đọc ựoạn thơ này ta cảm nhận ựược: bằng nhiều biện pháp nghệ thuật ựặc sắc, nhà thơ Tố Hữu ựã tái hiện ựược khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong những ngày quân và dân ta mở chiến dị
Trang 1ÔN TẬP
PHƯƠNG PHÁP LÀM VĂN NGHỊ LUẬN VỀ THƠ
A/ TÓM TẮT VỀ PHƯƠNG PHÁP:
− Có nhiều dạng nghị luận Trong chương trình lớp 12, thường gặp là phân tích hay cảm nhận về một ñoạn thơ và phân tích hay cảm nhận về một hình tượng trong bài thơ, ñoạn thơ
− Nhất thiết các em phải nắm vững và thực hiện tốt bốn bước làm bài văn:
− Phải xác ñịnh ñúng ba yêu cầu của ñề
− Chú ý: Cần xác ñịnh rõ phân tích hay cảm nhận về ñoạn thơ hay hình tượng ñể nêu vấn ñề, giải quyết
vấn ñề và kết luận cho ñúng
− Nhớ dàn ý chung, căn cứ ñề bài và kiến thức ñọc – hiểu mà lập ra dàn ý phù hợp
− Sau ñây là dàn ý chung cho bài phân tích hay cảm nhận về ñoạn thơ hoặc hình tượng
Mở bài:
− Giới thiệu tác giả, dẫn vào bài thơ Nêu vấn ñề theo ñề bài, dẫn vào ñoạn thơ Ghi ñoạn thơ
Thân bài:
− Giới thiệu xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, tóm tắt nội dung, bố cục bài thơ
− Nêu vị trí ñoạn thơ
− Căn cứ nội dung, chia ñoạn thơ thành từng ñoạn nhỏ (dẫn chứng) Ghi tóm tắt ý chính về nội dung,
nghệ thuật cần phân tích
− ðối với cảm nhận, nên nêu ngắn gọn cảm nhận chung trước khi ghi tóm tắt ý chính cần làm rõ
Kết bài:
− Kết luận chung về nội dung, nghệ thuật ñoạn thơ Có thể mở rộng ý nghĩa của ñoạn thơ, nêu cảm nghĩ
từ vấn ñề hoặc cảm nghĩ về tác giả hay bài thơ
− Nếu nghị luận về hình tượng thì kết luận chung về hình tượng, nghệ thuật xây dựng hình tượng Mở rộng ý nghĩa của hình tượng, nêu cảm nghĩ từ hình tượng hay tác giả tác phẩm
ðối với dạng bài phân tích bài thơ, cảm nhận về hình tượng trong bài thơ, sẽ bỏ phần giới thiệu ñoạn thơ trong mở bài, không có giới thiệu vị trí ñoạn thơ trong thân bài và kết bài thì kết luận về bài thơ Tham khảo ñề 3
∗ Viết mở bài:
− Giới thiệu tác giả tác phẩm ngắn gọn (3-5 câu) Nêu vấn ñề ñúng theo ñề bài
− Ghi nguyên văn ñoạn thơ nếu ñoạn thơ không quá 12 câu (theo ví dụ ñề 2)
− Nếu ñoạn thơ dài trên 12 câu; hoặc giới thiệu tác giả, tác phẩm, nêu vấn ñề ñã hơi dài thì ghi ñoạn thơ
theo cách ghi ở ví dụ ñề 1
− Phân tích hay cảm nhận về ñoạn thơ mà không giới thiệu ñoạn thơ là lạc ñề
− Phân tích hay cảm nhận về hình tượng trong ñoạn thơ mà không giới thiệu hình tượng và ñoạn thơ là lạc ñề
− Mở bài lạc ñề, nếu thân bài vẫn ñúng vấn ñề thì tối ña chỉ ñạt trung bình ñiểm số câu làm văn
Trang 2
∗ Viết kết bài:
− Kết luận về vấn ñề: Nhất ñịnh phải tóm lược nội dung, nghệ thuật của ñoạn thơ; hoặc tóm lược về ñặc ñiểm hình tượng, nghệ thuật xây dựng hình tượng
− Sau khi ñánh giá có thể mở rộng ngắn gọn ý nghĩa của ñoạn thơ hay hình tượng và có thể nêu cảm nghĩ về tác giả, tác phẩm
− Nghị luận về ñoạn thơ hay hình tượng mà không kết luận về ñoạn thơ hay hình tượng là lạc ñề, cũng bị ñánh giá như mở bài lạc ñề
− Nếu cả mở bài, kết bài lạc ñề (dù thân bài vẫn ñúng vấn ñề) thì cầm chắc sẽ dưới ñiểm trung bình ở câu làm văn
∗ Viết thân bài: Ở ñây chỉ nói lúc viết phần giải quyết vấn ñề của bài phân tích (cảm nhận) về
ñoạn thơ, hình tượng thơ:
− Phải có giới thiệu trước khi trích dẫn chứng, bằng cách nêu vị trí dẫn chứng hay nêu tóm tắt nội dung dẫn chứng hoặc kết hợp cả hai Dẫn chứng nguyên văn phải ñể trong ngoặc kép
− Nên phân tích song song nội dung, nghệ thuật Căn cứ nghĩa từ ngữ, sử dụng kết hợp các thao tác lập luận (chủ yếu là phântích) làm rõ các biện pháp nghệ thuật, dùng liên tưởng, tưởng tượng ñể ñánh giá nội dung, tìm ra hàm ý của dẫn chứng Khi phân tích, nếu trích từ ngữ từ dẫn chứng lồng vào lời văn của mình thì phải ñể từ ngữ ấy vào ngoặc kép
− ðối với bài cảm nhận có thể bằng cách nêu cảm nhận rồi trích thơ, phân tích làm rõ
− Khi phân tích hay trình bày cảm nhận có thể ñưa tư liệu liên quan ñể so sánh hay minh họa thêm cho ý phân tích, cảm nhận
− Lựa chọn từ ngữ và viết câu: ðể hạn chế bớt lỗi dùng từ sai, cần chú ý: từ nào không hiểu nghĩa thì không dùng Viết câu sau, nhìn qua câu trước ñể không bị lặp từ không cần thiết và ñể ý câu sau logic với câu trước, ñể có sự liên kết câu Có khi lặp từ hay cấu trúc câu nhưng là phải nhằm mục ñích nhấn mạnh ý hay tạo giọng ñiệu Trước khi chấm câu, ñọc nhanh lại câu vừa viết, thấy có ñược một dung thông báo nào ñó mới chấm câu Chú ý dùng dấu phẩy ñể tách các vế câu hay thành phần ñồng chức
