Trong những năm gần đây, nhiều tác giả đã nghiên cứu cây thuốc này và tìm thấy trong lá đơn tướng quân có chất kháng sinh mạnh, có tác dụng diệt nhiều loại vi khuẩn, trong đó có các cầu
Trang 1Hoa huyền sâm
Huyền Sâm và công dụng chữa
bệnh
Huyền sâm là rễ phơi hay sấy khô của cây bắc huyền sâm Huyền sâm có vị đắng, ngọt hơi mặn, tính hơi lạnh, có tác dụng giải độc, nhuận tràng,
giải khát…
Chữa phát ban, đau họng: huyền sâm, cam thảo, thăng ma, mỗi vị 20 gr Đổ 600 ml nước, sắc
còn 200 ml, uống ấm sau bữa ăn 30 phút
Chữa ban chẩn, sốt cao mê sảng: huyền sâm 12 gr, kim ngân hoa 12 gr, mạch môn 12 gr, tê
giác 12 gr, sinh địa 20 gr, hoàng liên 6 gr; liên kiều, đan sâm, đọt tre, mỗi vị 8 gr Tất cả các vị trên cho vào nồi, đổ 600 ml nước, sắc còn 200 ml, chia làm 3 lần uống trong ngày
Chữa viêm họng, viêm amidan: huyền sâm 10 gr, mạch môn 8 gr, cát cánh 5 gr, cam thảo 3 gr,
tất cả sắc với 600 ml nước còn 200 ml, chia làm 3 lần uống trong ngày
Chữa lao hạch, lao màng bụng, viêm hạch: huyền sâm 20 gr, xạ can 10 gr, nghệ đen 10 gr,
mộc thông 8 gr, bồ công anh 8 gr, sắc với 600 ml nước còn 200 ml, chia uống làm 2 lần trong ngày
Trị sốt xuất huyết có choáng: huyền sâm 20 gr, chi tử 10 gr, cỏ nhọ nồi 10 gr, kim ngân hoa 10
gr, quy vĩ 10 gr, hoàng đằng 15 gr, sắc với 600 ml nước còn 200 ml, chia uống 2 lần trong ngày
Trị nhọt độc, rò mủ, hoang hốc: huyền sâm ngâm rượu uống ngày một ly nhỏ.
Cây đơn tướng quân
Lá Đơn Tướng Quân chữa mẫn
ngứa, mụn nhọt
Mùa hè, tiết trời nóng bức, mồ hôi ra nhiều, da dễ
bị bẩn, các bệnh mẩn ngứa, ghẻ lở, mụn nhọt thường phát triển mạnh Để chữa các bệnh này, nhân dân ta vẫn dùng nước sắc lá đơn tướng
quân đạt kết quả tốt.
Trang 2Trong những năm gần đây, nhiều tác giả đã nghiên cứu cây thuốc này và tìm thấy trong lá đơn tướng quân có chất kháng sinh mạnh, có tác dụng diệt nhiều loại vi khuẩn, trong đó có các cầu khuẩn staphylo, strepto, phế cầu
Kháng sinh đơn tướng quân mạnh và bền vững không bị huỷ bởi các men pepsine, trypsine của ống tiêu hoá, chịu được nhiệt độ 100oC trong 30 phút và có khả năng hấp thu qua thành ruột phân
bố đều vào các phủ tạng trong cơ thể
Điều đáng chú ý là kháng sinh đơn tướng quân có tác dụng với cả các chủng staphylo đã kháng lại nhiều loại thuốc kháng sinh thường dùng và chống dị ứng rất rõ
Cách dùng đơn tướng quân rất đơn giản Có thể dùng dưới dạng thuốc viên, thuốc nước, thuốc sắc hoặc đun nước tắm Sau đây là một số cách sử dụng đơn tướng quân đơn giản nhất
Chữa ghẻ lở: Lấy một nắm lá đơn tướng quân tươi, rửa sạch, thái nhỏ, đun sôi với 5 lít nước Tắm
nước lá này lúc nước còn ấm, khi tắm lấy những bã lá đã nấu xát vào các nốt ghẻ lở Tắm mỗi ngày một lần, trong 3 - 4 ngày liền các mụn ghẻ lở sẽ khô miệng và khỏi
Chữa mẩn ngứa, nổi mày đay, mụn nhọt: Lấy 10g lá đơn tướng quân, băm nhỏ, sắc với 400ml
nước cho đến khi còn lại 100ml, chia làm hai lần uống trong ngày
Chữa viêm họng, viêm phế quản: Lấy 100g lá đơn tướng quân, băm nhỏ, nấu với một lít nước, bỏ
bã, cô cho đến khi được một chất sền sệt, trộn với bột nếp và mật ong làm thành 20 viên Mỗi ngày uống 2 viên trong 3 - 4 ngày liền Cũng có thể ngậm viên thuốc, nuốt nước dần
Gừng tươi thái miếng, mỗi ngày xoa lên chỗ đau
vài lần
Trị liệu Viêm Da Thần Kinh
Viêm da thần kinh là một bệnh hay gặp hơn trong điều kiện thời tiết nóng ẩm của mùa hè nước ta.
Người bị nhẹ chỉ nổi mẩn những vùng mụn nhỏ li ti khi phơi nắng hoặc trong điều kiện nắng nóng, mát dịu lại đỡ Người nặng hơn thì nổi mẩn từng vùng rộng, ngứa muốn gãi đến sứt da sứt thịt mà vẫn không cảm thấy đã cơn ngứa
Trang 3Trường hợp bị zona thần kinh thì còn gây đau nhức, khó chịu và điều trị mất rất nhiều thời gian Các bác sĩ da liễu sẽ có các đơn thuốc uống, thuốc bôi dành cho từng trường hợp cụ thể Trong khuôn khổ bài báo này là các bài thuốc tự làm có hiệu quả với bệnh viêm da thần kinh của y học Trung Quốc
1 Trứng gà tươi ngâm dấm, phong kín trong 1/2 tháng, dùng dung dịch đó bôi ngoài da, mỗi ngày vài lần
2 Gừng tươi thái miếng, mỗi ngày xoa lên chỗ đau vài lần
3 Đậu phụ tươi chà xát lên chỗ đau, rất hữu hiệu
4 Tỏi rửa sạch, giã nát, dùng vải bố bọc lấy ngâm vào trong dấm gạo, sau 4 tiếng lấy ra xoa lên chỗ đau, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10 phút
5 Nước ép quả mướp tươi, thấm vào khăn xoa lên chỗ đau, khi phát tấy đỏ lên thì thôi, 7 ngày một liều trình, 2 liệu trình có thể khỏi
6 Lá chè xanh giã nát lấy nước xoa lên chỗ đau, khiến cho lớp sừng da mềm đi, sau đó bóc bỏ lớp vẩy sừng đó đi, dùng tỏi, rau hẹ giã nát đắp vào chỗ đau
7 Lá đào tươi giã nát đắp lên chỗ đau
8 Hành trắng 3 củ, tỏi tía 1 củ, đường trắng 20g, long não 0,5g, tất cả giã nát bôi lên chỗ đau
9 Quả hồng xanh 500g, giã nát thêm 1.500ml nước, phơi nắng 7 ngày chắt nước, lại phơi tiếp 3 ngày, cho vào bình kín bôi ngoài da
10 Tùng hương, mỡ lợn tỷ lệ 2:3, đun thành dạng hồ, bôi ngoài da mỗi ngày vài lần
Đau đầu là một chứng trạng của rất nhiều bệnh
(Ảnh minh hoạ)
Đông Y chữa Đau Đầu do cảm cúm
Đau đầu là một chứng trạng của rất nhiều bệnh:
từ cảm mạo, viêm xoang, khối u trong đầu… hoặc cũng có thể do thói quen rửa mặt sau khi đi nắng
về Lần này, chúng tôi xin giới thiệu đến bạn đọc những bài thuốc và phương pháp điều trị Đông y giúp chữa chứng đau đầu do cảm cúm.
Trang 4Đông y chia bệnh cảm làm hai loại: cảm phong hàn và cảm phong nhiệt.
Cảm phong hàn
Triệu chứng đau đầu kèm đau cổ gáy, sợ gió, sợ lạnh, đau tăng khi ra gió, bệnh nhân thường thích che kín đầu, có thể sốt nhẹ, sổ mũi, nghẹt mũi, chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng
Do phong hàn bên ngoài (hơi lạnh, nước mưa…) hoặc nằm nhiều trong phòng có máy lạnh…, xâm nhập vào phế, làm cho phế khí không thông, phần khiếu của phế ở trên bị nghẹt khiến cho mũi cũng nghẹt, tiếng nói khàn, nghẹt, hắt hơi, sổ mũi, họng ngứa, ho
Dùng thuốc có vị cay, ấm để đẩy hàn tà ra ngoài, hết cảm cũng sẽ hết chứng đau đầu
Cách dùng: Gừng tươi 4-8g, gọt bỏ vỏ, giã dập, cho vào tách, đổ 50ml nước sôi, đậy lại khoảng 5 phút cho gừng ngấm ra, uống nóng cho ra được mồ hôi là khỏi
Trong dân gian còn phổ biến “cháo hành giải cảm”: Hành lá và củ tươi 10g, gạo tẻ một chén (100g) Nấu gạo thành cháo, khi sôi, cho hành vào, ăn nóng để ra mồ hôi là khỏi bệnh
Cảm phong nhiệt
Thường là đau đầu có cảm giác căng chướng, hoặc đau nhiều, phát sốt, sợ lạnh, mặt đỏ, mắt đỏ, miệng khát, thích uống nước mát, đại tiện táo bón hoặc khó đi, tiểu tiện ít, nước tiểu vàng, đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch nhanh
Dùng thuốc có tính mát để thanh nhiệt, giải cảm, hết sốt thì cũng hết bệnh
Cách dùng: Lá dâu 10g, lá tre 15-30g, cúc hoa 10g, rễ cỏ tranh 10g, bạc hà 6g Tất cả rửa sạch, cắt vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 10 phút thì dùng được, uống thay trà (Không cần đủ cả 5 vị, chỉ cần 2-3 vị cũng được)
Trang 5Dùng thuốc có tính mát để thanh nhiệt, giải cảm, hết sốt thì cũng hết bệnh (Ảnh minh hoạ)
Trong dân gian cũng thịnh hành phương pháp giải nhiệt bằng “nồi xông” Chọn dùng 1-3 vị thuốc
có hương thơm: lá sả, lá khuynh diệp, lá ngũ trảo, từ bi… Nấu lấy nước
Khi sôi, bắc nồi xuống, dùng chăn chùm kín cả người và nồi xông; mở nắp nồi dần dần cho hơi nóng bốc lên; há miệng hít sâu cho hơi thuốc vào mũi và miệng Thỉnh thoảng dùng đũa quấy vào nồi nước xông cho hơi nóng bốc lên Xông cho đến khi thấy hơi nóng trong nồi không còn bốc lên nữa, khi đó, toàn thân có thể sẽ ra mồ hôi đầm đìa Dùng khăn khô lau người
Ngoài ra, đau đầu do cảm (dù do hàn hay do nhiệt), cũng có thể day ấn bấm mấy huyệt dưới đây, cũng mang lại tác dụng rất tốt
1 Toàn trúc: hai đầu chân mày
2 Ấn đường: giữa hai đầu chân mày
3 Thái dương: tại chỗ lõm hai bên thái dương
4 Bá hội: giữa đỉnh đầu
5 Phong trì: chỗ lõm phía sau trên chân tóc sau gáy
Trang 66 Hợp cốc: mu bàn tay, khép hai ngón tay cái và ngón trỏ lại, chỗ nhô cao nhất là huyệt.
7 Ngoại quan: mặt ngoài cánh tay, từ giữa lằn chỉ cổ tay đo lên hướng khuỷu tay ba ngang ngón tay (ngón 2, 3 và 4)
Mỗi huyệt, ấn mạnh vào, day lên xuống khoảng 20 cái là đủ Những huyệt này, day ấn xong, có thể dịu bớt cơn đau đầu ngay, hay nhất là chúng ta có thể tự mình làm lấy và không phải tốn tiền!
Vẩy rồng ( Kim Tiền Thảo)
Vẩy rồng, Cây mắt trâu, Kim tiền thảo - Desmodium styracifolium (Osb.) Merr., thuộc họ Ðậu - Fabaceae
Mô tả: Cây nhỏ cao 40-80cm, mọc bò Thân rạp xuống, đâm rễ ở gốc rồi mọc đứng Cành non
hình trụ, khía vằn và có lông nhung màu gỉ sắt Lá mọc so le gồm một hoặc ba lá chét, dài 2,5-4,5cm, rộng 2-4cm, lá chét giữa hình mắt chim, các lá chét bên hình bầu dục, mắt chim; mặt trên lá màu lục lờ và nhẵn, mặt dưới có lông trắng bạc và mềm Cụm hoa chùm hay chùy ở nách hay ở ngọn, có lông mềm màu hung hung, thường có lá ở gốc các hoa Hoa màu hồng, xếp 2-3 cái một Quả thõng, hơi cong hình cung, có ba đốt
Hoa tháng 6-9, quả tháng 9-10
Bộ phận dùng: Toàn cây - Herba Desmodii Styracifolii, thường có tên là Quảng kim tiền thảo
Trang 7Nơi sống và thu hái: Loài của lục địa Nam Á châu, mọc hoang ở các đồi vùng núi Thường gặp
ở những chỗ sáng, trên đất cát pha, vùng trung du Hà Tây, Lạng Sơn, Ninh Bình, Hải Phòng Thu hái cây vào mùa hè thu, dùng tươi hay phơi khô dùng dần
Thành phần hóa học: Toàn cây có mùi mạnh của cumarin
Tính vị tác dụng: Vị ngọt, nhạt, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt, tán thấp, lợi niệu thông lâm Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng chữa: 1 Sỏi niệu đạo, sỏi bàng quang, sỏi túi
mật; 2 Nhiễm khuẩn đường niệu, viêm thận phù thũng; 3 Viêm gan vàng da Ngày dùng 15-60g, dạng thuốc sắc Người có thai không dùng
Ðơn thuốc:
1 Sỏi đường niệu: Vẩy rồng 60g, sắc đặc lấy nước uống như trà Thông thường dùng điều trị trong một tháng
2 Nhiễm trùng đường niệu: Vẩy rồng 24g, Mã đề, Bòng bong, Kim ngân hoa mỗi vị 15g sắc uống
3 Viêm gan, vàng da: Vẩy rồng 60g sắc uống
4 Viêm thận cấp phù thũng và viêm gan truyền nhiễm hay viêm túi mật: Vẩy rồng 60g, Mộc thông, Ngưu tất đều 20g Dành dành, Chút chít mỗi vị 10g sắc uống ngày 1 thang
Chuyện về sự ra đời của 4 loại thuốc thông dụng
Thuốc aspirin rất quen thuộc hiện nay vốn có xuất xứ từ cây liễu trắng Từ khoảng 4.000 năm trước, người Ai Cập đã dùng loại thực vật này để chống lại các cơn đau và nhiều bệnh tật khác Tuy nhiên, phải đến cuối thế kỷ 19, aspirin mới chính thức ra đời.
Từ năm 1550 trước Công nguyên, trong các văn bản về y học của người Ai Cập đã nói đến việc dùng lá cây liễu trắng để chống lại các cơn đau Hippocrate, người được coi là ông tổ ngành y thế giới, cũng khuyên dùng nước sắc của vỏ cây liễu
để chữa bệnh
Năm 1763, hồi ký của mục sư người Anh Edward Stone được công bố, trong đó ghi nên dùng vỏ cây liễu để cắt cơn trong sốt rét
Liễu đã được các bác sỹ từ xưa
dùng để cắt cơn sốt (Ảnh:
legambientearcipelagotoscano)
Trang 8Năm 1829, dược sĩ Pierre Joseph Leroux đã đun sôi bột vỏ cây liễu, loại tạp chất, cô đặc và thu được những tinh thể hòa tan Ông coi đó là thành phần có dược tính của cây liễu nên đặt tên là salicine (salix: cây liễu - tên Latinh) Khi dùng thử tại Bệnh viện Hôtel Dieu, chất này cắt được cơn sốt dù đó là cơn sốt của bất kỳ bệnh gì; nhưng nó lại có tác dụng phụ là kích thích niêm mạc, gây đau rát dạ dày
Charles Frederic Gerhardt là người đầu tiên tìm ra một dẫn chất của salicine Ông đặt tên là acid acetyl salicylic Chất này sau đó được nhà hóa học Felix Hoffmann hoàn thiện phương pháp chế tạo và được nhà nghiên cứu Anthur Eichengrun đưa vào thử nghiệm lâm sàng trong điều trị bệnh thấp khớp Nó đã mang lại hiệu quả tốt
Kết quả trên được hãng Bayer (Đức) kiểm tra và khẳng định lại Năm 1899, hãng này đã đăng ký
thuốc trên dưới nhãn hiệu Aspirin Thuốc được đưa ra bán và nhanh chóng chiếm lĩnh được lòng tin của người tiêu dùng, khối lượng tiêu thụ ngày càng gia tăng
Qua hơn 100 năm lưu hành, aspirin vẫn là loại thuốc rất thông dụng do chế tạo đơn giản, giá thành thấp và do càng ngày người ta càng khám phá ra nhiều tác dụng của nó: giảm sốt, giảm đau, chống thấp khớp, chống tập kết tiểu cầu, giúp phòng ngừa một
số bệnh về tim mạch Một số nhà khoa học đang thử nghiệm tác dụng ngăn chặn sự phát triển tế bào ung thư của aspirin
Hằng năm có 50.000 tấn aspirin được sản xuất trên thế giới Nhà triết học Tây Ban Nha Jor Ortega
Onteja y Gasset đã gọi thời đại này là “thời đại của aspirin”.
Từ tài liệu trong ngôi mộ cổ đến artemisinin chữa sốt rét
Đầu những năm 70 của thế kỷ trước, giới khoa học Trung Quốc tìm thấy một số bản văn cổ khi khai quật những ngôi mộ cổ nổi tiếng ở Vũ Hán Đó là tài liệu nói về đặc tính trị sốt của lá và nhánh cây ngải miêu, còn gọi là thanh hao hoa vàng (artemisia annua) Từ tài liệu đó, các nhà nghiên cứu đã tìm ra chất artemisinin có trong các cây trên để điều trị sốt rét Xuất phát từ
artemisinin, các nhà khoa học đã tổng hợp được một số dẫn xuất hứa hẹn nhiều tiềm năng trong chữa trị
Artemisinin và các dẫn xuất của nó phá hủy ký sinh trùng sốt rét nhờ một phản ứng hóa học diễn
ra khi nó tiếp xúc với nguyên tố sắt có nhiều trong ký sinh trùng này Phản ứng phóng thích các gốc tự do, phá hủy màng tế bào ký sinh trùng Thuốc khá an toàn, không gây tác dụng phụ nào
Thuốc aspirin (Ảnh: cbc)
Trang 9đáng kể với liều thường dùng Khi phối hợp artemisinin (hoặc các dẫn chất) với một chất kháng sốt rét tổng hợp, bệnh có thể được chữa trị nhanh hơn và sự kháng thuốc của ký sinh trùng sẽ chậm hơn, hiệu quả khỏi bệnh có thể đạt tới 95%
Tế bào ung thư cũng chứa chất sắt ở nồng độ khá cao Vì vậy, người ta đang thử nghiệm
artemisinin để chữa trị một số bệnh ung thư Nó tỏ ra có triển vọng đối với ung thư xương và bạch cầu
Từ kinh nghiệm của thổ dân da đỏ đến quinin
Theo truyền thuyết, nữ bá tước Chinchon, vợ Phó vương Tây Ban Nha ở Peru (Nam Mỹ) bị sốt rét, điều trị mãi không khỏi cho đến lúc áp dụng phương pháp
cổ truyền của người da đỏ: lấy vỏ của một loài cây mọc ở sườn núi Andes đem nấu với nước để uống Qua vài lần uống, bà đã khỏi bệnh Khi trở về châu Âu (năm 1640), nữ bá tước đã mang theo cây này và sau
đó cây được nhà vạn vật học Thụy Điển C Lime đặt tên là cinchona, xuất phát từ tên bà
Truyền thuyết khác cho rằng chính một số thầy tu dòng Tên học được bí quyết chữa bệnh sốt rét của người da đỏ tại Peru Họ đã mang vỏ cây, sau này được gọi là cinchona, từ Nam Mỹ về châu
Âu dùng điều trị (năm 1650)
Dù vỏ cây trên rất hiệu quả trong chữa sốt rét nhưng vẫn gặp nhiều sự chống đối vì lý do khác tôn giáo 20 năm sau, cây này mới được giới y học công nhận có tác dụng Và mãi đến năm 1820, hai người Pháp là Joseph Pelletier và Caventou mới chiết được các hợp chất alcaloid từ vỏ cây cinchona, đặt tên là quinin, dùng chữa bệnh sốt rét
Từ cây xương rồng đến thuốc giảm béo
Cây cinchona (Ảnh: motherherbs)
Trang 10Bộ tộc Bushmen ở vùng sa mạc miền Nam châu
Phi Kinh nghiệm cha truyền con nối giúp họ biết
dùng thân cây xhoba (tên khoa học: Hoodia Gordonii
- họ ascle piadacea) - một loại xương rồng cao 1,80
m - để ăn nhằm chống đói và đỡ mỏi mệt khi phải
theo đuổi những cuộc săn bắn chốn hoang vu dài
ngày, không kiếm được thức ăn
Từ nguồn thông tin dân dã, Hội đồng nghiên cứu khoa học và công nghệ Nam Phi trong thập niên
1990 đã lao vào nghiên cứu hoạt tính sinh học của cây Đến tháng 6/1997, hãng dược phẩm Phytopharm (Anh) đã được cấp giấy phép khai thác và kinh doanh loại cây này để chế ra loại thuốc giảm béo ký hiệu P57 Thuốc tạo cảm giác no, tác dụng phụ hầu như không đáng kể
Xương rồng Hoodia Gordonii
(Ảnh: hoodiadietpills)