1. Trang chủ
  2. » Nghệ sĩ và thiết kế

Đại cương hệ tuần hoàn

31 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 315,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các mạch bạch huyết từ chậu hông và hầu hết các tạng trong của chậu hông, từ các thành trước và bên của thành bụng, thường phải qua các hạch nằm cạnh các động mạch chậu và một số ngàn[r]

Trang 1

ĐẠI CƯƠNG HỆ TUẦN HOÀN

1 Các khái niệm chung

Hệ tuần hoàn gồm có:

- Tim là cơ quan trung ương, co bóp để hút và đẩy máu

- Các mạch máu từ tim ra ngoài và từ ngoài về tim

1.1 Sự phân loại các mạch máu:

Các mạch máu được chia thành:

1.1.1 Các động mạch:

Động mạch (arteria) là các mạch đưa máu từ tim đến các cơ quan (kể cả

phổi) Mạch máu càng đi xa tim, càng phân nhỏ ra Các động mạch đập theo nhịp

co bóp của tim Máu trong các động mạch thuộc hệ chủ có máu đỏ tươi, vì hồng cầu của máu có oxy Còn máu thuộc về hệ động mạch phổi thường đỏ sẫm, vì có

ít oxy và nhiều CO2 Nhiều nguồn động mạch có thể cung cấp máu cho một vùng

cơ hay cho một tạng Do đó chỗ nào có nhiều cơ, thường có các động mạch đến phân nhánh nối với nhau, tạo thành các vòng nối động mạch Ở các tạng, các động mạch phân nhánh thành các động mạch ngoài tạng và động mạch trong tạng Các nhánh nhỏ nhất của động mạch ở trong các tạng có thể tiếp nối rất ít và được coi như không tiếp nối với nhau Nên động mạch này được gọi là động mạch tận (ví dụ: các nhánh của động mạch lách, động mạch ruột)

Ở nơi xuất phát động mạch chủ và động mạch phổi có các van tổ chim, ngăn không cho máu trở về tim

1.1.2 Các tĩnh mạch:

Tĩnh mạch (vena) đưa máu từ cơ quan về tim Các nhánh nhỏ tập trung dần

thành các tĩnh mạch lớn Cuối cùng, có 2 tĩnh mạch lớn: tĩnh mạch chủ trên và tĩnh mạch chủ dưới đổ về tim Tĩnh mạch thường ở sâu, đi kèm theo động mạch Các động mạch nhỏ thường có 2 tĩnh mạch, các động mạch lớn chỉ có 1 tĩnh mạch đi kèm Ở lớp tổ chức mỡ dưới da, chỉ có các tĩnh mạch nông không kèm theo động mạch

Tĩnh mạch có các van, nhất là ở vùng nửa dưới cơ thể (phía dưới của tim) Các van tĩnh mạch có tác dụng cho máu chảy theo một chiều về tim, ngăn máu không để cho máu chảy ngược lại Nếu van hở hoặc yếu làm dòng máu dồn trở lại, gây dãn tĩnh mạch

1.1.3 Các mao mạch:

Các mao mạch là các mạch máu rất nhỏ (đường kính từ 5 đến 40 ).Các mao mạch nối với nhau thành mạng lưới Mạng lưới mao mạch được phân bố rộng rãi

Trang 2

trong toàn bộ cơ thể (hệ cơ, hệ xương, trong các thành mạch máu và dây thần kinh ) Lưới mao mạch nối các động mạch và các tĩnh mạch với nhau

1.2 Cấu tạo của thành mạch:

Thành mạch máu có 3 lớp:

- Lớp trong (tunica intima): Gồm các tế bào nội bì và các sợi liên kết đàn hồi, tạo nên lớp niêm mạc lát (endothelium), phủ lên các van của động mạch hoặc tĩnh

mạch, liên tiếp với tế bào nội mô của mạch máu và màng trong tim

- Lớp giữa (tunica media): gồm các sợi cơ trơn và các sợi liên kết đàn hồi, tổ

chức này tạo nên vòng tròn bao quanh mạch máu

+ Ở các động mạch lớn, lớp giữa dày hơn, gồm nhiều thớ cơ trơn Ở các động mạch nhỡ và nhỏ, các vòng thớ cơ trơn nhiều lên, các sợi đàn hồi ít hơn Do đó, các động mạch có thể co thắt hoặc nở dãn; khi bị đứt, động mạch không thể tự xẹp được, ta phải thắt động mạch

+ Ở các tĩnh mạch, lớp giữa mỏng hơn, gồm các cơ trơn có thớ dọc và thớ vòng, và có nhiều sợi đàn hồi Khi bị đứt, các tĩnh mạch nhỡ và nhỏ có thể tự xẹp xuống

