Trong điều trị các bệnh trên thường được nhổ các sợi tóc hay sợi râu bị bệnh rồi chấm một trong các dung dịch như cồn iốt 2%, BSI 2%, castellani hoặc bôi kem nizoral, canesten, benzos[r]
Trang 1
CHƯƠNG II
CÁC BỆNH NẤM
Trang 3BỆNH NẤM DA (Dermatomycosis)
1 Đặc điểm hình dạng và sinh lý của nấm da
Nấm da (dermatophytes) cũng như các vi nấm khác là thực vật hạ đẳng không có chứa clorophin nên không tự dưỡng được mà thường sống hoại sinh (saprophyta) trên những cơ thể động thực vật đã chết, đặc biệt nấm da sống ký sinh (parazita) trên các vật chủ Nấm da có dạng sợi, cấu trúc đa tế bào Tế bào nấm có nhân thực với hình dạng rõ rệt, vỏ tế bào nấm thường là màng dày được cấu tạo bởi polysaccarit hoặc mucopolysaccarit, tiếp đó là thành tế bào được cấu tạo bởi các hỗn hợp protit- polysaccarit; trong hỗn hợp này thì thành phần polysaccarit thay đổi nhiều ít khác nhau đặc trưng cho từng nhóm nấm và có tác dụng trong phân loại Ngoài ra, trong tế bào nấm còn chứa romasom, reticulum, sferosom, diktiosom, ribosom, không bào, plasma, glucit, lipit và axit hữu cơ Nấm có bộ phận dinh dưỡng là sợi nấm chia thành các khoang có vách ngăn giữa vách có lỗ thông để nguyên sinh chất lưu thông được trong sợi nấm Nhiều sợi nấm phát triển chằng chịt lại với nhau thành hệ sợi nấm tạo ra khuẩn lạc trên môi trường Đặc biệt nấm da có các loại sợi sau: sợi nấm tạo thành cuộn như cuộn dây, sợi nấm xoắn lò xo, sợi nấm hình"lược thưa", sợi hình cái vợt, sợi có dạng đầu đinh ở cuối
Nấm da có dạng sinh sản vô tính và hữu tính, nhưng thông thường là dạng vô tính, khi sợi nấm già hay môi trường nghèo chất dinh dưỡng thì bào tử nấm (nha bào) được hình thành Nhìn chung, các bào tử nấm đặc biệt là bào tử lớn (macroconidium) thường có vỏ dầy hình dạng khác nhau tuỳ từng loài nấm và dựa vào hình dạng đó người ta phân loại các giống, các loài nấm với nhau Đến nay mặc dù đã phát hiện ra một số dạng sinh sản hữu tính của nấm da, nhưng người ta vẫn thường xếp nấm da vào lớp Fungi imperfecti
Trang 4Bệnh nấm da là một trong những bệnh ngoài da phổ biến trong nhân dân và
bộ đội Trong bộ đội tỉ lệ mắc bệnh nấm da trung bình 7-10% quân số (đột xuất
có khi tới 25-30%), nhất là về mùa hè,trong điều kiện luyện tập chiến đấu, lao động vất vả, thiếu nước tắm, thiếu xà phòng Theo tài liệu ở phòng khám Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ năm 1966- 1973 : bệnh nấm ngoài da chiếm 11,72- 20,57% so với tổng số bệnh ngoài da (Lê Kinh Duệ và Nguyễn Xuân Hiền 1976) Tại PKB - Bệnh viện 103 (1993): tỷ lệ bệnh nhân đến khám bệnh nấm da chiếm 27,99% (Nguyễn Duy Thắng) Theo Nguyễn Cảnh Cầu (1994): bệnh nấm
da trong quân đội chiếm 37,31% so với bệnh ngoài da
Bệnh nấm da ở các nước cũng rất phổ biến Trường đại học Pensylvennie (Mỹ) theo số liệu của một cuộc điều tra cho thấy : 67% thầy trò mắc bệnh nấm
da và ở trường đại học Californis số người mắc bệnh nấm da chiếm tỷ lệ cao 80% (Bùi Xuân Đồng 1976) Theo Galgoczy (1972) ở Hung-Ga-Ri bệnh nấm ngoài
da đứng hàng thứ 2 so với các bệnh da khác Ở người nhiễm HIV thì bệnh nấm tóc và nấm móng thường được quan tâm chú ý (Slewski 1997) trên lâm sàng Bệnh nấm da thường được mang tên theo vị trí các phần khác nhau của cơ thể mà ở đó nấm gây nên bệnh như: nấm da đầu, nấm tóc, nấm râu cằm, nấm kẽ
vú, nấm mông, nấm bẹn, nấm kẽ chân, nấm móng.v.v
Ngày nay, theo các tài liệu thì người ta thường dùng tiếng La Tinh để gọi tên các bệnh nấm trên:
+ Các bệnh nấm ở đầu như:
- Mycoses capitis superficialis
- Mycoses capitis profunda
- Mycoses corporis profunda
- Mycoses corporis intertriginosa
Trang 5- Mycoses unguium seu onychomycosis
3 Bệnh nấm tóc
3.1 Bệnh nấm tóc do các loài trichophyton gây nên:
Nấm gây nên bệnh này thường do các loài của giống trichophyton như: Trichophyton schoenleinii, Trichophyton tonsurans, Trichophyton mentagrophytes Varietas mentagrophytes, Trichophyton yaoundei, Trichophyton gourvilii, Trichophyton violaceum
Bệnh này thường gây bệnh ở trẻ em và ở lứa tuổi trước khi dậy thì
Triệu chứng: đầu tiên da đầu có các đám hơi đỏ với đường kính khoảng 1-2
cm bờ ngoằn ngoèo Trên mặt đám tổn thương xuất hiện những vẩy da có dạng như bột Dần dần tóc bị tổn thương, tóc không bóng mượt, mất tính đàn hồi, tóc
bị gẫy cụt sát mặt da trông như còn một chấm đen dài 1-2 mm Các đám tổn thương không có xu hướng liên kết Bề mặt hơi sần sùi Một số trường hợp ở xung quanh đám tổn thương có các sẩn ở chân tóc Triệu chứng cơ năng thường hay bị ngứa (Connat và CS:1954, Florian: 1969, Slewski 1997)
3.2 Bệnh nấm tóc do các loài microsporum gây nên:
Bệnh này thường do các loài Microsporum audouinii, Microsporum canis, Microsporum ferrugenum, Microporum gypseum Bệnh thường xuất hiện ở trẻ
em, còn người lớn thì ít bị hơn, nấm thường lây truyền từ chó, mèo sang người + Đặc điểm của bệnh: thường lúc đầu gây bệnh ở da đầu rồi sau đó lan đến chân tóc rồi gây bệnh ở tóc Những chỗ nhiễm nấm ở đầu thường có dạng hình tròn hoặc hình trứng có độ lớn khác nhau, trên chỗ nhiễm nấm tóc bị cắt cụt còn lại với độ dài khoảng 0,8 - 1 cm, phần chân tóc còn lại thường có màu trắng xám với những "vẩy" nhỏ gần giống như bột, còn gọi chân tóc "đi tất trắng"
