Khi khớp cử động, đầu xương có thể quay theo trục ngang, trục dọc hoặc theo nhiều trục, có thể quay theo một trục, hai hay ba trục, tuỳ theo các động tác của khớp, trong ba chiều của k[r]
Trang 1ĐẠI CƯƠNG HỆ VẬN ĐỘNG
Đặc điểm phân biệt chủ yếu giữa động vật và thực vật là sự thích ứng của động vật với môi trường xung quanh nhờ bởi sự vận động Các sinh vật trên trái đất có 3 loại vận động
- Loại vận động kiểu amibe nhờ chất nguyên sinh
- Loại vận động nhờ các lông chuyển Ví dụ: con thảo trùng
- Loại vận động nhờ các cơ ở đại đa số các động vật
Phản ánh quá trình phát triển chủng loại ở con người, cũng có 3 loại vận động đó:
- Vận động kiểu amibe của bạch cầu
- Vận động kiểu lông chuyển của biểu mô
- Vận động do sự co thắt của các cơ vận (làm cho cơ thể và các bộ phận cơ thể chuyển động) và của các cơ trơn (làm cho các tạng và các mạch máu hoạt động)
Hệ vận động của cơ thể gồm 2 phần:
- Phần thụ động gồm bộ xương và liên kết giữa các xương (các khớp)
- Phần hoạt động gồm các cơ
Hai phần này có liên quan mật thiết với nhau về chức phận và cùng phát sinh
ở một nguồn gốc, từ trung bì (mesoderma) Ở người lớn, cơ quan vận động chiếm
72,45 % trọng lượng cơ thể, trong đó cơ chiếm 2/5 và xương chiếm 1/5 trọng lượng cơ thể
1.3 Nhiệm vụ vận động:
Trang 2Các xương tiếp khớp với nhau và là nơi bám của các cơ (nên các cơ này còn gọi là cơ xương), do vậy xương là chỗ dựa vững chắc cho các cơ hoạt động Xương được coi như một đòn bẩy và đóng vai trò bị động trong cả bộ máy vận động (gồm xương, cơ và thần kinh) Khi bị kích thích, cơ co ngắn lại hay duỗi dài ra, làm xương vận động được và cơ thể được chuyển vận toàn bộ hay một bộ phận để đáp ứng với nhu cầu cần thiết
1.4 Các chức năng khác:
Xương còn là cơ quan sinh sản ra hồng cầu Nếu vận động được nhiều thì tạo được nhiều điều kiện cho việc tạo huyết Ngoài ra, xương còn tham gia vào việc trao đổi chất sắt và chất vôi Như vậy, xương không phải là cơ quan chết, mà là
cơ quan sống của cơ thể, sinh trưởng và phát triển như những cơ quan khác
Gồm 8 xương sọ và 14 xương mặt họp thành hộp sọ và khối xương mặt
2.3 Xương chi trên và chi dưới
Chi trên dính vào thân bởi đai vai (gồm có xương đòn và xương vai); chi dưới dính vào thân bởi đai chậu (gồm có 2 xương chậu dính thẳng vào xương cùng), nên chi dưới có chỗ tựa vững chắc để nâng đỡ thân người
Mỗi chi có 3 đoạn: cánh tay hoặc đùi, cẳng tay hoặc cẳng chân, bàn tay hoặc bàn chân (gồm có cổ tay hoặc cổ chân, bàn tay hoặc bàn chân, ngón tay hoặc ngón chân)
3 Hình thể ngoài các xương
3.1 Phân loại:
208 xương của cơ thể có nhiều hình thể khác nhau, chia làm 5 loại:
- Xương dài (xương ở chi): gồm có 1 thân xương (diaphysis) và hai đầu (epiphysis), phần nối giữa đầu và thân xương là cổ (collum)
- Xương ngắn: hình thể như xương dài, gồm các xương bàn tay, bàn chân,
ngón tay, ngón chân
- Xương dẹt: xương sọ, xương bả vai, xương ức, xương chậu
- Xương khó định hình: gồm các xương hình thể phức tạp (xương hàm trên,
xương thái dương, xương sàng, xương bướm)
- Xương vừng: các xương nằm ở giữa các gân cơ
Trang 33.2 Mô tả bên ngoài của một xương