- Lớp ngoài (tunica adventitia): Gồm các sợi tổ chức liên kết đàn hồi Trong lớp ngoài, có các mạch (vasa vasorum) nuôi dưỡng các thành mạch và

các sợi thần kinh giao cảm làm co thắt mạch (các sợi vận mạch) và các sợi thần kinh cảm giác

Thành mao mạch không có các sợi cơ, mao mạch có thể nở giãn hoặc co thắt được Thành của một số mao mạch (ví dụ mao mạch tim, gan, ) có các khoảng thủng, qua đó các tế bào nhu mô của tạng tiếp xúc trực tiếp với máu Các thành phần của máu, chủ yếu là huyết tương, thấm qua thành mao mạch và các kẽ gian bào, tạo thành môi trường Trong môi trường đó, các tế bào thực hiện các hoạt động dinh dưỡng

1.3 Vòng tuần hoàn máu:

Hệ tuần hoàn máu gồm 2 vòng:

+ Vòng tuần hoàn lớn gồm:

- Động mạch chủ từ tim đi ra và phân nhánh đến các cơ quan

- Hai tĩnh mạch chủ (trên và dưới) đưa máu từ các cơ quan về tim

+ Vòng tuần hoàn bé gồm:

- Động mạch phổi đưa máu từ tim lên phổi

- Các tĩnh mạch phổi đưa máu từ phổi về tim

Máu trong động mạch phổi màu đỏ sẫm, vì có cacboxyhemoglobin; máu

Trang 3

Sự thực, chỉ có một vòng tuần hoàn (tuần hoàn đóng kín) Máu từ tâm thất trái chảy vào động mạch chủ, tới các cơ quan Rồi qua các tĩnh mạch chủ, về nhĩ phải và chảy xuống tâm thất phải Rồi từ đấy chảy lên phổi (động mạch phổi) và quay về nhĩ thất trái (tĩnh mạch phổi), để rồi chảy xuống tâm thất trái

2 Các quy luật phân phối động mạch

2.1 Quy luật về đường đi của các động mạch:

2.1.1 Động mạch đến cơ quan theo đường ngắn nhất:

Tuy vậy, vị trí bào thai của tạng có vai trò quyết định trong sự phân phối của động mạch Ví dụ: ở bào thai, tinh hoàn ở 2 bên cột sống trong vùng thắt lưng và

ở người lớn tinh hoàn nằm trong bìu Động mạch nuôi tinh hoàn tách từ dộng mạch chủ, còn bìu do các lớp của thành bụng tạo nên khi chĩu xuống, thì do các động mạch đùi cấp máu

2.1.2 Các động mạch nằm ở mặt gấp của cơ thể:

Do đó, động mạch được bảo vệ tốt Ví dụ: các mạch máu ở chi trên ở mặt trước Động mạch đùi ở mặt trước, còn các mạch máu khác ở chi dưới thì ở mặt sau

2.1.3 Các động mạch được bảo vệ trong các màng và các ống, tạo nên bởi xương, cơ và gân:

Nếu các mạch được bảo vệ tốt, thì ít khi bị ép và tổn thương

2.1.4 Các động mạch lúc đến các nội tạng phải qua mặt trong hay mặt lõm của tạng

Rốn tạng hướng về động mạch chính (ví dụ rốn thận, rốn gan hướng về động mạch chủ)

2.1.5 Động mạch thích nghi với chức phận từng cơ quan:

Ở các cơ quan phải hoạt động nhiều, các động mạch tách ra nhiều nhánh tiếp nối với nhau thành các lưới mạch (ví dụ ở các khớp xương) hoặc tạo nên các cung mạch (ví dụ ở thành các tạng tiêu hóa)

Kích thước của động mạch tùy thuộc vào chức phận của tạng (ví dụ: động mạch giáp lớn hơn động mạch thanh quản)

Các động mạch chạy vào các tuyến nội tiết thường bắt nguồn ở nhiều nơi (ví dụ các động mạch tuyến giáp tách ở động mạch cảnh ngoài và động mạch dưới đòn)

2.2 Quy luật phân nhánh trong các cơ quan:

- Trong xương: Động mạch nuôi xương đi vào thân xương Ngoài ra còn có

các động mạch từ màng xương (cốt mạc) và từ các đầu xương đến nuôi xương

- Ở khớp: Trong các dây chằng, mạch máu đi dọc theo các sợi liên kết và

thẳng góc với trục cử động của khớp

- Trong cơ: Mạch máu chạy song song với các bó sợi cơ và tách ra các nhánh

thẳng góc với bó sợi đó

- Trong tạng có phân thuỳ: Mạch máu đi vào trung tâm của tạng và sau đó,

phân nhánh vào các thuỳ

Trang 4

- Trong thành tạng hình ống: Nói chung các mạch máu chạy song song theo

chiều của thành ống, rồi phân nhánh thẳng góc với các thớ của thành tạng

3 Tuần hoàn bên

Khi luồng máu bị nghẽn (vì tắc mạch, thắt mạch, hay tổn thương mạch), thì máu sẽ theo các nhánh nối để xuống các bộ phận ở dưới chỗ nghẽn Đồng thời ở chỗ tổn thương sẽ sinh ra:

- Các mạch máu nối liền các đầu của động mạch hay tĩnh mạch với nhau

- Tuần hoàn bên hay phụ cận là một đặc tính thích nghi quan trọng của cơ thể,

để đảm bảo cung cấp máu được liên tục, khi mạch máu bị tắc

4 Tuần hoàn thai nhi

4.1 Tuần hoàn của rau và thai:

Tuần hoàn thai gắn liền với tuần hoàn rau Rau cùng phát sinh ở một tế bào với phôi, là cơ quan trao đổi giữa người mẹ và thai; nên rau đảm nhận tất cả chức năng đời sống mà thai chưa đủ năng lực Sự trao đổi oxy và chất dinh dưỡng đều diễn ra ở rau (chủ yếu là do thẩm dịch)

Máu chuyển oxy và chất dinh

dưỡng từ rau vào thai qua tĩnh mạch

rốn Tĩnh mạch rốn chảy vào tĩnh

mạch chủ dưới:

- Trực tiếp qua ống Arantius

- Qua tĩnh mạch cửa vào gan, rồi

qua các tĩnh mạch trên gan

Như vậy, máu trong tĩnh mạch chủ

dưới là máu hỗn hợp, gồm máu của tĩnh

mạch rốn (máu có nhiều oxy) và máu

của tĩnh mạch ở phần dưới cơ thể (máu

có ít oxy)

Tĩnh mạch chủ dưới chảy vào tâm

nhĩ phải, cùng với xoang vành tim, và

nhất là cùng với tĩnh mạch chủ trên

(tĩnh mạch này trái lại, mang toàn máu

tĩnh mạch ít oxy từ phần trên cơ thể

tới) Ở tâm nhĩ phải, một phần lớn máu

qua lỗ bầu dục (lỗ Botal) vào tâm nhĩ

trái và trộn lẫn với máu ở đó, còn một

phần nhỏ xuống tâm thất phải Từ tâm

thất phải, máu chảy vào động mạch

Hình 31: Vòng tuần hoàn thai nhi

1 Ống động mạch (Botal) 7 Ruột

2 Ống tĩnh mạch (arantius) 8 Tĩnh mạch rốn

3 Tĩnh mạch chủ dưới 9 Tĩnh mạch cửa

4 Động mạch chủ bụng 10 Tĩnh mạch gan

Trang 5

thai chưa hoạt động), rồi theo tĩnh mạch phổi về tâm nhĩ trái, còn phần lớn qua ống động mạch (nối động mạch phổi và động mạch chủ) để vào động mạch chủ xuống (nghĩa là sẽ cung cấp chủ yếu cho nửa dưới cơ thể) Máu từ tâm nhĩ trái đổ vào tâm thất trái, rồi qua động mạch chủ để chủ yếu đi lên đầu và chi trên Như vậy, đầu được cung cấp máu có nhiều oxy và có nhiều thuận lợi nhất để phát triển hơn các bộ phận khác Tóm lại, động mạch chủ thu thập toàn thể máu từ tâm thất trái và phần lớn máu từ tâm thất phải nhờ ống động mạch

Máu ở động mạch chủ được phân phối đến những bộ phận của thai, hay theo các động mạch rốn chảy về rau

Tóm lại, tuần hoàn của thai có những đặc điểm sau:

- Không có tuần hoàn phổi

- Máu thai nhi có ít oxy

- Không có máu ở động mạch thuần khiết, trừ tĩnh mạch rốn (tĩnh mạch rốn

có máu động mạch từ rau chạy vào thai, động mạch rốn bé hơn có máu tĩnh mạch

từ thai về rau)

4.2 Tuần hoàn sau khi đẻ:

Đẻ là một bước nhảy trong sự phát triển của cơ thể: thai từ một môi trường ở

tử cung (với những điều kiện tương đối ổn định), sang một môi trường khác tiếp xúc với thế giới bên ngoài (với các điều kiện luôn thay đổi, như nhiệt độ, độ ẩm, gió lạnh, ánh sáng ) Do đó, sự chuyển hóa cũng như cách thức dinh dưỡng và

hô hấp đều thay đổi về căn bản Bộ điều hòa và bộ hô hấp đều bắt đầu hoạt động, biểu hiện chủ yếu ở sự tuần hoàn Tuần hoàn rau chuyển sang tuần hoàn vĩnh viễn Khi thai nhi bắt đầu thở, các mạch máu ở phổi dãn mạnh và đầy máu, lúc đó ống động mạch xẹp xuống, tịt lại trong vòng 8 - 10 ngày sau khi đẻ Hai động mạch rốn teo lại (2 - 3 ngày), còn tĩnh mạch rốn teo lại chậm hơn (6 - 7 ngày) Do phổi bắt đầu hoạt động, máu từ các tĩnh mạch phổi trào vào tâm nhĩ trái, áp lực máu giữa hai tâm nhĩ phải và trái bằng nhau, nên máu từ tâm nhĩ phải không qua tâm nhĩ trái nữa, do đó lỗ bầu dục khép kín lại (chậm hơn so với ống động mạch) Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, lỗ bầu dục có thể duy trì trong suốt một năm đầu, nếu còn duy trì suốt cả đời sẽ gây nên bệnh tim bẩm sinh

5 Hệ động mạch

Có hai hệ chính:

Trang 6

5.1 Động mạch phổi:

Động mạch phổi (arteria pulmonalis) đi từ tâm thất phải, nằm ở trước và trên

quai động mạch chủ, chui xuống dưới quai này và chia làm hai nhánh, mỗi nhánh

đi vào một phổi

5.2 Động mạch chủ:

Động mạch chủ (aorta) đi từ nền tâm thất trái, chạy chếch lên trên, ra trước

và sang trái, sau đó uốn cong thành quai động mạch chủ, đi chếch ra sau và sang trái, ôm lấy phế quản trái Tới trước thân đốt sống ngực IV, động mạch đi thẳng xuống qua ngực, ở trước sườn trái cột sống (động mạch chủ ngực) Sau chui qua

cơ hoành để xuống bụng (động mạch chủ bụng) Khi tới đốt sống thắt lưng IV, thì chia ra 3 ngành cùng: 2 động mạch chậu chung (gốc) phải, trái và động mạch cùng giữa

5.2.1 Quai động mạch chủ (arcus aorticus):

Gồm có các nhánh cung cấp máu cho đầu cổ, chi trên và cơ tim

- Hai động mạch vành: trái và phải

- Động mạch cánh tay đầu phải, gồm có 2 ngành: động mạch cảnh chung phải, động mạch dưới đòn phải

Trang 7

- Hai động mạch sinh dục (động mạch tinh hay động mạch tử cung buồng trứng)

+ Nhánh tận:

- Động mạch chậu chung phải và trái

- Động mạch cùng giữa

5.2.4 Động mạch chậu chung (arteria iliaca communis) chia thành:

- Động mạch chậu trong (arteria iliaca interna), cấp máu cho các tạng trong

chậu và các thành chậu (mông, đáy chậu)

- Động mạch chậu ngoài (arteria iliaca externa), cấp máu cho chi dưới

6 Hệ tĩnh mạch

Cơ thể gồm có 3 hệ tĩnh mạch:

6.1 Các tĩnh mạch phổi:

Từ các mao mạch, tập trung thành các tĩnh mạch tiểu thuỳ, tĩnh mạch phân

thuỳ, tĩnh mạch thuỳ, rồi thành 4 tĩnh mạch phổi (vena pulmonalis) đi từ phổi đổ

vào tâm nhĩ trái

6.2 Hệ tĩnh mạch chung:

Gồm có:

6.2.1 Tĩnh mạch chủ trên (vena cava superior):

Tĩnh mạch cảnh trong cùng với tĩnh mạch dưới đòn, hợp thành thân tĩnh mạch tay đầu Hai thân phải và trái họp thành tĩnh mạch chủ trên, rồi đổ vào tâm nhĩ phải

Tĩnh mạch chủ trên chỉ nhận một nhánh bên là tĩnh mạch đơn lớn Hai tĩnh mạch đơn bé, trên và dưới, đổ vào tĩnh mạch đơn lớn Tĩnh mạch đơn lớn nằm ở sườn phải cột sống thắt lưng, chui qua cơ hoành và ở trung thất sau, cong ra phía trước, thành một quai, ôm lấy cuống phổi phải và đổ vào tĩnh mạch chủ trên

6.2.2 Tĩnh mạch chủ dưới (vena cava inferior):

Tĩnh mạch chậu ngoài và chậu trong hợp thành tĩnh mạch chủ dưới Tĩnh mạch chủ dưới bắt đầu từ đốt sống thắt lưng IV, chui qua cơ hoành và sau cùng

sẽ đổ vào tâm nhĩ phải

Trang 8

6.3 Tĩnh mạch gánh:

Không phải là tất cả máu tĩnh mạch được đưa thẳng về tim, qua hệ tĩnh mạch chủ Các tĩnh mạch bắt nguồn từ các mao mạch ở dạ dày, ruột, lách và tụy, sẽ

chảy vào tĩnh mạch cửa hay tĩnh mạch gánh (vena porta), để rồi vào gan Ở gan,

tĩnh mạch gánh sẽ phân nhánh thành các mao mạch nhỏ, và từ đó tĩnh mạch trên gan được tạo nên và đưa máu về tĩnh mạch chủ dưới Tĩnh mạch gánh là một tĩnh mạch chức phận Nói chung, hệ gánh là một hệ mạch (động mạch hay tĩnh mạch) được tạo nên bởi một mạch máu mà hai đầu gánh 2 mạng mao mạch

ĐẠI CƯƠNG HỆ BẠCH HUYẾT

1 Đại cương

Hệ bạch huyết (systema lymphaticum) bao gồm:

- Đám rối các mao mạch mà chúng bắt đầu bởi một đầu tịt trong các khoang

tổ chức trong hầu hết các mô của cơ thể và cuối cùng bạch huyết được đổ vào một số tĩnh mạch nhất định

- Các hạch bạch huyết là những đám mô bạch huyết nhỏ, chắc, nằm ở trên

đường đi của một số mạch bạch huyết Các hạch bạch huyết dẫn bạch huyết qua một hoặc nhiều hạch trước khi tới đổ vào tĩnh mạch

- Những đám mô bạch huyết nằm trong thành ống tiêu hóa (mô thượng bì

bạch huyết) và trong tỳ, tuyến ức

Mao mạch bạch huyết tạo thành các lưới bạch huyết trong các khoang mô Những mắt lưới của mao mạch bạch huyết cũng như khẩu kính của chúng thường rộng hơn các mao mạch máu lân cận Một nét quan trọng của nội mô

là ở chỗ thành mao mạch bạch huyết cho phép các chất có kích thước phân tử lớn hơn từ các khoang tổ chức tế bào thấm vào lòng mao mạch dễ dàng hơn nội mô của thành mao mạch mạch máu Khi một mạch bạch huyết bị tắc thì gây phù nề ở những tổ chức mà mạch đó thu nhận bạch huyết và dịch phù có chứa nhiều protein

Chất dịch trong mạch bạch huyết được gọi là dưỡng chấp

Trang 9

Mao mạch bạch huyết có ở trong hầu hết các mô của cơ thể, nhưng không xuất hiện ở các cấu trúc vô mạch như thượng bì, tóc, móng, giác mạc, khớp, một

số sụn và cũng không thấy ở não, tủy sống, tủy của tỳ và tủy xương

Các mao mạch bạch huyết hợp lại với nhau tạo nên các thân bạch huyết lớn

hơn, những thân này chạy tới các vùng lân cận hoặc tới các hạch u hoặc tới các hạch bạch huyết Qui luật chung là mạch bạch huyết thường qua một hoặc nhiều hạch bạch huyết trước khi đổ vào máu

Nhưng cũng có ngoại lệ như các mạch bạch huyết của tuyến giáp trạng, của thực quản, các mạch bạch huyết chạy trong dây chằng vành và dây chằng tam giác gan, chúng lại đổ trực tiếp vào ống ngực

Những mạch bạch huyết nông của da và các mạc nông thường đi kèm với các tĩnh mạch nông và có các liên hệ với mạch bạch huyết sâu

Những mạch bạch huyết sâu thường có liên quan với chặt chẽ với các động mạch hay tĩnh mạch ở sâu

Bạch huyết của cơ thể cuối cùng tập trung vào hai ống lớn: ống ngực và ống

bạch huyết phải Các ống này lại đổ vào tĩnh mạch cánh tay đầu trái và phải

Hầu hết các mạch bạch huyết của hai bên cơ thể nối với nhau qua đường giữa

Những mạch bạch huyết lớn được cấp huyết bởi một lưới mạch hay các mạch

của mạch ( vasa vasorum ) và thường có một đám rối các mạch máu nhỏ đi kèm

theo Vì vậy, khi thành của mạch bạch huyết bị viêm (lymphagitis) thì những đám

rối mạch máu này bị xung huyết nên với những mạch bạch huyết nông ta thường thấy những đường đỏ nổi lên ngay ở da

Các mạch bạch huyết có khả năng rất lớn trong việc phục hồi và tạo thành những mạch mới sau tổn thương

2 Mạch bạch huyết

2.1 Cấu tạo của mạch bạch huyết:

Thành của mao mạch bạch huyết chỉ gồm một lớp tế bào nội mô Cũng như lớp nội mô của thành mao mạch mạch máu nhưng màng đáy của mao mạch nội

mô thường không có

Các mao mạch hợp lại tạo thành các mạch bạch huyết lớn hơn Ở các mạch này bên ngoài lớp nội mô còn có lớp mô liên kết mỏng

Thành của các thân bạch huyết lớn có 3 lớp áo như ở thành của các tĩnh mạch nhỏ:

- Lớp áo trong gồm các tế bào nội mô và một lớp mỏng mô sợi

- Lớp áo giữa có một số sợi cơ trơn mà chủ yếu là cơ vòng

- Lớp áo ngoài gồm chủ yếu các mô sợi và một ít các sợi cơ trơn

Các ống bạch huyết khác với các tĩnh mạch nhỏ ở chỗ trong lòng ống có các

van Đó là các van bán nguyệt và thường được sắp xếp từng đôi một Các van

được hình thành do sự gấp nếp của nội mô với lõi là tổ chức sợi Bờ tự do của van quay vào trong lòng của mạch bạch huyết Những van này có tầm quan trọng đáng kể của cơ thể trong dòng chảy bạch huyết

Ống ngực có cấu trúc tương tự như của các tĩnh mạch có kích thước trung

bình mặc dù các sợi cơ của lớp áo giữa không nhiều lắm

Trang 10

2.2 Chuyển động của bạch huyết:

Dòng bạch huyết chảy trong mạch bạch huyết từ những khoang mô qua các hạch bạch huyết để tới các tĩnh mạch Sự chuyển động của dòng bạch huyết phụ thuộc vào các yếu tố sau đây:

- Áp lực lọc trong mô do sự lọc chất dịch từ các mao mạch mạch máu tạo nên

- Sự co bóp của những cơ ở xung quanh ép vào các mạch bạch huyết Hướng của dòng bạch huyết chảy do các van quyết định

- Ở nơi mà một thân bạch huyết liên quan mật thiết với động mạch thì sự đập của động mạch có thể tác động vào thành mạch bạch huyết trợ giúp cho dòng bạch huyết chảy

- Các động tác thở và áp lực âm tính của các tĩnh mạch cánh tay đầu cũng là yếu tố góp phần vào dòng chảy của bạch huyết

- Các sợi cơ trơn trong thành mạch bạch huyết đóng vai trò nổi bật ở các đoạn gần van, sự kích thích của thần kinh giao cảm kèm theo thân bạch huyết gây nên sự co thắt của mạch bạch huyết

3 Hạch bạch huyết

3.1 Hình thể:

Hạch bạch huyết thường nhỏ, có hình bầu dục hoặc hình hạt đỗ, nằm trên đường đi của các mạch bạch huyết

Mỗi hạch bạch huyết có một chỗ lõm ở một bên của hạch, gọi là rốn (hilus)

qua đó các mao mạch vào hoặc ra khỏi hạch Các mạch bạch huyết đi thoát ra khỏi hạch ở rốn hạch, còn những mạch đến hạch từ bờ ngoại vi của hạch

Trên thiết đồ qua hạch bạch huyết ta thấy hạch gồm có vùng vỏ (cortex) và một vùng xẫm màu hơn gọi là vùng tủy (medulla), giữa hai vùng có một đường

ranh giới Vỏ hạch thường nằm ở ngoại vi của hạch, nhưng không có ở rốn hạch,

ở đây tủy hạch lấn tới bề mặt của hạch Các hạch bạch huyết thường tập trung nhiều ở trung thất, ở thành bụng sau, trong các mạc treo ruột, ở chậu hông, ở cổ

và các đầu chi

3.2 Cấu trúc của hạch bạch huyết:

Hạch bạch huyết được cấu tạo bởi một khung gồm có bao (capsula), các bè

(trabecula) và tổ chức lưới bên trong khung đó là các đám tế bào limpho và các

đại thực bào tự do

- Bao hạch chủ yếu gồm các sợi collagen và một số tế bào sợi non ở giữa các

bó sợi và các sợi đàn hồi (có nhiều trong lớp sâu của bao) Bao hạch phủ mặt ngoài của hạch, ở mặt sâu của bao tách ra các bè có cấu trúc giống bao của hạch Các bè này tiến sâu vào bên trong hạch Ở rốn hạch có một số mô sợi dầy ăn sâu vào tủy hạch

Hình 32: Sơ đồ cấu tạo hạch bạch huyết

Trang 11

- Tổ chức lưới tạo nên những mắt lưới ở khắp nơi trong các khoang giữa vỏ

hạch và các bè Nhiều nơi, như ở vỏ hạch, các hệ thống lưới rất khó nhận biết vì trong các mắt lưới chứa rất nhiều các tế bào limpho Ở nơi khác dễ nhận biết hơn

vì trong các mắt lưới có rất ít các tế bào limpho, những nơi này cho phép bạch huyết đi qua dễ dàng hơn, ít bị cản trở và gọi là các xoang bạch huyết Ở dưới bao hạch thường không có các tế bào limpho, các mắt lưới của hệ lưới ở đây dễ dàng nhìn thấy trong các xoang bạch huyết gọi là các xoang bạch huyết dưới bao Những khoang này liên kết với các khoang tương tự nằm dọc theo các bè

Tổ chức lưới của hạch bao gồm các sợi lưới và các tế bào lưới

- Các tế bào ở trong các mắt của tổ chức lưới phần lớn là các tế bào limpho, còn các đại thực bào, những tế bào tự do trong tổ chức lưới thường thấy trong các xoang bạch huyết Ở vùng vỏ hạch, các tế bào tập trung dầy đặc và tạo thành các khối riêng biệt gọi là các nang bạch huyết

- Các mạch bạch huyết đến đi vào trong hạch ở nhiều vị trí thuộc ngoại vi của hạch Sau khi phân nhánh và tạo thành một đám rối dày đặc trong bao của hạch, mạch đến mở vào trong xoang bạch huyết ngay dưới bao hạch Khi các mạch đến vào hạch, các lớp của thành mạch biến mất trừ lớp nội mô, lớp này sẽ liên tiếp với lớp tế bào viền quanh xoang bạch huyết

Trang 12

Các mạch bạch huyết đi bắt đầu từ các xoang bạch huyết của tủy hạch Dòng bạch huyết theo mạch bạch huyết đến đi qua đám rối của bao hạch để tới các xoang của vỏ hạch rồi vào các xoang bạch huyết của tủy hạch, cuối cùng theo các mạch đi ra khỏi hạch ở rốn hạch

Hình 33: Sơ đồ các hạch bạch huyết của cổ và trung thất.

1 Các hạch bạch huyết khí quản; 2 Động mạch cảnh gốc; 3 Ống ngực

4 Tĩnh mạch dưới đòn; 5 Các hạch bạch huyết nách; 6 Quai động mạch chủ; 7 Các hạch bạch huyết khí - phế quản; 8 Phế quản gốc trái

9 Các hạch bạch huyết phổi; 10 Các hạch bạch huyết trong phổi

11 Các hạch bạch huyết trung thất sau; 12 Động mạch chủ ngực

13 Thực quản; 14 Tĩnh mạch chủ dưới; 15 Hạch bạch huyết trên cơ hoành; 16 Cơ hoành; 17 Phế quản gốc phải; 18 Tĩnh mạch chủ trên

Trang 13

khí quản; 24 Các hạch bạch huyết cổ sâu; 25 Tĩnh mạch cảnh trong

4 Ống ngực và ống bạch huyết phải

4.1 Ống ngực:

Ống ngực (ductus thoracicus) là một ống dẫn bạch huyết lớn nhất của cơ thể,

nhận bạch huyết của hầu hết cơ thể trừ nửa phải đầu, cổ, thành ngực phải, chi trên bên phải, phổi phải, nửa tim phải và một phần mặt hoành của gan (do ống bạch huyết phải nhận) Ống dài 38 - 45 cm, bắt đầu từ bể dưỡng chấp ở gần bờ dưới của đốt sống ngực xu; cuối cùng đổ vào hội lưu tĩnh mạch (Pirogoff) bên trái ở nền cổ

Từ bể dưỡng chấp, ống ngực chui qua lỗ động mạch chủ của cơ hoành, rồi

chạy lên trên qua trung thất sau, đi ở bên trái động mạch chủ ngực và bên phải của tĩnh mạch đơn phía trước cột sống ngực Các dây chằng dọc trước của cột sống và các động mạch gian sườn phải cũng như các phần tận của các tĩnh mạch bán đơn và bán đơn phụ nằm ở phía sau ống ngực Thực quản nằm phía trước ống ngực Giữa thực quản và ống ngực có ngách của màng phổi phải lách vào

Khi tới đốt sống ngực V, ống ngực chạy chếch sang trái, đi vào trung thất trên

và đi dọc bờ trái của thực quản Ở đây ống ngực đi ở phía sau quai động mạch chủ và động mạch dưới đòn trái Ở bên trái ống ngực đi sát vào màng phổi trung thất bên trái Từ đó ống ngực đi tới cổ bằng cách vòng cong ra ngoài ngang mức với mỏm ngang đốt sống cổ VII Vì đường đi ở nền cổ như vậy, nên ở đây ống ngực tạo thành một quai nhô cao trên xương đòn độ 3 - 4cm Ở nền cổ ống ngực chạy trước động mạch và tĩnh mạch đốt sống, thân giao cảm, thân động mạch giáp cổ và các ngành của thân này Ống ngực cũng chạy phía trước dây thần kinh hoành và bờ trong của cơ bậc thang trước, nhưng ở phía sau của động mạch cảnh chung thần kinh X và tĩnh mạch cảnh trong bên trái Cuối cùng ống ngực quặt xuống phía trước của động mạch dưới đòn (đoạn trong cơ bậc thang trước) và tận hết bằng cách đổ vào hợp lưu của động mạch dưới đòn và tĩnh mạch cảnh trong trái Đôi khi đổ thẳng vào tĩnh mạch dưới đòn và tĩnh mạch cảnh trong trái Ống ngực có đường kính khoảng 5 mm ở chỗ nguyên ủy của ống Càng lên trên, đường kính càng nhỏ dần Ống có nhiều chỗ thắt giữa các chỗ thắt là các chỗ phình