Từ đây nấm có thể lan truyền đến các phần khác như mặt, cổ
Chẩn đoán labô: soi dưới kính hiển vi trong tiêu bản với KOH 10- 30% có thể thấy các sợi nấm và các bào tử quấn quanh các sợi tóc Trường hợp nhiễm nấm Microporum audouinii thì dưới ánh sáng UV có phát huỳnh quang (Connant
và CS:1954, Emmom và CS: 1977)
+ Chẩn đoán phân biệt với:
- Rụng tóc Pelade
- Chốc do liên cầu khuẩn
- Viêm nang lông sâu (sycosis)
3.3 Bệnh nấm tóc có dạng chốc lở ( favus):
Bệnh này thường do các loài Trichophyton schoenleinii (achorion schoenleinii), Trichophyton violaceum, Trichophyton var quinckeanum, trichophyton verrucosum, Trichophyton rubrum, Microsporum audouinii, Microsporum canis Bệnh này thường xuất hiện ở châu Á, châu Phi, châu Úc, Liên Xô (Florian: 1969; Slewski 1997)
Bệnh thường diễn ra ở trẻ em và có thể kéo dài nhiều năm
Trang 6+ Đặc điểm của bệnh: khi da đầu bị nhiễm nấm thì các đám tổn thương thường có các vảy da lõm giữa (hình thấu kính) gắn chắc vào da, tóc bị thưa, dưới tóc có màu hơi vàng, cậy ra tạo các hố lõm, mùi của tổn thương rất hôi như mùi chuột chù Một số trường hợp kèm chốc hoá, lúc đó vảy da có mụn mủ màu vàng trông giống như tổ ong (kerion decelsse), tóc bị trụi
Trong phòng xét nghiệm lấy vẩy da và tóc đem soi trong dung dịch KOH 10- 30% thường tìm thấy bào tử đốt rải rác (Connant và CS 1954, Galgoczy 1975, Emmom và CS 1977)
+ Chẩn đoán phân biệt với:
3.5 Bệnh nấm ở râu cằm (mycosis barbae):
Bệnh thường xuất hiện ở đàn ông, thường gặp ở một số nước trên thế giới như ở châu Âu, châu Mỹ Bệnh thường do các loài nấm như: Trichophyton mentagrophytes varietas, Trichophyton rubrum, Trichophyton verrucosum, thỉnh thoảng do Trichophyton tonsurans
+ Đặc điểm của bệnh: đám tổn thương ở cằm, thường có dạng hình tròn, mầu bạc bạc hay màu hồng xám, trên mặt da thường có sẩn ở các nang lông
Những sợi râu thì dễ nhổ và dễ bị rụng đi, khi bị bệnh dễ ngứa
Tổn thương kèm nhiều vảy da, vảy tiết
Trong phòng thí nghiệm: soi bệnh phẩm trong KOH 20% thường thấy bào tử đốt
+ Chẩn đoán phân biệt với:
Viêm nang lông sâu (sycosis)
+ Điều trị bệnh nấm tóc và bệnh nấm trứng tóc:
Trang 7Trong điều trị các bệnh trên thường được nhổ các sợi tóc hay sợi râu bị bệnh rồi chấm một trong các dung dịch như cồn iốt 2%, BSI 2%, castellani hoặc bôi kem nizoral, canesten, benzosali, đồng thời có thể uống thuốc chống nấm thuộc nhóm imidazol (ketoconazol, itraconazol)
Điều trị bệnh trứng tóc thì cần cắt bỏ loại trừ các sợi tóc bị bệnh và có thể chải tóc bằng mỡ benzosali, dung dịch axit salicylic 1-2%, hoặc gội đầu bằng xà phòng sastid, nizoral hay kelog
4 Bệnh nấm ở da thân mình (corporis mycosis)
Bệnh này thường xuất hiện ở các phần da khác nhau của thân mình (ở cổ, nách, lưng, vai, bụng, thắt lưng, bẹn, mông v.v ) Nấm gây nên bệnh này chủ yếu do các loài Trichophyton, Microsporum và Epidermophyton gây nên như: Trichophyton Mentagrophytes var Mentagrophytes, Trichophyton mentagrophytes var Quinckeanum, Trichophyton rubrum, Microsporum gypseum, Epidermophyton floccosum
4.1 Bệnh nấm "hắc lào":
Danh từ dân gian dùng để chỉ bệnh nấm ở thân mình
Đặc điểm của bệnh: các đám tổn thương lúc đầu có màu hơi đỏ, ranh giới rõ rệt có bờ viền, trên bờ viền có những mụn nước nhỏ,xu hướng lành ở giữa, dần dần lan rộng thành đám có nhiều vòng cung
Do gãi nhiều, chà xát, bôi thuốc linh tinh, tổn thương có thể bị nhiễm khuẩn thứ phát (trợt, rớm mủ, đóng vảy tiết, sưng tấy.v.v ) hoặc bị viêm da thứ phát, lấm tấm mụn nước khắp trên mặt đám tổn thương, viền bờ không còn rõ nữa Trường hợp do loài Trichophyton rubrum gây nên thì bệnh có thể dai dẳng kéo dài hàng năm (Lê Kinh Duệ và Nguyễn Xuân Hiền 1976, Slewski 1997) Triệu chứng chủ quan : ngứa nhiều
+ Chẩn đoán phân biệt với:
ở các nước nhiệt đới Nơi nhiễm nấm ở bẹn Tổn thương thường tạo thành một mảng có bờ viền rõ rệt, có vẩy, ở phần giữa có xu hướng lành và có mụn nhỏ lấm tấm ở phần xung quanh bờ viền Đám tổn thương có mầu xẫm, đường kính có thể một vài centimet Vết nhiễm thường có bờ mép ranh giới rõ rệt và hơi gồ lên Bệnh gây nên ngứa ngáy rất khó chịu, thường thấy xuất hiện cả hai bẹn
Trang 8+ Chẩn đoán phân biệt với:
- Vẩy nến thể đảo ngược
- Viêm kẽ do nấm men
+ Điều trị bệnh nấm hắc lào, nấm bẹn: thường điều trị bằng các dung dịch BSI 1-3%, ASA, dung dịch xịt econazol (pervaryl), clotrimazol (gromazol) hoặc bôi thuốc mỡ, kem như benzosali, axit crysophanic, funga, lamisil, các kem có chứa dẫn chất imidazol Trường hợp nấm da diện rộng hay tái phát thường được kết hợp với uống thuốc chống nấm (xem bài thuốc điều trị bệnh nấm)
4.3 Nấm vẩy rồng (tinea imbricata):
Bệnh chủ yếu do loài Trichophyton concentricum gây nên Bệnh thường xuất hiện ở phía nam Thái Bình Dương, nam Trung Quốc, châu Phi, Trung và Nam Mỹ (Connart và cộng sự: 1954, Taplin và cộng sự 1970) ở nước ta (theo
Lê Kinh Duệ và Nguyễn Xuân Hiền: 1976) bệnh nấm này hay gặp ở vùng rừng núi Trường Sơn, Quảng Bình, ở Tây Nguyên thành bệnh địa phương và kéo dài hàng năm, thậm chí hàng chục năm hoặc suốt đời