Xương có chỗ lồi, chỗ lõm Xương trẻ em nhẵn nhụi hơn xương người lớn Xương nam gồ ghề hơn xương nữ, xương người lao động chân tay thường to, chắc, với các lồi lõm phát triển nhiều hơn người ít lao động hoặc ít rèn luyện thân thể
Sự lồi lõm chia thành hai loại: loại tiếp khớp (diện khớp) và loại không tiếp khớp (diện không khớp)
- Diện khớp : lõm như ổ chảo, ổ cối , lồi như chỏm (capitis) , lồi cầu (condylus), ròng rọc (trochlea) Các diện khớp phần lớn là do một điểm cốt hoá
phụ tạo nên
- Diện không khớp: lồi củ (tuberositas), củ (tuberculum), mỏm (processus), mấu động (trochiter), mấu chuyển (trochanter), ụ (protuberantia), gai (spina), mào (crista), hố (fosa, fovea, foveola), rãnh, khe (sulcus), lỗ (foramen), ống, đường (canalis, canaliculus), cống (aqueductus), khuyết, mẻ (incisura)
Các lồi, lõm được tạo nên là do các cơ bám và tuỳ theo hoạt động của các cơ mà lồi lõm nhiều hay ít Các rãnh, khe, ống là do mạch máu hay thần kinh tạo nên khi chạy qua, xẻ vào xương hoạc xiên qua xương Ngoài ra, ở một số xương sọ mặt, có
các hốc xương ở giữa, gọi là xoang (sinus) hoặc hang (antrum); các xoang làm xương
sọ mặt nhẹ đi, đầu bớt nặng Các xoang này thông với mũi (trừ các xoang ở xương chũm) và tạo nên các thùng cộng hưởng cho tiếng nói
4 Hình thể trong của xương
Xét về đại thể, xương được cấu tạo gồm :
4.1 Xương đặc (substantia compacta):
Là một lớp xương mịn, chắc rắn, màu vàng nhạt, thường bao quanh thân xương, tạo nên một ống xương dầy ở quãng giữa và mỏng dần ở hai đầu Nơi nào
mà xương phải chịu sức ép nhiều hoặc bị lực kéo nhiều (như ở chỗ cong của thân xương) thì ở đó có nhiều xương đặc Ở xương dẹt, xương đặc tạo hai bản xương: bản ngoài dày và chắc, bản trong mỏng dễ vỡ ; giữa hai bản là tổ chức xốp Các xương sọ đều được tạo nên bởi hai bản, nên khi va chạm vào bên ngoài thì bên trong bị rạn vỡ, làm tổn thương đến các mạch máu chạy sát xương và làm toạc màng não
4.2 Xương xốp (substantia spongiosa):
Xương xốp tạo nên một lớp xương ở bên trong lớp đặc Lớp này gồm các
bè xương bắt chéo, chằng chịt, để hở những hốc nhỏ giống như bọt bể, trong
đó có các tuỷ đỏ Các bè xương đều hướng theo một chiều nhất định, phù hợp với chức năng của xương ( theo chiều những lực mà xương phải chịu đựng: ví
Trang 4dụ các bè của xương chày chịu đựng sức nặng cơ thể theo chiều dọc) Các bè xương có thể được xây dựng hoặc phân bố lại, khi một lực nào tác động thường xuyên, tăng hoặc giảm trên đầu hay thân xương Kiến trúc của xương phù hợp với quy luật chung của kiến trúc xây dựng (ví dụ như các bè xương ở đầu xương đùi), với một số lượng chất nhất định, các bè xương được xếp đặt
để cho xương có một độ chắc cao nhất
4.3 Cốt mạc (periosta):
Cốt mạc (hay màng xương) là một lớp màng liên kết mỏng, chắc, bao phủ
toàn mặt ngoài xương, trừ ở diện khớp được bao bọc bởi một sụn trong Cốt mạc dính chặt vào xương bởi những sợi liên kết, gồm hai lá:
- Lá ngoài có tác dụng che chở xương Ở đây có nhiều nhánh tận thần kinh,
nên ta thấy đau khi xương bị va chạm
Trang 5- Lá trong có tác dụng sinh xương, mang nhiều mạch máu, thần kinh và có
nhiều tế bào non làm xương dày thêm và phát triển về bề ngang Khi mổ gẫy xương, không nên dọn sạch các mảnh cốt mạc, cũng như khi cắt bỏ một xương, thì phải giữ lại cốt mạc, để xương có thể tái tạo được