− Tuyệt ñối không gạch ñầu dòng, dùng mũi tên, viết tắt tùy tiện theo thói quen ghi bài học trên lớp Phải chú ý viết hoa các danh từ riêng (tên người, tên ñịa danh) Tên tác phẩm phải ñể vào trong ngoặc kép “…”
− Bước này thường tiến hành sau khi làm xong bài Kiểm tra ñể sửa chữa những lỗi nhỏ như dấu câu, lỗi chính tả, một vài từ cần sửa Không thể “sửa chữa lớn” sau khi ñã làm xong bài
− Muốn vậy phải có dàn ý, viết theo dàn ý Có thể có ñiều chỉnh dàn ý nhưng cơ bản là trung thành với dàn ý Phải kiểm tra kĩ lại dàn ý trước khi làm bài
− Chú ý: Khi muốn gạch bỏ một từ, một câu hay một ñoạn: dùng thước, lấy bút gạch một gạch giữa những chữ cần bỏ, không ñể trong ngoặc ñơn (như khá nhiều học sinh vẫn làm)
B/ VÍ DỤ MINH HỌA:
Dưới ñây là ví dụ minh họa cho ba bước làm bài, các em tham khảo Chú ý: Trong bài làm tham khảo, những câu in ñậm là vấn ñề và những ý phân tích, giới thiệu dẫn chứng, liên kết ý
ðề 1: Cảm nhận của anh (chị) về ñoạn thơ sau trong bài “Việt Bắc” của nhà thơ Tố Hữu”
“Những ñường Việt Bắc của ta
………
Vui lên Việt Bắc ñèo De, núi Hồng”
Bài làm tham khảo
Trang 3Thơ ca Việt Nam trong quá trình hiện ựại hóa nền văn học dân tộc giai ựoạn 1930 Ờ 1945 ựã ựạt ựược những thành tựu vô cùng rực rỡ Trong khi thi ựàn Thơ mới xuất hiện tên tuổi chói lọi của các nhà thơ lãng mạn như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, thì Tố Hữu Ờ một nhà thơ cách mạng trẻ tuổi Ờ
ựã âm thầm gieo vào vườn thơ yêu nước một hạt giống mang tên ỘTừ ấyỢ; ựể rồi sau ựó, ựã có những bông hoa nở rộ với các tên ỘViệt BắcỢ, ỘGió lộngỢ, ỘRa trậnỢ, ỘMáu và hoaỢ, Ầ đó là những bông hoa của Ộcây ựờiỢ Tố Hữu, ựó chắnh là những tập thơ lớn của nhà thơ Tố Hữu Bài thơ ỘViệt BắcỢ trong tập
thơ cùng tên, ựược coi là thi phẩm thành công nhất của thơ ca kháng chiến chống Pháp đọc ỘViệt BắcỢ
ta cảm nhận ựược ựây là một bài thơ sâu sắc về nội dung, ựộc ựáo về nghệ thuật mà tiêu biểu là ựoạn thơ:
Từ câu:
ỘNhững ựường Việt Bắc của taỢ
đến câu:
ỘVui lên Việt Bắc, ựèo De, núi HồngỢ
Sau khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940, Việt Bắc trở thành căn cứ ựịa của cách mạng, nơi Bác Hồ và Trung ương đảng lãnh ựạo công cuộc ựấu tranh giải phóng dân tộc ựến khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công Năm 1946, thực dân Pháp tái chiếm nước ta, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Hà Nội rơi vào tay giặc, Việt Bắc, một lần nữa, trở thành nơi bảo vệ, chở che cho trung tâm ựầu não kháng chiến, là nơi ở
và làm việc của Bác Hồ, của trung ương đảng và Chắnh phủ
Chiến dịch điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, Hiệp ựịnh Giơnevơ về đông Dương ựược kắ kết (tháng 7-1954), hòa bình trở lại, miền Bắc nước ta ựược giải phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới Một trang sử mới của ựất nước ựược mở ra Tháng 10-1954, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuôi, Trung ương của đảng và Chắnh phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ ựô Nhân sự kiện thời sự có tắnh lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ ỘViệt BắcỢ
ỘViệt BắcỢ là một bài thơ dài gồm 150 câu lục bát với hai phần lớn: phần ựầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến, phần sau gợi viễn cảnh tươi sáng của ựất nước và ngợi ca công ơn của đảng, Bác Hồ với dân tộc Bài thơ có kết cấu ựối ựáp với hai nhân vật trữ tình Ộmình Ờ taỢ: người Việt Bắc và người cán bộ kháng chiến trong buổi chia tay ựầy lưu luyến, xúc ựộng đoạn thơ trên nằm trong phần ựầu của bài thơ và là lời ựáp của người cán bộ cách mạng về xuôi với lời hỏi của người Việt Bắc ở lại
đọc ựoạn thơ này ta cảm nhận ựược: bằng nhiều biện pháp nghệ thuật ựặc sắc, nhà thơ Tố Hữu ựã tái hiện ựược khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong những ngày quân và dân ta mở chiến dịch cuối cùng tấn công vào sào huyệt của thực dân Pháp và tin vui thắng lợi vang ựội khắp nơi
Hai câu ựầu ựoạn thơ, tác giả ựã phác họa ựược một cách khái quát bức tranh toàn cảnh quân
dân ta ra trận chiến ựấu với khắ thế hào hùng, sôi sục, khẩn trương:
ỘNhững ựường Việt Bắc của ta đêm ựêm rầm rập như là ựất rungỢ