Bệnh này khác với bệnh hắc lào ở chỗ chỉ có róc vẩy da và hình thành những vòng đồng tâm trông như hình hoa hay hình vảy cá (không có viền mụn nước), không có xu hướng lành ở vùng trung tâm, rất ngứa Bệnh có thể lây truyền từ người này sang người khác Toàn trạng của bệnh nhân không thay đổi Bệnh lúc đầu cư trú ở một vùng sau đó có thể lan ra toàn thân Khi xét nghiệm vẩy da trong dung dịch NaOH hay KOH 10 - 30% thì cần ngâm lâu với thời gian 3 - 6 giờ vì vẩy da dầy, rồi đem soi sẽ thấy các sợi nấm và bào tử đốt (Nguyễn Thị Đào: 1977) + Cần chẩn đoán phân biệt với:
- Bệnh vảy cá
- Nhiễm độc da do thuốc dạng đỏ da bong vảy
+ Điều trị: thường tắm nước xà phòng hơi ấm cho bở vẩy da, rồi bôi thuốc như BSI 2% hoặc cồn ASA, mỡ benzosali, kem có chứa dẫn chất imidazol và kết hợp uống thuốc chống nấm như nizoral, sporal hoặc griseofulvin 1 gam/ngày/50
kg thể trọng, thời gian 4 - 6 tuần
4.4 Bệnh nấm kẽ chân:
Bệnh này thường chủ yếu do các loài Trichophyton mentagrophytes var và trichophyton rubrum thỉnh thoảng do loài Epidermophyton floccosum gây nên Trong một số trường hợp nhiễm thêm nấm men Bệnh thường xảy ra vào mùa hè, đợt mưa dầm, ở người phải lội bùn, chống lụt bão Bệnh bắt đầu ở giữa kẽ ngón chân thứ 3 và ngón chân thứ 4 Kẽ ngón chân có hiện tượng bong xước da có màu hơi vàng, chảy dịch, có thể có các mụn nước ở kẽ chân Từ đó bệnh lan sang các kẽ ngón khác, hay lan lên mu bàn chân hoặc xuống lòng bàn chân Dễ bị nhiễm trùng phụ gây mụn mủ và vẩy da vảy tiết tại chỗ, bàn chân bị sưng nề, có thể sốt, nổi hạch
Trang 9bẹn Người bị mắc bệnh rất ngứa ngáy khó chịu Trong phòng thí nghiệm: lấy bệnh phẩm đem soi có thể thấy bào tử đốt hoặc các sợi nấm
+ Chẩn đoán phân biệt với:
- Viêm kẽ do liên cầu khuẩn
- Viêm kẽ do candida
+ Điều trị: thường được bôi một trong các thuốc sau: BSI 2%, ASA, castellani, nizoral, canesten, calcream, khi tổn thương nặng kết hợp với uống thuốc chống nấm, griseofulvin, nizoral hoặc sporal
4.5 Nấm lang ben (Pityriasis versicolor, Microsporum furfure):
Đây là bệnh nấm ngoài da do loài Pityrosporum ovale Bệnh hay gặp ở lứa tuổi 15 - 17 ( thời kỳ dậy thì), cho nên còn gọi là bệnh lang lớn Vị trí tổn thương hay gặp chủ yếu ở 1/2 phía trên thân người( mặt, cổ, ngực, lưng), hiếm gặp ở đùi
và cẳng chân Nơi da bị nhiễm nấm thường có những vết màu loang lổ, trắng nhạt có khi gần giống như bột phấn hoặc có màu hơi hồng, thường liên kết thành đám vằn vèo, trên mặt da có vẩy cám xuất hiện Khi ra nắng hoặc khi có
mồ hôi thì ngứa ngáy râm ran khó chịu như kim đâm Bệnh cũng thường dai dẳng, dễ tái phát nhiều lần (Lê Kinh Duệ và Nguyễn Xuân Hiền 1976) Theo tác giả Florian (1969) thì chủ yếu gây lang ben là loài nấm pityrosporum, nấm này gây viêm nông trên bề mặt da và cũng được nhiều tác giả khác đã nêu lên
+ Chẩn đoán phân biệt với các bệnh:
- Bạch biến (vitiligo)
- Á sừng liên cầu dạng vẩy phấn
- Vẩy phấn hồng Gibert, erythrasma
+ Điều trị: bôi dung dịch BSI 1-2%, ASA 1-2% kết hợp với bôi mỡ benzosali thời gian 2-3 tuần Ngày nay, có thể bôi kem lamisil (terbinaffin), hoặc bôi hoặc uống thuốc chống nấm nizoral, fungicid, sporal Có thể dùng xà phòng tắm như
xà phòng sastid, kelog, nizoral
5 Bệnh nấm móng (Onychomycosis)
+ Đây là một bệnh dễ xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới Bệnh thường do các loài Trichophyton rubrum, Trichophyton mentagrophytes var, đôi khi do Trichophyton violaceum, Trichophyton schoenleini và Microsporum audouinii, Trichophyton mentagrophytes var quinckeanum, Microsporum gypseum
+ Bệnh thường bắt đầu ở bờ tự do của móng tay hay ở bờ mép xung quanh móng, thường móng bị lỗ chỗ rồi dày lên, màu vàng đục, dần dần biến dạng, những mảnh vụn mủn ra, khi cạo ra thì có màu hơi vàng hoặc có trường hợp móng bị teo (hình thái teo), móng này tách khỏi nền móng, bản móng teo lại như móng chim và cuối cùng dẫn đến biến dạng móng Bệnh hay xuất hiện trên một bệnh nhân nấm da và cũng có thể từ nấm móng lây truyền sang các phần da khác của cơ thể do gãi
+ Chẩn đoán phân biệt với:
Trang 10- Vẩy nến móng
- Loạn sừng móng
+ Điều trị: trường hợp tổn thương móng còn nhẹ và ít thì có thể ngâm nước
ấm xà phòng rồi cạo gọt cắt, rũa hết phần móng bị viêm rồi chấm cồn iốt 10%, BSI 3% hoặc bôi kem chống nấm nhóm imidazol và kết hợp uống thuốc như griseofulvin, nizoral hay sporal Trường hợp tổn thương toàn bộ móng thì thường
được bóc móng rồi kết hợp bôi và uống thuốc chống nấm
BỆNH NẤM CANDIDA (Candidiasis, moniliasis, levures)
1 Đại cương
1.1 Vị trí, hình dạng:
Nấm men candida có khoảng 300 loài, là dạng nấm đơn bào kích thước thường (3,5-6) × (6 - 10) micron, có dạng hình cầu, hoặc hình ô van (hình trứng), thỉnh thoảng có dạng hình ống, sinh sản là mọc chồi
Nấm men Candida thuộc họ cryptococcaceae, có khoảng 30 loài liên quan đến y học, thường ký sinh ở một số cơ quan tiêu hoá, hô hấp và trên da Khi gặp điều kiện thuận lợi (cơ hội) thì trở thành tác nhân gây bệnh, đặc biệt là loài candida albicans
1.2 Các yếu tố thuận lợi:
+ Yếu tố bên trong (endogen):
- Dùng lâu ngày thuốc có dẫn chất corticoid
- Các thuốc kháng tế bào (điều trị ung thư)
- Bệnh đái đường, bỏng, bệnh ung thư, nhiễm HIV/AIDS, thai nghén, thuốc phòng thai
- Sau phẫu thuật thay van tim
- Bệnh nhân suy mòn
- Viêm sau lậu
+ Bệnh có thể xảy ra do yếu tố bên ngoài (exogen):
- Người già, răng rụng hết
Trang 11tử Có thể là do lây từ âm hộ, âm đạo của mẹ, do thiếu vệ sinh trong khi cho con
bú, do cơ thể suy nhược (đẻ non), do dùng kháng sinh hoặc bệnh nhiễm khuẩn toàn thân làm suy kém sức đề kháng Cần chú ý là tỷ lệ candida (+) ở âm hộ, âm đạo phụ nữ có mang khá cao: 20,7% theo Miziino (điều tra trên 4.254 người)
Ở người lớn cũng có thể gặp, nhất là bệnh nhân bị bệnh mãn tính nặng, suy kiệt (ung thư)
Candida có thể gây đỏ, nứt góc mép ở bệnh nhân có hàm răng giả hoặc thiếu máu nhược sắc (thiếu Fe)
Có thể gặp viêm môi do candida (chéilite) ở người hay liếm môi 10% quá sản, bạch sản mạn tính ở niêm mạc miệng là do candida
+ Quanh hậu môn: trẻ nhỏ bị tưa, có thể bị viêm ruột đi lỏng do candida, đồng thời viêm niêm mạc hậu môn do candida (viêm da quanh hậu môn do candida) có khi lan cả góc đùi, mông, vùng sinh dục thành đám đỏ ranh giới rõ, trợt, láng bóng, rớm dịch, có viền bong da ở ngoại vi Ở trẻ em viêm da da dầu dễ
bị nhiễm candida thứ phát
+ Niêm mạc sinh dục: có mang, đái đường, dùng kháng sinh là điều kiện thuận lợi để bị viêm âm hộ do candida (cần chú ý ở người lành candida có thể tạp sinh ở niêm mạc sinh dục) Niêm mạc bị đỏ ngứa nhiều có khi sưng rát, có thể lan ra cả da xung quanh
Ở nam giới có thể biểu hiện thành viêm niêm mạc quy đầu, bao hành, lan cả
ra bìu, bẹn Nam giới có thể bị lây candida của phụ nữ qua đường sinh dục (coi như một bệnh lây bằng đường sinh dục STD)
2.2 Candida da:
+ Trợt giữa ngón: biểu hiện thành một vùng da trợt đỏ hơi ướt ở giữa kẽ thứ 3 (giữa ngón giữa và ngón nhẫn), có khi thành vết nứt có viền da bong ở ngoài vi Đeo nhẫn làm ẩm ướt liên tục ở vùng góc ngón giữa tạo điều kiện cho nấm mọc Nội trợ, cấp dưỡng, thợ giặt, công nhân xén giấy bị ẩm ướt kẽ tay luôn dễ bị bệnh này Có thể gặp ở chân (nhất là kẽ thứ 4 - 5), giống như nấm kẽ, bợt trắng, ngứa, rát chẩn đoán bệnh bằng xét nghiệm trực tiếp và cấy nấm + Loét kẽ (intertrigo): hay gặp ở trẻ em, người béo bệu ra mồ hôi nhiều ở bẹn, kẽ mông, nếp dưới vú, rốn thành đám đỏ, trợt, láng bóng, ranh giới rõ, có viền róc da ở ngoại vi, ngứa nhiều, có thể rát bỏng Có khi bên cạnh thấy những mụn mủ nhỏ mầu trắng đục
+ Viêm móng và quanh móng mạn tính: gặp ở người tiếp xúc với quả chín, đường, nhân viên cấp dưỡng, bệnh nhân bị móng quặp Rìa da quanh móng
Trang 12bị sưng đỏ, nặm ra ít mủ trắng loãng Dần dần ở móng bị tổn thương: có hằn ngang, dầy, sẫm mầu, lỗ chỗ, bong ra
+ Nấm candida sùi (u hạt nấm candida): gặp ở trẻ em, thành từng sẩn, vẩy tròn, gồ cao, rải rác li ti hoặc thành đám Vảy tiết mầu nâu xẫm, dễ bong, dưới lớp vẩy có tổn thương tăng gai sùi, rớm dịch, nền hơi cộm Mặt, da đầu thường hay bị, có khi kèm tưa ở niêm mạc lưỡi Có thể kèm viêm móng, viêm quanh móng làm móng tay sùi dày, màu vàng đục, tiến triển rất dai dẳng Cuối cùng có thể chết do biến chứng phủ tạng (phế quản - phế viêm, suy kiệt)
+ Bệnh nấm candida rải rác toàn thân: biểu hiện bằng các tổn thương da rải rác giống như viêm da da dầu, hoặc đỏ trợt, loét kẽ, hoặc mụn nước mụn mủ, khi
vỡ để lại các điểm trợt dần dần lan rộng, kèm theo tổn thương niêm mạc, móng
và quanh móng như trên Có khi chỉ là những ban thứ phát (candidides)
2.3 Candida hệ thống:
Tương đối hiếm, chỉ gặp ở bệnh nhân suy kiệt, có bệnh mãn tính nặng, ung thư, dùng kháng sinh hoặc thuốc ức chế miễn dịch lâu ngày và nhất là ở giai đoạn cuối của bệnh, kèm nhiễm candida vào máu
Biểu hiện: viêm nội tâm mạc, viêm màng não, viêm phổi, thận, ruột, gan, lách, dẫn đến tử vong
3 Điều trị
+ Đối với candida niêm mạc miệng, lưỡi thì chấm dung dịch glycerinborat 3%, mật ong, dịch đặc giã từ lá rau ngót tươi, hoặc lau bằng gel daktaril (miconazol)
+ Candida âm đạo thì có thể rửa bằng dung dịch nabicacbonat hay đặt thuốc chống nấm như nystatin, polygynax, cannesten, miconazol và có thể kết hợp với uống thuốc chống nấm
+ Đối với candida ở da thì có thể bôi thuốc màu như tím gentian 2%, milian, castellani, fungizon hoặc kem nystatin, nizoral, canesten Nếu bệnh nặng, tổn thương rộng thường kết hợp với thuốc uống như: nystatin, nizoral, sporal hoặc flucan
+ Với candida hệ thống, u hạt thì có thể truyền tĩnh mạch chậm amphotericin Trong điều trị nấm candida cần tăng cường lượng vitamin hỗn hợp, chế độ
ăn cần giảm lượng đường
BỆNH NẤM HỆ THỐNG
(Systemic mycosis)
Trang 131 Đại cương
Bệnh nấm hệ thống thường là bệnh mãn tính mà nguyên nhân gây bệnh là
do các loài nấm khác nhau gây nên Những loài nấm này có khả năng gây bệnh ở ngoài da và trong tổ chức Các loài nấm này khác nhau về họ hàng về hình dạng
và về sinh lý Đường lây truyền các nấm thường thông qua những sây sát, sang chấn ở da, niêm mạc hoặc theo đường hô hấp và lan truyền của bệnh có thể theo đường máu, hạch hoặc trực tiếp Trừ loài cryptococcus còn các loài sporotrichum blastomyces, histoplasma, coccidioides được người ta xếp vào "nhóm” nấm lưỡng dạng (dimorph fungi) với đặc đặc điểm sau:
