- Nhận rõ yêu cầu của phương pháp thuyết minh - Rèn luyện năng lực quan sát, nhận thức, dùng kết quả quan sát và làm bài thuyết minh => học sinh thấy được muốn làm bài văn thuyết minh ch
Trang 1- Nhận rõ yêu cầu của phương pháp thuyết minh
- Rèn luyện năng lực quan sát, nhận thức, dùng kết quả quan sát và
làm bài thuyết minh => học sinh thấy được muốn làm bài văn thuyết minh
chủ yếu phải dựa vào quan sát, tìm hiểu, tra cứu, nghiên cứu, học hỏi tri thức
- Hai chữ "thuyết minh" ở đây bao hàm cả ý giải thích, trình bày, giới
thiệu cho được hiểu rõ Đưa văn bản thuyết minh vào nhà trường là cung cấp cho
học sinh một văn bản thông dụng, rèn kỹ năng trình bày các tri thức có tính
khách quan, khoa học, nâng cao tư duy và biểu đạt cho học sinh Loại văn bản
này giúp học sinh quen với lối làm văn có tri thức, có tính khách quan khoa học,
chính xác
- Giáo viên phải cho học sinh thấy đây là một loại văn bản khác hẳn với
các văn bản nghị luận, tự sự, miêu tả, biểu cảm, hành chính - công vụ
=> Văn bản thuyết minh chủ yếu trình bày tri thức một cách khách quan,
giúp con người hiểu biết được đặc trưng, tính chất của sự vật, hiện tượng và biết
cách sử dụng chúng vào mục dích có lợi cho con người Văn bản thuyết minh
gắn liền với tư duy khoa học Nó đòi hỏi chính xác, rạch ròi
Trang 2=> Văn bản thuyết minh là một kiểu văn bản riêng, mà các loại văn bản ấy không thay thế được
Thuyết minh: Đã bao hàm cả ý giải thích, trình bày, giới thiệu
2 Văn bản thuyết minh khác với văn bản nghị luận, tự sự, miêu tả, biểu cảm, hành chính công vụ ở chỗ chủ yếu nó trình bày tri thức một cách khách quan, giúp con người sử dụng tri thức ấy nhằm phục vụ thiết thực cho cuộc sống;
nó gắn liền với tư duy khoa học; nó đòi hỏi chính xác, rạch ròi
3 Muốn làm tốt văn bản thuyết minh: phải tiến hành điều tra, nghiên cứu, học hỏi để kiến thức phong phú hoặc đến tận nơi tham quan, tìm hiểu, thì mới làm được Bài văn thuyết min phải làm nổi bật: Hiểu biết sâu rộng kiến thức, tính khách quan khoa học, sự chính xác của vấn đề:
4 Có sáu phương pháp thuyết minh cần được chú ý: định nghĩa, so sánh, phân tích và phân loại, dùng số liệu, dùng ví dụ cụ thể, liệt kê
II Cách làm các kiểu bài thuyết minh với các đối tượng khác nhau:
Ví dụ:
- Đối tượng thuyết minh là các thể loại: thơ, truyện ngắn
- Đối tượng thuyết minh là các loại đồ dùng gia đình và dụng cụ học tập
- Đối tượng thuyết minh là về một cách làm, một phương pháp, một thí nghiệm
- Đối tượng thuyết minh một di tích lịch sử, một danh lam thắng cảnh
Trang 3- Đối tượng thuyết minh về phần trình bày một hiệu sách tự chọn, một ngôi trường của em
- Đối tượng thuyết minh có thể là lời giới thiệu một tập sách, một tập thơ, một tác giả thơ, văn
III Quan trọng nhất vẫn là việc rèn các kỹ năng để làm bài thuyết minh.
- Tìm hiểu đề, xác định đối tượng thuyết minh
- Đi tìm kiến thức để viết văn bản sao cho sát đối tượng cần thuyết minh Muốn vậy phải: quan sát, mô tả khi đến tham quan, học hỏi mọi người xung quanh, đọc sách báo có kiến thức về đối tượng; Ghi chép lại
- Sắp xếp các kiến thức theo một trình tự hợp lý so với đối tượng cần thuyết minh theo một dàn ý
- Sau đó, dựa vào dàn ý, viết thành bài thuyết minh hoàn chỉnh
* Bài tập:
