Việc phân tích độ nhạy của các kháng sinh chủ chốt trong điều trị nhiễm khuẩn (gồm Imipenem/Cilastatin, Meropenem, Ceftazidim và Ciprofloxacin) cũng được thực hiện với 4 chủng vi [r]
Trang 1
BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU TỈNH BẾN TRE
ĐƠN VỊ THÔNG TIN THUỐC
THÔNG TIN THUỐC
BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU TỈNH BẾN TRE ĐƠN VỊ THÔNG TIN THUỐC
Bản tin Số 2
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu
Trang 2Tài liệu lưu hành nội bộ
BS CKII Nguyễn Thị Thu Trang
BS CKII Nguyễn Thế Hưng
BS CKI Đặng Thu Thanh
BS CKI Nguyễn Thị Thu Thủy ĐD.CKI Võ Thị Trang Đài
THÔNG TIN THUỐC
BẢN TIN SỐ 2-2020
Chủ biên:
BS.CKII Trình Minh Hiệp ThS.BS Lê Văn Nghĩa BS.CKII Trần Thị Mỹ Hạnh BS.CKII Nguyễn Hữu Hữu DS.CKII Đặng Kim Loan ThS.BS Võ Phạm Trọng Nhân
Tham gia biên soạn:
BS.CKI Trần Văn Điền BS.CKII Nguyễn Văn Đạt DS.CKI Phan Quốc Thông DS.Nguyễn Thị Trúc Huỳnh ThS.DS Phan Ngọc Nhiên Thảo
BS.CKII Nguyễn Thị Thu Trang BS.CKII Nguyễn Thế Hưng BS.CKI Đặng Thu Thanh BS.CKI Nguyễn Thị Thu Thủy ĐD.CKI Võ Thị Trang Đài Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu
Trang 3PHẦN I BÁO CÁO ADR
BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Đơn vị thông tin thuốc
TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO ADR 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2020 TẠI BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
DS.CKI Phan Quốc Thông - Khoa Dược - BV NĐC
1 TÌNH HÌNH CHUNG
Từ 01/01/2020 đến 30/06/2020, Khoa
Dược-Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu đã
nhận được 74 báo cáo ADR (giảm 1,4% so
với 6 tháng đầu năm 2019) Tổng số khoa
lâm sàng tham gia báo cáo là 7 Số lượng
ca ADR lũy tiến theo tháng được ghi nhận
trong hình 1 Số lượng ca ADR ghi nhận
không đồng đều giữa các tháng, nhiều
nhất vào tháng 01 (16 ca ADR) và thấp
nhất vào tháng 04 (4 ca ADR) Số ca ADR
xảy ra ở mức độ nghiêm trọng là 7 (chiếm 9,5% tổng số ca ADR) Bệnh nhân gặp ADR phần lớn đều hồi phục không di chứng (79,7%) hoặc đang hồi phục sau khi được xử trí (17,6%) Tất cả các báo cáo ADR thu nhận đã được khoa Dược gửi lên Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc để xử
lý, thẩm định theo quy định của Bộ Y tế
2 TÌNH HÌNH BÁO CÁO TỪ CÁC ĐƠN VỊ LÂM SÀNG TRONG BỆNH VIỆN
3
Trong năm 2020, có 7 khoa lâm sàng trong
bệnh viện đã gửi báo cáo ADR đến Khoa
Dược Trong đó, khoa Phẫu thuật Gây
mê-hồi sức là khoa có số lượng báo cáo gửi
nhiều nhất (39 báo cáo, chiếm 52,7%)
Tiếp theo là khoa Sản, khoa Cấp Cứu với
Trang 4PHẦN I BÁO CÁO ADR
BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Đơn vị thông tin thuốc
Bảng 1 Danh sách các khoa lâm sàng gửi báo cáo
1 Phẫu thuật - gây mê hồi sức 39 52.70
3 CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO VÀ NGƯỜI BÁO CÁO
Tất cả các báo cáo đều có đầy đủ thông tin
theo quy định, nhân viên y tế tham gia báo
cáo chủ yếu là bác sĩ với tỷ lệ rất cao
(83.78%), phần còn lại điều dưỡng
(16.22%) Sự thay đổi về người báo cáo
thể hiện rõ nhất ở khoa Sản, các ca ADR
đã được bác sĩ trực tiếp báo cáo mà không
phải là các bạn nữ hộ sinh Điều này cho
thấy các bác sĩ đã quan tâm, theo dõi và
trực tiếp chủ động làm báo cáo hơn so với thời gian trước đây Việc nâng cao về chất lượng báo cáo cũng như sự thay đổi rõ rệt
