1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hướng dẫn sử dụng thuốc Loét miệng

17 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 10,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LOÉT MIỆNG Loét miệng rất phổ biến, ảnh hưởng tới 15 dân số, đối với một số bệnh nhân bệnh thường hay tái phát. Loét miệng được phân loại thành loét áptơ (còn gọi là bệnh loét miệng), (nhỏ hoặc lớn) và loét miệng thể herpes. Đa số các trường hợp (hơn ba phần tư) là loét miệng áptơ nhỏ, tự giới hạn vết loét. Loét có thể do nhiều nguyên nhân như nhiễm trùng, chấn thương và dị ứng thuốc. Tuy nhiên, đôi khi bệnh nặng như ung thư biểu mô cũng xuất hiện các vết loét miệng. Dược sĩ nên nhận biết những dấu hiệu và đặc điểm gợi ý những tình trạng nghiêm trọng hơn.Những điều bạn cần biết Tuổi•Trẻ em, người lớn Bản chất vết loét•Kích thước, hình dạng, vị trí, số lượng•Khoảng thời gian mắc bệnh Tiền sử Những triệu chứng khác ThuốcNhững điều đáng chủ ý của những câu hỏi và trả lờiTuổi Bệnh nhân có thể mô tả tiền sử loét tái diễn, bắt đầu từ lúc nhỏ và tiếp tục bị bệnh. Loét áptơ nhỏ ở phụ nữ phổ biến hơn và hầu hết mắc trong khoảng từ 10 đến 40 tuổi.Bản chất vết loét Thường xuất hiện từ 1 đến 5 vết loét áptơ nhỏ. Những tổn thương có thể có đường kính lên đến 5 mm và xuất hiện với tâm màu trắng hoặc vàng và viền ngoài đỏ sưng viêm. Vị trí thường thấy là cạnh lưỡi, bên trong môi và má. Loét có xu hướng kéo dài 5 đến 14 ngày.Bảng 1: Ba loại loét áptơ chínhNhỏLớnThể herpes80% bệnh nhân1012% bệnh nhân810% bệnh nhânĐường kính 210 mm (thường 56 mm)Đường kính thường trên 10mm; có thể nhỏ hơnKích thước dạng đầu kimHình tròn hoặc ovanHình tròn hoặc ovanHình tròn hoặc ovan, kết hợp lại tạo thành hình dạng bất thường khi chúng to ra.Thường không quá đauLoét đau và kéo dài; có thể xuất hiện những vấn đề lớn hơn – ăn uống trở nên khó khănCó thể rất đau Những loại khác của vết loét miệng tái phát bao gồm áptơ lớn và thể herpes. Loét áptơ lớn không phổ biến, là thể nặng của những vết loét nhỏ. Vết loét có thể có đường kính lên đến 30 mm và có thể xảy ra một nhóm lên đến 10 vết. Vị trí xuất hiện thường ở môi, má, lưỡi, hầu và vòm miệng. Ở những người bị viêm loėt đại tràng thường mắc loét áptơ lớn hơn.Loét thể herpes thường nhiều vết hơn, nhỏ hơn, thêm vào đó là ở những vị trí có liên quan với loét áptơ, có thể ảnh hưởng tới sản miệng và nướu răng. Bảng 1 tổng kết lại những đặc tính của ba loại loét áptơ chính.Các bệnh toàn thân như hội chứng Behcets và ban đỏ đa dạng có thể gây ra loét miệng, nhưng những triệu chứng khác sẽ thường có mặt (xem bên dưới).Thời gian điều trị Những vết loét áptơ nhỏ thường trị khỏi trong ít hơn một tuần; những vết loét ápto lớn mất thời gian điều trị lâu hơn (1030 ngày). Khi loét thể herpes xãy ra, những vết loét mới có xu hướng xuất hiện trước khi những vết loét ban đầu lành, khiến bệnh nhân nghĩ rằng loét đang tiếp tục.Ung thư miệng Bất kỳ vết loét miệng nào kéo dài dai dẳng hơn 3 tuần cần lập tức đến nha sĩ hoặc bác sĩ bởi vì một vết loét kéo dài lâu như vậy ngụ ý tình trạng bệnh học nghiêm trọng, như ung thư biểu mô. Phần lớn ung thư miệng là ung thư biểu mô có vẩy, một phần ba ảnh hưởng môi và một phần tư ảnh hưởng lưỡi. Phát triển ung thư có thể được đoán trước bởi một tổn thương tiền ác tính, bao gồm cả hồng ban (màu đỏ) và bạch sản niêm (trắng) hoặc một bạch sản niêm lốm đốm. Ung thư biểu mô tế bảo vảy có là một vết loet duy nhất với đường mép lớn lên và chai cứng (sản hay cứng rấn). Các vị trí phổ biến bao gồm mép bên của lưỡi, môi, sàng miệng và nướu. Điểm cần chú ý là một tổn thương mà đã kéo dài vài tuần hoặc lâu hơn. Ung thư miệng phổ biến hơn ở những người hút thuốc hơn so với người không hút thuốc.Tiền sử Bệnh có tính chất gia đình (ước tính 13 các trưởng hợp). Bệnh loét miệng nhỏ thưởng tái diễn, với các đặc điểm giống nhau: cùng kích thước, số lượng, hình dạng và thời gian mắc. Các vết loét có thể xuất hiện sau chấn thương bên trong miệng hoặc lưỡi, như cắn bên trong của má trong khi nhai thức ăn. Các đợt loét thường tái phát sau 14 tháng. Trám răng có thể gây loét và, nếu nghi ngờ nguyên nhân này, bệnh nhân nên đến nha sĩ để sửa lại các răng già. Tuy nhiên, nguyên nhân không phải luôn luôn do bị chấn thương trước đó, nguyên nhân gây ra viêm bệnh nhiệt miệng nhỏ vẫn chưa rõ rằng. Ở phụ nữ, bệnh loétt miệng nhỏ thưởng trước khi bắt đầu thời kì kinh nguyệt, có thể chấm dứt sau khi mang thai, cho thấy sự tham gia của hormon. Stress và yếu tố cảm xúc có thể gây ra sự tái phát hoặc chậm làm lành nhưng dường như không phải là nguyên nhân gây bệnh. Tình trạng thiếu sắt, folate, kãm hay vitamin B12 có thể là một yếu tố góp phần trong bệnh nhiệt miệng và cũng có thể dẫn đến viêm lưỡi (một tình trạng mà lưỡi trở nên đau, đỏ và mịn) và viêm miệng góc (nơi các góc của miệng bị đau, nút và đỏ).Dị ứng thực phẩm đôi khi gây bệnh và nó là giá trị kiểm tra xem sự xuất hiện của các vết loét có phải do các loại thực phẩm cụ thể hay không.Các triệu chứng khác:Triệu chứng đau ở bệnh nhân bị loét miệng có thể lớn hoặc thể herpes có thể có nghĩa là bệnh nhân gặp khó khăn khi ăn và hậu quả có thể dẫn đến giảm cân, do đó giảm cân sẽ là một dấu hiệu để nhận biếtTrong hầu hết các trường hợp loét miệng tái phát, bệnh nhân có thể bùng phát sau một thời gian vài năm. Trong hội chứng tiến triển bệnh liên quan với các vị trí loét ngoài miệng, thông thường là âm hộ (âm đạo), mắt (viêm mống mắt) bị ảnh hưởngHội chứng Behcet có thể bị nhầm với các bệnh hồng ban khác, mặc dù sau đó thường có một ban đặc biệt trên da. Hồng ban đa dạng đôi khi xuất hiện do nhiễm trùng hoặc thuốc (sulphonamides là phổ biến nhất).Loét miệng có thể liên quan đến các rối loạn đường ruột hoặc bệnh celiac. Vì vậy nên chuyển đến bệnh viện nếu bệnh nhân bị tiêu chảy dai dẳng hoặc tái phát. Bệnh nhân có một trong những triệu chứng trên nên được khám bác sĩ.Loét hiếm khi liên quan đến các rối loạn về máu bao gồm thiếu máu, số lượng bạch cầu thấp bất thường hoặc bệnh bạch cầu, các trường hợp này sẽ dự đoán dựa trên những dấu hiệu khác của bệnh hiện tại và người bệnh sẽ trình bày trực tiếp với bác sĩ.ThuốcCác dược sĩ nên xây dựng danh sách bất kỳ loại thuốc hiện nay, do loét miệng có thể là một tác dụng phụ của điều trị. Thuốc đã được báo cáo gây ra loét miệng bao gồm aspirin và các thuốc kháng viêm không steroid khác (NSAID), thuốc độc tế bào, Nicroradil, thuốc chẹn beta và Sulphasalazine (sulfasalazine). Xạ trị cũng có thể gây loét miệng. Cũng cần chú ý về các loại thuốc thảo dược vì các thứ vì thứ cúc thơm dùng làm thuốc (sử dụng cho chúng đau chứng đau nửa đầu) có thể gây loét miệng.Cũng cần thiết phải hỏi bệnh nhân về bất kỳ thuốc điều trị trước đây hỏi trong thời gian này và mức độ hiệu quả đạt được, các dược sĩ sau đó có thể giới thiệu một khung pháp điều trị thay thế thích hợp.Cần khám bác sĩ khi loét: Kéo dài hơn 3 tuần Có giảm cân Có màng nhầy Phát ban Nghi ngờ do phản ứng có của thuốc Tiêu chảyKhoảng thời gian điều trị:Nếu không có cải thiện sau 1 tuần, bệnh nhân nên đi khám bác sĩ.Kiểm soátDược sĩ có thể điều trị triệu chứng loét aphthous nhỏ, làm giảm đau và giảm thời gian chữa bệnh. Các thuốc nên dùng bao gồm thuốc sát trùng, corticosteroid và thuốc tế tại chỗ. Có bằng chứng từ các thử nghiệm lâm sàng ủng hộ sử dụng corticoide tại chỗ và nước súc miệng chlorhex

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ

Click to edit Master text styles

Second level

Third level

Fourth level

Fifth level

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG THUỐC

Trang 2

LOÉT MIỆNG: MOUTH ULCERS

Trang 3

Loét miệng

miệng

herpes

Trang 4

Nguyên nhân gây

bệnh

• Vết thương trong miệng hoặc lưỡi gây ra do vô tình cắn phải má hoặc lưỡi

• Răng giả gắn không khớp hoặc vết trầy do bàn chải đánh răng cứng

• Thay đổi nồng độ hormon hoặc thiếu hụt một số vitamin

• Phỏng do thức ăn, các yếu tố di truyền

• Lo lắng hoặc sử dụng một số thuốc như aspirin

• Bệnh: Crohn, nhiễm HIV, bệnh Behcet

Trang 5

Triệu chứng

Ngứa ran

Dấu hiệu về nhận thức và hành vi gây ra bởi

những tổn thương khu trú tại một vùng của hệ

thần kinh trung ương

Đau khu trú

Gồm các vùng như: Thuỳ trán, thuỳ đính, thuỳ thái dương, thuỳ chẩm, tiểu não, thân não (cuống não), tuỷ sống

Nóng rát hoặc ngứa

Là dấu hiệu đặc trưng của các bệnh lý.

Trang 6

Lời khuyên

Tránh để vết loét tiếp xúc với thức ăn cay nóng, có vị chua hoặc nhiều muối

Nên uống bằng ống hút

Nếu nghi ngờ thuốc là nguyên nhân gây loét, không thay đổi hoặc ngưng thuốc mà không tham khảo ý kiến bác sĩ kê đơn Trường hợp bệnh nhân dùng liệu pháp thay thế nicotin đường uống, có thể chuyển sang dùng dạng khác như miếng dán hoặc xịt mũi

Trang 7

Nên có chế độ ăn cân bằng, tập luyện thường xuyên và học cách kiểm soát căng thẳng hiệu quả

Tránh làm tổn thương bên trong miệng

Có thể dùng nước muối súc miệng và súc miệng thường xuyên nếu cần

Nên đến nha sĩ kiểm tra thường xuyên để có thể phòng ngừa sự tái phát hoặc nguyên nhân khác của loét miệng

Đi khám bác sĩ nếu loét miệng kéo dài >3 tuần mà không có dấu hiệu lành hoặc có bất kỳ thay đổi nào khác

Lời khuyên

Trang 8

Lựa chọn điều trị

Paracetamol

Aspirin Ibuprofen Acid mefenamic Naproxen

Trang 9

Lựa chọn điều trị

Nước súc miệng chứa chlorhexidine

Gel hoặc thuốc mỡ dùng trên môi chứa cabenoxolone hoặc acid tannic

Benzydamine ở dạng nước súc hoặc xịt miệng

Chế phẩm ở dạng kem đánh răng, nước súc

miệng và gel thoa nướu

Chế phẩm chứa chiết xuát máu bê

Thuốc điều trị viêm miệng & loét

Trang 10

Corticosteroid dùng tại chỗ Corticoseroid: Triamcinolone và

hydrocortisone

Triamcinolone ở dạng bột nhão Hyydrocortisone ở dạng viên ngậm

Liều trị hỗ trợ Lysine,multivitamin và khoang chất, bioflavonoid, viên nén chứa acidophillus, bột phèn

Trang 11

Môt số gợi ý thuốc

Trang 12

Benzydamine thông thường dành cho người lớn bị

đau miệng hoặc họng (không sử dụng quá 7 ngày).

Dùng benzydamine dành cho trẻ em: bị viêm miệng

và họng

Dùng cho trẻ em vẫn chưa được nghiên cứu và quyết định Hãy hỏi ý kiến bác sĩ nếu bạn định dùng thuốc này cho trẻ.

Trang 13

THUỐC GIẢM ĐAU

Thuốc giảm đau hạ sốt paracetamol được dùng để điều trị các triệu chứng như đau đầu,

đau cơ, đau khớp, đau lưng, đau răng, cảm sốt… Thuốc có tác dụng giảm đau ở người bị

viêm khớp nhẹ, nhưng không có tác dụng đối với viêm nặng hơn như viêm sưng khớp

Trang 14

THUỐC KHÁNG VIÊM KHÔNG

STEROID

Aspirin có tác dụng giảm các cơn đau mức độ từ nhẹ đến vừa

Thuốc cũng có thể được sử dụng để giảm đau và sưng do

viêm khớp.

Trang 15

CORTICOID DÙNG TẠI CHỖ

Hydrocortison là corticoid tiết từ vỏ thượng thận, thuộc nhóm

glucocorticoid có tác dụng chống viêm, chống dị ứng, chống

ngứa và ức chế miễn dịch.

Trang 16

THUỐC ĐIỀU TRỊ HỖ TRỢ

Thực phẩm bổ sung lysine, một loại axit amin

thiết yếu, cho người thiếu hụt, giúp ăn ngon

miệng, tăng cường sức đề kháng Cách dùng –

liều dùng Uống 1-2 viên mỗi ngày cùng với bữa

ăn

Đặc tính chống oxy hóa Chống dị ứng Bảo vệ sức khỏe tim mạch Hỗ trợ hệ thần kinh

Ngày đăng: 23/01/2021, 00:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w