Hai cụm từ Ộnhững ựường Việt Bắc Ầ ựêm ựêmỢ, ựã gợi ra ựược không gian rộng lớn và thời gian ựằng ựẵng của cuộc kháng chiến vĩ ựại, trường kì Khắ thế xung trận ựược cảm nhận bằng âm thanh
Ộrầm rậpỢ Ờ từ láy tượng thanh này cùng với cách so sách Ộnhư là ựất rungỢ, không chỉ diễn tả ựược tiếng ựộng mạnh của bước chân mà còn giúp người ựọc hình dung ựược nhịp ựộ khẩn trương, gấp gáp của một lượng người ựông ựảo ựang cùng hành quân về một hướng Tất cả tạo thành một sức mạnh tổng hợp làm rung chuyển cả mặt ựất Tác giả dùng cách so sánh mang tắnh cường ựiệu Ộrầm rập như là ựất rungỢ ựể nêu bật sức mạnh ựại ựoàn kết của quân dân ta, thực hiện ỘLời kêu gọi toàn quốc kháng chiếnỢ của Bác
Hồ kắnh yêu, quyết tâm chiến ựấu bảo vệ ựộc lập, tự do của Tổ quốc Qua không gian rộng lớn, thời gian ựằng ựẵng và khắ thế hào hùng ở Việt Bắc, có thể thấy rõ cuộc kháng chiến chống Pháp là trường kì, gian
Trang 4
khổ, nhưng dân tộc Việt Nam không nhụt chắ, trái lại, vẫn vững vàng, kiên cường, chung sức chung lòng, ựưa cuộc kháng chiến ựến thắng lợi
Hai câu thơ tiếp miêu tả cụ thể hình ảnh bộ ựội ta hành quân ra trận:
ỘQuân ựi ựiệp ựiệp trùng trùng Anh sao ựầu súng bạn cùng mũ nanỢ
đó là hình ảnh vừa hào hùng, vừa lãng mạn Từ láy Ộựiệp ựiệp trùng trùngỢ khắc họa ựoàn quân ựông ựảo, bước ựi mạnh mẽ như những ựợt sóng dâng trào, ựợt này nối tiếp ựợt khác, tưởng như kéo dài ựến vô tận Hình ảnh Ộmũ nanỢ gợi ra sự thiếu thốn, ựơn sơ trong trang bị của người lắnh, nhưng ựoàn quân Ộựiệp ựiệp trùng trùngỢ chắnh là hình ảnh tượng trưng cho sự trưởng thành vượt bậc của quân ựội ta, của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến Trong Ộnhững ựêm dài hành quân nung nấuỢ (Nguyễn đình Thi), ở ựầu súng của người lắnh ngời sáng Ộánh saoỢ đó là ánh sao hiện thực trong ựêm tối, ựó cũng là hình ảnh
ẩn dụ: Ộánh saoỢ của lắ tưởng chỉ ựường dẫn lối cho người chiến sĩ ựánh ựuổi kẻ thù bảo vệ ựất nước Hình ảnh ấy gợi liên tưởng tới hình ảnh Ộựầu súng trăng treoỢ trong bài thơ Ộđồng chắỢ của nhà thơ Chắnh Hữu Có ựiều, ánh trăng trong thơ Chắnh Hữu là hình ảnh tượng trưng cho khát vọng hòa bình Còn ở ựoạn thơ này, Ộánh saoỢ lại là biểu tượng của lắ tưởng, của niềm lạc quan chiến thắng trong tâm hồn người lắnh ra trận
Vào chiến dịch, không chỉ có bộ ựội ra trận mà nhân dân ta ở bất cứ nơi ựâu cũng hăng hái góp sức mình vào cuộc kháng chiến Trên những con ựường Việt Bắc, cùng hành quân với bộ ựội là những ựoàn dân công phục vụ chiến ựấu:
ỘDân công ựỏ ựuốc từng ựoàn Bước chân nát ựá, muôn tàn lửa bayỢ
Hai câu thơ diễn tả hình ảnh từng ựoàn dân công với những bó ựuốc ựỏ rực soi ựường, họ ựang làm nhiệm vụ tiếp lương, tải ựạn ra chiến trường Có thể hình dung ra ở ựó có ựủ cả trẻ già trai gái, họ ựến
từ nhiều miền quê, với ựủ mọi phương tiện chuyên chở, gồng gánh, quyết tâm, kiên cường vượt núi cao, ựèo dốc, ựảm bảo sức mạnh vật chất cho bộ ựội chiến ựấu, chiến thắng Tác giả ựã vận dụng sáng tạo câu thành ngữ Ộchân cứng ựá mềmỢ thành hình ảnh Ộbước chân nát ựáỢ, hình ảnh cường ựiệu ấy khẳng ựịnh ý chắ phi thường, sức mạnh to lớn của nhân dân kháng chiến Trong bài thơ ỘHoan hô chiến sĩ điện BiênỢ, nhà thơ Tố Hữu cũng từng diễn tả hình ảnh những ựoàn dân công này, những con người luôn lạc quan, không sợ gian khổ, hi sinh, tất cả cho tiền tuyến, tất cả ựể chiến thắng kẻ thù:
ỘDốc Pha đin chị gánh, anh thồ đèo Lũng Lô, anh hò, chị hát
Dù bom ựạn, xương tan thịt nát Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanhỢ
Vậy mới thấy ựược, cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân, là cuộc chiến tranh nhân dân, nó phát huy cao ựộ sức mạnh của cả dân tộc ựể chiến ựấu cho sự nghiệp chắnh nghĩa, vì thế ta nhất ựịnh thắng, ựịch nhất ựịnh thua
Trên những con ựường Việt Bắc còn có những ựoàn xe vận tải quân sự:
ỘNghìn ựêm thăm thẳm sương dày đèn pha bật sáng như ngày mai lênỢ
Hai câu thơ gợi ra hình ảnh những ựoàn xe ô tô kéo pháo, với ánh ựèn pha bật sáng xuyên thủng màn sương ựêm dày ựặc của rừng núi Việt Bắc ựể ra trận Cùng với bộ ựội, dân công, hình ảnh những ựoàn xe ra trận thể hiện sức mạnh tổng lực của toàn dân tộc trong chiến dịch lịch sử điện Biên Phủ, trận chiến cuối cùng ựánh bại thực dân Pháp Hai câu thơ có sự tương phản giữa bóng tối và ánh sáng còn gợi