+ Dạng ký sinh gây bệnh trên cơ thể người hoặc được nuôi cấy trên môi trường thích hợp ở nhiệt độ 37°C thì nấm có dạng nấm men
+ Dạng sống hoại sinh: như ở trong đất, cây cỏ hoặc được nuôi cấy trên môi trường sabouraud ở nhiệt độ 26°C thì nấm lại có dạng sợi
Ngoài nhóm nấm "lưỡng dạng" gây bệnh nấm hệ thống còn do các loài nấm men hoặc nấm sợi khác gây nên
1.1 Bệnh nấm hệ thống do các loài nấm lưỡng dạng:
(Dimorph fungi, dimorphic fungi, diphasic fungi):
+ Sporotrichosis (Sporotrichum schenckii)
+ Blastomycosis Bắc Mỹ (Blastomyces dermatitidis)
+ Histoplasmosis (Histoplasma capsulatum)
+ Coccidiomycosis (Coccidioides immitis)
1.2 Bệnh nấm hệ thống do các loài nấm men:
+ Candidasis (Ca albicans, Ca kusei, Ca tropicalis )
+ Cryptococosis (Crypococcus neofrmans)
+ Geotrichosis (Geotrichum candidum)
+ Các loài nấm men khác (Saccharomyces, Rhodotorula ; Torulopsis )
1 3 Bệnh nấm hệ thống do các loài nấm sợi:
+ Aspergillosis (Asp fumigatus ; Asp niger, Asp flavus ; Asp migricans; Asp candidus)
+ Penicillosis (P citrorosum ; P glucan ; P marneffei)
+ Mucormycosis (M mucedo ; M rocemosus ; M exitiosus)
+ Do các loài nấm khác
2 Bệnh nấm sporotrichosis (bệnh gardener)
2.1 Nguyên nhân gây bệnh:
Do nấm Sporotrichum schencki Loại nấm này được phát hiện và nuôi cấy đầu tiên ở Mỹ năm 1898 bởi Schencki Sau đó Beumann(1903) và Ramond phát hiện ở châu Âu Năm 1912 Beurmann và Gougerot mô tả chi tiết hình dạng của loài nấm, đây là loài nấm có 2 dạng (dimorph fungi) Nấm thường sống trong đất
và trên các cây thực vật, vì thế dễ gây bệnh ở người làm vườn, làm ruộng và gây bệnh ở các động vật gậm nhấm Nấm gây bệnh ngoài da và có thể gây bệnh ở phổi
Trang 14và đường ruột Bệnh thấy ở Pháp, Mexicô, Trung-Nam Mỹ, Liên Xô , Nam Phi Ở Việt Nam cũng xuất hiện bệnh này, thường gặp ở miền Bắc hơn ở miền Nam
2 2 Triệu chứng lâm sàng:
+ Thể da- bạch huyết:
Khi da hay niêm mạc bị xây sát, sang chấn thì nấm dễ có điều kiện xâm nhập vào da, vào cơ thể rồi lan truyền theo đường máu hay đường bạch huyết Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi Thời gian ủ bệnh thường 20 - 90 ngày Thương tổn ở da xuất hiện là những gôm, cục sẩn nổi gờ trên mặt da ở những vị trí khác nhau, nhưng phần lớn ở vùng da hở cẳng chân, cánh tay Đặc biệt gôm sẩn mọc trên đường bạch huyết Những gôm, sẩn cục phát triển nhanh, lúc đầu thì cứng di động không đau Sau đó thì mềm thành mủ, thường đau và không di động Sự hoá mủ bắt đầu từ bề mặt và điểm giữa của gôm dẫn đến gôm mềm nhũn ở giữa còn bờ viền xung quanh thì hơi cứng Khi chích nặn có ít mủ hơi quánh, màu hơi vàng, không có kén ngòi như viêm da mủ, đây cũng là hình ảnh đặc trưng của bệnh Tổn thương có thể tiến triển thành áp xe nhỏ hoặc áp xe lớn nằm sâu dưới
da, có màu hồng nhạt, khó tự vỡ mủ Khi chích nặn thì thường đặc quánh như dầu với màu vàng chanh
+ Thể da đơn thuần: tổn thương da có dạng sùi như hạt cơm, hay mụn cóc, có thể thành u to nhưng không lan ra mạch bạch huyết
+ Thể niêm mạc: tổn thương thường là u nhú dạng mụn cóc có mủ, loét thường xuất hiện ở niêm mạc mũi, họng, miệng, khi đó dễ nhầm lẫn với viêm da
do vi khuẩn
2.3 Chẩn đoán:
2 3.1 Chẩn đoán phân biệt:
Cần phân biệt với lao da, giang mai, sẩn do côn trùng, leishmaniasis, phong (leprosy), chromoblastomycosis, actinomycosis và các bệnh nấm sâu khác
2.3.2 Xét nghiệm chẩn đoán:
+ Có thể xét nghiệm soi trực tiếp từ mủ, dịch mủ tổn thương nhưng khó phát hiện mà thường nuôi cấy cho kết quả cao hơn Thường bệnh phẩm cấy vào môi trường sabouraud ở nhiệt độ 20oC - 26 oC, nấm phát triển sau 3 - 7 ngày, khuẩn lạc nấm dạng sợi có màu thay đổi từ kem đến màu đen Soi dưới kính có những sợi nấm đặc biệt gần giống điếu xì gà, phía trên có các bào tử đỉnh hình cầu hay hình ô van trông giống như bình cắm hoa Trên môi trường thạch dịch chiết tim có 10% máu và ở 37oC nấm mọc có dạng nấm men với hình cầu hay hình trứng
+ Chẩn đoán miễn dịch:
Thử test da: dùng 0,1 ml kháng nguyên sporotrichin đã được pha loãng gấp
2000 lần làm test da, đọc kết quả sau 48 giờ Đường kính nốt sẩn lớn hơn 3 cm Người ta cũng có thể dùng phản ứng ngưng kết, kết tủa (pricipitin)
Trang 15(I:immunodifasion) hoặc phản ứng cố định bổ thể (CF: complementfixation) để chẩn đoán
2 4 Điều trị:
Trong điều trị đến nay vẫn được ứng dụng là uống dung dịch iodua kali liều lượng tăng dần từ 2 - 4 - 6 - 12 gam trong ngày, trong nhiều tuần
Ngoài ra ngày nay có thể dùng thuốc chống nấm như itraconazol (sporal),
ketconazol (nizoral) và amphotericin B
3 Bệnh nấm Blastomyces Bắc Mỹ (bệnh gilchrist)
3.1 Hình ảnh của bệnh:
Gilchrist giới thiệu mô tả đầu tiên năm 1894, sau đó Gilchrist và Stokes đã phân lập xác định mầm gây bệnh là nấm Blastomyses dermatitidis Đây là loài nấm thuộc nhóm nấm lưỡng dạng (dimorph fungi) Theo Denton, Ajello và một
số tác giả khác thì loài nấm này sống trong đất Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi Đa số gặp ở người trên tuổi 40 Tỷ lệ bệnh ở nam thường gấp 10 lần ở nữ Bệnh thấy xuất hiện ở Mỹ sau đó ở các nước Bắc Mỹ như: Canada, Mexicô, châu Phi và Trung Cận Đông
3.2 Triệu chứng lâm sàng:
Bệnh chia ra: thể viêm da và thể phủ tạng
3.2.1 Thể viêm da:
Triệu chứng lâm sàng: nấm thường xâm nhập gây ra các tổn thương ở vùng
da hở như chân, tay, trán, mặt Tổn thương trên da thường là một sẩn hay sẩn mủ nông khi bị loét hay vỡ ra làm chảy dịch có lẫn máu và mủ rồi đóng thành vảy tiết Tổn thương có thể lan rộng thành đám u gai có đường kính vài cm Viền tổn thương thường tròn hình cung hay vằn vèo, bờ rõ, gồ cao,thành bờ thì dựng đứng,màu đỏ tím
Bề mặt của đám tổn thương sùi, có nhiều gai nhỏ giống như hạt cơm Thỉnh thoảng có cục thịt sùi mềm nằm xen kẽ những đường rãnh, nặn ra mủ Vùng trung tâm dần dần thành tổ chức sẹo còn vùng ngoài bờ tổn thương vẫn lan rộng
và có những cục, những mụn mủ dạng trứng cá Tổn thương tiến triển mãn tính không gây ngứa, không gây đau, kéo dài hàng chục năm
+ Tổn thương trên da có thể xuất hiện nhiều đám vết tròn có gờ cao, u hạt thường là dấu hiệu của bệnh blastomyes toàn thân và hệ thống
+ Tổn thương niêm mạc ít gặp
3.2.2 Thể phủ tạng:
Thông thường nấm có thể gây viêm phổi khi đó có triệu chứng sốt, khó thở, hình ảnh X quang giống như lao kê, dần dần bệnh có thể lan vào da, vào não, vào xương sống, xương sườn, vào các phủ tạng khác,trừ ống tiêu hoá Đây là điểm
Trang 16khác với bệnh nấm blastomyces Nam Mỹ và bệnh nấm histoplasma Bệnh không
được điều trị tích cực thường dẫn đến tử vong sau vài năm (90% chết sau 2 năm)
3.3 Chẩn đoán phân biệt:
Chẩn đoán phân biệt với bệnh nấm blastomyces Nam Mỹ, histoplasma, lao, leishmania, carcinoma (ung thư tổ chức liên kết), paracocidioides brasilensis
3 4 Xét nghiệm chẩn đoán:
+ Soi trực tiếp từ mủ trong dịch KOH 10% hay nhuộm gram có thể thấy nấm
ở dạng tế bào nấm men có kích thước 8 - 14 - 24 µ
+ Nấm có thể nuôi cấy phát hiện trên môi trường sabouraud từ các bệnh phẩm, khuẩn lạc phẳng, màu trắng, có lớp sợi men Dưới kính hiển vi sợi nấm trắng mảnh phân nhánh, đặc biệt có những sợi nấm hình tên lửa và có bào tử dính bên cạnh sợi nấm
+ Test da và phản ứng cố định bổ thể ít có giá trị trong chẩn đoán
+ Xét nghiệm tổ chức học trong những tế bào khổng lồ dạng Langerhans có
4.1 Nguyên nhân gây bệnh:
Nguyên nhân gây bệnh do nấm Histoplasma capsulatum, loài nấm hai dạng (dimorph fungi) Bệnh được Darling phát hiện (1908) và mang tên bệnh Darling Năm 1934 De Monbreun, Hansmann và Chenken phân lập nuôi cấy được nấm Nấm thường sống trong đất đặc biệt là nơi đất có phân gia cầm hay phân chim bồ câu: bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, thường gây viêm da, niêm mạc và gây viêm phổi, cũng gặp ở người nhiễm HIV
4.2 Triệu chứng lâm sàng:
4.2.1 Viêm da, niêm mạc:
Nấm gây tổn thương ở da, niêm mạc thường thông qua chỗ sây sát mà xâm nhập gây bệnh Tổn thương da và vết loét có vảy tiết không đau, không ngứa thường kèm theo sưng hạch và thường khu trú tại chỗ, dần dần bệnh có thể khỏi Trên người có nhiễm HIV khi bị nấm thì tổn thương da là những sẩn có nút sừng
ở trung tâm Tổn thương niêm mạc thường là u hạt, vết loét có thể xuất hiện ở niêm mạc miệng, môi, thanh quản hay ở vùng sinh dục
4.2.2 Viêm phổi:
Khi nấm gây viêm phổi thì triệu chứng lâm sàng đến 95% không biểu hiện
ho, khạc đờm và sốt, giảm trọng lượng cơ thể, chụp X quang nhiều lần với thay đổi tư thế mới phát hiện được Bệnh có thể khỏi, tuy nhiên có 1% trường hợp
Trang 17bệnh tiến triển nặng, khi đó tổn thương lan toả rải rác ở da, niêm mạc cũng xuất hiện những đám u hạt, gôm loét, sưng hạch, gan lách to, tổn thương ở phổi, ở hệ thống tiêu hoá, xương kèm theo sốt, bạch cầu giảm và thiếu máu Với trường hợp này điều trị ít kết quả
4.2.3 Viêm ruột:
Nấm có thể gây viêm ruột với những triệu chứng đau bụng, đi lỏng, kém ăn, gan, lách sưng Thể mãn tính có thể sưng hạch, gan to, xương dễ bị gãy, tiên lượng xấu
4.3 Chẩn đoán phân biệt:
Cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh nấm hệ thống khác, với lao, Hodgkin; leucocemia, leshmaniasis, giang mai, toxoplasmosis, lymphosarcoma
5.1 Nguyên nhân gây bệnh:
Nguyên nhân gây bệnh là do nấm Coccidioides immitis Bệnh được giới thiệu đầu tiên do tác giả Posadas và Wernicke (1892) Đến năm 1900 thì Moffth và Ophuls nuôi cấy phân lập được nấm và đây cũng là loài nấm hai dạng (dimorph fungi) Bệnh xuất hiện ở miền tây-nam nước Mỹ, đặc biệt ở Califocnia; Mexico, trung và nam châu Mỹ; Hà Lan, Ý; Nga; Hungari Nấm sống hoại sinh trong đất,
có thể gây bệnh ở chó, mèo, lợn, thỏ và thường gây bệnh ở người làm nghề nông
Tỷ lệ giữa nam và nữ không khác nhau Người có da màu thì bệnh thường nặng hơn người da trắng Bệnh cũng thấy xuất hiện ở người nhiễm HIV Nấm thường gây viêm da và viêm phổi
Trang 185.2 Trệu chứng lâm sàn:
