1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI TẬP CHƯƠNG 2-2

7 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 15,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Ngày 18 tháng 01 năm 2009, theo yêu cầu cấp bách của Công ty U, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã ký Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2007/QĐ-BPKCTT, trong đó yêu c[r]

Trang 1

BÀI TẬP CHƯƠNG 2 (Tiếp theo) Bài số 1:

Applicant mở 1 L/C ở ngân hàng A cho một lô hàng nông sản Chứng từ từ nước ngoài

về và có sai sót Applicant vẫn chấp nhận thanh toán cho lô hàng này Nhưng khi lấy hàng thì biết lô hàng có chất lượng kém Tuy nhiên, vì đã chấp nhận thanh toán và lấy hàng rồi nên Applicant vẫn phải "ngậm bồ hòn làm ngọt"

Sau đó, Applicant lại mở 1 L/C thứ hai ở ngân hàng A cũng cho một lô hàng nông sản với đối tác cũ Chứng từ về và vẫn có sai sót, ngân hàng A đã phát điện thông báo sai sót cho ngân hàng nước ngoài Lo lắng cho lô hàng này vẫn kém chất lượng, nên Applicant

đề nghị ngân hàng phát điện đi ngân hàng nước ngoài yêu cầu contact với đối tác cho phép Applicant lấy hàng mà chưa thanh toán để kiểm định chất lượng và sau đó sẽ dựa vào kết quả kiểm định để thanh toán cho lô hàng Nhưng ngân hàng nước ngoài đã trả lời

là không đồng ý Nên bây giờ Applicant lại tự liên lạc với đối tác nước ngoài vì Applicant vẫn muốn lấy lô hàng này, chỉ có điều phải kiểm định để định giá lại thôi Tuy nhiên, đã 4 tháng trôi qua mà vẫn chưa có kết quả gì cả, hàng thì bị giữ ở cảng, phí lưu kho lưu bãi đã lên đến hàng tỷ đồng

Hỏi nếu như Applicant vẫn muốn lấy hàng nhưng phải được kiểm định cẩn thận, thì ngân hàng A nên tư vấn như thế nào cho Applicant và trong trường hợp này, ngân hàng A có trách nhiệm gì đối với cái phí lưu kho lưu bãi kia ko???

Bài số 2:

Một L/C không hủy ngang có trị giá 3.000.000 USD được phát hành Người bán giao hàng và xuất trình chứng từ để thanh toán Nhưng bộ chứng từ bị từ chối bởi bất hợp lệ:

- Giao hàng trễ hạn;

- Xuất trình chứng từ trễ hạn

Ngay sau đó trên thị trường mặt hàng đó lên giá Người bán thỏa thuận bán lô hàng đó cho khách hàng khác với giá cao hơn Còn người mua thứ nhất cũng đến ngân hàng xin chấp nhận các điều khoản đã vi phạm để lấy lô hàng Người bán không đồng ý

Trang 2

Trong khi đó ngân hàng mở L/C lại trao bộ chứng từ cho người mua thứ nhất đi nhận hàng Trong tình huống này ai đúng, ai sai? Tại sao?

Bài số 3:

Một LC qui định:

 Cấm giao hàng từng phần

 Hàng được giao từ cảng Bunsan, Hàn Quốc

 Hàng hóa là xe tải Huynhdai, số lượng 25 chiếc

 Nhà XK ở HQ đã xuất trình các vận đơn

 Vận đơn B/L 1: Cấp 07/02/2011 thể hiện số lượng xe: 10 chiếc, giao hàng từ cảng Ulsan, tàu Hanjin IV, cảng dỡ hàng là cảng Saigon

 Vận đơn B/L 1: Cấp 07/02/2011, số xe: 5 chiếc, từ cảng Ulsan đến cảng SG, trên tàu Hanjin IV

 Vận đơn B/L 1: Cấp 15/02/2011 số xe: 10 chiếc từ cảng Quảng Châu, TQ đến cảng Saigon, trên tàu Hanjin IV

Hỏi:

a Ngày giao hàng được nhận định là ngày nào?

b Người XK trong TH này có vi phạm qui định cấm giao hàng từng phần của LC hay không, tại sao?

c Ngân hàng phát hành L/C đã từ chối các vận đơn xuất trình trên, anh (chị) có nhận xét gì về quyết định của ngân hàng?

Bài số 4:

Một LC qui định:

 100 MT hóa chất A (dung sai 5%), thời hạn giao muộn nhất 15/05/2011

 200 MT hóa chất B (dung sai 5%), thời hạn giao muộn nhất 25/05/2011

 Giao hàng từng phần: cho phép

Trang 3

 LC dẫn chiếu UCP 600.

Thực tế: 18/05/2011 NH nhận được bộ chứng từ xuất trình giao hàng lần đầu: 90 MT hóa chất A, giao hàng ngày 14/05/2011

Hỏi:

a NH có thể bắt lỗi hàng thiếu hay không vì 15/05 phần hàng còn thiếu có thể tiếp tục được giao

b Nếu 30/05 bộc chứng từ xuất trình nhưng vẫn không thấy 10 MT hàng thiếu chưa giao, NH từ chối được hay không (có thể đã giao đủ 200 MT hóa chất B)?

Bài số 4:

Lagergren, một hãng kinh doanh các sản phẩm nội thất lớn của Thuỵ Điển, đã bán một lô hàng đồ gỗ cho tập đoàn Cadtrak Furniture Co.Ltd của Đài Loan Về phần mình, theo thoả thuận giữa hai bên, Cadtrak đã mở tại ngân hàng của mình một thư tín dụng L/C để chuyển nhượng số tiền hàng trị giá 760.000 USD cho Lagergren qua một ngân hàng Thuỵ Điển Theo thoả thuận giữa hai bên, hàng sẽ được giao thành hai chuyến, mỗi chuyến cách nhau muộn nhất là 20 ngày Tiền hàng cũng được thanh toán làm hai lần và việc thanh toán qua L/C sẽ tuân theo UCP500

Có hai điều kiện được quy định cho thư tín dụng Thứ nhất, ngân hàng Đài Loan sẽ tiến hành thanh toán khi nhận được một bộ đầy đủ vận đơn đường biển đã xếp hàng hoàn hảo Thứ hai, ngân hàng Thuỵ Điển sẽ phải đợi giấy chấp nhận hàng do ngân hàng tại Đài Loan của Cadtrak cấp Giấy này sẽ được cấp sau khi có thông báo của Cadtrak rằng họ đã nhận được hàng và hàng đã được cơ quan y tế Đài Loan tại cảng chấp nhận

Sau khi hàng đến Đài Loan, ngân hàng Thuỵ Điển đã gửi bộ chứng từ của chuyến hàng cho Cadtrak và đã bị Cadtrak từ chối với lý do thời gian giữa hai chuyến giao hàng

đã vượt quá 20 ngày Ngân hàng Thuỵ Điển đã không chấp nhận điều này Do vậy, ngân hàng đã thuyết phục Cadtrak chấp nhận điều không đúng nguyên tắc trên Sau cùng, Cadtrak chấp nhận thời gian giao hàng quá 20 ngày nhưng vẫn bảo lưu ý kiến từ chối của mình với lý do đợi sự chấp nhận lô hàng của Bộ Y tế Đài Loan, cơ quan mà công ty Cadtrak nộp đơn xin kiểm tra hàng Sau đó không lâu, Cadtrak thông báo rằng họ chính

Trang 4

thức từ chối hàng của Lagergren vì Cơ quan Y tế Đài Loan tại cảng đã phát hiện ra nguy

cơ mối mọt trong lô hang đồ gỗ này

Lagergren lập luận rằng, trong biên bản của Cơ quan y tế đã không có dòng chữ bác

bỏ sản phẩm Tuy nhiên, Cadtrak vẫn giữ nguyên quan điểm của mình vớI nhận định rằng: “theo thông lệ, hàng đồ gỗ phải đủ độ tin cậy để lưu kho trong vòng 12 tháng” Cadtrak cho rằng sản phẩm mà họ đặt đã không được đảm bảo về chất lượng và bởi vậy khăng khăng không chấp nhận lô hang này Về phía Lagergren, hãng đã có đơn kiện gửi

Uỷ ban trọng tài quốc tế (Unctad) mà hai bên đã lựa chọn giải quyết khi có tranh chấp Đơn kiện ghi rõ Cadtrak đã từ chối không đúng cách bộ chứng từ và yêu cầu được thanh toán khoản tiền hàng cộng lãi suất hàng năm 13%

Bài số 5 :

Tập đoàn Nestle có nhập khẩu bơ từ hãng Latel của Na Uy để sản xuất các loại sữa giàu dinh dưỡng Cuộc mua bán được giới thiệu thông quan một số thông tin trên Internet Do đang trong lúc cần nguyên liệu gấp nên Nestle đã nhanh chóng thoả thuận hợp đồng nhập khẩu với Latel Họ đã thoả thuận thanh toán theo L/C, vì vội vàng nên Nestle chưa đề cập kỹ các nội dung cụ thể của L/C mà nhanh chóng chuyển tiền cho Latel theo L/C thông qua một ngân hàng do Nestle chỉ định Nhưng rồi, tiền thì được gửi

đi mà hàng thì mãi vẫn chưa thấy về Tìm hiểu kỹ thì Nestle mới vỡ lẽ ra rằng, Latel chỉ

là một công ty ảo trên mạng, không có thật

Bài số 6:

Ngày 7/11/2008, Công ty U ở Sóc Trăng, Việt Nam (nhà nhập khẩu – bên mua hàng)

và Công ty Galaxy ở Ấn Độ (nhà xuất khẩu – bên bán hàng) đã ký hai hợp đồng mua bán quốc tế số UX 013/06-GAL và UX 014/06-GL Theo đó, Công ty Galaxy có nghĩa vụ cung cấp cho Công ty U 3.000 thùng chứa tôm sú vỏ đông lạnh không đầu có tiêu chuẩn hạng nhất (Frozen headless shell-on back tiger shrimps, first grade brand) (“Sản phẩm Tôm”) tương đương với 32.400 kg tôm nguyên liệu đông lạnh với tổng giá trị 288.090 USD

Trang 5

Theo thỏa thuận trong hai hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nêu trên, các bên đã chọn phương thức thanh toán tín dụng chứng từ làm phương thức thanh toán Cho nên, ngày 08 tháng 11 năm 2008, Công ty U có đơn gửi và được một ngân hàng thương mại Việt Nam trên cùng địa bàn mở L/C cùng ngày để Công ty U hoàn thiện thủ tục mua lô hàng tôm nguyên liệu từ Công ty Galaxy theo thỏa thuận trong hai hợp đồng nêu trên Ngân hàng Nhà nước Ấn Độ (State Bank of India) là ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu (Công ty Galaxy)

Ngày 15/12/2008, các lô hàng đã được vận chuyển bằng đường biển về đến cảng Cát Lái, TP Hồ Chí Minh Một ngày sau đó (16/12/2008), Công ty U đã nhận bộ chứng từ tại ngân hàng mở L/C và mang chúng đến làm thủ tục nhận hàng tại cảng Cát Lái Khi kiểm tra các lô hàng, với sự giám định của Công ty TNHH SGS Việt Nam (Công ty SGS), Công ty U đã phát hiện thấy sản phẩm tôm trong các lô hàng đã giao không bảo đảm chất lượng theo thỏa thuận trong hai hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nêu trên Trong tổng

số 2.999 thùng của lô hàng tôm nhập khẩu, chỉ có 1.751 thùng tôm nguyên liệu đông lạnh, số còn lại 1.248 thùng nước đá đóng khuôn (không có tôm)

Trước sự việc gian lận thương mại của Công ty Galaxy, Công ty U đã nhiều lần cố gắng liên lạc với Công ty Galaxy để giải quyết vấn đề phát sinh về chất lượng lô hàng tôm nhập khẩu nhưng không nhận được bất cứ phản hồi nào từ phía Công ty Galaxy Do

đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ngày 17 tháng 01 năm 2009, Công ty

U đã khởi kiện Công ty Galaxy tại Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng với lý do Công ty Galaxy đã vi phạm hợp đồng mua bán ngoại thương ký kết ngày 07 tháng 11 năm 2008

Tòa án ND tỉnh Sóc Trăng đã chấp nhận thụ lý hồ sơ và giải quyết vụ kiện trên cơ

sở những quy định hiện hành dưới đây của pháp luật Việt Nam:

Thương mại 2005: các bên có quyền thỏa thuận áp dụng tập quán thương mại

quốc tế nếu các tập quán thương mại đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam

Trang 6

Điều 51 của Luật Thương mại 2005: nếu bên mua có bằng chứng về việc bên

bán lừa dối thì có quyền tạm ngừng việc thanh toán

Khoản 3 Điều 2 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2005: Bộ luật Tố tụng Dân sự

Việt Nam được áp dụng đối với việc giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài, trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì

áp dụng điều ước quốc tế đó

Điều 19 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2005: bản án, quyết định của Tòa án đã

có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được mọi công dân, cơ quan, tổ chức tôn trọng

Cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án phải nghiêm chỉnh chấp hành

 Trong trường hợp nêu trên, khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (tôm đông lạnh), Công ty U và Công ty Galaxy không thỏa thuận về cơ quan giải quyết tranh chấp và luật áp dụng để giải quyết tranh chấp Cho nên, theo tư pháp quốc tế, luật và cơ quan giải quyết tranh chấp của nước nơi thực hiện hợp đồng sẽ được ưu tiên viện dẫn tới để giải quyết tranh chấp phát sinh Trường hợp này, việc hàng được giao tại Việt Nam là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tranh chấp về thanh toán Do vậy, Tòa

án nhân dân có thẩm quyền tại Việt Nam sẽ được xác định để giải quyết tranh chấp từ hoặc liên quan đến hai hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nêu trên

 Ngày 18 tháng 01 năm 2009, theo yêu cầu cấp bách của Công ty U, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã ký Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2007/QĐ-BPKCTT, trong đó yêu cầu Ngân hàng mở L/C tạm ngừng thanh toán tiền mua hàng cho Công ty Galaxy theo các hợp đồng mua bán ngoại thương nêu trên nhằm ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra Trước đó, ngày 16/03/2009, Ngân hàng Nhà nước Ấn Độ đã gửi điện cho Ngân hàng mở L/C thông báo về việc nhà xuất khẩu đã bỏ trốn để lẩn tránh sự truy bắt của cảnh sát địa phương

 Đến ngày 29 tháng 01 năm 2009, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng ra thông báo thụ lý vụ án và gửi cho phía bị đơn (Công ty Galaxy) đề nghị trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn (Công ty U), nhưng Tòa án nhân dân tỉnh Sóc

Trang 7

Trăng không nhận được văn bản trả lời của Công ty Galaxy Sau một thời gian chờ thư phản hồi từ phía bị đơn nhưng không có kết quả, ngày 26 tháng 02 năm 2009, Tòa

án nhân dân tỉnh Sóc Trăng tiến hành ủy thác tư pháp thông qua Bộ Tư pháp để tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn, nhưng việc ủy thác tư pháp cũng không mang lại kết quả Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung mà không có sự tham dự của bị đơn

Căn cứ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2009/BPKCTT nêu trên, ngày 29 tháng 01 năm 2009, Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng đã ký Quyết định thi hành án số 10/CĐ.THA yêu cầu Ngân hàng mở L/C tạm ngừng thanh toán tiền mua hàng cho Công ty Galaxy theo các hợp đồng mua bán ngoại thương ngày

07 tháng 11 năm 2009 giữa Công ty U với Công ty Galaxy.

Ngày 27 tháng 09 năm 2009, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã tiến hành xét xử

sơ thẩm vụ kiện tranh chấp hợp đồng mua bán ngoại thương giữa nguyên đơn là Công ty

U và bị đơn là Công ty Galaxy Theo Bản án sơ thẩm số 03/2009/KDTM-ST ngày 27 tháng 09 năm 2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, thì Công ty U chỉ có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Galaxy tiền mua hàng theo số lượng thực nhận với số tiền tương ứng với từng hợp đồng, tổng cộng số tiền thanh toán là 64.815,60 USD và yêu cầu Ngân hàng mở L/C tạm ngừng thanh toán số tiền mua hàng cho Công ty Galaxy đối với lô hàng tôm nhập khẩu theo hai hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế nêu trên

Trong khi Ngân hàng mở L/C đang phải thực hiện quyết định, bản án của Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, thì Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu liên tục gửi điện yêu cầu Ngân hàng mở L/C thực hiện thanh toán tiền lô hàng nhập khẩu theo quy định tại L/C vì Ngân hàng này thông báo rằng họ đã chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất và thanh toán cho người hưởng (Công ty Galaxy)

Ngày đăng: 19/01/2021, 12:17

w