ra một ý nghĩa khác, ý nghĩa ẩn dụ Nếu câu thơ trên với hình ảnh bóng ựêm ựen tối Ộthăm thẳmỢ gợi ra kiếp sống nô lệ của cả dân tộc dưới ách ựô hộ của kẻ thù, thì ở câu dưới, với hình ảnh Ộựèn pha bật sángỢ ựược so sánh Ộnhư ngày mai lênỢ lại gợi ra một ánh sáng khác: ánh sáng của niềm tin vào ngày mai chiến
Trang 5thắng huy hoàng, tương lai tươi ñẹp Nhìn lại những câu thơ trước ñó ta cũng nhận thấy có sự tương phản này Tác giả ñã sử dụng cả một hệ thống cụm từ chỉ ánh sáng: “ánh sao – ñỏ ñuốc – lửa bay – bật sáng”, tương phản với một hệ thống cụm từ chỉ bóng tối: “ñêm ñêm – nghìn ñêm – thăm thẳm” Trong văn chương hiện ñại không hiếm những tác giả sử dụng lối tương phản này: Nhà văn Thạch Lam trong truyện ngắn “Hai ñứa trẻ” ñã dùng hình ảnh bóng tối lấn át ánh sáng ñể diễn tả cuộc ñời tăm tối của những kiếp người nghèo khổ trong một phố huyện nhỏ Trong truyện ngắn “Chữ người tử tù” thì ngược lại, nhà văn Nguyễn Tuân ñã dùng ánh ñuốc ñỏ rực ñể xua ñi bóng tối của buồng giam chật hẹp, ñể khẳng ñịnh niềm tin vào sự chiến thắng của cái ñẹp, cái “thiên lương” trong một xã hội ñen tối Dẫn ra như vậy, càng có cơ
sở ñể tin rằng trong những câu thơ của Tố Hữu, với xu thế ánh sáng lấn át bóng tối, dường như tác giả có dụng ý nêu bật xu thế chiến thắng tất yếu của dân tộc ta trước mọi kẻ thù hắc ám, ñồng thời khẳng ñịnh những ngày tươi sáng, hạnh phúc nhất ñịnh sẽ tới với chúng ta
Thực ñúng như vậy, tin vui chiến thắng ñã tràn ngập khắp nơi:
“Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, ðiên Biên vui về Vui từ ðồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc, ñèo De, núi Hồng”
Bằng ñiệp từ “vui” cùng với cách liệt kê các ñịa danh gắn liền với những chiến công lẫy lừng của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp khi bước vào giai ñoạn cuối, tác giả ñã diễn tả ñược rất cụ thể niềm vui chiến thắng của dân tộc ta Tin vui từ Nam Bộ (ðồng Tháp) ñến miền Trung, Tây Nguyên (An Khê) rồi tới Việt Bắc, ñúng là “trăm miền” Cách dùng từ của tác giả “Tin vui … trăm miền
… vui về … vui từ … vui lên”, gợi ra tin vui ấy là liên tục, nối tiếp, dồn dập, làm náo nức lòng người Trong cách dùng từ của tác giả ta còn nhận thấy tất cả những tin vui ñều hướng về Việt Bắc ðiều ñó như khẳng ñịnh, ca ngợi Việt Bắc chính là trung tâm ñầu não của kháng chiến Thật tinh tế và sâu sắc vô cùng
Tóm lại, ñoạn thơ vừa ñậm chất sử thi hào hùng, vừa giàu tính lãng mạn, với nhiều biện pháp
nghệ thuật, ñã diễn tả thành công khí thế kháng chiến ở Việt Bắc cũng như niềm vui chiến thắng của quân
và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp Qua ñó, nhà thơ Tố Hữu khắc họa sâu sắc hình ảnh dân tộc Việt Nam anh hùng trong cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, ñầy gian khổ hi sinh nhưng nhất ñịnh thắng lợi và ñã thắng lợi
“Việt Bắc” ñúng là khúc hùng ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến,
là ñỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp VàTố Hữu thật xứng ñáng là lá cờ ñầu của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam
*
ðề 2: Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng thiên nhiên và con người Việt Bắc trong ñoạn thơ
sau trong bài “Việt Bắc” của nhà thơ Tố Hữu:
“Ta về, mình có nhớ ta Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”
Bài làm tham khảo
Tố Hữu là nhà thơ lớn của của nền thơ ca Việt Nam hiện ñại, là một trong những lá cờ ñầu của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam Con ñường thơ của Tố Hữu gắn bó song hành với từng chặng ñường cách mạng của dân tộc, ñồng thời cũng là những chặng ñường vận ñộng trong quan ñiểm tư tưởng và nghệ thuật của chính nhà thơ Tố Hữu có nhiều tập thơ lớn với nhiều bài thơ có giá trị, trong ñó có bài
“Việt Bắc” trong tập thơ cùng tên, là một trong những bài thơ ñể lại trong lòng người ñọc nhiều xúc cảm
Trang 6
ựặc biệt Trong bài thơ này, Tố Hữu ựã rất thành công khi khắc họa hình tượng thiên nhiên và con
người Việt Bắc mà tiêu biểu nhất là ựoạn thơ sau:
ỘTa về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối ựỏ tươi đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người ựan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách ựổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chungỢ