+ Viêm da: nấm xâm nhập vào da, tiên phát thường là ở vùng da hở và tổn thương đầu tiên phần lớn là những cục sẩn cộm có màu đỏ tím không đau, rồi dần dần loét và sau đó có thể thành một mảng gờ cao với u gai giống như lao da sùi, thường thì lành tính để lại sẹo lõm, nhưng có trường hợp bệnh lan toàn thân + Viêm phổi: nấm thường dễ gây viêm phổi khi hít phải bào tử nấm Thời gian ủ bệnh thường 2 - 3 tuần, có đến 60% triệu chứng ban đầu là đau đầu, ăn không ngon, ho, sốt, tối ra mồ hôi, đau ngực, đau các khớp nhỏ, còn biểu hiện ngoài da có thể xuất hiện các đợt ban đỏ nút hoặc đa dạng và thường gặp 4% ở nam và 10% ở nữ, ở cẳng chân, tay, trán, mặt, cổ, nách Bệnh chỉ có khoảng 0,2 - 1% trở thành mãn tính và có thể chết sau nhiều tháng hay nhiều năm, khi mà nấm lan vào bất kỳ một tổ chức nào của cơ thể như da, xương, hệ thống thần kinh trung ương Ở dạng cấp hay mãn thì hình ảnh X quang của bệnh giống như lao
5.3 Xét nghiệm chẩn đoán:
+ Phương pháp soi: có thể phát hiện hình dạng nấm từ những bệnh phẩm như
mủ, dịch, dịch não tuỷ khi được nhuộm gram, hoặc từ những tổ chức được nhuộm PAS, hematoxylin và eosin Đặc biệt là tổ chức hạt thì phải nhuộm với gritley
+ Nuôi cấy: có thể nuôi cấy nấm mọc trên môi trường sabouraud ở nhiệt độ phòng (25°C) với khuẩn lạc màu trắng rồi thành nâu, soi dưới kính hiển vi có sợi nấm dạng tên lửa và đặc biệt là nhiều bào tử đốt hình thanh
+ Phản ứng miễn dịch: test da: làm test da với 0,1 ml dung dịch kháng nguyên coccidiodin 1% đọc kết quả sau 24 - 48 - 72 giờ, đường kính nốt sẩn ít nhất là 5 mm + Phản ứng miễn dịch kết tủa (precipitin) dương tính sau vài ngày hay sau nhiều tuần bị bệnh; nhưng đáp ứng IgG muộn, với hoạt tính cố định bổ thể thì thường xuất hiện muộn và có ý nghĩa trong chẩn đoán
5 4 Chẩn đoán phân biệt:
Cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh nấm hệ thống khác, lao, syphilis, ung thư, tularaemie
5.5 Điều trị:
Trong điều trị có thể sử dụng amphotericinB; fluconazol (diflucan); itraconazol (sporal); ketoconazol (nizoral)
6 Bệnh nấm Cryptococcosis
6.1 Nguyên nhân gây bệnh:
Bệnh gây nên do loài Cryptococcus neoformans, là loài nấm men có thành (vỏ) tế bào dày Bệnh được Busse và Buschke phát hiện từ năm 1892 Bệnh còn được mang tên bệnh nấm blastomycose châu Âu Loài nấm này có thể tìm thấy trong đất, trong phân chim bồ câu Nấm có thể gây bệnh ở người và động vật,
Trang 19xảy ra trên khắp thế giới Bệnh được phát hiện liên quan đến suy giảm miễn dịch trong HIV, neoplasma-N, sarcoidosis và ở những người dùng thuốc ức chế miễn dịch Nấm thường gây bệnh ở da, ở phổi
6.2 Triệu chứng lâm sàng:
+ Viêm da:
- Cryptococcus gây viêm da thường ít xảy ra, khi gây bệnh ở da thì tổn thương thường xuất hiện ở chân, tay, mặt Tổn thương là vết loét có ranh giới rõ, hình tròn hoặc đa cung, ở giữa màu đỏ tím, xung quanh có quầng màu hồng, dưới
là dịch và mủ Tổn thương có thể lan rộng rồi có thể hoại tử và thành vết loét nông, tiến triển mạn tính
- Tổn thương là dạng sẩn cục rải rác kiểu u hạt, đám sùi hoặc u cục gôm, thường ở giữa lõm, bờ có gồ cao, thường có vẩy tiết đen nhạt phủ trên vết loét có rớm dịch và máu, gôm giống như trứng cá hoại tử Nhưng ở người nhiễm HIV thì tổn thương dạng herpes hoặc như u mềm lây
- Tổn thương dạng áp xe mưng mủ, rò và tạo sẹo cầu, nhăn nhúm như trứng
cá cụm
+ Viêm phổi: nấm có thể xâm nhập vào phổi khi hít phải nấm và gây viêm phổi, khi đó biểu hiện sốt nhẹ, ho, tiết dịch và được phát hiện bằng X quang + Viêm màng não:
Khi màng não bị nhiễm cryptococcus thì triệu chứng lâm sàng biểu hiện ban đầu là sốt nhẹ, đau đầu, buồn nôn, nôn, chóng mặt, choáng váng, loá mắt Khi tiến triển nặng thì đau đầu dữ dội, cứng gáy, sốt cao, rối loạn nhận thức, mất trí nhớ, đôi khi phù, gay mắt, liệt dây thần kinh sọ, phù nề, hôn mê, gây tử vong Ngoài ra, nấm còn có thể gây bệnh viêm màng bụng, võng mạc, gan, xương
6.3 Chẩn đoán phân biệt:
Cần chẩn đoán phân biệt với lao, các bệnh nấm hệ thống khác và ung thư
6.4 Xét nghiệm chẩn đoán:
+ Xét nghiệm trực tiếp: có thể phát hiện tế bào nấm men nảy chồi có vỏ dày khi nhuộm bằng mực tàu với các bệnh phẩm dịch, mủ từ tổn thương ra hay cặn ly tâm của dịch não, tủy hoặc da sinh thiết nhuộm với muciramin Tế bào nấm được phát hiện trong tổ chức khi nhuộm PAS hoặc methinamin silver
+ Nuôi cấy: nấm có thể mọc khi bệnh phẩm trên môi trường Sabouraud hay môi trường thạch máu Ở 370C, khuẩn lạc dạng kem soi có nhiều tế bào nấm men với nhiều chồi nhỏ
6.5 Điều trị:
Trong điều trị thường sử dụng thuốc phối hợp amphotaricin B với 5 fluorocystosin, có thể dùng fluconazol (diflucon), itraconazol (sporal), ketoconazol Đặc biệt fluconazol hay được dùng dạng viên và tiêm để điều trị bệnh nấm cryptococcus gây viêm màng não ở những bệnh nhân bị nhiễm HIV
Trang 207 Bệnh nấm Penicilliosis
7.1 Nguyên nhân gây bệnh:
Do một số loài penicillium gây nên như P.minatum ; P.citrorosum; P.lengues; P.glaucum ; P.album ; P.mucedo ; P.racemosus; P.exitrosus; thường gây viêm da, móng tay, viêm tai, đường hô hấp, phổi Đặc biệt, gần đây loài nấm Penicillium marneffei thường xuất hiện nhiều ở bệnh nhân nhiễm HIV và người bị AIDS được mang tên bệnh đột xuất bất ngờ (emerging pathogens)
Thông thường loài nấm này ít gây bệnh, nhưng nó lại nổi rộ lên gây bệnh ở những người nhiễm HIV, đặc biệt ở những bệnh nhân bị AIDS Loài nấm này có đặc điểm giống như nấm lưỡng dạng (dimorph fungi) Khi ở nhiệt độ 28°C thì có dạng sợi, khi ở nhiệt độ 37°C có dạng nấm men ở Mỹ thì ít gặp nhưng rất phổ biến ở châu Á, đặc biệt ở Đông-Nam Á