về tỷ lệ người báo cáo thể hiện tín hiệu đáng mừng trong việc giám sát và theo dõi phản ứng có hại của thuốc, đảm bảo sử dụng thuốc an toàn hợp lý cho người bệnh Danh sách nhân viên y tế tham gia báo cáo được trình bày trong Bảng 2
Bảng 2 Tỷ lệ nhân viên y tế tham gia báo cáo ADR
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu
Trang 5PHẦN I BÁO CÁO ADR
BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Đơn vị thông tin thuốc
4 SỰ PHÂN BỐ CÁC BÁO CÁO THEO NHÓM DƯỢC LÝ
Nhìn chung, các báo cáo ADR tập trung
chủ yếu ở các thuốc kháng sinh và thuốc
giảm đau được trình bày trong Bảng 3, cụ
thể như sau:
- Kháng sinh là nhóm thuốc có tỷ lệ báo
cáo ADR nhiều nhất 59 báo cáo chiếm tỷ
lệ 79,73%, xảy ra nhiều với các thuốc chứa ceftazidim
- Các thuốc giảm đau chiếm số lượng tương đối với 29 báo cáo, chủ yếu xảy ra với các thuốc có thành phần diclofenac (chiếm 17/29 báo cáo được tổng hợp)
Bảng 3 Sự phân bố báo cáo theo nhóm dược lý
Cefpirom Metronidazol Moxifloxacin Vancomycin Kháng sinh khác
12.16
2
Thu ốc giảm đau
Diclofenac Dexketoprofen Paracetamol Tramadol
5 THUỐC NGHI NGỜ GÂY ADR THEO ĐƯỜNG DÙNG
Tổng số thuốc nghi ngờ trong 74 ca ADR
là 99 thuốc (tương ứng 1,3 thuốc/1 ca
ADR) Phản ứng có hại xảy ra chủ yếu khi
sử dụng thuốc theo đường tiêm/truyền tĩnh
mạch (91,9%), tiếp đến là đường tiêm bắp, đặt hậu môn với tỷ lệ lần lượt là 17,6%, 12,2% (Bảng 4)
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu
Trang 6PHẦN I BÁO CÁO ADR
BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Đơn vị thông tin thuốc
Bảng 4 Số ADR theo đường dùng thuốc được báo cáo
6 THÔNG TIN VỀ ADR
6.1 Phân loại ADR theo tổ chức cơ thể bị ảnh hưởng
Báo cáo ADR được tổng hợp phân loại
theo tổ chức cơ thể mà ADR gây ảnh
hưởng, kết quả được trình bày trong Bảng 5
Tổ chức cơ thể bị ảnh hưởng nhiều nhất là
da (94,6%), tiếp theo là huyết áp bất thường (8.1%) và rối loạn tiêu hóa (5.4%)
Bảng 5 Tổng hợp phân loại ADR theo tổ chức cơ thể bị ảnh hưởng
STT Tổ chức cơ thể bị ảnh hưởng Số lượng Tỷ lệ % (N=74)
6.2 Các biểu hiện ADR được ghi nhận nhiều nhất
Các biểu hiện ADR được báo cáo nhiều
chủ yếu là các ADR nghiêm trọng đe dọa
tính mạng như phản vệ/sốc phản vệ với tỷ
lệ 9,46% Tiếp đó là các ADR quan sát
được bằng mắt thường như ban đỏ
(64,9%), ngứa (64,9%), phù mạch (23,0%),
(Bảng 6) Các thuốc nghi ngờ gây phản vệ/ sốc phản vệ có tần suất nhiều nhất là ceftazidim (2 báo cáo), metronidazol (1 báo cáo), diclofenac (1 báo cáo)
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu
Trang 7PHẦN I BÁO CÁO ADR
BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Đơn vị thông tin thuốc
Bảng 6 Các biểu hiện ADR được ghi nhận nhiều nhất STT Biểu hiện ADR Số lượng Tỷ lệ (N=74)
Việc sử dụng thuốc bên cạnh những lợi
ích, hiệu quả cũng luôn thường trực nguy
cơ về phản ứng có hại của thuốc-ADR
Việc giám sát ADR trong bệnh viện không
chỉ giúp các cán bộ y tế kịp thời xử trí từng
tình huống cụ thể cho bệnh nhân, mà
thông tin về ADR đó khi được gửi về trung
tâm DI&ADR Quốc gia còn có thể đóng
góp vào dữ liệu của hệ thống Cảnh giác
dược quốc gia để từ đó có những phản hồi
tích cực, đảm bảo việc sử dụng thuốc an
toàn, hợp lý
Trong 6 tháng đầu năm 2020, Khoa Dược