4.4 Ống tuỷ (cavum medullare):
Ống tuỷ của xương dài, cũng như các bè xương trong xương xốp, có tác dụng làm xương nhẹ bớt (giảm bớt số lượng vật chất cần thiết cho cấu trúc xương) và làm tăng sức chống đỡ của xương đối với sức ép, sức kéo
Trong ống tuỷ và các loại hốc giữa các bè xương của xương xốp, có tuỷ xương Có hai loại: tuỷ đỏ và tuỷ vàng
- Tuỷ đỏ (medulla ostium rubra): Tuỷ đỏ có nhiều ở thai nhi và trẻ sơ sinh; ở
người lớn, tuỷ đỏ chỉ có ở các hốc xương xốp Tuỷ màu đỏ vì có nhiều mạch máu,
cơ bản là tổ chức lưới nội mô Trong tổ chức này, có các tế bào đã trưởng thành,
tế bào non, tế bào khổng lồ và các tế bào huỷ xương Ở người lớn có khoảng 1300g tuỷ đỏ Tuỷ đỏ là một trong những cơ quan tạo huyết và có chức năng đưa mạch máu đến nuôi mặt trong xương, giúp cho xương lớn mạnh và phát triển
- Tuỷ vàng ( medulla ostium flava ), ở trong ống tuỷ của các xương dài người
lớn, xốp và nhẹ, chủ yếu có nhiều tế bào mỡ
4.5 Mạch máu xương:
Có hai loại chính:
- Mạch nuôi xương: động mạch từ ngoài chui qua lỗ nuôi xương chạy vào
trong một ống xiên chếch và được xẻ trong xương để đi tới ống tuỷ Trong ống tuỷ, động mạch chia làm hai nhánh chạy dọc theo chiều dài của ống tuỷ và phân chia dần thành các nhánh nhỏ để vào tuỷ và vào xương đặc
Các nhánh nuôi xương chui vào các ống Havers hoặc nối tiếp rộng rãi với các nhánh mạch nhỏ của cốt mạc
- Mạch nhỏ của cốt mạc: ở thân xương, đầu xương hay chung quanh các
diện khớp
5 Sự tái tạo xương
Khi xương gãy, ở đầu và giữa hai đoạn gãy sẽ phát triển một khối tổ chức liên kết Tổ chức này phần lớn ở cốt mạc sinh ra, phần nhỏ ở cân cơ, mạch máu, tuỷ xương, ống Havers Sau đó, do có muối canxi mang lại tổ chức liên kết sẽ biến thành xương, không qua thời kỳ sụn Chỉ trong trường hợp đặc biệt, khi hai đoạn xương không ghép lại gần thì mới có tổ chức sụn nhưng sụn này không bao giờ hoá xương nên ở chỗ gãy hình thành khớp giả
6 Kết luận
Trang 6Xương có nhiệm vụ bảo vệ, nâng đỡ và vận động Tuỷ xương là nơi sản xuất hồng cầu Hình thể, kiến trúc và cấu tạo của xương phù hợp với chức năng của mỗi xương
- Kiến trúc các bè, các hốc, các ống tuỷ đảm bảo cho xương "một độ chắc cao nhất, xây dựng trên một số lượng vật chất tiết kiệm nhất"
- Thành phần hoá học bảo đảm hai đặc tính của xương: tính đàn hồi và độ rắn chắc khá lớn
Xương là một chất sống, vì có một màng mạch phong phú và vì kiến trúc, hình thể luôn đổi mới (kiến thiết và phá huỷ) giúp cho xương luôn luôn phát triển không ngừng
Xương trong quá trình phát triển, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố bên trong
và bên ngoài Ảnh hưởng bên trong: do các tuyến nội tiết (tuyến yên, tuyến cận giáp ), hệ thần kinh, các cơ và các huyết quản Ảnh hưởng bên ngoài: do lao động hoặc thể dục thể thao
Cơ càng hoạt động xương càng phát triển Khi cơ co bóp lâu và có hệ thống, thì chuyển hoá vật chất trong xương sẽ biến đổi và làm cho xương tăng trưởng
Ở những người lao động nặng, xương dài và to hơn so với xương của những người lao động nhẹ Khi xương chịu đựng lâu dài một lực nào hay một sức ép nào, thì các bè xương được sắp xếp theo chiều hướng của lực hoặc của sức ép đó, làm cho xương có một độ rắn chắc cao nhất