7.2 Triệu chứng lâm sàng:
Cũng như nấm lưỡng dạng có thể gây bệnh lưới nội mô hệ thống ở bệnh nhân HIV, nấm gây viêm da, tạo nên ở da nốt sẩn có nút sưng ở trung tâm giống như bệnh histoplasmosis Ở những người dễ nhậy cảm bị nhiễm nấm thì sốt, giảm trọng lượng, nổi hạch, gan to, lách to, ho khó thở, viêm màng tim, và viêm màng bụng có thể xảy ra
Tổn thương ở da, ở cơ cũng có thể xuất hiện những nốt sẩn giống như u mềm lây, dạng trứng cá mụn mủ, cục, hạt, loét và có áp xe dưới da
7.3 Chẩn đoán:
Ở nhiệt độ 37°C hoặc ở trong tổ chức thì nấm đa số ở dạng tế bào nấm men hình ô van (ở trong tế bào mô và đại thực bào) Những tế bào nẩy mầm rất đặc biệt có vách ngăn ở giữa,đây chính là điểm khác với nấm men thực
Nuôi cấy trên môi trường Sabouraud ở 25°C khuẩn lạc ban đầu gần như dạng bột mầu xám, sau đó thành mầu xanh vàng hoặc hồng xám, mặt dưới của khuẩn lạc thì có mầu đỏ khuyếch tán vào môi trường Khi soi dưới kính hiển vi thì trên những sợi nấm có vách ngăn sẽ có bào tử hình thành đính trên cuống dạng hình chai Loài nấm này có nhiều độc tố và có thể gây bệnh ở trong phòng thí nghiệm, cho nên người ta cần lưu ý sự nhiễm của nấm này
7.4 Điều trị:
Khi bị nhiễm bệnh cấp tính có thể dùng amphotericin B Tuy nhiên cũng có thể dùng itraconazol và ketoconazol cũng có tác dụng Itraconazol có thể dùng điều trị duy trì
MỘT SỐ CÁC PHƯƠNG PHÁP XÉT NGHIỆM,
Trang 21Trong công tác xét nghiệm nấm cần chú ý điều kiện vệ sinh dụng cụ và không khí xung quanh ở nơi làm xét nghiệm, vì trong không khí các bào tử và sợi nấm tạp thường xuất hiện Nên không chú ý vệ sinh sạch sẽ dễ lây nhiễm ảnh hưởng kết quả xét nghiệm
+ Một số yếu tố có liên quan đến kết quả xét nghiệm:
- Bệnh phẩm: khi làm xét nghiệm phải ngừng thuốc điều trị kháng nấm ít nhất 1-2 tuần trước khi xét nghiệm (thuốc uống và thuốc bôi)
- Nếu không ngừng thuốc thì vi nấm tạm thời "biến mất" "thể lặn" làm cho
kỹ thuật viên tìm không ra
- Các thuốc mỡ tồn tại trên da, trong vi trường có nhiều hạt mỡ khó xem, làm cản trở tầm nhìn của người quan sát
- Các thuốc màu làm cho da bị nhuộm màu, xanh hay tím, đỏ, làm che khuất cấu trúc của vi nấm
- Người quan sát phải có định hướng trên cơ sở tóm tắt của lâm sàng
1.1 Xét nghiệm nấm ngoài da soi dưới kính hiển vi (phương pháp cạo vẩy):
1.1.1 Bệnh phẩm để xét nghiệm trực tiếp nấm ngoài da:
Có thể là tóc, lông, vẩy da đầu, vẩy da mặt, chân tay, bụng bẹn, kẽ chân, móng chân, móng tay v.v Vẩy da bệnh phẩm được lấy từ các nơi viêm nhiễm nghi có nấm, bệnh phẩm thường được lấy tại phòng xét nghiệm nấm
1.1.2 Dụng cụ phương tiện:
Dao đầu nhọn, dao chích, kéo, kim, que cấy, phiến kính sạch, lamen, gạc, bông cồn 70, đèn cồn để đốt, kính hiển vi có vật kính 10 x thị kính 10 Để xét nghiệm nấm lang ben người ta còn dùng băng dính (phương pháp Porto)
1.1.3 Thuốc thử:
+ Thuốc nhuộm gram để xét nghiệm trực tiếp nhuộm nấm men
+ Dung dịch KOH 20% để xét nghiệm nấm da
Trang 22+ Để làm tiêu bản xét nghiệm được trong, giữ tiêu bản được lâu dài phục vụ xét nghiệm và huấn luyện thì dùng dung dịch KOH có thêm glycerin theo công thức sau hoặc thêm dung dịch DMS0, hoặc thêm mực Parker
+ Khi lấy bệnh phẩm xong thì nhỏ 1 - 2 giọt dung dịch KOH vào giữa bệnh phẩm Sau đặt lên trên bệnh phẩm một lamen sạch vô trùng dùng đầu mũi dao
ấn nhẹ xuống lamen để dàn đều bệnh phẩm trên lam kính, để nhiệt độ phòng 45 phút rồi soi hoặc hơ phiến kính bệnh phẩm trên ngọn đèn cồn, ta hơ đi hơ lại nhẹ nhàng cho nóng đến khi "hơ sủi" bọt thì ngừng, để nguội 5 phút rồi soi dưới kính Chú ý: khi soi bệnh phẩm phải đều khắp các vi trường để tìm sợi nấm, đường kính sợi nấm từ 5 - 10 micronmet Sợi nấm, đoạn sợi hay bào tử đốt có thể bộc lộ trên các đám tế bào sừng của tổ chức da hoặc hoặc đứng riêng rẽ tách rời khỏi tế bào
da, cần phân biệt sợi nấm với các sợi khác Sợi nấm thường cong queo, ngoằn ngoèo, mềm mại, có khi phân nhánh; thành sợi nấm thường dầy và chiết quang hơn Trả lời kết quả:
- Soi có sợi nấm, đoạn sợi nấm hoặc có bào tử nấm
- Hoặc: không thấy sợi nấm, đoạn sợi nấm hoặc không thấy có bào tử nấm Trường hợp cần xác định loài nấm thì phải nuôi cấy phân lập rồi xác định loài nấm
Trang 231.2 Xét nghiệm trực tiếp nấm hệ thống (systemic mycosis):
Nấm hệ thống thường là nấm men candida hay sợi nấm gây bệnh ở trong các
tổ chức của cơ thể người
1.2.1 Phương tiện để xét nghiệm trực tiếp nấm hệ thống:
+ Kính hiển vi có vật kính dầu (dầu bách hương)
+ Dung dịch nhuộm soi: gram
Fuchsin bazơ 0,5 gam
Iod metylic 0,1 gam
KI 0,1 gam
Cồn 70 vừa đủ 100 ml
- Dầu bách hương
- Xy − len để lau tiêu bản
- Bệnh phẩm: thường do các khoa lấy bệnh phẩm trực tiếp từ bệnh nhân gửi đến phòng xét nghiệm nấm trong các dụng cụ tăm bông, ống nghiệm, phương tiện đã vô trùng Bệnh phẩm có thể là đờm, dịch niêm mạc lưỡi, dịch họng, dịch phế quản, mủ tai, dử mắt, dịch não tuỷ, dịch phân, dịch âm đạo, niệu đạo, máu hoặc ở các nơi viêm nhiễm trong cơ thể hay ở ngoài da (như ở bệnh nhân bỏng)
1.1.4 Kiểm tra soi tiêu bản bệnh phẩm và đánh giá kết quả: