Và trong quá trình tìm hiểu tác phẩm để giảng dạy, để viết Sáng kiến kinh nghiệm thì tôi đã yêu nó tự bao giờ, yêu luôn cả những người sáng tạo ra nó; cảm phục vua Quang Trung – Nguyễn H[r]
Trang 1SƠ LƯỢC LÍ LỊCH KHOA HỌC
I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
- Họ và tên : Võ Duy Nhã Đoan
- Ngày tháng năm sinh : 18 /10 /1979
- Nam, nữ : nữ
- Địa chỉ : Lô A, Phòng 601, Chung cư Thanh Bình, P Thanh Bình TPBiên Hòa tỉnh Đồng Nai
- Điện thoại : 0919236609 (DĐ) 0613943854 (NR)
- Fax : Email : info@123doc.org
- Đơn vị công tác : Trường THPT Trấn Biên
II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO :
- Học vị: Cử nhân khoa học.
- Năm nhận bằng : 2001
- Chuyên ngành đào tạo : Ngữ văn
III KINH NGHIỆM KHOA HỌC :
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm : Giảng dạy bộ môn Văn
- Số năm có kinh nghiệm : 10 năm
Trang 2A.MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài:
Trong những năm gần đây cùng với việc đổi mới chương trình, nội dunggiáo dục, thay sách giáo khoa đã dấy lên phong trào đổi mới phương pháp dạyhọc văn Hướng đi có nhiều hứa hẹn Vừa đảm bảo tính cơ bản, tinh giản, hiệnđại, sát thực tiễn Việt Nam, phù hợp với xu thế tiên tiến trên thế giới; vừa pháthuy vai trò chủ động tích cực sáng tạo của học sinh, vừa đòi hỏi phải đổi mớiphương pháp dạy ở giáo viên Ngữ văn trung học
Như chúng ta đã biết, sách giáo khoa Ngữ văn 11- cơ bản lần này có một
số thay đổi: có sự thêm, bớt một số tác phẩm Và lẽ dĩ nhiên, trước mỗi tácphẩm mới giáo viên không khỏi lúng túng, trăn trở, lo nghĩ Đặc biệt là nhữngtiết văn học sử, đây là những tác phẩm mới so với chương trình cũ Hơn nữa,những tác phẩm này đa số lại khô khan, khó tạo cảm xúc ở các em Vậy làm thếnào để có một giáo án tốt, một giờ dạy hay, một lớp học sinh động, học sinh tíchcực, chủ động và hứng thú trong tiết học, mà đặc biệt là học sinh hiểu và cảmnhận được giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản? Đó là những băn khoăn,trăn trở không chỉ ở riêng tôi mà ở mỗi giáo viên Ngữ văn
Mặt khác, tôi thiết nghĩ, mỗi bài dạy đều có một vị trí, vai trò quan trọngcủa nó Song những văn bản mới đưa vào chương trình lại khá khó đối với họcsinh, thậm chí giáo viên cũng không dễ tiếp cận, giải mã Trong khi đó kinhnghiệm giảng dạy tích lũy chưa nhiều, tư liệu tham khảo cũng hạn chế, có bàiphải nói là rất hiếm Vì vậy, với vốn kinh nghiệm còn khiêm tốn của bản thân,tôi chỉ xin được trao đổi với quý đồng nghiệp cách giảng dạy một bài cụ thể, bài
Chiếu cầu hiền ( Ngô Thì Nhậm) Bởi theo tôi, Chiếu cầu hiền của Ngô Thì
Nhậm viết thay vua Quang Trung là tác phẩm tiêu biểu cho tư tưởng, cốt cách,đức độ của vua Quang Trung và văn phong của Ngô Thì Nhậm Hơn nữa, vớiđặc điểm tâm hồn dân tộc và truyền thống đào tạo nhân tài cho đất nước thì bàichiếu có một ý nghĩa vô cùng to lớn trong sự nghiệp trồng người
Cuối cùng, dạy tốt bài này là ta đã tác động trực tiếp đến việc rèn đức,luyện tài, nâng cao kĩ năng lập luận diễn đạt của học sinh; từ đó hình thành ởcác em ý thức về vai trò của hiền tài, của bản thân trong công cuộc xây dựng đấtnước
Đó là những lý do tôi chọn đề tài Giảng dạy bài Chiếu cầu hiền (Cầu hiền chiếu) (Ngô Thì Nhậm) để trao đổi những điều tâm đắc và rất mong được quý
thầy cô cùng bạn bè đồng nghiệp bổ sung những khiếm khuyết để bài giảngngày càng hoàn thiện hơn
II Đối tượng và mục tiêu của đề tài
1 Đối tượng
Trang 3- Đối tượng trực tiếp của tôi là bài Chiếu cầu hiền (Cầu hiền chiếu) của
Ngô Thì Nhậm viết thay vua Quang Trung, trong sách giáo khoa Ngữ văn 11,tập 1(cơ bản), trang 68-Nhà xuất bản giáo dục
- Để thử nghiệm đề tài tôi chọn học sinh lớp 11A11 và 11D3 trường Trunghọc phổ thông Trán Biên, năm học 2011- 2012 để thực hiện
2 Mục tiêu
- Cung cấp những tri thức cơ bản về bài Chiếu cầu hiền (Ngô Thì Nhậm).
- Phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh và sự hứng thú trongtiết văn học sử
- Góp phần bồi dưỡng năng lực tư duy, năng lực diễn đạt và cách thức lậpluận trong bài văn nghị luận của học sinh
- Giáo dưỡng học sinh vào việc trau dồi đức và tài để sống tốt, sống đẹp,sống có ý nghĩa trong tương lai
Trang 4B.NỘI DUNG CHÍNH
I Cơ sở lý luận
1 Dạy văn trong nhà trường hiện đại
- Dạy văn là dạy cho học sinh nhận ra trong tác phẩm văn chương nguồn trithức vô cùng phong phú, đa dạng, hấp dẫn và bổ ích để bồi dưỡng tâm hồn, trítuệ để sống có ý nghĩa hơn, sâu sắc hơn, tinh tế hơn Dạy văn là dạy sống, dạyngười, dạy mở mang trí tuệ
- Trong quá trình dạy văn cần xác định học sinh là nhân vật trung tâm, làchủ thể cảm thụ Giáo viên không được cảm nhận thay mà chỉ là người địnhhướng, “chỉ đường” cho các em đi khám phá tác phẩm Con đường đó bao giờcũng bắt đầu từ công việc tri giác ngôn ngữ, trải qua nhiều chặng, nhiều bước,
đi từ bên ngoài vào bên trong tác phẩm Trên con đường đó, người giáo viên cóvai trò khơi nguồn, tạo cảm hứng để học sinh tích cực tự giác trong việc cảmthụ, chiếm lĩnh tri thức và chủ động thưởng thức tác phẩm văn chương Nhưvậy, yêu cầu phát huy chủ thể học sinh gắn liền với tài năng sáng tạo của ngườigiáo viên Hay nói đúng hơn đó là sự hết hợp nhuần nhuyễn tính nghệ thuật vàtính sư phạm trong quá trình dạy văn
2 Tiếp nhận văn học
- “Tiếp nhận văn học hay cảm thụ văn học là sống với tác phẩm vănchương, rung động với nó, vừa đắm chìm trong thế giới nghệ thuật của nhà văn,vừa tỉnh táo lắng nghe tiếng nói của tác giả, thưởng thức cái hay, cái đẹp, tài
nghệ của người nghệ sĩ sáng tạo” (Văn học 12- Tập hai, Phần lí luận văn học, Nxb Giáo dục-2002, trang 146).
- Tiếp nhận văn học có nhiều cách Tuy nhiên với bài này, tôi hướng việccảm thụ của học sinh vào hai cách cơ bản sau:
+ Cảm thụ có chú ý đến nội dung tư tưởng, tình cảm của tác phẩm để hiểuxem tác giả muốn nói gì? Và nói bằng cách nào? Từ đó thâm nhập vào tác phẩm
để hiểu và cảm Cách này khá dễ và áp dụng được với đa số học sinh.
+ Cảm thụ có sự sáng tạo Nghĩa là phải xem tác phẩm như một phươngtiện để nghĩ, để cảm, để tự đối thoại với mình và đối thoại với tác giả Kiểu cảmthụ này khó và cao, không phải dễ dàng đạt tới, tìm được ở học sinh thật hiếm.Nhưng nhờ nó mà giáo viên phát hiện được những học sinh có năng khiếu vănchương, thực sự say mê và rung cảm với văn chương
3 Phương pháp thực hiện
Dạy văn là nghề sáng tạo, cá nhân giáo viên được tương đối tự do trongviệc lựa chọn những phương pháp tối ưu Để thực hiện bài dạy này, tôi vậndụng những phương pháp sau:
Trang 5- Phương pháp đọc hiểu, phương pháp diễn dịch, qui nạp, phân tích, phântích- tổng hợp, tích hợp,… để khai thác vấn đề, lí giải vấn đề, giúp học sinh tiếpcận văn bản từ nhiều phía và có thể vận dụng vào thực tế.
- Phương pháp so sánh đối chiếu, dùng hình ảnh trực quan, giảng bình, gợimở… để bài giảng phong phú, sinh động
- Đặc biệt là phương pháp phát vấn bằng hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó,trong đó có câu hỏi tái hiện, câu hỏi phát hiện, câu hỏi tư duy, câu hỏi gợi mở,câu hỏi thảo luận nhóm, nâng cao… một cách hợp lý để kích thích sự suy nghĩ,tìm tòi, sáng tạo, chủ động tích cực của học sinh
Vận dụng và kết hợp tốt các phương pháp trên sẽ giúp tiết học diễn ra mộtcách tự nhiên, nhịp nhàng, gắn kết giữa thầy và trò
II Những chuẩn bị cần thiết cho bài giảng
1 Đối với giáo viên :
- Chuẩn bị chung:
+ Trước hết, giáo viên cần đọc và nghiên cứu kỹ sách giáo khoa để nắmđược nội dung phần Tiểu dẫn, văn bản và hệ thống câu hỏi ở phần Hướng dẫnhọc bài
+ Nghiên cứu, làm việc với sách giáo viên để xác định đúng vị trí, mụcđích yêu cầu và hệ thống trí thức cơ bản, trọng tâm của bài giảng
+ Vì bài này khó tìm tài liệu tham khảo nên giáo viên có thể tham khảo
thêm Sách giáo viên Ngữ văn Nâng cao, Giới thiệu giáo án Ngữ văn Tập một –của Nguyễn Hải Châu (Chủ biên) và một số sách tham khảo tôi đã
11-giới thiệu ở trên để có thêm những hiểu biết sâu sắc, phong phú về nội dung sẽdạy trên lớp
+ Chuẩn bị các Slide Power Point hoặc bảng phụ; những hình ảnh về NgôThì Nhậm và vua Quang Trung, ảnh minh họa cho văn bản
- Giáo án: Giáo án là tài liệu trình bày cụ thể của giáo viên về nội dung,
phương pháp, quy định mọi hoạt động của giáo viên và học sinh trên lớp Đây làyếu tố quyết định sự thành công của tiết dạy Do đó, giáo viên phải chuẩn bịgiáo án thật kỹ càng
2 Đối với học sinh: Tất cả phần này yêu cầu chuẩn bị ở nhà
- Đọc sách giáo khoa: Do thời lượng trên lớp không nhiều do đó giáo viên
yêu cầu học sinh đọc trước phần Tiểu dẫn, Văn bản và Chú thích ở nhà nhằm
giúp các em bước đầu nắm được những nét cơ bản về tác giả và văn bản Hơnnữa, vì đây là văn bản cổ, sử dụng từ ngữ kinh điển rất nhiều nên tôi đặc biệt
nhấn mạnh việc đọc phần Chú thích Làm tốt khâu này, các em không chỉ được
mở mang về tri thức mà còn giúp tiết học nhẹ nhàng, thoải mái hơn
- Bài soạn: Đây là sự chuẩn bị có tính chất tích cực, tự giác, có tác dụnglàm tiền đề, cơ sở để giáo viên phát huy tính tích cực chủ động của học sinh
Trang 6trong quá trình lĩnh hội bài mới Và do có sự chênh lệch về năng lực cảm thụgiữa hai lớp, nên tôi yêu cầu cụ thể như sau:
+ Lớp 11 khối A, phần đông là học sinh trung bình và yếu môn văn nên tôichỉ yêu cầu học sinh trả lời những câu hỏi ở mục “Hướng dẫn học bài” trongsách giáo khoa
+ Lớp 11 khối D, đa phần là học sinh khá nên tôi yêu cầu các em soạn
thêm nội dung sau: Hãy chọn một đoạn hoặc một câu văn mà em tâm đắc rồi phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật lập luận của câu văn hoặc đoạn văn đó.
III Quá trình thực hiện bài giảng
PHẦN 1: GIỚI THIỆU BÀI MỚI
Lời vào bài phải ngắn gọn nhưng là khâu không thể bỏ qua Lời vào bài tốt
sẽ gây ấn tượng ban đầu, tạo sự hứng thú ngay từ đầu tiết học, khơi gợi sự tò mò
và khao khát khám phá, tìm hiểu của học sinh Có nhiều cách để vào bài song ở
bài này tôi có thể kết hợp với việc kiểm tra bài cũ - bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu) để giới thiệu bài mới một cách liền mạch và tự
nhiên như sau:
“ Như vậy, với bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu đã đưa
chúng ta ngược thời gian trở về với một thời đại đau thương mà hào hùng của
dân tộc Một dân tộc đã sinh ra những người con “ Lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa” để làm nên những trang sử vẻ vang cho dân tộc, rạng danh dân
tộc, là niềm tự hào, là tấm gương của lớp lớp thế hệ trẻ Việt Nam Và hôm nay,
chúng ta sẽ đến với những nhân vật lịch sử như thế qua bài “ Chiếu cầu hiền”
của vua Quang Trung do Ngô Thì Nhậm viết thay.
PHẦN 2: NỘI DUNG BÀI GIẢNG
(Hoạt động chính của giáo viên và học sinh)
Hoạt động của giáo
viên (GV)
Hoạt động của học sinh(HS)
- HS trả lời
- HS gạch chân các ýtrong sgk
- Tài năng về nhiều
Trang 7+ Trịnh Sâm khen ông:
tài học không ở dưới
người
+ Quang Trung ca ngợi
ông: thuộc dòng văn
- HS quan sát
-HS trả lời:
+ Thể chiếu
+ Loại văn chínhluận, được vuadùng để ban bố mệnhlệnh hoặc chỉ thịxuống cấp dưới Vănphong trang trọng; lời
lẽ rõ ràng, tao nhã
mặt: văn chương, chínhtrị, ngoại giao, quân sự,
…
- 1788 Lê - Trịnh sụp
đổ, ông theo phong tràoTây Sơn và có nhiềuđóng góp tích cực
2 Tác phẩm
a Thể loại: thể chiếu(chiếu chỉ, chiếu thư,chiếu mệnh, )
b Hoàn cảnh sáng tác:
Trang 8(?) Chiếu cầu hiền
được viết theo thể loại
Lợi xuống chiếu hạ lệnh
tiến cử tiến củ hiền tài
và cho phép những hiền
tài tự tiến cử
(?) Vì sao lúc bấy giờ
Ngô Thì Nhậm phải
thay lời vua Quang
Trung viết Chiếu cầu
vậy nội dung tư tưởng
của bài chiếu thuộc về
vua Quang Trung
+ Bề tôi vua Lê, chúaTrịnh (sĩ phu Bắc Hà)mang nặng tư tưởngtrung quân, quan niệmđạo đức bảo thủ;
không nhận thấy chthấy chính nghĩa và sứmệnh lịch sử của TâySơn nên đã bất hợptác với triều đại TâySơn, thậm chí chốnglại Tây Sơn
- HS đọc văn bản(sgk/68)
- HS thảo luận nhóm
và đại diện nhóm trảlời
Bài chiếu do Ngô ThìNhậm viết thay vuaQuang Trung vàokhoảng năm 1788 –
1789, nhằm thuyết phục
sĩ phu Bắc Hà ra cộngtác với triều đại TâySơn
c Bố cục: ba phần:
- Phần 1: “Từ đầu đến người hiền vậy.”
mối quan hệ giữahiền tài và thiên tử
- Phần 2: từ “Trước đây
…của trẫm hay sao?”
cách ứng xử củanho sĩ Bắc Hà và nhucầu đất nước
- Phần 3: còn lại
con đường cầu hiềncủa vua Quang Trung
Trang 9- Gọi học sinh đọc văn
thêm đặc điểm của thể
chiếu và thấy rõ tầm tư
tưởng, chủ trương tập
hợp nhân tài để xây
dựng đất nước của vua
Quang Trung cũng như
nghệ thuật thuyết phục
của Ngô Thì Nhậm,
chúng ta cùng đi vào
phân tích nội dung và
nghệ thuật bài chiếu
♦ Hoạt động 3: Hướng
dẫn HS phân tích nội
dung và nghệ thuật
của tác phẩm:
(?) Người hiền (còn gọi
hiền tài) là người như
của người hiền như thế
nào đối với một quốc
- HS trả lời: Người cóđức và tài
- HS trả lời: Tác giả
ví người hiền như một vìtinh tú Điều đó chothấy người hiền có vịtrí, vai trò vô cùngquan trọng đối vớiquốc gia, dân tộc
- Người hiền phải
hướng về thiên tử và dothiên tử sử dụng đểcùng vua xây dựng đấtnước thì mới bộc lộ hếttài năng, tâm đức
Quy luật xử thế củangười hiền
Trang 10gia, dân tộc
(Gợi ý: Liên hệ với bài
đọc thêm Hiền tài là
nguyên khí quốc gia của
Thân Nhân Trung, lớp
10)
- GV chốt ý, bổ sung
(nếu cần)
- GV bình: Hiền tài là
của quý của nhân dân,
của hiếm của đất nước
Như Thân Nhân Trung
đã từng nói “hiền tài là
nguyên khí của quốc
gia” Nếu ta ví von đất
nước như một cơ thể
sống thì hiền tài chính
là máu trong tim, là
hơi trong phổi Hiền tài
quan hệ như thế nào
giữa người hiền và nhà
vua?(Gợi ý: Có thể diễn
xuôi để hiểu lớp nghĩa
bên ngoài, rồi từ đó
phân tích sâu và khái
quát nội dung của 2 câu
mình, không về với vua,
không có điều kiện thi
thố tài năng thì cái tài
- HS trả lời: Ngườihiền được ví như saosáng trên trời Saosáng ắt chầu về saoBắc Đẩu, người hiềnphải hướng về vua
Ngược lại là trái tựnhiên, trái quy luật,trái đạo trời, trái lẽđời, khiến tài năng
đành uổng phí - đó không phải là ý trời sinh ra người hiền vậy.
Nói tóm lại: phải cóngười hiền thì thiên tửmới làm nên nghiệplớn và ngược lại ngườihiền muốn chứng tỏtài năng, đức độ thìphải quy về với vua
- HS thảo luận nhómvà
đại diện nhóm trả lời
- HS trả lời: Để tăng
sức nặng, độ tin cậy,đánh vào tâm lý sĩ phu
* Nghệ thuật: Lập luậnchặt chẽ, rõ ràng bằngcách :
- Dẫn lời của KhổngTử
- Dùng hình thức sosánh, khẳng định và phủđịnh
Hiền tài phải phòvua để giúp nước, giúpdân
Trang 11đó cũng đành uổng phí :
“Ngọc kia chẳng giũa
chẳng mài, Cũng thành
vô dụng, cũng hoài
ngọc đi” (Ca dao)
Như vậy, người hiền
qui về với vua, dốc hết
tài năng phụng sự đất
nước, phụng sự nhân
dân là điều tất yếu, là
việc nên làm Đó còn là
cơ hội để tạo lập công
danh sự nghiệp hiển
(?) Tại sao tác giả lại
mượn lời của Khổng
Tử?
(Gợi ý: Ngay từ câu mở
đầu tác giả đã dẫn lời
của Khổng Tử Cách
làm đó có ý nghĩa gì,
tác dụng gì?)
GV lưu ý với HS: Đối
tượng mà bài chiếu
hướng đến là sĩ phu Bắc
Hà - những con người
thời trung đại, họ có nét
tâm lí đặc thù: noi theo
tiền nhân, dựa vào
mệnh trời; lời của tiền
Trang 12đều củng cố cho luận
điểm, làm rõ cho luận
điểm: Người hiền và
thiên tử có mối quan hệ
chặt chẽ Và ta hãy học
ở tác giả cách thức lập
luận chặt chẽ, đầy
thuyết phục này để
vận dụng vào bài văn
nghị luận, vào cuộc
sống.
(?) Tóm lại, các em có
nhận xét gì về lời mở
đầu của bài chiếu?
HẾT TIẾT 1, CHUYỂN SANG TIẾT 2
GV chuyển ý: Trên đây, chúng ta vừa tìm hiểu một phần của văn bản Tuy
chưa nhiều nhưng có lẽ các em đã phần nào cảm nhận được sức mạnh của bài chiếu Có thể nói, vẻ đẹp của văn bản này không phát lộ rực rỡ ở bề ngoài mà tiềm ẩn trong chiều sâu của cảm xúc, của suy ngẫm, như một vì tinh tú càng nhìn lại càng sáng Vậy chúng ta hãy tiếp tục khám phá tác phẩm để thấy đầy
đủ hơn cái hay, vẻ đẹp, sự hấp dẫn, sức lôi cuốn của bài chiếu này
Hoạt động của giáo
viên(GV)
Hoạt động của học sinh(HS)
Nội dung cần đạt
♦Hướng dẫn HS phân
tích nội dung và nghệ
1.2 Cách ứng xử của nho sĩ Bắc Hà và nhu
Trang 13thuật của tác phẩm (tiếp
theo):
(?)Trước sự việc Quang
Trung tiến quân ra Bắc
với triều Nguyễn Thế
nhưng, trong bối cảnh lịch
sử bấy giờ thì việc ở ẩn
không còn là giữ gìn khí
- HS trả lời : KhiQuang Trung tiếnquân ra Bắc diệt Trịnhthì sĩ phu Bắc Hà rấthoang mang, lo sợ
Trước bối cảnh đó họ
có những phản ứngtiêu cực sau:
+ Phần đông là: Bỏ đi
ở ẩn kẻ sĩ phải ở ẩn trong ngòi khe, trốn tránh việc đời,…
+ Một số ở lại triềuchính nhưng làm quantrong im lặng vì sợmình bị liên lụy
những bậc tinh anh trong triều đường phải kiêng dè không dám lên tiếng,…
+ Một số khác lại camlàm những chức vụthấp kém, cầm chừng
cũng có kẻ gõ mõ canh cửa,…
- HS thảo luận và đại diện nhóm trả lời
cầu của đất nước :
a Cách ứng xử củanho sĩ Bắc Hà
- Bỏ đi ở ẩn
- Giữ mình im lặng
- Làm việc cầm chừng
Trang 14tiết nữa mà trở thành tư
sứ mệnh lịch sử củaTây Sơn, chưa phụcvua Quang Trung
Theo họ, Nguyễn Huệchỉ là một nông dân íthọc, chỉ giỏi đánhđấm, chẳng biết gì vềlễn ghĩa sách vở thánhhiền
- HS trả lời
-HS trả lời : Vì đốitượng cần thuyết phục
là những nhà nho cửaKhổng, sân Trình, có
tư tưởng sùng cổ,chuộng sách thánhhiền Nói như vậy đểđánh vào tâm lý của
họ, đồng thời chỉ rõQuang Trung khôngchỉ giỏi võ mà cònhiểu biết sâu rộngsách thánh hiền
Dè dặt, chưa hợptác với Tây Sơn, chưanhiệt tình phụng sự đấtnước, phụng sự nhândân
* Nghệ thuật:
- Dẫn sự việc từ sáchthánh hiền
- Dùng ẩn dụ, nói tránh
Trang 15
(?)Vậy thì tại sao Ngô Thì
Nhậm lại thuyết phục theo
Hành động này cho thấy
thái độ cầu hiền của vua
Quang Trung như thế
nào ?
- GVchốt ý và phân tích
thêm: Thái độ ấy còn
được thể hiện sâu sắc,cụ
thể ở hai câu hỏi tu từ :
Hay trẫm…vương hầu
chăng ? (sgk/69) nhằm
đặt người nghe vào thế
lưỡng đao, phải suy nghĩ
lại, phải cân nhắc kĩ càng,
- HS trả lời : Gián tiếp(qua từ ‘‘Trước đây’’
và cách dẫn các sựviệc xưa Đó là cáchnói ẩn, nói tránh
- HS trả lời :+ Vì đây là những nhànho, những hiền tàiđầy lòng tự trọng, nên
dù là vua cũng phảinói tế nhị, nếu nóithẳng, nói thật sẽđụng đến lòng tự áicủa họ Như vậy bàichiếu sẽ phản tácdụng
+ Tác giả mượn xưa
để nói nay còn vì mụcđích : nhà vua chorằng đó là vì thờithế ‘‘suy vi’’,‘‘nhiềubiến cố’’ nên kẻ sĩmới phải làm như vậy
Nghĩa là nhà vua tỏ rakhoan thứ, bao dung,không truy cứu
- HS trả lời
- HS trả lời : (dựa vàochú thích trongsgk/69)
Lời lẽ tế nhị, chântình, phù hợp với đốitượng
b Nhu cầu của đấtnước :
- Thái độ cầu hiền: rấtthành tâm, khiêm
nhường Nay trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, ngày đêm mong mỏi…
tha thiết mong chờngười hiền