macxít phù hợp với sự tiến hóa của XH loài người Để có được đạo

đức CM mỗi người phải chăm lo tư dưỡng, kiên trì bền bỉ suốt đời: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.”

Trang 7

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về ĐĐCM, là mẫu mực kếttinh tất cả những phẩm chất tốt đẹp nhất của người Việt Nam với đạo đứccộng sản cao quý của chủ nghĩa Mác-Lênin Những tư tưởng đạo đức cũng nhưtấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong hệthống di sản tư tưởng của người Cho nên, có thể nói toàn bộ sự nghiệp CMcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với quá trình tư tưởng đạo đức và việc xâydựng nền đạo đức CM mà người là tấm gương tiêu biểu, sinh động và trongsáng nhất của nền đạo đức cách mạng đó.

Đạo đức cách mạng mà Hồ Chí Minh quan tâm và đề cao không chỉ là đạođức theo nghĩa thông thường mà là khẳng định những giá trị đạo đức truyềnthống, đồng thời tiếp thu phát triển tinh hoa đạo đức của nhân loại, đặc biệt lànội dung tư tưởng đạo đức của chủ nghĩa Mác-Lênin

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đạo đức cách mạng là bất kì ở cương vị nào, bất kỳ làm công việc gì đều không sợ khó, không sợ khổ, đều một lòng một dạ phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân, đều nhằm mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội Đạo đức cách mạng là đạo đức tập thể, nó phải đánh thắng và tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân.”

Với triết lý nhân văn hành động, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề…là vấn đề ở đời và làm người Ở đời và làm người phải yêu nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ, bị áp bức…” Trong tờ di chúc thiêng liêng, người đã viết: “Đầu tiên là vấn đề con người Rõ ràng đối tượng trung tâm trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới là xây dựng con người mới Con người nói ở đây là mỗi một con người Việt Nam, là con người trong gia đình, trong xã hội, là người công dân của nước nhà, nói rộng ra là con người trên hành tinh của chúng ta Cho nên chiến lược con người là chiến lược số một “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa”.

Trong sự nghiệp xây dựng con người, điều quan trọng bậc nhất là xây dựnglý tưởng, đạo đức Lý tưởng nói ở đây là xây dựng một nước Việt Nam hòabình, độc lập thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, tiến lên CNXH Đạo đức nói

ở đây là suốt đời phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cần kiệm liêm chính,chí công vô tư, đặt công việc, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết Đạo đức ởđây là phải luôn gắn với tài năng, trí tuệ, coi trọng nâng cao dân trí, bồi dưỡngnhân tài, đào tạo nhân lực Trong giai đoạn đẩy mạnh Công nghiệp hóa – hiệnđại hóa đất nước, thanh niên, cán bộ cần phải dốc lòng học tập, nâng cao vượtbậc trình độ KH-KT và quản lý rèn luyện tác phong công nghiệp, trong lúc đó

vẫn coi trong đạo đức lý tưởng, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh: “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân…”.

Trang 8

Như vậy theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: học tập, rèn luyện đạo đức cách mạngkhông chỉ để chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù của giai cấp và dân tộc mà

còn để xây dựng chế độ xã hội mới, xã hội CNXH: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa” Vì vậy, GDĐĐ

cách mạng cho thế hệ trẻ là vô cùng quan trọng và cấp thiết Ở nước ta hiệnnay có một số tác giả nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức cho họcsinh GS.TS Phạm Minh Hạc, nhà nghiên cứu giáo dục hàng đầu ở Việt Namđã nêu lên các định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳCNH-HĐH đất nước và nêu lên 6 giải pháp cơ bản giáo dục đạo đức cho con

người Việt Nam thời kỳ CNH-HĐH: “Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức giáo dục đạo đức trong các trường học, củng cố ý tưởng giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục đạo đức với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp luật; tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân, trước hết cho cán bộ Đảng viên, cho thầy cô các trường học; xây dựng một cơ chế và chỉ đạo thống nhất xã hội về giáo dục đạo đức, nâng cao nhận thức cho mọi người”.

GS.TS Đặng Vũ Hoạt đã đi sâu nghiên cứu vai trò của GVCN trong quátrình GDĐĐ cho học sinh và đưa ra một số định hướng cho GVCN trong việcđổi mới nội dung, cải tiến phương pháp GDĐĐ cho học sinh phổ thông

PGS.TS Đặng Quốc Bảo – trường cán bộ quản lý giáo dục đào tạo: Một số

ý kiến về nhân cách thế hệ trẻ, thanh niên, sinh viên và phương pháp giáodục

2 Một số khái niệm cơ bản.

a Khái niệm về đạo đức và giáo dục đạo đức:

Để tồn tại và phát triển, con người phải hoạt động và tham gia các mốiquan hệ XH trong thế giới hiện thực Trong quá trình thực hiện mối quan hệấy, nếu con người có cách giao tiếp, ứng xử phù hợp với lợi ích chung của conngười, của cộng đồng xã hội thì con người ấy được đánh giá là có đạo đức.Ngược lại, cá nhân nào có thái độ, hành vi không đứng đắn làm tổn hại tới lợiích của người khác, của cộng đồng và bị XH lên án, chê trách thì cá nhân đó

bị coi là người thiếu đạo đức Vậy đạo đức là gì?

+ Theo giáo trình “Đạo đức học” (NXB Chính trị quốc gia Hà Nội – năm

2000) “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội”

Trang 9

Đạo đức là một hình thái ý thức XH, là một mặt của đời sống XH con ngườivà là một hình thái chuyên biệt của quan hệ XH, thực hiện chức năng XH,quan trọng là điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sốngXH.

+ Theo quan điểm học thuyết Mac-Lênin: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Vì vậy tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội (đạo đức) cùng thay đổi theo Và như vậy đạo đức xã hội luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc” (Dẫn theo Nguyễn Kim Bôi)

+ GS.TS Phạm Minh Hạc cho rằng: “Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý, những quy định và chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người Nhưng bên trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng và đạo đức bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người với con người, với công việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống”.

Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chínhtrị, pháp luật đời sống Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánhbộ mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hóa Đạo đức được biểuhiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh trong sáng, ở hành động giải quyết hợplý, có hiệu quả những mâu thuẫn

+ Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Khoa Học XH) thì: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội Đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo những tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp nhất định”.

Như trên đã trình bày, có nhiều định nghĩa khác nhau về đạo đức Tuynhiên ta có thể hiện khái niệm dưới hai góc độ:

Một là góc độ XH: Đạo đức là một hình thái ý thức XH đặc biệt, phản ánh

dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực điều chỉnh hoặc chi phốihành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữacon người với xã hội và với chính bản thân mình

Hai là góc độ cá nhân: Đạo đức chính là những phẩm chất, nhân cách của

con người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xửcủa họ trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, giữabản thân họ với người khác và với chính bản thân mình

Đạo đức biến đổi và phát triển cùng với sự biến đổi và phát triển của cácđiều kiện kinh tế XH, cùng với sự phát triển của XH Khái niệm đạo đức ngàycàng được hoàn thiện đầy đủ hơn

Trang 10

Các giá trị đạo đức trong XH của chúng ta hiện nay là thể hiện sự kết hợpsâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu thế tiến bộ của thờiđại, của nhân loại Lao động sáng tạo, nguồn gốc của mọi giá trị là mộtnguyên tắc đạo đức có ý nghĩa chỉ đạo trong giáo dục và tự giáo dục của conngười hiện nay.

Đạo đức có ba chức năng: Nhận thức, giáo dục và điều chỉnh hành vi Trongđó, điều chỉnh hành vi hết sức quan trọng vì nó điều chỉnh hành vi con ngườitrong mọi lĩnh vực của đời sống XH

* Chức năng nhận thức: Nhận thức đạo đức đem lại tri thức đạo đức, ý

thức đạo đức cho chủ thể, các cá nhân nhờ tri thức đạo đức, ý thức đạo đức xãhội đão nhận thức mà tạo thành đạo đức XH trở thành cơ sở để cá nhân điềuchỉnh hành vi, thực hiện đạo đức

* Chức năng giáo dục: Trên cơ sở nhận thức đạo đức, chức năng giáo dục

giúp con người hình thành những phẩm chất nhân cách, hình thành hệ thốngđịnh hướng giá trị và các chuẩn mực đạo đức, điều chỉnh ý thức hành vi đạođức Hiệu quả giáo dục đạo đức phụ thuộc vào điều kiện kinh tế XH, cáchthức tổ chức, giáo dục mức độ tự giác của chủ thể và đối tượng giáo dục trongquá trình giáo dục

* Chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức: Sự điều chỉnh hành vi đạo đức

làm cho cá nhân và XH cùng tồn tại và phát triển, đảm bảo quan hệ lợi ích cánhân và cộng đồng Chức năng này thể hiện bằng hai hình thức chủ yếu.Trước hết là bản thân chủ thể đạo đức phải tự giác điều chỉnh hành vi củamình trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức XH Thứ hai là tập thể cần tạo ra

dư luận để khen ngợi, khuyến khích, đánh giá hoặc phê phán những biểuhiệncụ thể của hành vi ĐĐ trên cở sở những chuẩn mực giá trị đạo đức Đây

là chức năng XH cơ bản, hết sức quan trọng của đạo đức: “Mục đích điều chỉnh của đạo đức nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển xã hội bằng việc tạo nên sự hài hòa quan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân (và khi cần phải ưu tiên lợi ích cộng đồng)”.

Giáo dục theo nghĩa rộng là giáo dục XH được coi là lĩnh vực hoạt độngđộng của XH nhằm truyền đạt những kinh nghiệm XH – Lịch sử chuẩn bị chothế hệ trẻ trở thành lực lượng tiếp nối sự phát triển XH, kế thừa và phát triểnnền văn hóa của loài người và dân tộc

Giáo dục theo nghĩa hẹp là giáo dục trong nhà trường, đó là quá trình tácđộng có tổ chức, có kế hoạch, có quy hoạch, có uy trình chặt chẽ nhằm mụcđích cung cấp kiến thức, kỹ năng hình thành thái độ, hành vi cho thiếu niên,xây dựng và phát triển nhân cách theo quy mô mà XH đương thời mong muốn

GD đạo đức là hình thành cho con người những quan điểm cơ bản nhất,những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức cơ bản của XH Nhờ đó con người có

Trang 11

khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng ĐĐXH cũng như tựđánh giá suy nghĩ về hành vi của bản thân mình Vì thế công tác giáo dục đạođức đóng góp phần vào việc hình thành, phát triển nhân cách con người mới

phù hợp với từng giai đoạn phát triển “ GD đạo đức là quá trình tác động tới người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức, đích cuối cùng quan trọng nhất là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức”.

b Khái niệm về quản lý giáo dục đạo đức

* Quản lý giáo dục:

Quản lý giáo dục là một bộ phận trong quản lý XHCN Việt Nam Vì vậyquản lý giáo dụn mặc dù có những đặc điểm riêng biệt, song cũng chịu sự chiphối bởi mục tiêu quản lý XHCN

Về nội dung khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau:Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợpcác lực lượng XH nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầuphát triển xã hội Ngày nay, với sự mệnh phát triển giáo dục thường xuyên,công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ mà cho mọi người Tuy nhiên,trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ Cho nên, quản lý giáo dục được hiểu làsự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dụcquốc dân

Có ý kiến cho rằng: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng”.

Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt đồng điều hành, phối hợp các lực lượng XH nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển XH”.

Theo GS.Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” (Phạm Minh Hạc: Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục –

Hà Nội 1986).

“Quản lý giáo dục thực chất là tác động một cách khoa học đến nhà trường làm cho nó tổ chức được tối ưu quá trình dạy học, giáo dục thể chất, theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng,quán triệt được những tính chất trường THPT xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tới mục tiêu dự

Trang 12

kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới” (Những cơ sở khoa học quản lý –

NXB Khoa học XH – Hà Nội 1976)

“Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái về chất” (Nguyễn Ngọc Quang – Những Khái niệm cơ bản về lý luận quản lý – Trường

CBQL TW1 – Hà Nội 1989)

Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể khái quát như sau: Quản lý giáodục là hệ thống những tác động có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quảnlý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu, các bộ phận của hệ thống nhằmđảm bảo cho các cơ quan trong hệ thống giáo dục vận hành tối ưu, đảm bảo sựphát triển mở rộng về cả mặt số lượng

* Quản lý giáo dục đạo đức:

Quản lý đối tượng GDĐĐ là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tớiđối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động GDĐĐ đạt kết quả mong muốn bằngcách hiệu quả nhất

Về bản chất, quản lý hoạt động GDĐĐ là quá trình tác động có định hướngcủa chủ thể quản lý các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động nhằm thựchiện có hiệu quả mục tiêu GDĐĐ (nhằm hình thành niềm tin, lý tưởng, động

cơ thái độ, tình cảm, hành vi, và thói quen Đó là những nét tính cách củanhân cách, ứng xử đúng đắn trong xã hội)

c Khái niệm về biện pháp và biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh:

* Khái niệm về biện pháp:

Theo “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên thì: “Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể”.

Theo cuốn “Từ điển Tiếng Việt tường giải và liên tưởng” của tác giả

Nguyễn Văn Đạm: “Biện pháp là cách làm, cách hành động đối phó để đi đến một mục đích nhất định”.

Như vậy, nghĩa chung nhất của biện pháp là cách làm, thực hiện một côngviệc nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra

* Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức:

Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức là cách làm, cách hành động cụ thểnâng cao hiệu quả GD đạo đức cho học sinh

3 Vị trí, vai trò của giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông:

a Mục tiêu, nhiệm vụ GDĐĐ cho học sinh THPT trong giai đoạn HĐH:

Trang 13

CNH-*Mục tiêu giáo dục đạo đức:

Mục tiêu GDĐĐ đã được khẳng định trong giáo dục cho các cấp học, trongđó nhấn mạnh mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàndiện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thànhnhân cách con người Việt Nam XHCN

Mục tiêu GDĐĐ là giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trị đạođức, biết hành động theo lẽ phải, biết sống vì mọi người, trở thành một côngdân tốt, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước

Nhà trường phải trang bị cho học sinh những tri thức cần thiết về chính trị,

tư tưởng đạo đức, lối sống đúng đắn, kiến thức pháp luật, văn hóa xã hội

“Nâng cao nhận thức chính trị, hiểu rõ các yêu cầu của sự nghiệp HĐH đất nước Nắm vững những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển con người toàn diện, gắn liền với sự nghiệp đổi mới của nước nhà, có nhân sinh trong sáng, có quan điểm rõ ràng về lối sống, thích ứng với những yêu cầu của giai đoạn mới”.

CNH-Hình thành ở học sinh thói quen, hành vi đạo đức đúng đắn, trong sáng vớibản thân, mọi người trong XH và sự nghiệp cách mạng XHCN của Việt Nam.Rèn luyện ở học sinh ý thức tự giác thực hiện những chuẩn mực ĐĐXH, chấphành nghiêm chỉnh pháp luật, ý thức tổ chức kỷ luật lao động, yêu lao động,yêu khoa học và những thành tựu, giá trị văn hóa tiến bộ của loài người vàkhông ngừng phát huy những truyền thống cao đẹp của dân tộc Việt Nam.Giáo dục cho học sinh THPT tình yêu tổ quốc Việt Nam XHCN, gắn với tinhthần quốc tế vô sản

* Nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh THPT giai đoạn CNH – HĐH:

- Làm cho học sinh thấm nhuần sâu sắc thế giới Mác-Lênin, tư tưởng đạođức CM Hồ Chí Minh, tính chân lý khách quan của các giá trị đạo đức, nhânvăn, nhân văn của tư tưởng đó, coi đó là kim chỉ nam cho hành động của mình

- Trên cơ sở đó, thông qua việc tiếp cận với cuộc đấu tranh CM của dân tộcvà hoạt động của cá nhân để củng cố niềm tin và lẽ sống, lý tưởng sống, lốisống theo con đường XHCN

- Thấm nhuần chủ trương, chính sách của Đảng, biết sống và làm việc theopháp luật, sống có kỉ cương nề nếp, có văn hóa trong các mối quan hệ giữacon người với tự nhiên, với XH và giữa con người

- Nhận thức ngày càng sâu sắc nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực và các giátrị ĐĐ XHCN Biến các giá trị đó thành ý thức tình cảm hành vi, thói quen vàcách ứng xử trong đời sống hàng ngày

Trang 14

- Phát triển nhu cầu đạo đức cá nhân, hình thành và phát triển ý thức đạođức, rèn luyện ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử đạo đức Phát triểncác giá trị đạo đức cá nhân theo những định hướng giá trị mang tính đặc thùdân tộc và thời đại.

Nhiệm vụ của quá trình GDĐĐ nay không những định hướng cho cáchoạtđộng GDĐĐ mà còn định hướng cho hoạt động dạy học nói chung, dạymôn đạo đức nói riêng

b Đặc điểm học sinh trung học phổ thông:

Các nhà tâm lý học cho rằng học sinh THPT (15 đến 18 tuổi) ở giai đoạnđầu tuổi thanh niên (thanh niên mới lớn, thanh niên học sinh) Đây là thời kỳđạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể, nhưng sự phát triển thể lực của các

em còn kém so với người lớn, các em đến trường học tập dưới sự lãnh đạo củangười lớn, phụ thuộc vào người lớn

*Đặc điểm hoạt động học tập:

Hoạt động học tập của học sinh THPT đòi hỏi tính năng động và tính độclập hơn học sinh THCS, đòi hỏi trình độ tư dung lý luận phát triển Hứng thúhọc tập của các em có những thay đổi rõ rệt, có tính bền vững và gắn liền vớikhuynh hướng nghề nghiệp Đối với các lĩnh vực khoa học, các em đã có tháiđộ lựa chọn khá rõ ràng: có em thích học các môn KHXH, có em lại thích họccác môn KH tự nhiên, thái độ học tập của thanh niên học sinh gắn liền vớiđộng cơ thực tiễn, động cơ nhận thức, sau đó là ý nghĩa của môn học Ở nhiều

em xuất hiện thái độ học lệch: Một mặt các em đó rất tích cực học một sốmôn mà các em cho là quan trọng đối với nghề mình chọn, mặt khác các emsao nhãng các môn học khác

* Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ:

Ở thanh niên mới lớn, tính chủ định phát triển mạnh ở tất cả các quá trìnhnhận thức, tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao Quá trình quan sát đãchịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu thứ hai nhiều hơn và không tách khỏi

tư duy ngôn ngữ Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt độngtrítuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ, đặcbiệt các em đã tạo được tâm lý phân hóa trong ghi nhớ

Hoạt động tư dung của học sinh THPT có sự thay đổi quan trọng, các em cókhả năng tư duy lý luận, tư dung trừu tượng một cách độc lập sáng tạo Tư duycủa các em chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quá hơn, đồng thời tính phê pháncủa tư duy cũng phát triển

Tuy nhiên, hiện nay số HS THPT đạt tới mức tư duy đặc trưng cho lứa tuổinhư trên còn chưa nhiều Khiếm khuyết cơ bản trong hoạt động tư duy củanhiều em là thiếu tính độc lập Nhiều khi các em chưa chú ý phát huy hết

Trang 15

năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tínhhoặc thiên về tái hiện tư tưởng của người khác Nhà trường cần đổi mớiphương pháp dạy học theo hướng phát huy tích cực, độc lập sáng tạo củangười học.

* Sự phát triển ý thức:

Sự phát triển ý thức là một đặc điểm đặc điểm nổi bật trong sự phát triểnnhân cách của HS THPT với những đặc điểm cơ bản sau:

- Các em tiếp tục chú ý đến hình dáng bên ngoài của mình, hình ảnh vềthân thể là một thành tố quan trọng của sự tự ý thức của thanh niên mới lớn

- Ở tuổi thanh niên, quá trình phát triển tự ý thức diễn ra mạnh mẽ, sôi nổivà có tính chất đặc thù riêng Thanh niên tìm hiểu và đánh giá những đặcđiểm tâm lý của mình theo quan điểm về mục đích và hoài bão của mình

- Sự tự ý thức của họ xuất phát từ yêu của cuộc sống và hoạt động: địa vịmới trong tập thể, những quan hệ mới với thế giới xung quanh Các em hayghi nhật ký, so sánh mình với nhân vật mà họ coi là tấm gương, là thần tượng

- Nội dung của tự ý thức cũng khá phức tạp, các em không chỉ nhận thức vềcái tôi của mình trong hiện tại mà còn nhận thức vị trí của mình trong XH,hiện tại và tương lai

- Thanh niên còn có thể hiểu rõ những phẩm chất phức tạp, biểu hiện nhữngquan hệ nhiều mặt của nhân cách và biết cách đánh giá nhân cách của mìnhtrong toàn bộ những thuộc tính nhân cách

- Các em có khả năng đánh giá sâu sắc những phẩm chất, mặt mạnh, mặtyếu của những người cùng sống và chính mình Đồng thời các em cũng cókhuynh hướng độc lập trong việc phân tích, đánh giá bản thân Song việc tựđánh giá bản thân nhiều khi chưa khách quan, có thể sai lầm, cần giúp đỡkhéo léo để các em hình thành một biểu tượng khách quan về nhân cách củamình

- Trên cơ sở tự ý thức phát triển mạnh mẽ, nhu cầu tự giáo dục ở HS THPTcũng được phát triển Tuy các em chưa thật có lòng tin và tự giáo dục hoặcchưa thành công trong tự giáo dục, nhưng vấn đề tự giáo dục của HS THPTthật sự là cần cho sự phát triển của chính các em: Vừa là đối tượng, vừa là chủ

thể của giáo dục: “Các em là những nhân cách đang vươn lên để trở thành người công dân… Các em vừa là đối tượng mang tính đặc thù của lứa tuổi, vừa là chủ thể của giáo dục đạo đức Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, học sinh trung học phổ thông đã có đầy đủ các điều kiện cơ bản về nhận thức, ý chí hoạt động… để biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, quyết định kết quả phát triển tài đức của cá nhân Tuy

Trang 16

nhiên, với kinh nghiệm, vốn sống của cá nhân chưa nhiều, học sinh THPT dễ chao đảo trong hành vi hoạt động của mình”.

* Sự hình thành thế giới quan:

Học sinh THPT – tuổi thanh niên mới lớn là lứa tuổi quyết định sự hìnhthành của thế giới quan Dây là nét chủ yếu trong sự phát triển tâm lý của tuổithanh niên HS Chỉ số đầu tiên của sự hình thành thế giới quan là sự phát triểncủa hứng thú nhận thức với các vấn đề tự nhiên, XH thông qua các môn học ởbậc THPT, ở lứa tuổi mới lớn quan tâm nhiều nhất đến các vấn đề liên quanđến con người Vai trò của con người trong lịch sử, quan hệ giữa con người vàxã hội, giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa tình cảm và trách nhiệm Nói chungcác em có khuynh hướng sống một cuộc sống tích cực vì xã hội

Trong điều kiện hiện nay, cần đặc biệt giúp các em phân tích, đánh giá cáchiện tượng xã hội, các thang giá trị đang có những diễn biến không đơn giản,biết ủng hộ, bảo vệ cái đúng, phản đối ngăn chặn cái sai, biết chống lại sựxâm nhập của thế giới quan của giai cấp bóc lột, biết chống mê tín dị đoan vàcác tư tưởng duy tâm khác

* Đời sống tình cảm:

Ở tuổi HS THPT, quan hệ bạn bè chiếm vị trí hơn hẳn so với những ngườikhác, do lòng khao khát muốn có một vị trí bình đẳng trong cuộc sống, các emđược sinh hoạt với các bạn cùng tuổi, cảm thấy mình cần cho nhóm, có uy tín,có vị trí nhất định trong nhóm Các em thích giao lưu với bạn bè cùng lứa tuổi,cùng lớp, cùng trường, hoặc ngoài trường Trong công tác GDĐĐ cho HSTHPT cần chú ý tới ảnh hưởng của nhóm- hội tự phát ngoài nhà trường và cóthể tránh được hậu quả xấu của nhóm tự phát bằng cách tổ chức các hoạtđộng tập thể có tổ chức, đoàn thể để phát huy được tính tích cực của thanhniên

Đời sống tình cảm của thanh niên mới lớn rất phong phú và nhiều vẻ, đặcbiệt là tình bạn: các em có nhu cầu lớn về tình bạn, các em có nhu cầu caohơn về tình bạn (tính chân thật, tin tưởng, và giúp đỡ lẫn nhau…) Các em cókhả năng đồng cảm tình bạn Tình bạn của các em mang tính xúc cảm cao.Các em thường lý tưởng hóa tình bạn Ở thanh niên mới lớn, quan hệ giữanam và nữ được tích cực hóa rõ rệt Nhóm bạn ở trường THPT thường có namvà nữ Do vậy, nhu cầu về tình bạn khác giới được tăng lên Ở một số em,xuất hiện những sự lôi cuốn đầu tiên mạnh mẽ: tình yêu Tình yêu ở HTTHPT thường là trong trắng, tươi sáng, hồn nhiên, giàu cảm xúc và khá chânthành Nhà trường phải giáo dục cho HS một tình yêu chân chính dựa trên cơsở thông cảm hiểu biết, tôn trọng và cùng có một mục đích, lý tưởng chung.Để GDĐĐ cho HS THPT có hiệu quả, chúng ta cần chú ý xây dựng mốiquan hệ tốt đẹp với các em, đó là mối quan hệ bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau

Trang 17

Chúng ta cần tin tưởng các em, tạo điều kiện để các em phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo độc lập, giúp các em nâng cao tinh thần trách nhiệm củabản thân và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhân cách học sinh.

4 Lý luận về quản lý giáo dục cho HS THPT:

a Mục tiêu quản lý giáo dục đạo đức:

Ở bất kỳ một nhà trường phổ thông nào cũng phải làm tốt hai nhiệm vụ

“dạy chữ” và “dạy người” Quản lý hoạt động GDĐĐ cho nhà trường làhướng tới việc thực hiện phát triển toàn diện nhân cách cho người học

Mục tiêu của quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS là làm cho quá trình GDĐĐvận hành đồng bộ, hiệu quả để nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS Mục tiêuquản lý hoạt động GDĐĐ gồm:

+ Về nhận thức: giúp cho mọi người, mọi ngành, mọi cấp, mọi tổ chức XHcó nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động quản lý GDĐĐ

+ Về thái độ, tình cảm: giúp mọi người có thái độ đúng đắn trước hành vicủa bản thân, ủng hộ những việc làm đúng, đấu tranh với những việc làm tráipháp luật và trái với truyền thống lễ giáo, đạo đức dân tộc Việt Nam

+ Về hành vi: Mọi người tích cực tham gia hoạt động tập thể, hoạt động xãhội, tự giác rèn luyện, tu dưỡng bản thân theo chuẩn mực đạo đức chung củaxã hội và tham gia tích cực quản lý GDĐĐ cho học sinh

b Nội dung và phương pháp quản lý giáo dục đạo đức:

* Nội dung quản lý giáo dục đạo đức:

Nội dung quản lý hoạt động giáo dục cho học sinh THPT bao gồm:

- Việc chỉ đạo hoạt động xây dựng kế hoạch GDĐĐ Hoạt động GDĐĐtrong trường THPT là bộ phận quan trọng trong toàn hệ thống kế hoạch quảnlý trường học Vì vậy, kế hoạch phải đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêuGDĐĐ với mục tiêu giáo dục trong trường THPT, phối hợp hữu cơ với kếhoạch hoạt động trên lớp, lựa chọn nội dung, hình thức đa đạng thiết thực, phùhợp với hoạt động tâm lý HS để đạt hiệu quả cao

+ Kế hoạch hoạt động theo chủ điểm

+ kế hoạch hoạt động theo các môn học trong chương trình

+ Kế hoạch hoạt động theo các mặt hoạt động XH

Kế hoạch phải đưa ra những chỉ tiêu cụ thể và các giải pháp cụ thể có tínhkhả thi

- Tổ chức sắp xếp bộ máy vận hành thực hiện kế hoạch đã đề ra: Nhàtrường phải thành lập ban chỉ đạo “Ban đức dục” và phân công nhiệm vụ cụthể, đúng việc

+ Hiệu trưởng (hoặc phó hiệu trưởng)

Trang 18

+ Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

+ Giáo viên chủ nhiệm

+ Đại diện hội cha mẹ học sinh

- Triển khai chỉ đạo thực hiện kế hoạch đã đề ra; thường xuyên kiểm tra,đánh giá, khen thưởng, trách phạt kịp thời nhằm động viên các lực lượng thamgia quản lý và tổ chức GDĐĐ

* Phương pháp quản lý giáo dục đạo đức:

Các phương pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động có thể có và cóchủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý (cấp dưới và tiềm năng cóđược của hệ thống) và khách thể quản lý (các ràng buộc của môi trường, hệthống khác…) để đạt được các mục tiêu quản lý đề ra Chỉ thông qua và bằngphương pháp quản lý mà các mục tiêu, chức năng nhiệm vụ, quản lý mới đivào cuộc sống, biến thành thực tiễn phong phú, sinh động, phục vụ lợi ích củacon người Người ta thường sử dụng một số phương pháp dưới đây

- Phương pháp tổ chức hành chính:

Là phương pháp tác động trực tiếp của hệ thống quản lý (chủ thể quản lý)đến hệ bị quản lý (đối tượng quản lý) bằng mệnh lệnh, chỉ thị, quyết địnhquản lý

Ở trường THPT, phương pháp tổ chức hành chánh thường thể hiện qua cácquyết định của hội đồng sư phạm, hội đồng giáo dục Nghị quyết của hội nghịcán bộ giáo viên, nghị quyết của chi bộ Đảng, đoàn TN… các quyết định củaHiệu trưởng, các quy định, quy chế, nội quy của nhà trường mang tính chất bắtbuộc yêu cầu cán bộ giáo viên và HS phải thực hiện

Phương pháp tổ chức hành chính là tối cần thiết trong công tác quản lý, nóđược xem như những biện pháp quản lý cơ bản nhất để xây dựng nề nếp, duytrì kỷ luật trong nhà trường, buộc cán bộ giáo viên và học sinh phải làm tốtnhiệm vụ của mình

- Phương pháp tâm lý – xã hội:

Là những cách thức tác động của người quản lý tới người bị quản lý, nhằmbiến những yêu cầu của các cấp quản lý thành nghĩa vụ tự giác bên trong,thành nhu cầu của người bị quản lý Phương pháp này thể hiện tính nhân văntrong hoạt động quản lý Nhiệm vụ của phương pháp này là động viên tinhthần chủ động, tích cực của mọi người, đồng thời tạo ra bầu không khí cởi mở,tin cậy lẫn nhau, giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ Các phương pháp tâm lý– xã hội bao gồm các phương pháp: Giáo dục, thuyết phục, động viên, tạo dưluận xã hội, giao công việc yêu cầu cao…

Nhóm phương pháp này thể hiện tính dân chủ trong hoạt động quản lý củangười lãnh đạo Ưu điểm của phương pháp này là phát huy quyền làm chủ tập

Trang 19

thể và mọi tiềm năng của mỗi thành viên trong tổ chức, nói chung là phát huyđược nội lực của cá nhân và tập thể Vận dụng thành công phương pháp nàysẽ mang lại hiệu quả cao trong hoạt động của tổ chức và hoạt động GDĐĐ

HS Tuy nhiên, hiệu quả của phương pháp này phụ thuộc lớn vào nghệ thuậtcủa người quản lý

- Các phương pháp kinh tế:

Là sự tác động một cách gián tiếp của người bị quản lý bằng cơ chế kíchthích lao động qua lợi ích vật chất để họ tích cực tham gia công việc chung vàthực hiện tốt nhiệm vụ được giao Trong trường THPT, thực chất của phươngpháp kinh tế là dựa trên sự kết hợp giữa việc thực hiện trách nhiệm nghĩa vụcủa cán bộ giáo viên, HS ghi trong điều lệ nhà trường phổ thông, quy chếchuyên môn… với những kích thích có tính đòn bẫy trong trường Kích thíchviệc hoàn thành nhiệm vụ bằng lợi ích kinh tế có ý nghĩa to lớn đối với tínhtích cực lao động của con người

+ Tạo động cơ mạnh cho hoạt động và mang lại lợi ích thiết thực cho ngườilao động

+ Phát huy tính sáng tạo, nâng cao tính tự giác độc lập của mỗi người trongcông việc Bản thân việc kích thích vật chất cũng đã chứa đựng sự cổ vũ vềtinh thần Đó là sự thừa nhận của tập thể đối với kết quả lao động, phẩm chất,năng lực của mỗi người Bằng nguồn kinh phí của nhà trường xây dựng cơ chếthưởng phạt trong quản lý nhà trường nói chung và quản lý hoạt động GD-ĐTnói riêng, khen thưởng xứng đáng cho những cán bộgiáo viên có thành tíchtrong hoạt động GDĐĐ cho HS, đồng thời khiển trách phê bình, cắt thi đua đốivới những cán bộ giáo viên thiếu trách nhiệm trong GDĐĐ học sinh (nhất làGVCN)

Phương pháp kinh tế thường được kết hợp với phương pháp hành chính – tổchức Hai phương pháp này luôn bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau Ngày naytrong bối cảnh cơ chế thị trường, việc vận dụng phương pháp kinh tế phải thậntrọng để một mặt khuyến khích tính tích cực lao động của cán bộ giáo viên,mặt khác vẫn đảm bảo uy tín sư phạm của giáo viên và tập thể nhà trường

c Các yếu tố chi phối quản lý GDĐĐ cho HS THPT:

* Yếu tố giáo dục nhà trường:

Nhà trường với cả một hệ thống giáo dục được tổ chức quản lý chặt chẽ làyếu tố quan trọng nhất trong việc GDĐĐ theo những chuẩn giá trị tiến bộ,đúng đắn, theo định hướng XHCN, với hệ thống chương trình khoa học, các tàiliệu, sách giáo khoa, sách tham khảo phong phú, các phương tiện hỗ trợ giáodục ngày càng hiện đại và đặc biệt là với đội ngũ cán bộ, giáo viên, giáo viênchủ nhiệm được đào tạo cơ bản có đủ phẩm chất và năng lực tổ chức lớp sẽ làyếu tố có tính quyết định hoạt động GDĐĐ cho HS

Trang 20

* Yếu tố giáo dục gia đình:

Gia đình là tế bào của XH Gia đình với những quan hệ mật thiết, là nơinuôi dưỡng các em HS từ bé đến lúc trưởng thành Gia đình là cội nguồn hìnhthành nhân cách HS: “Nề nếp gia phong”; “Truyền thống gia đình” là nhữngđiều rất quan trọng mà người xưa đã từng nói về cách giáo dục gia đình.Trong gia đình, ông bà, cha mẹ, anh chị là tấm gương sáng để con trẻ noi theo:

“Không có gì tác động lên tâm hồn non trẻ bằng quyền lực của sự làm gương Còn giữa muôn vàn tấm gương, không có tấm gương nào gây ấn tượng sâu sắc, bền chắc bằng tấm gương của bố mẹ và thầy giáo” (Nivicốp)

Một gia đình em ấm, hạnh phúc cũng là yếu tố quyết định nâng cao hiệuquả GDĐĐ học sinh, là điều kiện tốt để hình thành nhân cách hoàn thiện ởcác em

* Yếu tố giáo dục xã hội:

Môi trường giáo dục rộng lớn là cộng đồng cư trú của HS, từ xóm giềng,khu phố đến các tổ chức đoàn thể XH, các cơ quan nhà nước đều ảnh hưởngrất lớn đến việc GDĐĐ cho HS nói chung và HS THPT nói riêng Một môitrường XH trong sạch lành mạnh, một cộng đồng XH tốt đẹp, văn minh làđiều kiện thuận lợi nhất GDĐĐ học sinh và hình thành nhân cách học sinh.Cần phải có sự phối hợp thống nhất giữa nhà trường, gia đình và XH đã trởthành một nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục XHCN Sự phối hợp này tạo ramôi trường thuận lợi, sức mạnh tổng hợp để giáo dục ĐĐ học sinh

* Yếu tố tự giáo dục vảu bản thân học sinh:

Học sinh THPT: 15 đến 18 tuổi (tuổi mới lớn) Ở lứa tuổi này đã hình thànhmạnh mẽ năng lực, tự ý thức và nhu cầu tự giáo dục Vì vậy, đây củng là yếutố chi phối việc quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT Trong quá trình hìnhthành nhân cách, HS phải tự tu dưỡng giáo dục bản thân Sự hình thành vàphát triển đạo đức của mỗi con người là một quá trình phức tạp, lâu dài, cũngphải trải qua bao khó khăn, gian truân trong cuộc sống mới dẫn đến thànhcông Vì vậy, HS THPT từ chỗ là đối tượng giáo dục dần dần trở thành chủthể giáo dục tu dưỡng, rèn luyện, tự hoàn thiện nhân cách đạo đức HS THPTphải tích cực phấn đấu tu dưỡng thì quá trình GDĐĐ mới có hiệu quả cao

d Vai trò của Hiệu trưởng trong việc quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông:

Trong nhà trường, Hiệu trường là người do cơ quan nhà nước có thẩm quyềnbổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước nhà nước, trước nhân dân và cấp trên trựctiếp về mọi hoạt động giáo dục của nhà trường, là người thay mặt nhà nướcđiều hành toàn bộ nhà máy và thực hiện đồng bộ tất cả các nội dung địnhhướng phát triển GD-ĐT trong sự vận hành chung của hệ thống giáo dục quốc

Trang 21

dân Năng lực (cả phẩm chất đạo đức và năng lực quản lý) của người hiệutrưởng có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả quá trình quản lý, với sự pháttriển của nhà trường.

Hiệu trường là người có phẩm chất đạo đức, chính trị tốt, có chuyên mônvững vàng, năng động, sáng tạo, mềm dẻo, linh hoạt trong giao tiếp và côngtác quản lý Người hiệu trưởng phải tự xây dựng phong cách lãnh đạo dân chủ,quyết đoán có hiệu quả Người hiệu trưởng phải là linh hồn, là tring tâm củasự đoàn kết nhất trí của tập thể sư phạm; và biết phát huy tài năng, trí tuệ, sứclực của cán bộ, giáo viên vào sự nghiệp giáo dục của nhà trường Usinxki từng

nói “Hiệu trưởng là nhà giáo dục chủ chốt trong nhà trường, giáo dục học sinh thông qua các giáo viên, làm thầy các giáo viên, dạy cho họ khoa học và nghệ thuật giáo dục”.

Người hiệu trưởng có vai trò quan trọng trong hoạt động GDĐĐ HS THPTlà người trực tiếp lập kế hoạch quản lý tổ chức, chỉ đạo hoạt động GDĐĐ.Hiệu trưởng chủ động tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoàinhà trường để GDĐĐ cho HS Hiệu trưởng phải thường xuyên kiểm tra, đánhgiá quá trình GDĐĐ cho HS và trực tiếp giáo dục HS, đặc biệt giáo dục HS cá

biệt Usinxki đã viết trong cuốn “Trái tim tôi hiến dâng cho trẻ”: “Nếu hiệu trưởng chỉ dạy cách giáo dục mà không trực tiếp tiếp xúc với học sinh thì ông

ta không còn là nhà giáo dục nữa Thiếu sự tác động trực tiếp tới học sinh, Hiệu trưởng sẽ mất đi cái phẩm chất quan trọng nhất của nhà sư phạm và năng lực tiếp xúc với thế giới tâm hồn trẻ”.

Luật giáo dục (2005), chương III, mục 1, điều 54 cũng đã khẳng định nhiệmvụ, quyền hạn của người hiệu trưởng:

1 Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt dộng của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận.

2 Hiệu trưởng các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý trường học.

3 Tiêu chuẩn, nhiệm vu và quyền hạn của Hiệu trưởng; thủ tục bổ nhiệm, công nhận hiệu trưởng của các trường đại học do Thủ tướng Chính phủ quy định; đối với các trường ở các cấp học khác do Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo quy định; đối với cơ sở dạy nghề do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề quy định.

Ngày đăng: 02/02/2021, 09:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w