Sau khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940, Việt Bắc trở thành căn cứ ựịa của cách mạng, nơi Bác Hồ và Trung ương đảng lãnh ựạo cuộc ựấu tranh giải phóng dân tộc ựến khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công Năm 1946, thực dân Pháp tái chiếm nước ta, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Hà Nội rơi vào tay giặc, Việt Bắc một lần nữa, trở thành nơi bảo vệ, chở che cho trung tâm ựầu não kháng chiến, là nơi ở và làm việc của Bác Hồ, của trung ương đảng và Chắnh phủ
Chiến dịch điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, Hiệp ựịnh Giơnevơ về đông Dương ựược kắ kết (tháng 7-1954), hòa bình trở lại, miền Bắc nước ta ựược giải phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới Một trang sử mới của ựất nước ựược mở ra Tháng 10-1954, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuôi, Trung ương của đảng và Chắnh phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại Thủ ựô Nhân sự kiện thời sự có tắnh lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ ỘViệt BắcỢ
ỘViệt BắcỢ là một bài thơ dài gồm 150 câu lục bát với hai phần lớn: phần ựầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến, phần sau gợi viễn cảnh tươi sáng của ựất nước và ngợi ca công ơn của đảng, Bác Hồ với dân tộc Bài thơ có kết cấu ựối ựáp với hai nhân vật trữ tình Ộmình Ờ taỢ: người Việt Bắc và người cán bộ kháng chiến trong buổi chia tay ựầy lưu luyến, xúc ựộng đoạn thơ trên nằm trong phần ựầu của bài thơ và là lời ựáp của người cán bộ cách mạng về xuôi với lời hỏi của người Việt Bắc ở lại Trong ựoạn mười câu thơ này, người về bộc lộ nỗi nhớ của mình ựối với thiên nhiên và con người Việt Bắc Có thể coi ựây là một trong những ựoạn thơ tập trung cao nhất vẻ ựẹp giá trị tưởng và phong cách nghệ thuật của Tố Hữu
Mở ựầu ựoạn thơ, người cán bộ kháng chiến về xuôi hỏi người ở lại:
ỘTa về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng ngườiỢ
Hỏi nhưng không cần ựược trả lời, là ựể bộc lộ tâm trạng, người cán bộ về xuôi khẳng ựịnh và diễn tả nỗi nhớ với Việt Bắc một cách khái quát: nhớ ỘhoaỢ cùng ỘngườiỢ điệp từ ỘTa vềỢ và ỘnhớỢ tăng thêm nhạc ựiệu êm ái, hợp với nỗi nhớ thương và nhấn mạnh tình cảm tha thiết giữa người ựi, kẻ ở Trong nỗi nhớ của người về, ấn tượng sâu ựậm nhất là ỘhoaỢ và ỘngườiỢ ỘHoaỢ là biểu tượng của thiên nhiên Việt Bắc tươi ựẹp đặt ỘhoaỢ bên cạnh ỘngườiỢ làm cho sắc thái của ỘnhớỢ thêm ựa dạng: người về không chỉ nhớ cảnh mà còn nhớ cả người
Tám câu thơ còn lại là hình ảnh thiên nhiên và con người Việt Bắc trong nỗi nhớ của người về đoạn thơ có kết cấu ựan xen ựộc ựáo: câu thơ sáu chữ tả cảnh, câu thơ tám chữ tả người, cảnh và người gắn bó hòa quyện Ở ựoạn thơ này, tác giả ựã diễn tả thiên nhiên và con người Việt Bắc trong bốn mùa Sáu câu thơ cuối là ba mùa xuân, hạ, thu Vậy hai câu thơ ựầu sẽ là mùa ựông Khi kể các mùa trong năm, người thường ta nói: xuân, hạ, thu, ựông Ở ựây, Tố Hữu lại bắt ựầu bằng mùa ựông Có vẻ khác thường ? Nhưng sẽ là hợp lắ khi ta biết rằng Tố Hữu viết bài ỘViệt BắcỢ vào tháng 10, lúc ấy là mùa ựông ở miền Bắc
Trang 7đọc tám câu thơ, ta cảm nhận ựược bức tranh thiên nhiên Việt Bắc bốn mùa tươi ựẹp, con người Việt Bắc với phẩm chất cao quắ, có sự gắn bó, chan hòa với thiên nhiên
Việt Bắc trong mùa ựông là hình ảnh:
ỘRừng xanh hoa chuối ựỏ tươi, đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.Ợ
Rừng Việt Bắc vào ựông là một màu xanh bạt ngàn, ựược ựiểm tô, thắp sáng bởi Ộhoa chuối ựỏ tươiỢ ỘXanh Ờ ựỏ tươiỢ là gam màu nóng, làm hiện lên vẻ ựẹp hoang sơ, tráng lệ của những cánh rừng Việt Bắc Nói tới mùa ựông, người ta thường nghĩ ựến sự rét mướt, lụi tàn Nhưng ở câu thơ tả mùa ựông của Tố Hữu lại chẳng hề thấy sự lụi tàn, rét mướt Mà ngược lại, câu thơ còn gợi ra một sự ấm nóng, sự tươi tốt của cây cối điều này hợp lắ, bởi cây rừng thì thu hay ựông cũng chẳng bao giờ có thể rụng hết lá ựược Mặt khác, nếu là rừng chuối thì càng hợp lắ, bởi loài chuối thì chẳng bao giờ rụng lá theo mùa cả
Trên phông nền của ỘRừng xanh hoa chuối ựỏ tươiỢ là hình ảnh con người: Ộđèo cao nắng ánh dao gài thắt lưngỢ Câu thơ ựược coi là sự phát hiện ựộc ựáo của Tố Hữu, mang màu sắc Ộrất Việt BắcỢ như cánh nói của nhà thơ Xuân Diệu Người Việt Bắc lúc ựi rừng, thăm rẫy, làm nương, ựều mang theo dao và gài ở thắt lưng Ở câu thơ này, Tố Hữu ựã Ộchụp ựược ảnhỢ của người lao ựộng khi họ ựang ở trên ựèo cao Trên tầm cao của ựèo, nên chỉ thấy Ộánh daoỢ phản quang lấp lánh, như vậy mới hợp lắ Chỉ một câu thơ, người ựọc có thể cảm nhận ựược hình ảnh mạnh mẽ, hào hùng của con người Việt Bắc trong tư thế làm chủ thiên nhiên, tư thế vận ựộng ựi lên phắa trước Phải có một tâm hồn thi sĩ tinh tế, sự am hiểu
và và quan sát sắc sảo mới viết ựược câu thơ ựúng như vậy, hay như vậy về con người Việt Bắc Ờ người lao ựộng mang tầm vóc thời ựại Ta ựã từng gặp trong thơ Tố Hữu hình ảnh tương tự khi ông viết về anh
bộ ựội ỘLên Tây BắcỢ:
ỘRất ựẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài trên ựỉnh dốc cheo leo Núi không ựè nổi, vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió ựèoỢ
Hai câu thơ tiếp là hình ảnh thiên nhiên và con người Việt Bắc trong mùa xuân:
ỘNgày xuân mơ nở trắng rừng, Nhớ người ựan nón chuốt từng sợi giang.Ợ
Khi xuân ựến thì rừng Việt Bắc có Ộmơ nở trắng rừngỢ, một loài hoa rất ựặc trưng ở nơi này Ngày xuân, rừng núi Việt Bắc ựược bao phủ bằng màu trắng của hoa mơ động từ ỘnởỢ kết hợp với tắnh
từ Ộtrắng rừngỢ khiến cho cảnh vật như ựang vận ựộng, ựang bừng lên một sức sống Màu trắng có sức
ám ảnh lớn, trong trường hợp này, nó gợi ra một vẻ ựẹp tinh khôi, trắng trong, thanh khiết, gợi ra cảm giác thơ mộng, bâng khuâng
Trên phông nền của ngày xuân là hình ảnh người Việt Bắc Ộựan nón chuốt từng sợi giangỢ Tác giả viết về con người Việt Bắc trong một khung cảnh cụ thể với một công việc cụ thể Nón giang là một trong những vật phẩm mỹ nghệ thủ công ựặc trưng của Việt Bắc Chiếc nón ựược kết từ vô số những sợi giang nhỏ, ựều, bóng, mịn Vì thế mà người ựan nón phải Ộchuốt từng sợi giangỢ Có chịu khó và khéo tay mới làm ựược như vậy Câu thơ gợi lên hình ảnh những người thợ thủ công, người lao ựộng cần cù, tài hoa Con người Việt Bắc Ờ con người Việt Nam thật ựáng trân trọng Con người ấy từng xuất hiện trong thơ Nguyễn đình Thi:
ỘTay người như có phép tiên Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơỢ
Cùng với chiếc nón bài thơ duyên dáng của xứ Huế ựược nói ựến trong bao câu thơ lời hát, ta lại biết chiếc nón giang của Việt Bắc qua thơ Tố Hữu
Xuân qua, hè tới, rừng Việt Bắc cũng thay ựổi:
ỘVe kêu rừng phách ựổ vàng
Trang 8
Nhớ cô em gái hái măng một mình.Ợ
Sự chuyển ựộng của thời gian, sự chuyển vần từ xuân qua hè, ựược thể hiện qua âm thanh ựặc trưng, quen thuộc Khi tiếng ve ỘngânỢ lên thì Ộrừng phách ựổ vàngỢ Câu thơ hay vì thời gian cũng mang màu sắc Chỉ Việt Bắc mới có rừng phách vàng rực trong mùa hè Thật tráng lệ, hiện lên trước mắt người ựọc là hình ảnh rừng phách ựang ngả sang màu vàng rực rỡ, lunh linh trong nắng hè, cùng với âm thanh rộn rã của tiếng Ộve ngânỢ suốt ựêm ngày Chữ ỘựổỢ trong câu thơ là một Ộnhãn tựỢ, diễn tả sự rộng khắp, dàn ựều của màu sắc Câu thơ của Tố Hữu làm ta nhớ ựến thi sĩ Xuân Diệu với câu thơ Ộđổ trời xanh ngọc qua muôn lá Ờ Thu ựến nơi nơi ựộng tiếng huyềnỢ (Thơ duyên), ựó là sự gặp gỡ của những tài năng nghệ thuật lớn
Trong khung cảnh Ộrừng phách ựổ vàngỢ cùng với tiếng Ộve ngânỢ là hình ảnh Ộcô em gái hái măng một mìnhỢ Câu thơ hay ở vần ựiệu: cách hiệp vần lưng Ộgái Ờ háiỢ và cách sử dụng phụ âm ỘmỢ liên tiếp của các từ Ộmăng Ờ một Ờ mìnhỢ, tạo cho câu thơ mang tắnh ựa thanh, tắnh nhạc hấp dẫn Người Việt Bắc là cô gái trẻ trung xinh tươi, lạc quan yêu ựời, ựi hái măng giữa rừng vầu, rừng tre nứa trong khúc nhạc rừng, tuy chỉ có Ộmột mìnhỢ mà chẳng hề cô ựơn Con người ấy ựang làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc ựời Giữa một không gian nghệ thuật ựầy màu sắc và âm thanh của suối rừng, cô gái Việt Bắc xuất hiện thật hồn nhiên, thật ựáng yêu lạ thường
Hai câu thơ cuối là hình ảnh Việt Bắc trong mùa thu:
ỘRừng thu trăng rọi hòa bình, Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.Ợ
Mùa thu chiến khu Ộtrăng rọi hòa bìnhỢ Chỉ một chữ ỘrọiỢ, câu thơ ựã gợi ra ựược hình ảnh rừng cây, núi ựá, khe suối, bản làng Việt Bắc như ựang phơi trải, tắm mình dưới vầng trăng trong ngần trên bầu trời xanh ngát Cảnh thật lộng lẫy, thơ mộng, làm ta bồi hồi nhớ lại câu thơ trăng của Bác Hồ viết ngày ựầu kháng chiến: ỘTrăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoaỢ (Cảnh khuya)
Khép lại ựoạn thơ là hình ảnh người Việt Bắc với ỘTiếng hát ân tình thủy chungỢ Câu thơ gợi lên
vẻ ựẹp tâm hồn con người Việt Bắc ỘAiỢ là ựại từ phiếm chỉ, gợi lên bao hoài niệm, bâng khuâng như câu ca dao ỘNhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ aiỢ ỘAiỢ không là một người cụ thể nhưng lại là tất cả, là người Việt Bắc ựã gắn bó thủy chung Ộthiết tha mặn nồngỢ, ựã từng Ộựắng cay ngọt bùiỢ với cách mạng suốt
Ộmười lăm nămỢ
Tám câu thơ quả thực ựã trở thành bộ tranh Ộtứ bìnhỢ về thiên nhiên, con người Việt Bắc
Mỗi câu thơ là một phiên cảnh với mảng màu và nét vẽ tài hoa đó là bức tranh bốn mùa trong một năm, mỗi mùa lại mang một sắc thái riêng biệt Bức tranh gồm cả thiên nhiên và con người, nhưng có lẽ ựộc ựáo hơn cả là những câu thơ viết về thiên nhiên Việt Bắc Ở những câu thơ này, bằng nghệ thuật phối sắc tài tình trong miêu tả, nhà thơ ựã tạo lên bức tranh thiên nhiên Việt Bắc tươi ựẹp, ựầy sức sống với màu xanh của rừng già, màu ựỏ tươi của hoa chuối trong mùa ựông, màu trắng của hoa mơ mùa xuân, màu vàng rực của rừng phách mùa hạ, màu xanh hòa bình dịu mát của ánh trăng thu Bức tranh ựược cảm nhận
và miêu tả bằng nhiều giác quan tinh tế của nhà thơ Nhà phê bình văn học Hoài Thanh ựã nhận xét:
ỘNhững câu thơ của Tố Hữu viết về thiên nhiên trong ỘViệt BắcỢ có thể sánh với bất kì ựoạn thơ miêu tả thiên nhiên nào trong văn học cổ ựiển.Ợ
Cả ựoạn thơ là nỗi nhớ của người cán bộ về xuôi với thiên nhiên và con người Việt Bắc Nỗi
nhớ thiết tha ựã thấm sâu vào cảnh vật, vào lòng người điệp từ ỘnhớỢ với cách kết hợp biến hóa: Ộnhớ ta Ờ ta nhớ Ờ nhớ người ựan nón Ờ nhớ cô em gái Ờ nhớ aiỢ, diễn tả nỗi nhớ vơi ựầy dào dạt, cùng vần thơ lục bát với âm ựiệu ngọt ngào, bồi hồi như câu hát giao duyên Ộmình Ờ taỢ mượt mà trong làn ựiệu dân ca đoạn thơ gợi nên bao niềm tự hào ựối với ỘQuê hương cách mạngỢ và chiến khu bất khả xâm phạm
ỘRừng che bộ ựội, rừng vây quân thùỢ
Trang 9Cảm ơn nhà thơ Tố Hữu! Chỉ bằng một ñoạn thơ ngắn, ñã giúp người ñọc cảm nhận ñược thật
rõ nét, thật sâu sắc hình tượng thiên nhiên, con người Việt Bắc Những câu thơ viết về thiên nhiên và con người Việt Bắc trong ñoạn thơ có thể nói là một tuyệt tác Tố Hữu không chỉ ca ngợi thiên nhiên, con người Việt Bắc mà còn viết lên những vần thơ ñẹp nhất, hay nhất, ca ngợi ñất nước Việt Nam tươi ñẹp và con người Việt Nam thủy chung, cần cù, tài hoa, anh dũng, kiên cường ðoạn thơ góp phần làm cho “Việt Bắc” trở thành một trong những bài thơ lục bát hay nhất của Tố Hữu, của thơ ca Việt Nam
Nhà thơ Tố Hữu ñã về cõi vĩnh hằng, nhưng những vần thơ của ông vẫn còn vang mãi trong những con tim dạt dào tình yêu lí tưởng, yêu nước, yêu ñồng bào Hãy tưởng nhớ ñến Tố Hữu bằng bài thơ cuối cùng của ông:
“Xim tạm biệt ñời yêu quí nhất Còn mấy vần thơ, một nắm tro Thơ gởi bạn ñường, tro bón ñất Sống là cho và chết cũng là cho.”
*
ðỀ 3: Trình bày cảm nhận về hình tượng “sóng” trong bài thơ cùng tên của nhà thơ Xuân Quỳnh
Bài làm tham khảo
Trong nền thơ ca Việt Nam hiện ñại, nếu như Xuân Diệu ñược coi là “ông hoàng của thơ tình” thì Xuân Quỳnh cũng có thể ñược gọi là “nữ hoàng của tình yêu” Sinh ra ở Hà Tây, lớn lên ở Hà Nội, Xuân Quỳnh ñã từng làm diễn viên múa, sau chuyển sang làm báo và làm thơ Ngay từ những tác phẩm ñầu tay, Xuân Quỳnh ñã bộc lộ một hồn thơ phong phú, hồn nhiên, tươi mới và sôi nổi khát vọng Thơ Xuân Quỳnh thể hiện một trái tim phụ nữ hồn hậu, chân thành, nhiều lo âu và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc ñời thường Trong ñề tài tình yêu, nữ sĩ ñã có nhiều thi phẩm ñể lại dấu ấn sâu sắc cho người ñọc Bên cạnh “Thuyền và biển”, “Sóng” là một bài thơ sống mãi với thời gian, sống mãi trong trái tim tuổi trẻ
và cả những ai “trẻ lòng” Trong bài thơ này, tác giả ñã xây dựng thành công hình tượng sóng, một hình tượng nghệ thuật giàu ý nghĩa
“Sóng” ra ñời tại biển Diêm ðiền tháng 12 năm 1967, in trong tập “Hoa dọc chiến hào” (1968) Bài thơ miêu tả về sóng biển và diễn tả tâm trạng của nhân vật trữ tình “em”, người phụ nữ ñang yêu Trong bài thơ, “sóng” luôn ở bên cạnh “em” ñể tương ñồng, cộng hưởng, ñể diễn tả về “em”
Trong thế giới tự nhiên thiên hình vạn trạng, ngàn sắc muôn màu, sóng là một hình ảnh ñẹp, một
kì công của tạo hóa Trong thơ ca, sóng trở thành một hình tượng biểu ñạt những sắc thái tình cảm khác nhau của các thi nhân Với nhà thơ Huy Cận, sóng gợi lên một nỗi buồn trùng ñiệp, triền miên: “Sóng gợn tràng giang buồn ñiệp” (Tràng giang) Với nhà thơ Thâm Tâm, sóng lại trở thành hình ảnh biểu trưng cho những xao ñộng cõi lòng trong một buổi ñưa tiễn:“ðưa người, ta không ñưa qua sông – Sao có tiếng sóng
ở trong lòng” (Tống biệt hành) Nhà thơ Chế Lan Viên thì nhìn sóng như một vật trung gian ngăn cách hai
kẻ yêu nhau:“Sắp gặp em rồi sóng lại ñẩy xa thêm” (Chùm nhỏ thơ yêu) Còn thi sĩ ña tình Xuân Diệu lại
“xin làm sóng biếc” ñể “ào ạt, như nghiền nát bờ em” (Biển)
Nữ sĩ Xuân Quỳnh cũng dùng sóng làm một hình tượng nghệ thuật, nhưng sóng ñã trở thành một ñối tượng ñể nhà thơ diễn tả những trạng thái tâm hồn, những suy tư về một tình yêu nồng nàn, ñắm say, dào dạt, thủy chung và vĩnh hằng Cả bài thơ là những con sóng tâm tình xôn xao, con sóng của ñại dương, con sóng trong lòng người con gái ñang yêu khi ñứng trước biển ngắm nhìn những con sóng bất tận, vô hồi Sóng trong bài thơ của Xuân Quỳnh là một hình tượng ẩn dụ, là sự hóa thân cái “tôi” trữ tình của nữ sĩ, lúc thì hòa nhập, lúc lại là sự phân thân của “em”, người con gái ñang yêu một cách say ñắm Sóng ñã khơi gợi cảm hứng dào dạt cho một hồn thơ phong phú, hồn nhiên, tươi mới và sôi nổi khát
Trang 10
vọng Với hình tượng sóng, Xuân Quỳnh ñã có một cách nói rất hay ñể diễn tả tâm trạng và tình yêu nồng nhiệt của người con gái
Mở ñầu bài thơ, tác giả miêu tả ñặc ñiểm của sóng:
“Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể”
Bằng tương phản, nhà thơ ñã miêu tả hai trạng thái ñối lập của sóng Thật chính xác, những khi bão tố, biển ñộng, sóng trào lên “dữ dội – ồn ào” như giận dữ, như muốn nghiền nát cả bờ Nhưng những lúc trời êm, biển lặng thì sóng chỉ rì rào “dịu êm – lặng lẽ” ðối với sóng, sông là nhỏ hẹp, sóng chỉ có thể
“dịu êm, lặng lẽ” nên sóng phải “tìm ra tận bể”, nơi mênh mông, thoáng rộng mới có thể “dữ dội, ồn ào” Quả thật ñúng như vậy, có ñến nơi biển rộng trời cao, sóng mới có thể thỏa sức vẫy vùng
Miêu tả về sóng như thế ñã là thật ñúng, thật hay Nhưng ñặt trong mối quan hệ giữa “sóng” và
“em” thì việc miêu tả sóng còn có ý nghĩa là ñể diễn tả trạng thái tâm hồn và khát vọng của người phụ nữ ñang yêu, ñây mới là ý nghĩa chủ yếu của hình tượng sóng Hai tính chất ñối lập của sóng cũng là hai trạng thái tâm hồn của người con gái khi yêu Khi ấy, lòng người con gái cũng như sóng: có lúc ồn ào, sôi nổi, mãnh liệt những khát khao cháy bỏng; nhưng cũng có lúc lại lặng lẽ, suy tư, mơ màng ñi vào chiều sâu của tâm hồn với những nhớ mong, chờ ñợi Lòng người con gái ấy còn khát khao vượt ra khỏi những cái tầm thường nhỏ bé, ñể tìm ñến những miền bao la, vô tận, vĩnh cửu giữa cuộc ñời, ñể sống hết mình, giống như con sóng kia từ những dòng sông giới hạn bởi ñôi bờ chật chội, phải tìm về với biển cả mênh mông
Khổ thứ hai của bài thơ, tác giả nhận xét về sóng, từ ñó liên tưởng ñến tình yêu của con người:
“Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ”
Nhà thơ ñã nhận xét thật chính xác về hiện tượng sóng Ngày xưa và ngày sau, con sóng vẫn thế, vẫn “dữ dội và dịu êm – ồn ào và lặng lẽ”, vẫn tồn tại vĩnh hằng; cũng như tình yêu luôn là khát vọng muôn ñời, là nhu cầu cần phải có của tuổi trẻ Nhà thơ Xuân Diệu cũng từng khẳng ñịnh:
“Làm sao sống ñược mà không yêu Không nhớ không thương một kẻ nào”
(Bài thơ tuổi nhỏ)
ðối với nữ sĩ Xuân Quỳnh, sóng còn là ñối tượng ñể nhà thơ thể hiện những suy nghĩ, quan niệm về tình yêu Trước sóng bể muôn trùng, nhà thơ “nghĩ về anh, em”, “nghĩ về biển lớn”:
“Từ nơi nào sóng lên ? Sóng bắt ñầu từ gió Gió bắt ñầu từ ñâu ?
Em cũng không biết nữa”
Tác giả tìm và lí giải về nguồn gốc của sóng bằng cách ñặt ra những câu hỏi và tự trả lời Câu hỏi thứ nhất: “Từ nơi nào sóng lên ?”, câu trả lời: “Sóng bắt ñầu từ gió” Câu hỏi thứ hai: “Gió bắt ñầu từ ñâu
?”, không có câu trả lời, bởi sóng là một qui luật, qui luật của tự nhiên Từ việc lí giải nguyên nhân của hiện tượng sóng, nhà thơ lí giải về sự khởi ñầu của tình yêu Và cũng như sóng, không thể lí giải ñược tình yêu bắt ñầu từ khi nào: “Em cũng không biết nữa – Khi nào ta yêu nhau” Nếu như sóng là một qui luật của tự nhiên thì tình yêu là qui luật của tâm hồn Không thể ép buộc, không thể bán mua, không thể chiếm ñoạt, tình yêu ñích thực chỉ có thể có ñược khi có những rung ñộng tình cảm từ trong lòng người