Đôi khi có thể thấy ở giữa ống ngực tách thành hai ống có kích thước khác nhau Rồi ngay sau đó hai ống này lại hợp với nhau hoặc lại chia thành nhiều nhánh, tạo thành như đám rối Thỉnh thoảng còn có thể gặp ở đoạn trên ống chia thành ngành phải và trái Ngành trái tận hết bằng cách đổ vào hợp lưu tĩnh mạch bên trái (như của ống ngực bình thường), trong khi đó ngành phải lại đổ vào tĩnh mạch dưới đòn phải và liên quan với ống bạch huyết phải

Trang 14

Ống ngực có nhiều van, thường là những van đôi Ở chỗ ống ngực đổ vào

tĩnh mạch, bờ tự do của van này quay vào trong tĩnh mạch để chống lại sự trào ngược của máu tĩnh mạch chảy vào ống

4.2 Ống bạch huyết phải:

Ống bạch huyết phải (ductus lymphaticus dexter) là một ống ngắn, dài độ

1cm, bắt đầu từ bờ trong cơ bậc thang trước ở nền cổ và tận hết bằng cách đổ vào hội lưu tĩnh mạch bên phải Ở lỗ đổ vào tĩnh mạch có hai van bán nguyệt làm cho máu tĩnh mạch không tràn vào bạch huyết được

2 Thân tĩnh mạch cánh tay đầu phải

3 Tĩnh mạch cánh tay đầu trái

15 Ống bạch huyết chi dưới

Ống bạch huyết phải nhận bạch huyết từ nửa phải của đầu và cổ qua thân

cảnh phải (truncus jugularis dexter); từ chi trên bên phải qua thân dưới đòn phải (truncus subclavius dexter), từ nửa phải của lồng ngực, phổi phải, phần phải của tim và một phần mặt hoành của gan qua thân phế quản trung thất phải ( truncus

bronchomediastinalis dexter ) Ống bạch huyết phải chỉ có ở 20 % cá thể

Thường gặp hơn là có 3 thân riêng biệt, và cả 3 thân bạch huyết này đổ riêng rẽ

Trang 15

5 Bạch huyết của đầu và cổ

Các bạch huyết ở đầu và cổ bao gồm các nhóm tận và nhóm nông Nhóm tận liên quan mật thiết với bao cảnh và được gọi là nhóm cổ sâu Tất cả các mạch bạch huyết của đầu và cổ đều đổ vào nhóm hạch này hoặc trực tiếp hoặc qua các nhóm hạch nông Từ các hạch cổ sâu, các mạch bạch huyết tạo thành thân cảnh

(truncus jugularis) Ở bên phải thân cảnh đổ trực tiếp vào hội lưu tĩnh mạch (của

tĩnh mạch cảnh trong với tĩnh mạch dưới đòn phải) hoặc đổ vào ống bạch huyết phải Ở bên trái thân cảnh trái đổ vào ống ngực

5.1 Các hạch cổ sâu:

Các hạch bạch huyết cổ sâu (nodus

lymphaticus cervicalis profundus) nằm

dọc theo bao cảnh Có thể phân chia

thành hai nhóm: nhóm trên và nhóm

dưới

- Các hạch cổ sâu trên (nodus

lymphaticus cervicalis profundus

superioris) nằm ở phần trên của tĩnh

- Các hạch cổ sâu dưới (nodus

lymphaticus cervicalis profundus

inferioris) nằm ở dưới phần dưới cơ ức

đòn chũm và cả trong tam giác trên

đòn, ở đây các hạch liên quan mật thiết

với đám rối thần kinh cánh tay và bó

mạch dưới đòn

Các mạch đi từ các hạch cổ sâu dưới đổ vào thân cảnh

5.2 Bạch huyết nông của đầu và cổ:

Bạch huyết nông của đầu và cổ được dẫn qua các mạch bạch huyết để tới các hạch lân cận, rồi từ các hạch này, các mạch bạch huyết tới các hạch bạch huyết cổ sâu Tuy nhiên cũng có một số vùng, bạch huyết được dẫn thẳng tới hạch cổ sâu

Các vùng bạch huyết của đầu gồm: vùng chẩm, vùng sau tai (hay chũm),

vùng tuyến mang tai, vùng má (hay mặt)

Ngày đăng: 10/01/2021, 03:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w