1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

LỊCH sử nước TA

6 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 48,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỊCH SỬ NƯỚC TA 28.3.2016 Nghìn năm văn hiến nước Nam Oai hùng, lẫm liệt nghìn trang sử vàng Hai tám bảy chín mốc này 2879 TCN Khai nước mở cõi dựng xây sơn hà Âu Cơ mẹ, Long Quân cha

Trang 1

LỊCH SỬ NƯỚC TA

28.3.2016 Nghìn năm văn hiến nước Nam Oai hùng, lẫm liệt nghìn trang sử vàng

Hai tám bảy chín mốc này ( 2879 TCN)

Khai nước mở cõi dựng xây sơn hà

Âu Cơ mẹ, Long Quân cha

Phong người con trưởng hiệu là Hùng Vương

Bảy trăm năm ấy Đông Sơn (700 TCN)

Văn Lang tên nước vua Hùng dựng xây

Đóng đô ở đất Phong Châu

Giỗ tổ nơi ấy đời sau tôn thờ (10/3 âl)

Một vùng cây cỏ nên thơ Tục thờ làm bánh đến giờ vẫn theo

Hai trăm mười bốn gieo neo (214 TCN)

Quân Tần xâm lược, tướng tài đứng lên

Thục Phán thủ lĩnh là tên Hai trăm linh tám dẹp yên nước nhà (208 TCN)

An Dương Vương hiệu vua ta

Âu Lạc tên nước, thành là Cổ Loa

Chín vòng xoáy ốc mương sa Thật là kiên cố, Triệu Đà bại luôn Triệu Đà mưu kế giả hòa Con trai làm rể phá nhà Mị Châu Một trăm bảy chín bắt đầu (179 TCN)

Một nghìn năm ấy đớn đau dân mình

Bốn mươi quân Hán thất kinh ( năm 40)

Hai bà ra trận cưỡi voi khải hoàn

Trưng Trắc, Trưng Nhị danh vang

Hai bà nữ tướng sánh ngang anh tài

Bốn ba lại đến họa tai( năm 43) Bốn trăm chín chín năm dài nước vong ( năm 542)

Quân Hán cai trị hằng mong Chữ viết, phong tục sang đồng dân ta

Nhân tài Lí Bí sao xa

Chấm dứt Bắc thuộc dân đà an vui (542)

Vạn Xuân tên nước đẹp tươi

Gần trăm năm ấy rạng ngời nước non Quân Tùy ngòm ngó giang san (602)

Hào trưởng họ Khúc dẹp yên một bề

Trang 2

Chín trăm ba tám mới ghê (938) Vua con Nam Hán nhất tề xâm lăng

Ngô Quyền chiến thắng Bạch Đằng

Đến nay bãi cọc vẫn nằm kể công

Ngô Quyền nối tiếp ngôi rồng

Cổ Loa là đất sáu năm đô kì

Mười hai xứ loạn một khi

Vua tôi, bạn hữu so bì lẫn nhau

Anh hùng Bộ Lĩnh cờ lau

Dẹp yên năm ấy bắt đầu nhà Đinh

Chín trăm sáu tám số linh (968)

Đại Cồ Việt ấy nước mình là tên

Ninh Bình đất cổ ai quên

Thái Bình Hưng Bảo là tiền nước ta

Buôn bán giao hảo gần xa

Đất nước ổn định, nhà nhà an vui

Chín trăm bảy chín hết rồi (979) Đinh Tiên Hoàng mất con thời còn thơ

Đinh Toàn sáu tuổi ấu thơ

Quân Tống ỷ thế phất cờ xâm lăng

Vân Nga thái hậu quyết rằng

Trao ngay cho tướng Lê Hoàn lên ngôi

Quân Tống bị đánh tơi bời

Nhà Lê từ đấy lên ngôi - Lê tiền(908-1009)

Đóng đô vẫn đất Hoa Lư

Tên nước vẫn giữ như Đinh Tiên Hoàng Ngoại giao mềm dẻo ngoại bang

Nhưng cũng kiên quyết ngang hàng Tống kia

Thời Lê Long Đĩnh nước suy

Nhà Lý lập nước sử ghi năm này

Một nghìn linh chín từ đây (1009)

Thời Lý Thái Tổ dựng xây nước nhà

Vừa năm dời đến Đại La (1010)

Đất bằng lại rộng, thế đà đất vua

Đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây

Rồng cuộn, hổ ngồi thế đất nào hơn

Xây thành, đắp móng nhờ ơn

Thần nhân Bạch Mã, dấu chân- móng thành

Đổi nước Đại Việt mang danh

Hai trăm năm ấy sử danh thái bình

Buôn bán chợ búa linh đình

Thương cảng Vân Đồn cũng có từ đây (1149) Văn Miếu Khổng Tử cũng xây (1070)

Trang 3

Chu Công đắp tượng, cử khoa khai đầu (1075)

Lê Văn Thịnh- trạng nguyên đầu Chùa, chuông xây dựng đứng đầu nghìn năm

Quân Tống lại tới hung hăng (1075- 1077)

Lý Thường Kiệt tướng đánh bằng văn thơ

Bài thơ thần, vọng miếu thờ Làm cho quân giặc vía hồn lạc xiêu Hai trăm năm chẳng dám liều Đất nước no ấm dân nhiều an vui

Cuối thời là Lý Huệ Tông Con trai tuyệt tự, truyền ngôi Chiêu Hoàng( 8t)

Trần Thủ Độ chớp cơ vàng Cho cháu Trần Cảnh(7t) lấy Hoàng làm vua (1225-1400)

Hơn trăm năm, triều Trần vua

Đất nước hưng thịnh, sử ghi tên vàng

Ba lần Mông Cổ tràn sang Hốt Tất Liệt chết, Thoát Hoan tháo về Ống đồng chui rúc chẳng ghê Trần Hưng Đạo thắng hả hê dân mình

"Sát thát " chữ nhỏ chớ khinh Sức mạnh vô hình giết cả Mông Nguyên Trần Nhân Tông, ấy vua tiên

Tu thiền thành phật, Trúc Lâm niết bàn Yên Tử vọng khắp trời Nam Ngàn năm đất ấy giang san tôn thờ

Nhà Trần rồi tới nhà Hồ (1400) Quý Ly đổi nước Đại Ngu- hòa bình

Tây Đô thành ấy dời về Đất Thanh Hóa cũng đô xưa một thời

Lòng dân không được đành thôi Một không bốn sáu quân Minh xéo dày (1046)

Nhà Hồ thất bại trong tay Hai mươi năm ấy dân đày khổ đau

Thế rồi hai tám năm sau (1428)

Hào quang Lê Lợi như sao sáng lòa

Quân Minh sạch bóng nước nhà Bình Ngô Đại Cáo , tuyên ngôn hào hùng

Tên nước Đại Việt lại dùng Kinh đô đất cũ oai hùng Thăng Long

Thời Lê Thánh Tông oai phong Phong kiến phát triển như lòng dân mong

Nghề nông coi trọng giữ gìn

Trang 4

Luật cổ Hồng Đức, đầu tiên nước nhà

Có bản đồ, chứng nhân xa

Lê Thánh Tông mất, triều đình bại vong

Khởi nghĩa có Mạc Đăng Dung

Võ tướng tự lập, lên ngôi năm này (1527)

Kinh tế, văn hóa dựng xây Giáo dục cũng được chăm lo một thời

Nhưng rồi đất nước chia dời Triều Nam, Triều Bắc, Đàng ngoài, Đàng trong

Bắc Triều nhà Mạc coi trông Nam Triều thì có nhà Lê trị vì Chúa Trịnh lớn mạnh một khi Nhà Mạc thua chạy đến khi hơi tàn (1627)

Chúa Trịnh cai quản giang san (1592)

Vua Lê chỉ có tên vàng ngoài thôi

Chúa Nguyễn- Nguyễn Hoàng khai hoang

Nắm vùng đất ấy Thừa Thiên một thời

Các đời chúa Nguyễn thay trời

Mở mang bờ cõi định nơi đất liền

Nước nhà chứ ét (S) dải liền Rừng dương, rừng đước hai miền nước non

Cuối mười tám thế kỉ kia ( cuối TK XVIII)

Hai Đàng khủng hoảng nông dân phất cờ

Tây Sơn khởi nghĩa dựng cờ (1771)

Bình Vương- Nguyễn Huệ bấy giờ nổi lên

Dẹp yên chúa Trịnh một miền Lập Lê Chiêu Thống trị yên Đàng ngoài

Nhưng Lê Chiêu Thống bất tài Cõng con rắn độc quân Thanh về nhà

Nghe tin Nguyễn Huệ quyết là Lên ngôi hoàng đế rồi ra chống càn (22/12/1788)

Lấy niên hiệu là Quang Trung

Ra Bắc chống giặc mùng năm tết về

Thăng Long lấy lại được về

Dân tình yên ổn được vừa vài năm

Đến năm một bảy chín hai (1792)

Nguyễn Ánh cháu chúa được đà lên ngôi

Lấy hiệu tên chữ Gia Long Đóng đô ở Huế- Phú Xuân, đất lành

Đổi tên nước: nước Việt Nam (1804)

Về sau con đổi Đại Nam nước mình (1838)

Hai trăm năm ấy yên bình

Trang 5

Nhưng sau bọn Pháp rập rình xâm lăng

Một tám năm tám thảm vong (1858) Quân Pháp xâm lược đặt vòng "khai minh"

Hai sáu năm đã định hình Điều ước Tơ- nốt dân tình ngựa trâu (1884)

Nhưng rồi đầu thế kỉ sau

Tất Thành sao sáng lên tàu ra khơi (1911)

Người quyết tìm được chân trời

Tìm đường cứu nước đổi đời dân ta

Ba mươi năm ấy phong ba Một chín bốn mốt Người đà về quê (1941)

Làm Tổng khởi nghĩa thật ghê

Nước nhà độc lập, hả hê dân mình

Quân Pháp mới chỉ thất kinh Khiêu chiến, xung đột, cố tình xâm lăng

Chín năm kháng chiến khó khăn

Điện Biên Phủ ấy ai bằng dân Nam

Đờ -cát nhục nhã xin hàng

Đại tướng Võ Giáp khải hoàn năm châu

Quân Pháp chấp nhận thua đau

Kí ngay hiệp định, cùng nhau xéo về

Nước Mĩ tham vọng tràn trề Nhảy vào thế Pháp, ngày càng thua đau

Tới tận mười tám năm sau (1972)

"Điện Biên Phủ" bại cũng mau đầu hàng

Còn cố níu bọn quân tàn Cộng Hòa chính phủ cũng hàng, cũng thua

Mười một giờ, ba mươi trưa Xuân tháng tư ấy tin đưa ngợp trời (30/3/1975)

Nước nhà thắng lợi thật rồi Non sông một dải, nơi nơi nức lòng

Thỏa niềm mong ước, ước mong

Tin vui thắng trận khắp vùng quê ta

Dựng xây gấm vóc nước nhà Đại Hội đổi mới thật là minh anh( ĐH VI- 1986)

Hội nhập cùng bạn cạnh tranh

Nước nhà phát triển, xứng danh Tiên Rồng Nghìn năm con cháu Lạc Hồng

Oai hùng, lẫm liệt con Rồng, cháu Tiên

Trang Ánh

Ngày đăng: 27/01/2021, 15:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w