Bài tập 36: Năm học lớp Bảy, các em đã được học bài thơ nổi tiếng Qua
đèo Ngang của bà Huyện Thanh Quan
1 Hãy chép chính xác bài thơ ấy Cho biết bài thơ được viết theo thể thơ nào?
2 Trình bày những hiểu biết của em trong một văn bản thuyết minh về thể thơ đã nêu trên
Bài tập 37: Nhà thơ Nguyễn Khuyến có một chùm thơ ba bài viết về mùa
thu làng cảnh Việt Nam rất nổi tiếng Sau đây là bài Thu Điếu (Câu cá mùa thu) của ông
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Sóng biếc theo làn hơi gợn tí, Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt, Ngõ trúc quanh co khách vắng teo Tựa gối ôm cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo
Trang 41 Có bạn cho rằng bài thơ trên thuộc thể thơ Dường thất ngôn bát cú, luật trắc (thể trắc) Em có đồng ý với ý kiến của bạn không? Vì sao?
2 Trong một bài thơ thất ngôn bát cú, hai cặp câu 3 - 4 và 5 - 6 đối nhau Hãy chỉ ra những từ ngữ đối nhau trong bài thơ và tìm hiểu ý nghĩa tu từ của nghệ thuật đối trong bài thơ nói riêng và thơ Dường luật nói chung
3 Hãy viết một đoạn văn thuyết minh những hiểu biết của em về tác giả Nguyễn Khuyến Cho biết: Em tìm kiến thức về tác giả ở đâu?
Bài tập 38: Tuần 23 của chương trình Ngữ văn 8, các em sẽ được học tác
phẩm Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn và tuần 4 của chương trình Ngữ văn 8, các em sẽ được trích học Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi (đoạn trích Nước
Đại Việt ta)
1 Theo em, nên tìm các kiến thức về hai thể văn cổ: hịch và cáo ở đâu, tài liệu nào?
2 Hãy viết một đoạn hay một bài văn ngắn thuyết minh về những hiểu biết ban đầu, cơ bản về hai thể văn cổ này
Bài tập 39 Cho văn bản sâu đây:
Người ta gọi chúng là gấu trúc vì chúng rất thích ăn lá tre, lá trúc Chúng
ăn cả chuột, bò sát nhỏ, côn trùng, trứng chim, mật, nhưng với chúng chả có gì sánh được với tre, trúc ở bàn chân trước của gấu trúc có một bộ phận đặc biệt - như là ngón thứ sáu - rất thuận tiện cho việc giữ lá và thân cây trúc Ngồi trong các bụi tre, trúc, chúng bứt lá và ăn ngon lành Gấu trúc sống trên núi cao tới hơn
3000 mét ở phía Tây Nam Trung Quốc Địa hình nơi này rất hiểm trở Đã vậy, số lượng gấu trúc còn lại rất ít - chỉ khoảng gần 1000 con Người ta biết đến gấu trúc từ cuối thế kỷ XIX, nhưng đến năm 1936 người Châu Âu lần đầu tiên mới nhìn thấy nó Sau một thời gian dài nghiên cứu, đến cuối thế kỷ XX, các nhà sinh vật học mới công nhận gấu trúc chính là gấu Gấu trúc bò trên cây rất khéo, bám được cả vào những cành cây mảnh như những nghệ sĩ nhào lộn vậy ở các vườn thú, người ta còn để cả đu quay cho các gấu giải khuây Có cả những chú gấu đặc biệt thông min được tuyển làm diễn viên xiếc Mỗi gấu trúc mẹ một lần chỉ sinh được một con Rất hiếm khi gấu trúc sinh đôi, sinh ba; mà nếu có thì cũng chỉ một chú gấu trúc con mới sin không có lông và chẳng nhìn thấy gì cả
Trang 5Ba đến bốn tháng liền, gấu mẹ phải ngồi trong hang với con, cho chúng búng sữa, rồi dần dần mới dạy con các kĩ năng của nòi giống mình
(Theo báo Nhi đồng chăm học, số 32,2003)
1 Theo em, trên đây có phải văn bản thuyết minh không? Vì sao? Hãy
đặt tên cho văn bản
2 Có được kiến thức như văn bản trên có dễ dàng không? Đó là công lao của những người làm công tác gì? Công việc của họ có ý nghĩa như thế nào với nhân loại?
3 Đọc văn bản trên en có cảm giác thú vị không? Vì sao vậy?
Bài tập 40: Cho các văn bản sau:
1 Có ít nhất hai loại ngô đồng Một là loại ngô đồng mà các cụ vẫn mua
về trồng ở chậu cảnh trong sân nhà Cây này thấp, lá to, phần gốc phình to ra Loại ngô đồng thứ hai là cây ngô đồng thân gỗ, to cao, trồng làm bóng mát mà
- Mở bài: Giới thiệu khái quát về đối tượng thuyết minh
- Thân bài: Giới thiệu cụ thể về đối tượng (trình bày tri thức về sự vật, hiện tượng VD: Về lai lịch, cấu tạo, hoạt động, tác dụng của sự vật ấy )
- Kết bài: Nêu vai trò, vị trí, ý nghĩa của đối tượng thuyết minh trong
đời sống
Trang 6B Tiết 2: thuyết minh về một thể loại văn học
I Một số điều cần lưu ý:
* Để làm được bài văn thuyết minh về một thể loại văn học, học sinh phải
có một số tri thức công cụ như bằng, trắc, vần, niêm, ngắt nhịp
* Dàn bài chung của bài văn thuyết minh về một thể loại văn học
1 Mở bài: Nêu định nghĩa chung về một thể loại văn học đó
2 Thân bài:
- ý 1: Thuyết minh về đặc điểm của một thể loại văn học ấy
- ý 2: Nhận xét về ưu điểm, nhược điểm và vị trí của một thể loại văn học trong nền văn học đó
3 Kết bài: Nêu vai trò của một thể loại văn học này từ xưa tới nay ra sao
II Luyện tập về một số thể loại văn thơ cổ.
1 Thơ Đường luật:
Luật thơ được đặt ra từ đời nhà Đường nên gọi là thơ Đường luật Thơ cổ trước khi có thơ Đường luật thì gọi là thơ cổ phong
a Thơ Đường luật 7 chữ 8 câu (thất ngôn bát cú)
- Học sinh tìm ví dụ trong chương trình đã học, nếu có thể nhớ lại và nói về cách kết cấu một bài thất ngôn bát cú đã được học qua một số bài thơ loại này
- GV nêu ngắn gọn một số đặc điểm của thể thơ này, ví dụ: bài Qua Đèo ngang" Giáo viên dựa vào bài thơ để chỉ rõ những đặc điểm sau:
+ Số chữ và câu; 7 x 8
+ Kết cấu chia làm 4 phần, mỗi phần 2 câu; đề (nêu vấn đề), thực (miêu tả
cụ thể), luận (mở rộng), kết (kết luận)
+ Bắt buộc phải đối nhau giữa 2 câu: 3 và 4; 5 và 6
+ Chỉ dùng vần bằng và chỉ được gieo một vần, có 5 câu phải hiệp vần (1,
2, 4, 6, 8)
+ Luật phối hợp thanh bằng và trắc trong toàn bài gọi là niêm và trong từng câu gọi là luật Niêm luật rất phức tạp, không đi sâu ở đây
Trang 7* Bài tập 1: Học sinh tập nhận biết đặc điểm của loại thơ này qua bài
"Chiều hôm nhớ nhà" cuả bà Huyện Thanh Quan
(Số chữ, số câu? Đâu là đề, thực luận, kết? Hai câu thực đối nhau? Hai câu luận đối nhau? Vần gì, bằng hay trắc, những câu nào phải vần với nhau?
b Thơ Đường luật 7 chữ 4 câu (tứ tuyệt)
- Nói qua để học sinh có ý niệm Lấy bài "Bánh trôi nước" làm ví dụ GV dựa vào bài thơ chỉ ra mấy đặc điểm:
+ Số chữ, số câu: 7 x 4
+ Vần bằng và chỉ có một vần: Câu 1, 2, 4 vần với nhau
+ Có thể có đối hoặc không có đối giữa câu 1 và 2, giữa câu 3 và câu 4
Chú ý: GV cần biết nhưng không cần nói với học sinh điều sau đây: Tại
sao có thể có đối? Vì "tuyệt" là cắt ra, thơ tứ tuyệt như cắt ở bài thất ngôn bát cú chỉ lấy 4 câu Có 4 cách cắt, nghĩa là 4 cách làm:
+ Cắt 4 câu đầu (câu 3 - 4 có đối)
+ Cắt 4 câu cuối (câu 1 - 2 có đối)
+ Cắt 4 câu giữa (câu 1 - 2 đối nhau, câu 3 - 4 đối nhau)
+ Cắt 2 câu đầu và 2 câu cuối (không có đối)
(Bài "Bánh trôi nước" và bài "Đề đề Sầm Nghi Đống" không có đối) thuộc dạng thứ 4 là dạng phổ biến nhất không có đối)
* Bài tập 2: Học sinh tập nhận biết đặc điểm của loại thơ này qua bài "Đề
đền Sầm Nghi Đống"
(Số chữ, số câu? Vần gì, bằng hay trắc, những câu nào phải vần với nhau?)
2 Truyện thơ: Một loại truyện cổ của nước ta, còn gọi là truyện nôm:
- Loại truyện dài
- Viết bằng thơ lục bát
* Hỏi:
- Tìm ví dụ? Truyện Kiều, Lục Vân Tiên
- Tại sao gọi là truyện? Có cốt chuyện, tình tiết, nhân vật để phản ánh đời sống, học sinh dẫn chứng bằng Truyện Kiều hay truyện Lục Vân Tiên
- Tại sao gọi là thơ? Dùng thơ lục bát nhưng cái chính là ở chỗ nó chứa chan cảm xúc, giàu sức gợi cảm, giàu chất thơ, viết bằng ngôn ngữ thơ Học sinh
Trang 8tìm một ví dụ trong Truyện Kiều (Kiều ở lầu Ngưng Bích) hoặc trong Lục Vân Tiên (lời ông Ngư nói về cuộc đời mình)
3 Hịch và cáo: GV giới thiệu Ví dụ: Hịch tướng sĩ văn Bình Ngô đại cáo
- Thuộc loại văn xuôi cổ có tính chất chính trị
- Bắt buộc phải đối nhau từng cặp giữa các vế và giữa các đoạn, gọi là văn biền ngẫu (biền là hai con ngựa kéo xe sóng nhau, ngẫu là từng cặp)
* Bài tập: GV lấy một ví dụ trong "Hịch tướng sĩ văn" hoặc "Bình Ngô
đại cáo" để học sinh tìm xem văn biền ngẫu (đối nhau) ở chỗ nào Có thể lấy những đoạn sau để học sinh tập
VD1: "Hịch tướng sĩ văn"
"Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt
đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù, dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng cam lòng"
Kết cấu câu như sau:
tới bữa / nửa đêm
Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông Cơn gió to trút sạch lá khô
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ
* GV nói rõ thêm sự khác nhau giữa hịch và cáo
- Hịch: Kêu gọi chiến đấu (việc đang làm hoặc sắp làm)
- Cáo: tổng kết một công việc, có tính chất tuyên ngôn (việc đã làm)
Đối
Đối
Đối
Trang 9Học sinh đọc SGK để phân biệt hịch và cáo
2 Miêu tả, biểu cảm, đánh giá
- Là các yếu tố bổ trợ, giúp cho truyện ngắn sinh động, hấp dẫn
- Thường đan xen vào các yếu tố tự sự
3 Bố cục, lời văn, chi tiết
- Bố cục chặt chẽ, hợp lý
- Lời văn trong sáng, giàu hình ảnh
Trang 10- Chi tiết bất ngờ, độc đáo
* KB: Vai trò của thể loại truyện ngắn trong nền văn học
II Bài tham khảo:
Đề bài: Viết bài thuyết minh về thể loại truyện ngắn theo hiểu biết của em
đó của đời sống xã hội đương thời Như trong tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao, truyện đã tập trung mô tả một mảnh cuộc sống của Lão Hạc, đưa ra một hoàn cảnh éo le, con trai không lấy được người yêu, bỏ làng ra đi để lại người cha già
và con chó Vàng Người con trai ra đi có thể sẽ không bao giờ trở về nhưng Lão Hạc cứ mong đợi, dành dụm chắt chiu cho con Cuối cùng lão đã phải ra đi, phải lìa xa cõi đời để giữ được tiền cho con Lão là một nạn nhân của xã hội thời xưa, qua đó, tác phẩm đã tố cáo xã hội đương thời xấu xa nhỏ nhen, người tốt phải chết để giữ được nhân phẩm của mình Tác phẩm khắc sâu vào lòng người đọc bằng nghệ thuật của truyện ngắn Các tác phẩm truyện ngắn thường nêu cao phẩm chất của con người, phê phán thói hư tật xấu, giáo dục con người đi theo hướng tích cực Như truyện Chiếc lá cuối cùng của O Hen-ri đã đề cao lòng nhân
ái, sự hi sinh cao cả của cụ Bơ - men, một hoạ sĩ nghèo đã cứu mạng sống cho Giôn-xi, một cô hoạ sĩ trẻ, cũng rất nghèo mắc bệnh sưng phổi đang tron cơn tuyệt vọng Đức hi sinh cao cả này làm cho người đọc thấy cảm động, sâu xa
Trang 11Truyện ngắn thật phi thường! Vì nội dung của truyện ngắn, tuy nhiên, những nhân vật và sự kiện đó phải thật đặc sắc, thật nổi bật; có ý nghĩa sâu rộng bao quát toàn bài viết Cốt truyện đơn giản, đời sống nhân vật phức tạp, diễn ra trong một không gian, thời gian hạn chế Truyện ngắn không kể trọn vẹn một quá trình biến đổi, một quá trình sống của một đời người mà nó thường chọn lấy những khoảnh khắc, lát cắt quan trọng, bất ngờ, đặc biệt để thể hiện Nhờ sự lắp đặt, bố cục chọn lựa rõ ràng, có các biện pháp tu từ, những phép đối chiếu, tương phản, lời kể hấp dẫn, mạch lạc, giàu cảm xúc, hình ảnh, đã làm bật ra chủ đề chính của toàn bài, chủ đề ấy có thể nằm sâu bên trong, cũng có thể ở bên ngoài Truyện ngắn do đó mà ngắn nhưng hay, được mọi người chấp nhận
Truyện ngắn tuy ngắn nhưng rất hay và có ý nghĩa, thường đề cập đến những vấn đề lớn của cuộc đời Truyện ngắn thường cho con người những bài học quý về cách sống và cách làm người, tu dưỡng cho con người những tư tưởng tốt đẹp Truyện ngắn cần được quan tâm và phát triển hơn nữa
Qua thí nghiệm trên, chúng ta biết cách điều chế ô-xi trong phòng thí nghiệm Những thí nghiệm quan trọng đã cho chúng ta rất nhiều kiến thức bổ ích
và lí thú
Bài 2: Thuyết minh thực hành mổ giun trong môn Sinh học
Những môn tự nhiên như: Toán, lý, hoá, sinh nếu được làm thí nghiệm trong giờ học thì thú vị biết bao Vì thế mà chúng ta hãy cùng bàn luận về những giây phút tuyệt vời này Trước hết, về vấn đề mổ giun trong môn sinh học
Phần chuẩn bị thì phải có một "chiến sĩ" giun khổng lồ mới dễ mổ Sau đó
là một số dụng cụ để mổ như: manh-xơ-lam dùng để cắt vỏ ngoài khi mũi kéo không lách vào được, kéo để cắt da Ghim lớp da vào bàn mổ để quan sát bên trong giun Kẹp da giun (vì da giun trơn) Còn bàn mổ (bằng xốp hoặc thân chuối) dùng để đặt giun lên và ghim khi mổ phanh con giun
Quan trọng nhất vẫn là phần thực hành mổ giun Có nhiều bạn nữ hét lên vì sợ giun, nhưng khi mổ thì xông xáo lắm Thế mới thấy được cái sức hút thú vị của công việc này Bước vào thực hành mổ, các bạn cần thực hiện các bước mổ như sau:
+ Tẩm cồn ê-te để giun không quẫy
Trang 12+ Đặt giun lên bàn mổ và ghim vào hai đầu thân giun ( phần đầu phải ghim thật cao lên trên nếu không sẽ đụng vào thuỳ bán cầu não) Rồi dùng manh-xơ-lam để mổ lớp da (da giun rất trơn nên chưa dùng kéo được) Mổ được một đoạn bạn phải dùng kẹp để kéo lớp da và dùng ghim để ghim ra vào bàn mổ
Mổ phải rất cẩn thận, nếu không các nội quan bên trong sẽ bị bung ra, chệch khỏi vị trí chuẩn ban đầu
Sau đó chúng ta quan sát Cứ như vậy, bạn sẽ thấy rõ hệ thần kinh bên trong Đó là hai quả cầu nhỏ mà trắng là thần kinh não ở trên; và dọc theo sống lưng là từng đốt dây thần kinh khác Thế là bạn đã đạt được mục đích của thí nghiệm rồi đấy, rất thú vị phải không?
Mổ giun cũng như nhiều thí nghiệm khác đều rất tuyệt vời Nó sẽ làm cho bạn hứng thú với giờ học + hơn, tiếp thu bài nhanh hơn Chao ôi! Thí nghiệm quả thật là việc làm thú vị nhất trong một buổi học đấy Các bạn có
đồng ý không?