Tập thể dục thể thao hàng ngày cũng làm cho xương phát triển tốt, tạo điều kiện cho con người nói chung phát triển thêm lên
HỆ KHỚP
Khớp xương là nơi mà các xương liên kết lại với nhau Lúc còn phôi thai, ở giữa các xương, có tổ chức liên kết hoặc sụn trung gian Các tổ chức này sẽ biến đổi tiếp theo tuỳ theo chức năng của xương Nếu là xương dùng để bảo vệ (như hộp sọ) thì khớp rất chặt (khớp bất động) Nếu là xương vận động nhiều (như xương tứ chi ) thì giữa các đầu xương có môt khoang giúp cho xương cử động dễ dàng (khớp động) Ngoài ra có loại trung gian (khớp bán động), khác khớp bất động ở chỗ có bao khớp, khác khớp động ở chỗ không có ổ khớp và nếu có chỉ là một khe
Vậy về phương diện động tác, khớp xương chia làm 3 loại: khớp bất động, khớp bán động và khớp động
Trang 71 Khớp bất động
Khớp bất động (synarthrosis) gồm các khớp ở sọ và mặt Hai xương mắc chặt
vào nhau bởi tổ chức liên kết sợi hoặc sụn trung gian, mà không có khoang ở giữa hai xương Chạm thương vào các khớp này thì không làm sai khớp mà chỉ làm gẫy hoặc dập xương Người ta phân chia khớp bất động thành hai loại:
1.1 Khớp bất động sợi (syndesmosis hay junctura fibrosa)
Hai xương mắc vào nhau theo nhiều cách:
- Khớp răng (sutura serrata): hai xương khớp nhau theo hình răng cưa, ví dụ
khớp trán đỉnh, khớp đỉnh chẩm
- Khớp vảy (sutura squamosa): xương nọ lợp lên xương kia như vảy cá, ví dụ
khớp trai đỉnh
- Khớp nhịp (sutura plana): hai xương lắp đều đặn ăn nhịp với nhau, ví dụ
khớp giữa hai xương sống mũi
- Khớp mào: mào của một xương lắp vào khe của một xương khác, ví dụ
khớp bướm lá mía
1.2 Khớp bất động sụn: (synchondrosis hay junctura cartilaginea): một sụn
đính chặt hai đầu xương vào nhau và ở phía ngoài thì liên tiếp với cốt mạc của hai đầu xương, ví dụ thân bướm đính vào mỏm nền xương chẩm, mỏm trâm đính vào xương đá
Các khớp bất động sợi và sụn có thể giữ nguyên mãi mãi (ví dụ sụn kết hợp
giữa xương sườn và xương ức), hoặc sau một thời gian sẽ biến thành tổ chức xương (ví dụ các thóp ở trẻ em)
Trang 8Khớp bán động (ampiarthrosis) là những khớp cử động được rất ít, ở giữa hai
đầu xương, có một đĩa sợi hay sợi sụn đính liền hai xương vào nhau
2.1 Các khớp ở hai thân đốt sống:
Giữa thân hai đốt sống, có một đĩa sợi sụn liên đốt (được coi như một dây chằng liên cốt) Ngoài ra còn có một dây chằng ngoại vi (dây chằng đốt sống chung ở trước và sau) nối hai đốt sống vào nhau bởi các sợi sâu và nối chung nhiều đốt sống vào nhau bởi các sợi nông
2.2 Khớp mu và khớp cùng chậu:
Các khớp này khác với các khớp trên là đĩa liên cốt có ở giữa một khe được coi như một ổ khớp, khe này được phát triển rộng lớn lúc phụ nữ sắp đẻ, làm cho khớp giãn ra và xê dịch được nhiều hơn
3 Khớp động
Khớp động (diarthrosis) là những khớp cử động nhiều (ví dụ các khớp chi)
Nhưng cũng có những khớp cử động tương đối
ít cũng thuộc vào loại này (ví dụ khớp ở cổ tay
cổ chân) Đặc tính của các khớp động là có ở
giữa hai xương một ổ khớp Ổ khớp là một
khoang đóng kín, không thông với bên ngoài,
không có không khí ở trong, nên áp lực ở
ngoài sẽ ấn và giữ chặt hai đầu xương vào
nhau
Một khớp động gồm có: mặt khớp (diện
khớp), sụn khớp, bao khớp và bao hoạt dịch
3.1 Mặt khớp
Mặt khớp (facies articulares) có hình thể khác nhau, tuỳ theo tính chất động
tác của từng khớp Nói chuung vì hai diện khớp phải lắp vào nhau, nên hình thể đối chiếu với nhau, diện này lồi thì diện khớp kia lõm Tuỳ theo hình thể người ta
Hình 15: Khớp bán động
Trang 9phân ra các loại khớp
- Khớp phẳng (articulation plana): hai mặt khớp cùng phẳng, khớp này chỉ có
động tác trượt; ví dụ khớp cùng vai - đòn
- Khớp lồi cầu (articulation condylaris): một mặt khớp tròn, lồi cầu, một
mặt lõm là hõm khớp (ổ chảo) Động tác của khớp rộng rãi là: gấp, duỗi, xoay vòng, ví dụ: khớp cánh tay quay Có thể một khớp có hai lồi cầu, ví dụ khớp hàm - thái dương
- Khớp chỏm (articulation spheroidea): một mặt khớp là chỏm, một mặt khớp
là ổ chảo hay ổ cối Khớp chỏm có động tác rộng rãi như khớp lồi cầu và có thể dạng, khép, quay tròn, ví dụ khớp vai, khớp chậu - đùi
- Khớp ròng rọc (articulation trochoidea): một mặt khớp là ròng rọc, một
mặt khớp với mào giữa và rãnh bên, phù hợp với ròng rọc Khớp ròng rọc chỉ
có động tác gấp duỗi, ví dụ khớp gối và bánh chè, khớp trụ - cánh tay, khớp ngón tay, ngón chân
- Khớp trục (articulation axialis): một mặt khớp là vành khăn, một mặt là
hõm khớp (ổ chảo), mặt vành khăn quay trong hõm khớp, ví dụ khớp trụ - quay
Hình 16: Sơ đồ cấu tạo khớp động
A - Khớp động giữa 2 đầu xương dài
B - Khớp thái dương - hàm dưới
1 Hố hàm dưới; 5 Bao hoạt dịch 8 Túi hoạt dịch
2 Mỏm gò má x thái dương; 6 Sụn viền 9 Bao khớp
3 Sụn chêm 7 Màng xương 10 Ổ khớp
4 Chỏm x hàm dưới
Trang 10- Sụn bọc (cartilago articularis): mặt khớp được bọc một lớp sụn dày từ
1,5mm đến 2mm, gọi là sụn bọc (thuộc loại sụn trong) Sụn rất trơn, nhẵn và đàn hồi, được coi như miếng nệm lò so giữa hai mặt khớp
- Sụn viền (discus articularis hay labrum glenoidale)
Trong khớp chỏm, nếu chỏm quá to mà hõm khớp lại hẹp và nông, thì có xung quanh hõm khớp 1 sụn viền làm cho hõm này rộng và sâu thêm tạo như
1 ổ (ổ chảo, ổ cối ), để chỏm lắp vào chắc hơn, ví dụ khớp vai, khớp hông
- Sụn chêm (meniscusdiscus articularis): khi hai mặt khớp không ăn
khớp với nhau về hình dáng, thì có một sụn chêm lót ở giữa hai mặt khớp; sụn chêm đi chuyển theo động tác của khớp, còn sụn viền thì cố định Sụn chêm còn có tác dụng giảm nhẹ những va chạm ở khớp, ví dụ sụn chêm ở khớp gối, sụn chêm ở khớp hàm - thái dương
Trang 11Hình 18: Khớp hai trục
A - Kiểu soan B - Kiểu lồi cầu C - Kiểu yên
1 Đốt bàn ngón I 3 Nhìn nghiêng
2 Xương thang 4 Nhìn thẳng
3.3 Nối khớp Các phương tiện nối khớp gồm có:
- Bao khớp (capsula articularis hay membrana fibrosa) là một bao tổ
chức liên kết sợi bọc xung quanh khớp và giữ liền hai đầu xương vào nhau Bao khớp bám với bờ xung quanh các mặt khớp Bao khớp có chỗ dầy và chỗ mỏng tuỳ theo chiều động tác của khớp Ở chỗ dày sẽ lại thành
các dây chằng (ligament) Ví dụ, bao khớp của khớp khuỷu mỏng ở trước
và ở sau, rất dày ở hai bên, để cẳng tay không chuyển được sang bên, mà chỉ gấp duỗi được
Bao sợi có nhiều mạch máu và thần kinh Bao sợi có tác dụng bảo vệ khớp Bao sợi rất chắc và dai, nên có trường hợp đầu xương bị gãy trong ổ khớp, mà bao sợi vẫn còn nguyên vẹn
- Dây chằng liên cốt ở giữa hai đầu xương Dây chằng này ở giữa hai
xương chứ không ở giữa khớp, vì nằm ngoài ổ khớp, và nằm ngoài bao hoạt dịch Thường dây chằng rất ngắn, rất chắc Ví dụ: dây chằng liên cốt ở khớp sên - gót, dây chằng tròn ở khớp hông, tuy là gân của một cơ thoái hoá, cũng được coi là một dây chằng liên cốt giả
Hình 19: Khớp nhiều trục
A - Kiểu chỏm B - Kiểu phẳng
Trang 12SƠ ĐỒ PHÂN LOẠI KHỚP
- Dây chằng xa không thuộc vào bao khớp và nối hai xương xa nhau Các dây
chằng xa khác các dây chằng của bao khớp là co dãn được và có màu vàng (vì có nhiều sợi đàn hồi) Ngoài ra, các khớp còn được tăng cường bởi các gân của các
cơ, bám vào các đầu xương ở xung quanh khớp
Khi khớp bị va chạm mạnh, hay lúc ta trượt chân hoặc ngã, hai mặt khớp
xê xích nhiều làm một mặt khớp trật hẳn ra ngoài khớp, gây sai khớp Trong trường hợp mà mặt khớp chỉ bị di chuyển rồi lại lắp vào nhau, nhưng lại làm bao khớp rách và các dây chằng bị bong rời khỏi chỗ bám, thì gây nên giãn dây chằng (hay bong gân)
3.4 Bao hoạt dịch (membrana synovialis):
Bao hoạt dịch là một lớp thanh mạc lót tất cả các mặt trong bao khớp, đính ở
hai đầu xương và xung quanh sụn bọc hoặc rất gần sụn bọc của mặt khớp Khi có gân cơ hoặc có dây chằng đi vào trong khớp để tới bám đầu xương, thì thanh mạc sẽ bọc quanh các gân và các dây chằng đó Vậy là các gân và các dây chằng này ở trong bao khớp, nhưng ở ngoài bao hoạt dịch
Lớp thanh mạc cùng với sụn bọc tạo nên ổ khớp (cavum articulare) Thanh
Yê
n Chỏm
Trang 13mạc khi đi từ sụn bọc đến bao khớp, thì tạo nên các nếp gấp hoặc các diềm hay các túi bịt ở các khe, ở dưới các gân cơ Ổ khớp và các túi bịt thường xuyên chứa
đựng một chất nhờn là hoạt dịch (synovia) để làm khớp cử động dễ dàng
Ổ khớp là một khoang kín trong đó áp lực là âm tính, vì vậy luôn bị áp lực ngoài trời tác động tới làm cho các mặt khớp sát vào nhau Điều đó giải thích được tính nhạy cảm của khớp khi áp lực bên ngoài thay đổi lúc thời tiết xấu, ở những người bị viêm khớp mãn tính
3.5 Động tác của khớp động
Động tác của khớp tuỳ thuộc vào sự co rút của các cơ bám vào các xương ở trên và dưới khớp Động tác của khớp rộng rãi hay hạn chế là tuỳ thuộc ở chức phận của khớp
- Trượt lên nhau (khớp phẳng)
Khi khớp cử động, đầu xương có thể quay theo trục ngang, trục dọc hoặc theo nhiều trục, có thể quay theo một trục, hai hay ba trục, tuỳ theo các động tác của khớp, trong ba chiều của không gian
Ví dụ về hướng của trục:
Trong động tác gấp duỗi của cẳng tay, trục quay của khớp khuỷu thẳng góc
với chiều dài của xương (trục ngang)
Trong động tác sấp ngửa của cẳng tay, trục quay của khớp quay trụ song
song với chiều dài của xương (trục dọc)
Trong động tác của cánh tay và của đùi, khớp vai và khớp hông quay theo ba
trục (trục ngang, trục dọc và trục đứng thẳng)
Ví dụ về số trục:
Khớp 1 trục: khớp cánh tay trụ (trục ngang) mà động tác là gấp duỗi ; khớp quay trụ trên (trục dọc) mà động tác là sấp ngửa (khớp trục: art trochoidea) Khớp 2 trục: khớp cổ tay và cẳng tay (khớp lồi cầu: art condylaris) mà
động tác là gấp duỗi và nghiêng bên; khớp thuyền - đốt bàn tay mà động tác cũng
là gấp duỗi và nghiêng bên
Khớp 3 trục: khớp vai, khớp hông (khớp chỏm cầu: art spheroidea) mà
động tác là gấp duỗi, khép dạng và quay vòng