đã nhận được 74 báo cáo ADR, giảm 1,4%
so với 6 tháng đầu năm 2019 nhưng tỷ lệ
báo cáo vẫn chưa đồng
đều giữa các khoa nên
công tác ADR cần tiếp
tục được quan tâm, thúc
đẩy hơn nữa, đặc biệt tại
các khoa phòng chưa
tham gia báo cáo Vấn
đề nổi cộm nhất trong
công tác báo cáo ADR là
hiện tượng báo cáo thiếu và báo cáo kém chất lượng trong 6 tháng đầu năm 2020 đã được cải thiện đáng kể, các báo cáo gởi về khoa Dược đa số đã được điền đầy đủ thông tin và nhận được sự hợp tác của các bác sĩ trong việc giám sát theo dõi phản ứng có hại của thuốc
Khoa Dược xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của các khoa lâm sàng và cán bộ y tế
đã tham gia báo cáo ADR Rất mong tiếp tục nhận được sự phối hợp tích cực hơn nữa để hoạt động Cảnh giác Dược của bệnh viện ngày càng chặt chẽ và phát triển trong thời gian tới
Khoa lâm sàng Khoa Dược TT DI&ADR
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu
Trang 8PHẦN I BÁO CÁO ADR
BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Đơn vị thông tin thuốc
HƯỚNG DẪN BÁO CÁO
NGƯỜI BÁO CÁO CÓ THỂ LÀ:
XIN HÃY BÁO CÁO TẤT CẢ CÁC
PHẢN ỨNG CÓ HẠI ĐANG NGHI
NGỜ, ĐẶC BIỆT KHI:
Phản ứng ADR liên quan tới
thuốc mới đưa vào sử dụng
Phản ứng ADR mới, chưa được
biết đến trước đó
Phản ứng ADR nghiêm trọng
Các phản ứng ADR xảy ra liên tục
BÁO CÁO NHƯ THẾ NÀO:
Lấy mẫu báo cáo tại khoa Dược
Điền thông tin chi tiết vào mẫu báo cáo
Gửi báo cáo đến khoa Dược
Trường hợp khẩn có thể báo cáo trực tiếp đến Trung tâm DI & ADR Quốc gia qua fax, điện thoại, email hoặc báo cáo trực tuyến trên trang thông tin điện
Các thuốc cổ truyền hoặc thuốc có
nguồn gốc dược liệu
Thực phẩm chức năng
ADR là phản ứng độc hại, không
được định trước; xuất hiện ở liều
thường dùng cho người để phòng
bệnh, chẩn đoán hoặc chữa bệnh
hoặc làm thay đổi một chức năng
sinh lý
ĐỂ TRÁNH TỐI ĐA RỦI RO DO THUỐC
XIN BÁO CÁO TẤT CẢ
NHỮNG PHẢN ỨNG CÓ HẠI NGHI NGỜ
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu
Trang 9PHẦN II CẢNH GIÁC DƯỢC
BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Đơn vị thông tin thuốc
GINKGO BILOBA L
VÀ NGUY CƠ LOẠN NHỊP TIM
Phân tích 162 báo cáo từ cơ sở dữ liệu
phản ứng có hại của WHO – VigiBase căn
cứ vào các thuật ngữ MedDRA (từ điển
định nghĩa triệu chứng y học) liên quan
đến loạn nhịp tim Trong đó:
- 92 báo cáo ghi nhận Ginkgo biloba là
thuốc nghi ngờ duy nhất
- 46 báo cáo có thông tin về ngừng thuốc,
trong đó có 39 trường hợp cải thiện khi
ngừng thuốc
Trong số 25 báo cáo có điểm hoàn thiện
(completeness score) cao (≥ 0,75)
- 20 báo cáo ghi nhận Ginkgo biloba là
thuốc nghi ngờ duy nhất
- 14 báo cáo có thông tin về ngừng thuốc
và đề cập đến thông tin liên quan đến tái
sử dụng Trong 14 báo cáo này, phần lớn
đều có thời gian xuất hiện phản ứng xảy ra trong vòng vài ngày sau khi bắt đầu dùng thuốc Tiền sử loạn nhịp tim trước đó có thể dẫn đến các triệu chứng khác nhau, trong đó
có ù tai (chỉ định của ginkgo trong 18/162 báo cáo), do đó không thể loại trừ nhiễu do chỉ định
Hiện tại, chưa rõ cơ chế làm tăng nguy cơ loạn nhịp tim của Ginkgo biloba, tuy nhiên,
số lượng, tính chất và sự đa dạng (về nguồn gốc xuất xứ, các sản phẩm liên quan) trong các báo cáo và các trường hợp đã công bố cho thấy tín hiệu cảnh báo mối liên quan giữa Ginkgo biloba và nguy
cơ loạn nhịp tim
Choáng ngất
Trống ngực Hồi hộp
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu
Trang 10PHẦN II CẢNH GIÁC DƯỢC
BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Đơn vị thông tin thuốc
GÁNH NẶNG KHÁNG CHOLINERGIC –
MỘT NGUYÊN NHÂN GÂY RA PHẢN ỨNG
BẤT LỢI CHO BỆNH NHÂN LỚN TUỔI
DS.CKI Phan Quốc Thông - Khoa Dược - BV NĐC
Thuốc có tác dụng kháng cholinergic
Thuốc kháng cholinergic (còn gọi là thuốc
antimuscarinic) đối kháng với tác dụng của
chất dẫn truyền thần kinh acetylcholine đối
với thụ thể muscarinic (M1 đến M5) trong
hệ thần kinh trung ương và ngoại biên 1
Thuốc có hoạt tính kháng cholinergic được
sử dụng để điều trị một loạt các điều
kiện Tác dụng kháng cholinergic trong
điều trị (ví dụ: hyoscine trong điều trị co
thắt cơ đường tiêu hóa, oxybutynin,
benzatropine, Procyclidine) hoặc ngoài ý
muốn (ví dụ: thuốc chống trầm cảm ba
vòng, thuốc chống trầm cảm, clozapine,
thuốc chống dị ứng)
Nhiều loại thuốc thường được sử dụng
như warfarin, metoprolol, furosemide,
venlafaxine và loratadine có tác dụng
kháng cholinergic yếu, có thể không có tác
dụng khi sử dụng đơn lẻ nhưng có tác
dụng phụ khi sử dụng kết hợp 4
Tác dụng kháng cholinergic không
mong muốn
Tác dụng kháng cholinergic ngoại biên
bao gồm táo bón, khô miệng, khô mắt, mờ
mắt (giãn đồng tử), nhịp tim nhanh và bí tiểu
Tác dụng của hệ thần kinh trung ương
bao gồm kích động, nhầm lẫn, mê sảng,
ảo giác và suy giảm nhận thức Hậu quả
bao gồm các vấn đề như mục răng, té ngã hoặc tắc nghẽn đường tiêu hóa
Vấn đề với thuốc kháng cholinergic ở bệnh nhân lớn tuổi
Bệnh nhân lớn tuổi dễ bị phản ứng bất lợi liên quan đến thuốc kháng cholinergic Các tác động như suy giảm
nhận thức, chóng mặt và mờ mắt làm tăng nguy cơ té ngã ở bệnh nhân lớn tuổi, 4 và
có thể làm tăng nguy cơ nhập viện và hạn chế khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày 3,5,6
Sử dụng kết hợp thuốc an thần và kháng cholinergic làm tăng thêm nguy cơ té ngã
và suy giảm nhận thức ở bệnh nhân lớn tuổi và nên tránh dùng 7,8
Các nghiên cứu gần đây cho thấy mối liên quan có thể
có giữa việc sử dụng thuốc kháng cholinergic mạnh
và nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ 2,9,10
Cần thêm nhiều bằng chứng xác nhận bởi các hiệp hội 11 Tuy nhiên, những dữ liệu này cung cấp thêm sự cần thiết phải thận trọng trong việc sử dụng các loại thuốc này
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu
Trang 11PHẦN II CẢNH GIÁC DƯỢC
BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Đơn vị thông tin thuốc
Giảm thiểu rủi ro
Khi kê đơn thuốc cho bệnh nhân lớn tuổi,
điều quan trọng là phải xem xét toàn diện
số loại thuốc bằng các lựa chọn thay thế không có đặc tính kháng cholinergic 11 Nếu không thể tránh khỏi một loại thuốc kháng cholinergic, hãy bắt đầu điều trị với liều thấp và tăng từ từ đến liều thấp nhất có hiệu quả 12
Tài liệu tham khảo
1 Nishtala PS, Salahudeen MS and Hilmer SN 2016 Anticholinergics: theoretical and clinical overview Expert Opinion on Drug Safety 15(6): 753–68 DOI: 10.1517/14740338.2016.1165664 (accessed 19 April 2020)
2 Richardson K, Fox C, Maidment I, et al 2018 Anticholinergic drugs and risk of
dementia: case-control study BMJ 361:k1315 DOI: 10.1136/bmj.k1315 (accessed 20
study Drugs Aging 36(3): 289–97 DOI: 10.1007/s40266-018-00630-z (accessed 20
Trang 12PHẦN II CẢNH GIÁC DƯỢC
BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Đơn vị thông tin thuốc
7 BPAC NZ 2018 Stopping Medicines in Older People: The Flip Side of the Prescribing
Equation 30 November 2018 URL: bpac.org.nz/2018/stopping.aspx (accessed 20
9 Coupland CAC, Hill T, Dening T, et al 2019 Anticholinergic drug exposure and the risk
of dementia: A nested case-control study JAMA Internal Medicine 179(8): 1084–93
DOI: 10.1001/jamainternmed.2019.0677 (accessed 21 April 2020)
10 Gray SL, Anderson ML, Dublin S, et al 2015 Cumulative use of strong anticholinergics and incident dementia: a prospective cohort study JAMA Internal Medicine 175(3): 401–7 DOI: 10.1001/jamainternmed.2014.7663 (accessed 20 April 2020)
11 Gray SL and Hanlon JT 2018 Anticholinergic drugs and dementia in older adults BMJ 361: k1722 DOI: 10.1136/bmj.k1722 (accessed 19 April 2020)
12 Therapeutic Goods Administration 2013 Anticholinergics and cognitive impairment Medicines Safety Update 4(3): 94 URL: tga.gov.au/publication-issue/medicines-safety-update-volume-4-number-3-june-2013 (accessed 22 April 2020)
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu
Trang 13PHẦN II CẢNH GIÁC DƯỢC
BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Đơn vị thông tin thuốc
SẮT CARBOXYMALTOSE VÀ NGUY CƠ HẠ PHOSPHAT MÁU
Thông tin từ Cơ quan quản lý Dược
phẩm Úc
Thuốc được sử dụng qua đường tiêm tĩnh
mạch (IV) để điều trị thiếu sắt khi các thuốc
bổ sung sắt đường uống không hiệu quả
hoặc không thể sử dụng Việc chẩn đoán
cần phải dựa trên kết quả xét nghiệm
Sắt carboxymaltose (biệt dược Ferinject)
được ghi nhận có:
Nguy cơ gây hạ phosphat máu nhẹ
không triệu chứng, thoáng qua hoặc có thể
xuất hiện đau, buồn nôn, suy nhược
Hạ phosphat máu nghiêm trọng có thể
liên quan đến các triệu chứng rối loạn chức
năng sinh lý, bao gồm:
- Triệu chứng cơ (yếu cơ, nhược cơ, dẫn
đến bệnh cơ tiến triển trong đó có tổn
thương tim phổi và tử vong)
- Triệu chứng thần kinh
(tê buồn chân tay, thay
đổi trạng thái thần kinh,
động kinh, liệt)
- Thay đổi về huyết học
Các thử nghiệm lâm
sàng cho thấy giá trị
phosphat huyết thanh
Hạ phosphat máu có thể là nguyên nhân gây suy nhược, mệt, yếu cơ, ngừng thở, mạch nhanh và đau đầu, dẫn đến khả năng chẩn đoán nhầm thành thất bại điều trị thiếu máu do thiếu sắt, do đó cần đánh giá
hạ phosphat máu là nguyên nhân tiềm ẩn cho các triệu chứng tiếp diễn trên bệnh nhân sau khi sử dụng sắt carboxymaltose
Trên ph ụ nữ có thai
Liều tích tũy tối đa là 1000mg cho bệnh nhân có Hb ≥90 g/L, hoặc 1500mg cho bệnh nhân có Hb <90 g/L Liều tích lũy không quá 1000mg nên được sử dụng trong vòng 1 tuần
Rất hiếm gặp: Ảo giác, mất phương hướng, có ý định tự tử, triệu chứng ám ảnh cưỡng chế, nói lắp
Tài liệu tham khảo
- http://magazine.canhgiacduoc.org.vn
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu
Trang 14PHẦN II CẢNH GIÁC DƯỢC
BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Đơn vị thông tin thuốc
PEGFILGRASTIM- TĂNG NGUY CƠ GIẢM TIỂU CẦU
Cơ quan dược phẩm và thiết bị y tế Nhật
Bản (PMDA) thông báo tờ thông tin sản
phẩm của pegfilgrastim sẽ được bổ sung
tác dụng không mong muốn làm gia tăng
nguy cơ giảm tiểu cầu.
Pegfilgrastim được chỉ định trong trường
hợp sốt, giảm bạch cầu do hóa trị liệu
Trong 3 năm gần đây, có 30 trường hợp
liên quan đến giảm tiểu cầu trên các bệnh
nhân sử dụng pegfilgrastim được ghi nhận
tại Nhật Bản Trong đó có 1 trường hợp
không thể loại trừ được mối quan hệ nhân
quả giữa thuốc với tác dụng bất lợi Không
có trường hợp tử vong được báo cáo Một
nghiên cứu dịch tễ về mối liên quan giữa pegfilgrastim và giảm tiểu cầu được thực hiện tại Nhật Bản
Kết quả chỉ ra bệnh nhân sử dụng pegfilgrastim có nguy cơ giảm tiểu cầu đáng kể so với nhóm bệnh nhân không sử dụng thuốc này
Tài liệu tham khảo
- http://magazine.canhgiacduoc.org.vn
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu
Trang 15PHẦN III HƯỚNG TỚI SỬ DỤNG THUỐC HỢP LÝ, AN TOÀN, HIỆU QUẢ
BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Đơn vị thông tin thuốc
PHẢN VỆ 2 PHA MỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý TRONG THỰC HÀNH
Tháng 5/2020, Trung tâm DI & ADR Quốc
gia đã nhận được báo cáo ADR về một
trường hợp sốc phản vệ xảy ra trên bệnh
nhân nữ, 43 tuổi, được nghi ngờ là phản
ứng 2 pha.
Theo thông tin trong báo cáo, lúc 7 giờ 50
phút sáng ngày 13/5/2020, bệnh nhân
được tiêm tĩnh mạch chậm cefotaxim 1 g
để điều trị bướu bã lưng bội nhiễm Sau
tiêm 10 phút, bệnh nhân mệt, da nổi mẩn
đỏ, ngứa, vã mồ hôi, mạch nhẹ, huyết áp
60/40 mmHg Sau khi xử trí bằng phác đồ
chống sốc phản vệ, phản ứng được cải
thiện và bệnh nhân tỉnh táo, ổn định lúc 9
giờ cùng ngày Tuy nhiên, một giờ sau,
tình trạng bệnh nhân bắt đầu xấu dần với
các triệu chứng mệt, vã mồ hôi, chân tay
lạnh, huyết áp 60/40 mmHg, sau đó hôn
mê, mạch và huyết áp không đo được, tiên
lượng nặng
Mặc dù phản vệ là phản ứng dị ứng đã
được ghi nhận nhiều trong y văn và thực
hành lâm sàng, nhưng trường hợp phản vệ
2 pha tương tự trường hợp nêu trên ít
được ghi nhận Do đó, Trung tâm DI &
- Phản vệ một pha là dạng phản vệ phổ biến nhất, chiếm khoảng 80%-90% các trường hợp phản vệ Phản vệ một pha thường đạt đỉnh trong một vài giờ sau khi xuất hiện triệu chứng Sau đó, một số trường hợp có thể tự hồi phục hoặc hồi phục sau khi xử trí, thường trong vòng vài giờ
- Phản vệ 2 pha được đặc trưng bởi một phản ứng ban đầu, sau đó là giai đoạn không triệu chứng kéo dài từ 1 giờ hoặc lâu hơn, tiếp đó các triệu chứng tiếp tục xuất hiện mà không có phơi nhiễm với kháng nguyên Phản ứng 2 pha đã được ghi nhận liên quan đến nhiều tác nhân, bao gồm cả thuốc được dùng qua đường uống, đường tiêm, hoặc trường hợp phản vệ không rõ nguyên nhân
- Phản vệ trơ kém đáp ứng với xử trí có thể kéo dài từ vài giờ đến vài ngày mà không có biểu hiện hồi phục hoàn toàn và
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu
Trang 16PHẦN III HƯỚNG TỚI SỬ DỤNG THUỐC HỢP LÝ, AN TOÀN, HIỆU QUẢ
BỆNH VIỆN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Đơn vị thông tin thuốc
phân tích gộp đưa ra kết quả ước tính với
tỷ lệ phản ứng khoảng 5% và thời gian
trung bình từ khi dùng thuốc đến khi xuất
hiện phản ứng là 11 giờ Tổng quan này
ghi nhận các bệnh nhân xuất hiện triệu
chứng ban đầu là hạ huyết áp, hoặc bệnh
nhân gặp phản ứng với một tác nhân chưa
xác định, có nguy cơ gặp phản ứng 2 pha
tăng lên Một số ca tử vong cũng đã được
ghi nhận Một tổng quan y văn sau đó phân
tích các trường hợp xảy ra tại khoa cấp
cứu phát hiện tỷ lệ phản ứng thấp hơn so
với các báo cáo trước đó, và nhiều phản
ứng 2 pha không có ý nghĩa lâm sàng
Một số nghiên cứu khác đánh giá tỷ lệ
phản vệ 2 pha trong một số cơ sở điều trị
và đưa ra kết quả:
- Phản ứng 2 pha xuất hiện ở khoảng 10%
- 23% các trường hợp trong 2 nghiên cứu
trên các bệnh nhân
được sử dụng liệu
pháp miễn dịch Các
nghiên cứu được tiến
hành trên cả đối tượng
người lớn và trẻ em
- Tỷ lệ phản vệ 2 pha
thấp hơn nhiều trong một nghiên cứu về
thử thức ăn qua đường miệng trên trẻ em
(1,5%-2%)
- Các biến cố 2 pha xuất hiện ở 10,3% các
trường hợp trong một nghiên cứu hồi cứu
trên bệnh nhân sử dụng thuốc cản quang
Độ nặng của các triệu chứng tái phát [1]
Trong phản ứng 2 pha, không thể dự đoán
trước độ nặng của các triệu chứng tái phát,
và các triệu chứng ở pha thứ 2 không nhất
thiết giống như pha đầu tiên Đa số các
nghiên cứu phát hiện rằng các triệu chứng tái phát thường ít nghiêm trọng như triệu chứng ban đầu Mày đay tỏ ra đặc biệt phổ biến ở pha thứ 2 và thường là triệu chứng duy nhất Tuy nhiên, pha thứ 2 của một trường hợp phản vệ có thể có mức độ nặng hơn, thậm chí gây tử vong
Thời gian xuất hiện triệu chứng tái phát [1]
Có sự dao động lớn về khoảng thời gian giữa thời điểm hồi phục các triệu chứng ban đầu và thời điểm xuất hiện các triệu chứng tái phát Trong một nghiên cứu trên
103 bệnh nhân được liên lạc trong vòng 72 giờ sau khi nhập viện khoa cấp cứu do phản vệ, thời gian trung bình xuất hiện triệu chứng tái phát là 10 giờ Tuy nhiên, 40% bệnh nhân trong các trường hợp này
có các triệu chứng tái phát xuất hiện hơn
10 giờ sau khi hồi phục các triệu chứng
ban đầu Một số nghiên cứu khác cũng phát hiện khoảng giời gian không triệu chứng kéo dài từ 1- 30 giờ Có một nghiên cứu mô tả một
ca phản ứng 2 pha xuất hiện 72 giờ sau khi hồi phục các triệu chứng ban đầu và đây được coi là một trường hợp ngoại lệ
Nguyên nhân
Nguyên nhân của phản vệ 2 pha còn chưa được biết rõ, mặc dù có một số cơ chế đã được gợi ý, bao gồm [1]:
- Sự tập trung của các tế bào viêm;
- Đợt thoát bọng thứ 2 của tế bào mast;
- Tổng hợp muộn yếu tố hoạt hóa bạch cầu;
- Tác dụng của các biện pháp xử trí “biến mất dần”;
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu