1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tu lieu tham khao mon van

46 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 186 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những phút đau đớn và tuyệt vọngnhất của con ngời, nhân vật trữ tình vẫn tự đo mình trong kíchthớc vô cùng vô tân của vũ trụ, đây là nỗi đau của một anh hùngchiến bại, nỗi buồn của

Trang 1

Cáo tật thị chúng- Một triết lí uyên thâm về cuộc sống.

(SGK Ngữ Văn 10)

•Trần Xuân Tuyết

Gv THPT chuyên Lê HồngPhong-Nam Định

Sự xuất hiện bài Cáo tật thị chúng ( Cáo bệnh bảo mọi ngời)

của Mãn Giác thiền s (1052-1096) trong chơng trình Ngữ Văn 10ban cơ bản và nâng cao đã mang lại cho ngời dạy và ngời học cảmxúc mới mẻ Song đây là bài kệ, một thể loại văn bản chức năngnhằm tổng kết và truyền dạy giáo lí nhà Phật nên không phải giáoviên và học sinh nào cũng dễ dàng tiếp nhận.Chính vì thế đãxuất hiện trong một số tiết dạy cũng nh trong một vài tài liệu thiết

kế giáo án những ý kiến phân tích, đánh giá cha thật phù hợp với

đặc trng thể loại của tác phẩm này Có thể tóm lợc các ý kiến ấy

về hai điểm chính sau:

1 Con ngời không luân hồi nh cây cối Cuộc đời con ngời sẽ đi

về phía huỷ diệt không gì cứu vãn Vì thế nhà thơ có sự ngỡngàng, luyến tiếc trớc thời gian trôi nhanh, cha làm đợc việc gì

mà cái lão lai tàn lực đã đến

2 Bài thơ nhìn sự vật theo chiều hớng phát triển với niềm tinyêu và một tâm hồn lạc quan tơi sáng

Có thể nói hai cách hiểu trên là cha phù hợp với giáo lí nhà Phật

và điều mà thiền s kí thác trong tác phẩm này Vì vậy tôi xin đềnghị cách hiểu nh sau:

1 Chuỗi hoá-sinh của thế giới vô th ờng.

Cáo tật thị chúng là bài kệ thể hiện sự chiêm nghiệm sâu

sắc trong suốt cuộc đời tu hành của bậc đại giác Bài kệ lại đợcphán truyền cho các đệ tử khi Thiền s ốm nặng, phải cáo bệnhxin từ chức trớc khi Ngời qua đời ít lâu (Bài kệ đợc làm ngày 30tháng 11 năm 1096 Cũng năm ấy nhà s viên tịch)

Tác phẩm là một hỗn thể, bốn câu đầu thể ngũ ngôn, hai câusau thể thất ngôn Do có hình ảnh sinh động, giàu hình tợng nên

có ngời coi đây là thơ kệ Bốn câu đầu tác giả viết:

Xuân khứ bách hoa lạc,

Xuân đáo bách hoa khai.

Sự trục nhãn tiền quá,

Trang 2

Lão tòng đầu thợng lai.

( Dịch thơ: Xuân qua, trăm hoa rụng/ Xuân đến, trăm hoa tơi/Trớc mắt, việc đi mãi/ Trên đầu, già đến rồi)

ở đây nếu nhìn theo lối t duy phân tích thì bốn câu đầu cónội dung đợc sắp xếp theo hai quy luật ngợc chiều nhau.Quy luậttuần hoàn của thiên nhiên mở đầu là xuân tàn, hoa rụng- tiếp đó

là xuân tới, hoa tơi Còn quy luật của con ngời là sinh ra, thời giantrôi đi-cái già đã tới và chết Tính đúng đắn của hai quy luật này

là không thể phủ nhận

Nhng cái nhìn của Thiền s ở đây không phải là sự tách rờigiữa con ngời với thiên nhiên mà nhìn theo lối t duy tổng hợp Vìthế khi kết nối hai quy luật ấy ta sẽ thấy hiện ra một vòng trònkhép kín Tàn lụi-sinh ra-rồi lại tàn lụi Đấy chính là chuỗi tử-sinh,sinh-tử bất tận mà tất cả cỏ cây và con ngời đều không nằmngoài sự vận động của nó Một cái gì đó bị huỷ diệt, rồi lại đợctái sinh, tái sinh rồi lại bị huỷ diệt Nó giống nh định luật bảo toàn

và chuyển hoá năng lợng của Lô-mô-nô-xốp Xuân qua rồi xuân

đến, xuân đến rồi xuân đi, hoa tàn rồi hoa nở, con ngời ra đờirồi chết Sinh, lão, bệnh, tử là một quá trình chuyển động vô

định đang diễn ra trong toàn bộ vũ trụ này Dẫu có hoài tiếc

đến mấy cũng không chế ngự đợc sự đổi thay bất tận đó

Song không lạnh lùng chỉ ra cái tất yếu bị huỷ diệt, Mãn Giáccòn chỉ ra cái tất yếu đợc sinh thành Bởi sự kết thúc ở chu kìnày là sự khởi đầu một chu kì kế tiếp

Cho nên:

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

Vì đúng khi hoa tàn, nhị rữa lại là lúc xuất hiện “một cànhmai” Điều ấy cũng nh cái già đến, con ngời chết rồi lại đợc sinh ra

ở một kiếp khác theo sự vần xoay, luân hồi vô thuỷ vô chung củathập nhị nhân duyên

2 Con đ ờng giải thoát.

Đạo Phật cho rằng, nguyên nhân nỗi đau khổ của con ngờinằm ngay trong bản thân con ngời ở đây không phải Đức Phậtkết tội lòng ham sống bởi nếu vậy, còn ai dám đến với Phậtnữa.Tự trong sâu thẳm triết luận của mình, Phật khẳng định:bản thân cuộc sống không phải là nguyên nhân của khổ đau mà

do thái độ mù quáng với nó đã làm cho cuộc sống trở nên nặng nề.Cho nên, muốn hết khổ đau con ngời phải diệt trừ tận gốc ái dục,

Trang 3

vô minh và từ bỏ tham, sân, si Khi diệt trừ đợc điều ấy, con ngời

sẽ đạt đến cõi Niết Bàn Đó là sự bình thản đứng ngoài vòng sinh

tử, là trạng thái an lạc khi ánh sáng tuyệt đối của trí tuệ hiền minhxua tan bóng tối vô minh, là ngọn lửa tham, sân, si bị tịch diệt,

để tất cả chỉ còn là sự mát mẻ và yên tĩnh Bài thơ Cáo tật thị chúng của Mãn Giác Thiền s đã cho các đệ tử con đờng để đạt

đến cõi Niết Bàn ấy

Để cuộc sống an nhiên, tự tại các sa môn cùng thiện nam, tínnữ phải ra sức gắng công mà tu luyện, phải tích năng ngộ phápcho tâm tính, hãy biến đời mình thành mùa xuân đầy hoa đạovới những bông hoa thanh tịnh, vị tha, những bông hoa từ bi, hỉxả, những bông hoa của trí tuệ đơm hơng Có nh vậy mới đợc annhiên trong cõi vô thờng

Bằng sự tuệ giải, trong nhận thức sắc, sắc, không, không, MãnGiác đã mở tầm nhìn cho các đệ tử, đã mang đến cho con ngờinhận thức về thế giới nh nó hằng tồn tại Vì thấu đạt chân lí của

tự nhiên, Mãn Giác rất bình thản trong những ngày tháng cuối cùngcủa đời mình Ngời không bi quan mà cũng không lạc quan Bởicả bi quan và lạc quan đều cực đoan Ngời đã đến và đi giữathế gian này với sự an nhiên đầy siêu thoát

Khác với nhiều tôn giáo khác, Đạo phật đặt niềm tin tuyệt đốivào con ngời Chỉ con ngời mới giải thoát đợc cho mình Từ cáinhìn bác ái ấy, Đạo Phật cho rằng, trong tâm mỗi ngời đều cóPhật tính, trong ảo ảnh vẫn có chân nh Ai dám nghĩ, giữa màn

đêm giá lạnh, xuân tàn, hoa rụng, trớc sân đình kia lại tơi nở mộtcành mai:

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết là lời Thiền s nhắc nhở các

đệ tử của mình: Đừng nghĩ hết xuân là hết hoa, chết là kếtthúc tất cả Bởi nếu còn nghĩ nh vậy là cha ngộ Đạo, cha thấu suốtchân lí của lẽ hoá-sinh, vẫn còn đó nỗi sợ hãi canh cánh bên lòng

do sợi dây ái dục cha đợc cỡi bỏ ở khía cạnh khác, câu thơ còn làlời khẳng định: trong cuộc sống trần tục đầy nhiễu nhơng, nếu

ai thành tâm quy pháp, biết khơi dậy những phẩm chất tốt đẹptrong tâm hồn thì đều có thể chính quả Phật, đúng nh lờiThích Ca từng nói: “ Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính”

Trang 4

( Mọi chúng sinh đều có Phật tính) Vì thế cành mai là hình ảnhcủa biển sống, là sắc hơng của từ bi, hỉ xả, tế độ chúng sinh, làtrí tuệ sáng suốt thấu tỏ đợc nguyên nhân mọi nỗi khổ đau vàcon đờng giải thoát, là hiện tớng của chân nh bất sinh, bất diệt

Do vậy, hình ảnh “cành mai” đã truyền đến cho các đệ tửnguồn sinh lực kì diệu để họ hớng tới, vơn lên cái thánh thiện,trong lành nhằm thoát khỏi mọi phiền não

Phật giáo quan niệm, thế giới và con ngời đều đợc sinh ra từmột gốc là sáu đại: đất, nớc, lửa, gió, h không và thức(ý thức, tâmlý) Khi con ngời về với thiên nhiên là về với nguồn cội của mình

Đến với thiên nhiên là một trong những phơng thức để thoát tục

Từ quan niệm ấy, trong tác phẩm của mình, Thiền s đã tạo ra sự

đan xen kì diệu giữa mùa xuân có trăm hoa đang tơng hợp,

t-ơng sinh với con ngời và cuộc sống

Chỉ có chín mơi mùa xuân nữa là bài thơ Cáo tật thị chúng

chẵn một nghìn năm Thế nhng thời gian càng trôi qua, sắc hoacủa mùa xuân trớc càng bất chấp mọi sự đổi thay Bởi vì sắc hoa

ấy, bài học ấy vẫn còn nguyên giá trị cho cuộc sống hôm nay Đếnvới bài thơ, ta hiểu rằng con ngời cần phải biết tu dỡng cho tâmhồn trong sáng, đừng để sự đố kị, lòng tham và cái ác phủ lớpmây mờ lên chân nh tốt đẹp mà tạo hoá và đấng sinh thành đãban tặng cho mỗi chúng ta Hãy hoà hợp và thân thiện với thiênnhiên, bởi thiên nhiên là quê cha đất tổ của loài ngời, là trụ cột của

Đại học Vinh

Trang 5

Phan Bội Châu là một trong những hiện tợng độc đáo trên thi

đàn văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX Ông là nhà văncủa thời kì quá độ từ t duy nghệ thuật trung đại bớc lên kiểu tduy nghệ thuật hiện đại Bên cạnh đó, Phan Bội Châu cũng đợcnhân loại biết đến là một nhà chính trị, nhà cách mạng cónhững cống hiến to lớn trong buổi đầu đi tìm chân lí cáchmạng cho dân tộc Việt Nam Chúng ta sẽ nhìn nhận vấn đề nàymột cách khách quan hơn nếu xét từ khía cạnh văn bản, mà cụ

thể là với Bài ca chúc tết thanh niên- nếu nhìn từ góc độ

nhân vật trữ tình ta sẽ thấy đợc nét độc đáo và mới mẻ trong bútpháp của nhà thơ

Bài thơ ra đời vào khoảng thời điểm giao thời của mùa xuân1926-1927 Trớc đó, năm 1924 Phan Bội Châu đã gặp Nguyễn áiQuốc tại Quảng Đông và cụ cảm thấy “ một tiếng sấm mùa xuân ấyvừa cất lên, một tia thái dơng vừa mới mọc ra Tiếng sấm mùaxuân ấy, tia thái dơng ấy là chủ nghĩa xã hội vậy”( Phan BộiChâu) Năm sau, trên đờng từ Thợng Hải về Quảng Đông đểgặp Nguyễn ái Quốc lần thứ hai thì Phan Bội Châu bị thực dânPháp bắt giam kết án đa về giam lỏng ở Huế trong những ngàycuối đời Tại đây, trong dịp tết mùa xuân 1927, một đoàn đạibiểu học sinh Quốc học Huế đã đến bến Ngự chúc tết Sào Nam

và cụ đã làm bài thơ này để đáp từ Sở dĩ nói một chút đếnhoàn cảnh ra đời của bài thơ để sau này, trong quá trình phântích chúng ta vừa không phủ nhận giá trị t tởng, lại vừa thấy đợcchất trữ tình lãng mạn, độc đáo của bài thơ

Bài thơ mở đầu bằng ba động từ mạnh:

Dậy dậy dậy

Không nên hiểu rằng đây là lời kêu gọi thanh niên Có một chitiết ngoài văn bản rằng: Thời kì “ông già Bến Ngự” Phan BộiChâu có nuôi mấy đa trẻ trong nhà để cho khuây khoả tuổi già

Và đây là một chi tiết có thật đợc sử sách ghi nhận Vậy nên,hoàn cảnh mở đầu cho thấy đó là một buổi sáng bình thờngtrong một ngôi nhà bình thờng Ba tiếng “ Dậy dậy dậy ” chỉ

là một lời đánh thức rất đỗi bình thờng của ngời già đối vớinhững đứa trẻ trong nhà

Bên án một tiếng gà vừa gáy

Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng

Hai từ chỉ những sự kiện thời gian xảy ra trùng khít với nhau( gà gáy- chim chào mừng) Mùa xuân tới, thiên nhiên cảnh vật hàihoà, nhng con ngời với mùa xuân thì chở đầy tâm trạng “ Xuân

Trang 6

ơi xuân có biết cho chăng?” Nhân vật trữ tình muốn đi tìmmột niềm đồng cảm với mùa xuân ở đây, mùa xuân đã đợcnhân cách hoá tựa nh một ngời bạn của thi nhân Câu hỏi đó nhmột lời hối thúc, một sự băn khoăn,day dứt tới thời cuộc: đồng bào

ơi, đất nớc ơi, có biết cho tấm lòng ta chăng?

“Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng”: ba động từ

“thẹn”- “buồn”-“tủi”là những động từ mạnh chỉ tâm trạng củanhân vật trữ tình, nếu tách chúng ra khỏi cấu trúc bài thơ thìrất đỗi bình thờng Thế nhng đặt trong hệ thống ngôn từ củabài thơ, nó đã diễn tả đợc nỗi buồn, nỗi tủi, nỗi thẹn của mộtnhân vật phi thờng Trong những phút đau đớn và tuyệt vọngnhất của con ngời, nhân vật trữ tình vẫn tự đo mình trong kíchthớc vô cùng vô tân của vũ trụ, đây là nỗi đau của một anh hùngchiến bại, nỗi buồn của một ngời không thực hiện đợc lời thề củahai mơi năm trớc :

Hai vai gánh vác sơn hà

Đã chơi chơi nốt ối chà chà xuân

Nỗi đau buồn của một ngời vĩ đại, một nỗi đau thất bại đau

đớn đến mức nhân vật trữ tình cảm thấy còn lại cái thân sốngsót là may mắn lắm rồi Giờ đây, ta đã hết vai trò lịch sử, ngàytháng trôi đi và ta khuây khoả với mấy đứa trẻ con

Nếu bài thơ dừng lại ở đó thì vẫn là một chỉnh thể nghệthuật hoàn chỉnh, nó đã nói lên đợc tâm thế của ngời anh hùngchiến bại, nói hết đợc cái buồn, cái tủi, cái thẹn với non sông, đấtnớc Tuy nhiên bài thơ đợc tiếp tục khi mà nhân vật trữ tình cómột bớc ngoặt trong cảm xúc: nhân vật nén lại nỗi đau buồn củacá nhân để hớng về ngày mới cả những khát vọng không thànhcủa tác giả, những lời thề vói non sông ngày xa của mình khôngthực hiện đợc, giờ đây nhân vật trữ tình gửi gắm vào thế hệ t-

ơng lai của đất nớc Cụ Phan đã dùng một loại từ nhấn mạnh ( xúmvai, xốc vác, đi, đứng, trụ ) không phải để giáo dục thanh niên

nh một số nhà nghiên cứu đã khẳng định mà cái chín là để nóilên khát vọng của mình gửi gắm vào lớp trẻ: Câu thơ “Xúm vaivào xốc vác cựu giang sơn” là lời trăn trở của “hai vai ghánh vácsơn hà”, những trăn trở của việc cha làm đợc nay phó thác, gửigắm lại cho thế hệ tơng lai

Đoạn còn lại của bài thơ là sự đúc kết kinh nghiệm từ bản thân

“lốt xa” của chính tác giả-nhân vật trữ tình

Đến đây, vẫn nhìn từ góc độ nhân vật trữ tình đã có mộtbớc ngoặt to lớn trong tâm trạng: từ buồn tủi, thất vọng chuyển

Trang 7

sang lạc quan tin tởng và hi vọng vào lớp trẻ; đó cũng chính là sựchuyển biến t tởng từ con ngời cá nhân sang con ngời cộng

đổng, đân tộc của nhà thơ Đây chính là vấn đề cốt lõi làmnên sức sống tiềm tàng cho bài thơ

Cũng cần chú ý câu kết bài thơ: “ Chữ rằng nhật nhật tân,hựu nhật tân”.Câu này là sự tiếp nối của “ tân vận hội”, hàm

chỉ bài thơ Bài ca chúc tết thanh niên đợc hình dung nh cuộc

bàn giao giữa hai thế hệ, một thế hệ đã thừa nhận thất bại củamình nhng không thất vọng Trớc tơng lai của đất nớc, bàn giao sứmệnh lịch sử, giải phóng non sông cho thế hệ mới

Nh vậy, chúng ta thấy rằng, nếu nhìn từ góc độ ấy thì Bài

ca chúc tết thanh niên là một bài thơ đậm chất trữ tình, đặc

biệt hơn bao giờ hết, bài thơ đã diễn tả rất thành công tâm trạngcủa nhân vật trớc thăng trầm của đất nớc Đồng thời, làm nổi bật

đợc ý nguyện tha thiết muốn bàn giao lại sứ mệnh giải phóng nonsông đất nớc cho thế hệ mới bằng một niềm tin tất thắng Khôngnên áp đặt quá mức những ý đồ chính trị vào thơ Phan BộiChâu, nh thế không những không khai thác đợc nét tiềm tàngtrong từng con chữ mà còn vô hình trung đã biến thơ ông thànhmột thứ văn chơng khô khan, một công cụ phục vụ cho chính trịhơn là một tác phẩm văn chơng theo nghĩa đích thực của nó Theo Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống- số 1+ 2 năm 2006(Trang 49-50)

Nghệ thuật diễn tả độc đáo ở bài thơ

“Nguyệt cầm” của Xuân Diệu

Phan Huy Dũng

Mây vắng trời trong đêm thuỷ tinh

Lung linh bóng sáng bỗng rung mình

Vì nghe nơng tử trong câu hát

Mỗi giọt rơi tàn nh lệ ngân

Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời

Đàn ghê nh nớc, lạnh, trời ơi

Trang 8

Long lanh tiếng sỏi vang vang hận

Trăng nhớ Tầm Dơng, nhạc nhớ ngời

Bốn bề ánh nhạc biển pha lê

Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề

Sơng bạc làm thinh khuya nín thở

Nghe sầu âm nhạc đến sao khuya.

(Trích từ Thi nhân Việt Nam)

Trong toàn bộ thi phẩm của Xuân Diệu, Nguyệt Cầm thuộc sốbài thơ hay nhất Không những hay mà còn ma quái nhất, hoặchay một cách ma quái chừng nh không hiểu nổi

Với Nguyệt Cầm, một không gian lạnh, một tiếng đàn, một bản

nhạc lạnh đã gây ấn tợng buốt lạnh cho nhân vật trữ tình và độc

giả, nhờ một cách diễn tả lạnh Không giống bao lần khác, nhân

vật trữ tình nh quên nói mà chỉ nghe Đôi khi ngời đọc tởng nghetiếng anh ta, nhng không phải Đó chẳng qua là tiếng rên bất ngờ,không chủ định, không kìm giữ đợc của những cảm giác quáchừng bén nhạy

ấn tợng buốt lạnh của ngời đọc hoàn toàn có cơ sở Toàn bộ bàithơ đợc cấu tạo bằng những “vật liệu” có đặc tính lạnh Không

kể ba lần từ lạnh đợc nhắc đến, những hình ảnh gắn liền với nớc

nh lệ, sơng, nớc xanh, biển chiếc đảo hay các vật thể dễ gợi cảm giác lạnh nh thuỷ tinh, pha lê, bạc (ngần trong trắng ngần và ngân trong lệ ngân cũng có nghĩa là bạc, đã xuất hiện với mật độ cao Cả khi nhà thơ không trực tiếp nói về nớc thì địa danh Tầm D-

ơng và chuyện nơng tử trong câu hát trầm mình vẫn làm sóng

sánh trong lòng ngời đọc một “nỗi niềm nớc”, da diết, não nùng Vật liệu phù hợp đã có Vấn đề còn lại là phải tổ chức vật liệutrong một tổng thể thế nào để ngôn ngữ chung của chúngkhông bị chìm lấp đi Thờng đây là một yêu cầu gắt gao đốivới một kiến trúc s giỏi Khi xây dựng ngôi lầu ngôn ngữ củamình Xuân Diệu đã sử dụng khá nhất quán thao tác bố trí xen kẽnhững câu, những cụm từ mô tả ngoại vật cùng âm thanh, tínhchất của bản nhạc với những câu, những từ nói về cảm giác trựctiếp của con ngời khi đắm mình trong không gian tự nhiên,

không gian nhạc ấy Ta nghe “lên vút song song” một bên là Trăng

nhập vào giây cung nguyệt lạnh, là trời trong, đêm thuỷ tinh, nguyệt tỏ ngời, mỗi giọt rơi tàn, long lanh tiếng sỏi, bốn bề ánh nhạc với một bên là tiếng gọi, tiếng than, tiếng rên và nhiều cung

bậc tình cảm khác:hỡi, ôi, trời ơi, nhớ thơng, ghê, rợn, buồn, sầu,

hận với cách đan cài giữa miêu tả và biểu hiện nh thế, nhà thơ

Trang 9

tỏ ra tôn trọng và giữ gìn tối đa đặc tính của vật liệu, làm cho

đặc tính ấy cứ ngân nga theo mỗi bớc cảm thụ của độc giả.Hiệu quả cuối cùng là cái lạnh của khách quan, của nhạc, của thơngấm sâu vào lòng ngời đọc, tạo nên sự nhất thể hoá giữa ta vớinhạc, với thơ và bao quát hơn là với cả vũ trụ Có phải vì thế màtrăng vừa mới nhập vào dây cung nguyệt, thì không chỉ dâycung nguyệt lạnh đi, mà hồn ngời cũng rùng lạnh, nao nao và câuthơ thoắt trở nên vời vợi nh muốn khuyếch tán nỗi nhớ, niềm th-

ơng vào khoảng không cao vời, vắng lặng: Trăng thơng, trăng nhớ

hỡi trăng ngần! Từ nhập không mang nghĩa soi chiếu thông thờng

mà có nghĩa là hào nhập tận bề sâu, nói theo cách của Baudelảie

“hòa nhập trong một thể thốngnhất âm u và sâu xa” Đó

là sự hoà nhập có khả năng tái sinh chứ không phái là sự hoà nhậpchết Phải chăng sự hoà nhập này chính là cái tứ chính chi phốitoàn diện cách tổ chức ngôn ngữ của bài thơ? Nguyên tắc đồng

đẳng vốn rất đặc trng của thơ trữ tình( theo R Jacobson) đã

đợc Xuân Diệu áp dụng một cách triệt để Quan hệ ẩn dụ giữacác danh từ, hình ảnh đợc xác lập một cách chắc chắn và hiện

diện ngay từ nhan đề của bài thơ Nguyệt cầm là từ ghép chỉ

loại đàn nguyệt(loại đàn thùng tròn hình mặt trăng, có hai dây),

lại vừa là hai từ đơn chỉ hai sự vật trăng(nguyệt) và cầm(đàn).

Có thể, nó còn là âm điệu thơng nhớ mênh mang thờng đợc phổvào cung nguyệt Khi đã chấp nhận mối quan hệ tơng đồng giữahai sự vật chủ chốt này, ngời đọc tự nhiên thấy đằng sau những

từ nói về trăng là hình ảnh của cây đàn và ngợc lại Nhng mốiquan hệ giữa trăng và đàn còn đợc triển khai rộng hơn, linh hoạt

hơn nữa Giữa nguyệt tỏ ngời và Mây vắng trời trong, đêm thuỷ tinh vốn có tơng quan nhân quả(mỗi sự vật vừa là nhân,

vừa là quả) thì tất yếu câu thơ vừa nhắc còn hàm ngụ nét miêutả thanh âm trong vắt của tiếng nguyệt cầm đang lan toả khắpkhông gian, thậm chí hàm ngụ nét miêu tả âm điệu não nề cókhả năng thôi miên ngời nghe của tiếng đàn nữa Tiếng đàn và

điệu hồn của ngời chơi nhạc, nghe nhạc đã là một thì cũng rấthiển nhiên, trăng kia, trời kia chẳng còn là một tồn tại khách quan

đối với con ngời Tuy mãi đến câu đầu của khổ thứ t(khổ cuối),tác giả nh mới lần đầu xác định sự đồng nhất giữa bốn bề ánhnhạc với biển pha lê bằng dấu hai chấm có thể nhận biết bằng thịgiác, nhng sự thực ngời đọc đã hiểu và chấp nhận sự đồng nhất

ấy ngay từ đầu

Trang 10

Quan hệ ẩn dụ thông thờng đợc tạo nên nhờ sự tác động của các

từ, các hình ảnh kề nhau có ý nghĩa tơng đồng Nhng xét đếncùng, nó còn bao hàm sự tơng tác giữa các yếu tố tơng dị, tơngphản nữa Trăng là đàn mà cũng không phải là đàn Trăng xa xôi

mà đàn gần gụi Trăng lơ lững giữa trời mà đàn nằm giữa vòngtay Nghịch lí này tạo nên độ căng trữ tình rất đặc biệt của củabài thơ.Một mặt, là nhận thấy sự chú ý của nhà thơ chỉ chuyênnhất vào một điểm, nhng mặt khác, ta lại thấy sự miêu tả đã đợctiến hành luân phiên với một bên là trăng, là trời đất với một bên là

đàn, là thanh âm Nghĩa là đối tợng tri giác của nhà thơ thờngxuyên đợc chuyển dời từ vật này sang sự vật khác Các sự vật càng

có tính chất khác nhau bao nhiêu(nh trời cao khuấy động nhu cầu

đợc vợt thoát còn tiếng đàn lại trì kéo, đa ta vào vòng xoáy củanhững cảm giác u uất,nặng nề) thì quá trình đồng hoá chúngcàng trở nên mạnh mẽ, rõ rệt, không cỡng nổi Biện chứng giữa litâm và hớng tâm, nghịch âm và hoà âm chính đã tạo nênnhững xung động thẩm mỹ phong phú trong lòng ngời đọc Cáchngắt nhịp đa dạng trong bài thơ thể hiện rõ ở khổ thứ ba:

Thu lạnh/càng thêm nguyệt tỏ ngời

t-đọc chỉ biết từng đợt sóng thanh âm của nhạc, thơ cứ triền miên

vỗ vào lòng chừng nh muốn đồng hoá luôn cả mình nh nó đã

đồng hoá nhà thơ “Chiếc đảo hồn tôi”không còn là cách nói

văn chơngnữa mà trở thành sự thật Bốn bề rồi lại bốn bề, một từ

đợc lặp lại hai lần ở vị trí mở đầu và kết thúc của hai câu liền

kề nhau đã vây riết hồn tôi nh sóng vây quanh chiếc đảo Rõràng rợn không phải là cảm giác đợc miêu tả một cách phóng đại!

ở trên đã nói đến những vật liệu có đặc tính lạnh trong bàithơ Thực ra những vật liệu ấy còn có đặc tính trong nữa Cáitrong ấy làm cho cái lạnh càng lạnh thêm và ngợc lại, cái lạnh làmcho cái trong có cơ chyển thành cảm giác ở đây quan hệ ẩn dụ

lại đợc bộc lộ ở một khía cạnh mới Hãy chú ý từ càng thêm thể hiện mối tơng quan giữa trong và lạnh trong câu Thu lạnh càng

Trang 11

thêm nguyệt tỏ ngời cũng nh xu thế động từ hoá rất mạnh của

những tính từ chỉ trạng thái tĩnh của sự vật nh buồn, lặng,

chậm, vắng, trong, lạnh, tỏ ngời, ghê Bóng sáng bỗng rung mìnhvì nghe nơng tử trong câu hát đã chết đêm rằm theo nớc

xanh, nghĩa là vì “nội dung” của bản nhạc, nhng rõ ràng nó cònrung mình về sự linh lung(1) của chính bản thân nó Hai từ láy

âm linh lung và long lanh đã trở thành những từ rất quan trọnglàm pha lê hoá mọi vật, kể cả hồn ngời Mọi vùng tối, nẻo khuất củalòng ta bị tấn công bởi ánh sáng, bởi dòng nhạc trong nh pha lê vàghê lạnh nh nớc có khả năng len thấm vào mọi ngóc ngách Phútchốc, con ngời có cảm giác nh toàn bộ cá tính bị vỡ vụn để hoàvào cái toàn thể vũ trụ ở đỉnh điểm của trạng thái nhất thể hoá

đó, tri giác con ngời trở nên rất linh hoạt, thính nhạy Những cái vôhình trừu tợng thoắt đợc vật thể hoá và các giác quan cùng tơngứng giao hoà trong niềm hứng khởi vô tận Nỗi hận bỗng vangvang nh nghe đợc Kênh thính giác nhập vào kênh thị giác và xúcgiác để tiếng đàn trở nên đông quánh, long lanh có sức nặng và

có thể năng truyền đến ngời nghe nhạc, nhà thơ, độc giả một cáilạnh thể chất vô cùng xác thực.Từ vô thức, tiếng kêu “trời ơi” bấtgiác bật ra

Giữa nhiều bài thơ rất có giá trị của Xuân Diệu trớc 1945,

Nguyệt cầm là một sáng tạo đột xuất, độc đáo.ảnh hởng thuyết

tơng ứng của Baudelảie đã thấm vào bề sâu chứ không còn dừnglại ở việc hấp thụ một số thủ pháp bề nổi nh ghép loại cảm giácnày với loại cảm giác khác Nhà thơ đã ghi lại một cách hết sứcchân thực cảm giác của mình trong giây phút xuất thần giaocảm với tiếng đàn, với vũ trụ bằng một hình thức diễn tả đặcbiệt phù hợp Do vậy nội dung bài thơ là một cảm giác chứ khôngphải là sự bình luận, nhận xét về nó Không phải ngẫu nhiên mànhững h từ biểu thị mối quan hệ tiếp nối, logic giữa các sự vật vàcác từ mệnh lệnh, hô gọi vốn đầy rẫy trong các của Xuân Diệu lại

xuất hiện khá tha thớt ở Nguyệt cầm Thử so sánh với một bài có nhiều nét tơng đồng với Nguyệt cầm là Huyền diệu(tập Thơ

thơ) ta càng thấy rõ điều đó Giữa các câu thơ và ngay trongnội bộ từng câu, cú pháp độc lập chiếm u thế so với cú pháp liêntục hay nói cách khác là cú pháp liên tục thể hiện tơng đối mờnhạt Đây là điều dễ hiểu quan hệ ẩn dụ chi phối toàn bài thơ-một bài thơ mà hình thức cổ điển vẫn in dấu đậm nét với đặc

điểm khá nổi bật là từ và từ liên hệ với nhau một cách hàm ẩntheo nguyên tắc đồng đẳng Bởi vậy tính chất cảm giác trực

Trang 12

tiếp trong bài thơ tăng lên một cách đáng kể với các hình ảnh

độc lập đợc đặt song song chiếu ứng với nhau.Tự cảm giác ấy có

đầy đủ ý nghĩa, có sức ám gợi, dẫn dụ mạnh mẽ, làm lây lan đến

ngời đọc cái lạnh, cái rợn, cái sầu tất yếu xảy ra trong khoảnh khắc hoà nhập cùng vũ trụ Dĩ nhiên lạnh, rợn, sầu lúc này đã mang một

nội dung khác với nội dung mà các giác quan thông thờng vẫn hằng

đa lại.Nếu không chú ý đầy đủ tới điều đó, ngời ta rất dễ cắtnghĩa mọi biểu hiện cảm xúc trong bài thơ bằng những lí dotrần tục, giản đơn và thô thiển

Nguyệt cầm là bài thơ mang đậm tính tợng trng có vẻ dẹp cao

sang, huyền nhiệm Hãy đọc bài thơ theo đúng với tính chất củanó

(1) Thi nhân Việt Nam do Nguyễn Đức Phiên xuất bản 1942 và Gửi hơng

cho gió,NXB Thời đại đều chép là linh lung chứ không phải là lung linh

Theo tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 2/1997

(Trang 12-13)

Thi pháp truyện ngắn Thạch Lam.

Phạm Phú Phong.

Trang 13

Thi pháp là mĩ học của ngôn từ, hay nói đúng hơn là cái đẹpcủa nghệ thuật văn chơng, nghĩa là toàn bộ những yếu tố cấuthành hệ thống nghệ thuật của một hiện tợng văn học Đã có nhiềubài nghiên cứu về đời Thạch Lam, trong đó đã ít nhiều đề cập

đến các cấu trúc nghệ thuật, các yếu tố hợp thành ngôn từ, vềthời gian, không gian, nhân vật, bình luận, ngoại đề, đối thoại,

mở đầu,dẫn dắt, kết thúc Nhng để có một cái nhìn đầy đủ

về hệ thống nghệ thuật với t cách là một chỉnh thể hình thứcmang tính nội dung, cần phải tìm đến cách tiếp cận thi pháphọc

Cũng chính vì lẽ đó và đồng thời để tránh một con đờng đivòng đã chi chít những dấu chân, xin phép tự giới hạn trong phạm

vi truyện ngắn mà gom lại thành mấy vấn đề nh sau:

1.Với một nhận thức thẩm mỹ sáng rõ, Thạch Lam đã xác định:

“Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm,tiềm tàng ở mọi vật bình thờng Công việc của nhà văn là phátbiểu cái đẹp chính ở chỗ mà không ai nhớ tới, tìm cái đẹp kín

đáo và che lấp của sự vật, cho ngời khác trông nhìn và thởngthức”(Theo dòng)(1) Đó là quan niệm nghệ thuật hết sức đúng

đắn và mới mẻ, chạm đến vấn đề căn cốt của sáng tạo, có giá trịlâu bền, tạo cho dòng mực trong ngòi bút của Thạch Lam chảytheo một lối rẽ khác với những ngời cùng nhóm trong văn đoàn Tựlực, nhng đồng thời cũng không giống với quan niệm của nhữngnhà hiện thực phê phán, bởi lẽ, điểm xuất phát đến với văn chơngcủa ông từ một phía khác Thạch Lam cũng đặt ra tiêu chí đầu

tiên cho tác phẩm là sự chân thực, là phải “tự cày bừa lấy trang

sách nói về ngời nhà quê trong văn chơng”, nhng ông lấy thế giới

hiện thực chung quanh làm nền tảng, ông đòi hỏi “phải biết quan

sát bề trong và biết đi sâu vào bí mật những tâm hồn ấy”

Nh-ng nếu chỉ có thế thì Thạch Lam đã tự xếp vào hàNh-ng nhữNh-ng nhàhiện thực phê phán và đứng gần các cây bút phân tích tâm lýsắc sảo nh Nam Cao, Vũ Trọng Phụng Thạch Lam cho rằng: “Nhàvăn cốt nhất phải đi sâu vào tâm hồn mình, tìm thấy nhữngtính tình và cảm giác thành thực: tức là tìm thấy tâm hồn củamọi ngời qua tâm hồn của chính mình, đi đến chỗ bất tử màkhông tự biết” và “qua tâm hồn ta, chúng ta có thể đoán biết đ-

ợc tâm hồn mọi ngời Và chỉ có khi nào chúng ta hiểu biết đợcnhững trạng thái tâm hồn của mình một cách sâu sắc, chúng tamới hiểu biết đợc trạng thái tâm lý ngời ngoài”.Nghĩa là cái hiệnthực mà nhà văn quan tâm, đặt lên hàng đầu, là hiện thực tâm

Trang 14

trạng, khai thác tận cùng những cảm xúc, quan niệm của tâm hồnmình để khám phá thế giới Hay nói đúng hơn, cảm xúc tâmtrạng của nhà văn bao giờ cũng xuất phát từ thế giới hiện thực, nh-

ng đợc biểu hiện qua bút pháp lãng mạn, làm cho Thạch Lam vừagần gũi với các nhà hiện thực, vừa mang vóc dáng lãng mạn, trữtình

Từ quan niệm hiện thực vận động trong con ngời đã đa đếnmột thế giới đông đảo, phong phú, đủ “thập loại chúng sinh” về

đứng chật trong thế giới tâm hồn của Thạch Lam Xin đừng vội tinvào “tuyên ngôn” của các nhà văn Khi Thạch Lam phác thảo vềchân dung ngời nhà quê trong văn chơng, nh tựa đề một tiểuluận viết vào năm 1939 của ông, chúng ta chớ vội tin là toàn bộsáng tác của ông viết về những ngời lao khổ Thế giới nghệ thuậtcủa ông là thế giới của những ngời nghèo khó cam chịu nh mẹ Lê

(Nhà mẹ Lê), chị Sen (Đứa con), những ý thức thân phận nh Tâm (Cô hàng xén), Lan và Huệ (Tối ba mơi), Liên (Một đời ngời), Dung

(hai lần chết), những ngời chân quê phố huyện nh vợ chồng ông

bà Cả và cô Lan (Tình xa), ngời bà và cô Nga (Dới bóng hoàng

lan), Liên và An (Hai đứa trẻ) nhng ngòi bút của ông còn thiện

cảm với cả những ngời giàu có, những ngời mà số phận đã bancho một đời sống sung túc nh gia đình của chị em Lan, Sơn

(Gió lạnh đầu mùa), Thanh (Một cơn giận), tấm lòng xót thơng vì một tiếng chim kêu của những ngời có mức sống trung lu (Tiếng

chim kêu), thậm chí thơng cả những ngời đầm Tây “những ngời

Pháp thật, những ngời cha bị cái hoàn cảnh bên này làm xấu đi( ) lúc nào cũng sẵn sàng tha thứ và cúi mình trên những đaukhổ của ngời ngoài Và tôi thấy cái ý muốn đợc thân thiện hiểubiết những ngời đàn bà ấy”(Ngời đầm) Có thể nói rằng con ngờitrong thế giới nghệ thuật của Thạch Lam, cả những ngời nghèokhổ đến kẻ khá giả, cả những ngời đói vật vã vì cái ăn, cái mặc

đến những ngời may mắn trong đời đều có tâm trạng buồn

th-ơng cam chịu về thân phận làm ngời-những con ngời có độ dcủa những phẩm chất làm ngời, nh chính cái nhìn yêu thơng ấm

áp với con ngời của tác giả; khác với con ngời làm trò, con ngời đánhrơi phẩm chất làm ngời trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan;khác với con ngời oan trái nhng không bị tha hoá bởi hoàn cảnhtrong sáng tác của Ngô Tất Tố, khác với con ngời bị vật hoá, con ng-

ời bán dần sự sống của chính bản thân mình, lê tấm thân vật vã

áo cơm trong sáng tác của Nam Cao; khác với con ngời vô nghĩa lítrong sáng tác của Vũ Trọng Phụng; đồng thời cũng khác với t duy

Trang 15

của những nhà lãng mạn với con ngời giao hoà nhân ái của XuânDiệu; con ngời hành động cải tạo xã hội vì mục tiêu cá nhân vớinhiều ảo tởng xa vời của Nhất Linh, Khái Hng Tâm hồn ThạchLam là đối tợng cho nhà văn khám phá miêu tả Đó là một khối thuỷtinh trong suốt, mỏng manh, dễ vỡ, không quen va chạm với xung

đột, mâu thuẫn khắc nghiệt Ngay cả khi ông miêu tả Một cơn

giận hoặc Hai lần chết cũng chẳng thấy gì đáng giận hoặc cha

thấy cái chết đâu cả Nhng mỗi khi khép lại những trang cuốitruyện, tâm hồn ta cứ phảng phất một nỗi buồn thơng nhẹ nhàngnhng day dứt, sâu nặng khó nguôi về thân phận con ngời

2 Một quan niệm nghệ thuật bao giờ cũng là tiền đề của mộtthi pháp nghệ thuật tơng ứng Thạch Lam thờng kể chuyện theotuần tự phát triển của thời gian, khó tìm thấy những yếu tố kỹ

thuật mang tính chất “làm văn” Đọc lại những hồi ký Những kỷ

niệm chia bùi sẻ ngọt cùng Thạch Lam của Đinh Hùng, Giai thoại một chầu hát không tiền khoáng hậu, Thạch Lam thẩm âm của Hoàng

Điệp Thứ Lang(1965), Ngời em thứ sáu của Nguyễn thị Thế, Tìm

kiếm Thạch Lam của Nguyễn Thế Uyên; Thạch Lam cha tôi trong

trí tởng tợng của Nguyễn Tờng Giang chúng ta thấy hầu hếtnhững chuyện của Thạch Lam đều là những chuyện có thật,chuyện trong gia đình, trong bạn bè đợc ông kể lại bằng một lối

kể bình thờng, chân chất và hầu hết đều dới điểm nhìn củanhân vật “tôi”- vừa là nhân vật, vừa là ngời trần thuật, vừa là tácgiả Do đó những ý kiến cho rằng văn chơng của Tự lực văn đoànnói chung, của Thạch Lam nói riêng đều là tình thơng theo kiểuban ơn của những ngời giàu có, d dật cúi xuống mảnh đời nghèokhổ ngày nay đã tỏ ra thiếu cơ sở, vì gia đình của anh emNguyễn Tờng đã từng nghèo khó sa sút Thạch Lam vả ngời chị thứnăm đã từng dọn quán hàng xén đợi chuyến tàu đêm ở phố huyênCẩm Giàng Với cái nhìn hiện thực sinh động, Thach Lam đã tìm

ra trong những chuyện thờng ngày tởng chừng nh không cóchuyện ấy những điều cần kể, và khi đã kể thì lập tức thànhchuyện Chuyện một đêm ma gió hai anh em nằm nghe tiếngchim kêu, thơng con chim muốn mở cửa đa vào, nhng ai cũng ngạirét, sáng ngủ dậy hoá ra không phải chim mà là tiếng hai cây trechạm nhau (Tiếng chim kêu) Chuyện một lần đi xem phim thấyngòi đầm mua vé hạng nhì, đoán chắc ngời đầm cũng thuộcloại nghèo, tởng ra “cái làng nhỏ ở sờn đồi, cái dãy nhà thờ cao lêntrên rặng cây, cánh đồng cỏ, mấy con bò đủng đỉnh bênsuối”(Ngời đầm) Chuyện đi tàu gặp ngời đồng hành đang đọc

Trang 16

chính cuốn sách mình viết (Cuốn sách bỏ quên) Chuyện đi ờng gặp ngời đã từng đi lính sang Tây (Ngời lính cũ) Chuyện cólần định lấy cắp tiền của bạn (Sợi tóc) Có chuyện suốt từ đầudến cuối là cuộc đối thoại giữa hai nhân vật (Ngời bạn trẻ) Nghệthuật dẫn chuyện của Thạch Lam là sử dụng mạch phát triển ngầmcủa tâm lý dòng chảy tiềm thức, với những khoảnh khắc cô đơntrong thế giới mà đôi khi con ngời không có ngôn ngữ để diễn tảhết tâm trạng, phải dùng đến ngôn ngữ của cử chỉ, nét mặt,

đ-ánh nhìn, bớc đi, dáng đứng Không thể tìm thấy một cơ sởchắc chắn nào để phủ nhận cái nguyên lý coi văn học đôi khi làtiếng nói của tiềm thức, của giấc mơ chiếm lĩnh thế giới tinh thầncon ngời Bởi lẽ bản chất văn học không chỉ phản ánh hiện thực

mà còn đề ra những ý thức mới, những t tởng- nghệ thuật, màtrạng thái tinh thần, trạng thái tâm lý không phải bao giờ cũng đợc

ý thức một cách đầy đủ Muốn tiếp nhận thế giới tởng tợng củaMãcen Prut, Kapka, Hêminguây, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, ThạchLam, hoặc sau này của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài ngời

đọc hoá thân vào tâm trạng nhân vật, cùng chui xuống tầngngầm của thế giới cha đợc ý thức ấy Từ tầng ngầm của dòng chảy

ý thức mới nhận thức đợc sự chi phối các quan niệm, sự hằn nổihình tợng của tác giả trong các hình tợng văn học, mối liên hệ mậtthiết giữa hình tợng không gian và thời gian-các yếu tố của thipháp kiến trúc

Điều quan trọng đối với Thạch lam, là sự nhất quán trong giọng

điệu và cảm xúc Niềm yêu thơng, trân trọng đối với con ngờicủa ông đã tạo cho giọng văn của ông một hơi thở ấm áp Ngay cảkhi kể về sự oan trái cay nghiệt của cuộc đời, Thạch Lam cũngluôn giữ con ngời đứng bên này của bờ vực yêu thơng cam chịu

(Đói, Trong bóng tối buổi chiều, Tối ba mơi); hoặc nhân vật bị

đẩy vào vực thẳm của nổi đắng cay chua xót, ngòi bút dừng lại,lửng lơ, mở ra những tuyến, những đờng cho ngời đọc hình

dung, chứ không chỉ ra hết mọi điều, mọi nhẽ (Nhà mẹ Lê, Một

cơn giận, Ngời bạn cũ, Hai lần chết) Còn gì buồn hơn cho thân

phận con ngời, khi vì cái đói của đàn con mà ngời mẹ phải đánhliều đi vay, bị nhà giàu xua chó cắn, về nhà lên cơn mê sảng rồichết Nhng còn đàn con kia chắc chắn cũng sẽ chết, không vìchó căn mà vì đói đang còn đeo đuổi mãi Ngời ta gom gópnhau mua cỗ áo quan chôn ngời mẹ xấu số, khi trở về qua căn nhàlạnh lẽo, âm u, họ thấy những đứa con của mẹ Lê ngồi ở vỉa hè,con Tý đang dỗ cho thằng Hy nín khóc, nói dối rằng mẹ nó đi một

Trang 17

lát sẽ về Nhng họ biết rằng bác Lê không trở về nữa Và họ thấymột cái cảm giác lo sợ đè nén lấy tâm can họ, những ngời ở lại,những ngời còn sống mà cái nghèo khổ cứ theo đuổi mãi không

biết bao giờ dứt”(Nhà mẹ Lê).

Thạch Lam biết đặt những câu, những từ đúng vị trí của nó

và buộc nó hắt sáng lên vấn đề, gợi lên một cách rõ ràng nhữnghình tợng, những trạng thái cảm xúc của tâm hồn: “Có nhữngngày mà tự nhiên, không hiểu tại sao, ta thấy khó chịu và hay gắtgỏng và không muốn làm việc gì” Đó là khởi đầu cho cái giận vô

cớ đa đến sự ân hận, sám hối trớc nỗi đau của con ngời (Một cơngiận); tình yêu đầu đời của chàng trai tỉnh và cô gái quê nơichàng trọ học “có cái gì dịu ngọt chăng tơ đâu đây khiếnchàng vơng phải” (Tình xa), hoặc “Thanh tiễn Nga ra đếncổng, đi qua hai bên bờ lá đã ớt sũng, mùi hoàng lan thoangthoảng bay trong gió ngát” (Dới bóng hoàng lan) Có những câuvăn đẹp, gợi không khí: “Tiếng trống thu không trên cái chòi củahuyện nhỏ, từng tiếng một vanng ra để gọi buổi chiều”(Hai đứatrẻ)

3.Hình tợng không gian-thời gian gắn quyện với nhau nhằm gợisâu tâm trạng;không gian và thời gian không thể chia cắt ra đợc.Trong bóng tối buổi chiều, Tối ba mơi, Nhà mẹ Lê gợi cho ta hìnhdung ra bóng tối đang đổ ập về phía số phận những con ngời

bé bỏng đang hắt hiu nh ngọn đèn trớc gió Cái nhìn lo âu củaThạch Lam luôn xoáy sâu vào những khía cạnh còn khuất lấp củahiện thực Không gian sinh hoạt của đời sống phố huyện tù đọng,giam hãm con ngời Bóng tối trải dài trên quảng đờng mấp môchân trâu, trên đờng phố huyện le lói đèn dầu, khoảng tối đêm

ba mơi trong căn buồng nhà săm, nơi cô gái điếm đang đón giaothừa, hoặc khoảng tối trong “dãy nhà lụp xụp, thấp lè tè, xiêu vẹotrên một cái đầm nớc, mà nớc đen hôi hám tràn cả vào đến thềmnhà Trong cái hang tối tăm bẩn thỉu ấy, sống một đời khốn nạnnhững con ngời nghèo nàn rách rới” Có khi,không gian nghệ thuật

là một không gian lép Ngời viết lớt qua không gian sinh hoạt,không gian suy tởng để vơn đến không gian suy tởng, cô đúc,

vo tròn lại, nếu trong phạm vi một chiếc dạ dày, nh không gian củaSinh (Đói), trong một khoang xe nh không gian của Thành (Cuốnsách bỏ quên), trong rạp hát nh không gian của Ngời đầm Từ một

điểm của tâm tởng, hay là dựa trên một điểm của tâm tởng,

ng-ời viết có thể liên tởng về không gian quá khứ ,về không gian song

Trang 18

hành hiện tại, hoặc hớng về mơ ớc tơng lai không lấy gì làmchắc chắn để nói lên sự chông hênh của thân phận con ngời Cái trục không gian-thời gian nghệ thuật của Thạch Lam là nơitồn tại một thế giới khôn cùng, quanh quẩn, ngột ngạt, từng mảnh

đời vụn vỡ có ý nghĩa khái quát, trong đó hằn sâu lên sự vấntâm- cũng là lời đối thoại với cuộc đời của tác phẩm- rằng, liệucon ngời đủ sức vùng vấy thoát khỏi tình trạng khốn cùng của cáikhông gian chật hẹp ấy không?

Trong sáng tác của Thạch Lam, không gian cá nhân bị dồn nén

đến mức ngột ngạt, làm xuất hiện sự cô đơn của nhân vật, vànhân vật tự đối diện với mình làm bộc lộ suy tởng Dới bóng trelàng đen dày, trong những căn nhà “ổ chuột” tối tăm, nhân vậtcủa Thạch Lam miên man trong những suy nghĩ, độc thoại nộitâm, sự day dứt âm thầm và chua xót về đời mình: “Tâm dấnbớc Cái vòng đen của rặng tre làng Bằng bỗng vụt hiện lên trớcmặt, tối tăm và dày đặc; Tâm buồn rầu nhìn thấy cả cuộc đờinàng, cuộc đời cô hàng xén trẻ tuổi đến tuổi già, toàn khó nhọc

và lo sợ, nagỳ nọ dệt ngày kia nh tấm vải thô sơ Nàng cúi đầu đimau vào trong ngõ tối”(Cô hàng xén) Đối với mẹ Lê cho đến cuối

đời mình, từ lúc bé đến bây giờ, chỉ toàn những ngày khổ sởnhọc nhằn “Cái nghèo nàn không biết tự bao giờ đã vào nhà báclúc sinh ra bác đã thấy nó rồi”(Nhà mẹ Lê) Nhân vật Sinh vật vãtrên chiếc phản gỗ, trong căn nhà tối tăm, chống chọi một cách bấtlực với cái đói, đến nỗi chàng chỉ muốn chết ngay lúc bấy giờ đểtránh khỏi cái nghèo khốn khó, nặng nề quá, đè ở trên vai”(Đói) Nhớ lại, hồi tởng lại đợc Thạch Lam sử dụng nh một yếu tố của thờigian nghệ thuật Thời gian quá khứ đợc hồi tởng lại, bao giờ cũng

đợc huyền thoại hoá với những ngọt ngào ấm áp Nhng với ThạchLam, thời gian nh là ngời bạn đờng đau khổ, nhớ lại, tởng lại chỉ

làm tăng thêm nỗi đau khổ trong hiện tại (Nhà mẹ Lê, Cô hàng

xén, Một đời ngời, Ngời lính cũ, Ngời bạn cũ ) Thạch Lam sử

dụng thời gian quá khứ đủ để diễn tả tâm trạng, còn thời gian

t-ơng lai chỉ là một giả định, một khoảng mờ tối, không đợc hìnhdung rõ ràng Những mơ ớc đời thờng của con ngời hầu nh ít diễn

ra, bởi vì con ngời lúc nào cũng loay hoay với cái ăn cái mặc,chống chọi với cái rét trớc mắt Thời gian hiện tại là những sinhhoạt thờng nhật, là thời gian hiện thực đợc miêu tả song hành vớithời gian tâm trạng Đối với Liên (Một đời ngời), quãng thời gian lấychồng, sống dới sự khắc nghiệt của ngời chồng vũ phu và mẹchồng ác nghiệt là thời gian nặng nề, đau khổ cả đời ngời, mới

Trang 19

“bảy tám năm qua mà Liên tởng nh lâu lắm, hình nh đã hết nửa

đời ngời” Đây đó xuất hiện thờng xuyên yếu tố lãng quên về kháiniệm thời gian thờng nhật, bởi sự tồn tại và chi phối của thời giantâm tởng: “Không nhớ là mấy tháng sau, anh Bào đến nhàtôi”(Ngời bạn trẻ) “Nàng không nhớ rõ gì cả Ra đến sông lúc nàonàng cũng không biết”(Hai lần chết)

Trên đây chỉ là vấn đề cơ bản trong thi pháp Thạch Lam, cầnphải có sự đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ hơn về vấn đề

mà Thạch Lam đề ra cho đến nay vẫn nguyên giá trị thời sự Ví

dụ, vấn đề về tính chân thực, về nghệ thuật kịp thời và vĩnhcửu, về tính cách nhân vật, về vai trò của thế giới quan và tàinăng trong quá trình sáng tạo, quan niệm về thể loại tiểu

thuyết đã đợc ông trình bày trong tiểu luận Theo dòng Những

t tỏng nghệ thuật ấy đã hợăc trực tiếp hoặc thầm lặng và kín

đáo chi phối ngòi bút sáng tạo của Thạch Lam, tạo ra những đặc

điểm thi pháp trong truyện ngắn của ông, in hằn dấu vết mộtphong cách: phong cách Thạch Lam

Theo sách “ Thach Lam về tác giả tác phẩm.”

Trang 20

Tiếng hát con tàu là bài thơ tập trung sức mạnh nghệ thuật

cũng nh tài hoa của nhà thơ Chế Lan Viên Bài thơ thể hiệnnhững sáng tạo độc đáo và đa dạng về ngôn từ, cấu tứ, hình

ảnh , là một dẫn chứng tiêu biểu về sự kết hợp hài hoà giữa triết

lí và trữ tình trong thơ Đã có không ít những bài viết phântích, thẩm bình về thi phẩm này, nhất là khi nó đợc tuyển vàoSGK Văn học 12 Tuy nhiên, bằng sự lí giải cặn kẽ về ngôn từ củabài thơ, chúng ta sẽ có những phát hiện mới cũng nh có một cáinhìn toàn diện, thấu đáo về đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm Nội dung bốn khổ thơ đầu tiên là lờig thúc giục, mời gọi lên đ-ờng Ngay khổ thơ đầu hình ảnh con tàu đã xuất hiện:

Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng?

Bạn bè đi xa anh giữ trời Hà Nội

Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi

Ngoài cửa ô tàu đói những vành trăng Thời điểm tác giả sáng tác bài thơ cha có đờng tàu lên TâyBắc, hình ảnh con tàu trong thi phẩm chỉ là hình ảnh tởng tợng;hay nói cách khác là hình ảnh đợc sáng tạo ra để thể hiện cảmhứng, ý đồ nghệ thuật của nhà thơ Hai khổ thơ đầu có tới ba

câu hỏi; trong câu hỏi thứ nhất hàm chứa sự mời gọi: Con tàu lên

Tây Bắc anh đi chăng?; câu hỏi thứ hai đồng thời là lời giục giã:

anh có nghe chăng gió ngàn đang rú gọi? đến câu thơ thứ ba là

sự giục giã khẩn thiết hơn: Tàu gọi anh đi sao anh chửa ra đi?,

những câu hỏi liên tiếp cho thấy nhu cầu lên Tây Bắc là sự thôithúc mãnh liệt của con tim, là cứu cánh của tâm hồn Điều đó còn

đợc thể hiện rõ trong câu thơ: Tâm hồn anh chờ gặp anh trên

kia, nghĩa là lẽ sống, ý nghĩa cuộc đời anh là ở trên kia, trên Tây

Bắc Có thể hiểu ngời hỏi ở đây là tác giả, là chủ thể trữ tình,nhng anh ở đây là ai? “Anh” ở đây không phải là ai khác màcũng chính là nhà thơ Nh chúng ta đã biết, bài thơ đợc sáng tácnhân một sự kiện kinh tế- xã hội, đó là chủ trơng của Đảng vàChính phủ vận động những ngời dân miền xuôi lên xây dựngkinh tế mới ở Tây Bắc; thời điểm này Chế Lan Viên bị ốm, không

đi đợc nên mới có câu thơ: Bạn bè đi xa anh giữ trời Hà Nội Đây

là hiện tợng phân thân của tác giả trong sáng tạo và nó đã đemlại hiệu quả thẩm mĩ cho thi phẩm Đó là những câu thơ đợc viếtlên trong t thế đối thoại, tạo nên một không khí rộn ràng, khẩn tr-

ơng, nh thúc giục cả xã hội lên đờng Nhng cha hết, câu thơ

Ngoài của ô tàu đói những vành trăng cho thấy con tàu là một

hình ảnh ẩn dụ, một biểu tợng cho tâm hồn tác giả với khát vọng

Trang 21

đi xa, hoà nhập vào đời sống nhân dân rộng lớn Vậy là, hai khổthơ đầu cho ta thấy sự “tam phân” của tác giả chứ không đơnthuần là hiện tợng phân thân Nó diễn tả một cách thiết tha nhucầu về với Tây Bắc

Nhng hiện tợng phân thân hay tam phân chỉ tồn tại ở hai khổ

thơ đầu, đến khổ thơ thứ ba và thứ t, chủ thể trữ trình hiệndiện ở ngôi thứ nhất, hoặc xng tôi hay con, giọng điệu giục giãchuyển sang giọng thành kính nhng vẫn với âm hởng náo nức củanội tâm Khổ thơ thứ ba đáng chú ý là hai câu thơ:

Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất

Nay dạt dào đã chín trái đầu xuân

Câu thơ: Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất diễn tả sự hi sinh mất mát Theo cách diễn đạt thông thờng, chỉ cần nói: Máu rỏ

thấm đất, còn trong câu thơ của Chế lan Viên thêm vào từ tâm hồn khiến nó lung linh nhiều ý nghĩa Máu thuộc về phơng diện

thể xác, tâm hồn thuộc về đời sống tinh thần; máu thì cụ thểcòn tâm hồn thì vô hình, trừu tợng ở đây hàm chứa sự chuyểnhoá, những hi sinh đợc diễn tả càng trở nên cao cả, thiêng liêng, nódờng nh là sự hoà nhập vào hồn sông núi Cho nên mới có sự tái

sinh kì diệu:Nay dạt dào đã chín trái đầu xuân

Hình ảnh trái chín đầu xuân là hình ảnh ẩn dụ cho cuộcsống mới tơi đẹp, tràn đầy sức sống mãnh liệt dạt dào, và chanchúa hạnh phúc ngọt ngào

Có thể nói, ngay trong đoạn thơ đầu tiên đã thể hiện nhữngsuy tởng sâu sắc của tác giả về Tây Bắc, biến hình ảnh TâyBắc trở thành một biểu tợng nghệ thuật chứ không đơn thuần làmột địa danh trên bản đồ Tổ quốc Tây Bắc là gió ngàn, vànhtrăng, là đất nớc mênh mông, xứ thiêng liêng, thậm chí còn là tâmhồn anh; Tây Bắc là những đau thơng trong quá khứ, đang táisinh trong hiện tại, tràn trề nhựa sống; và là cội nguồn của yêu th-

ơng Có thể nói, điểm độc đáo của bài thơ là cả hai biểu tợngTây Bắc và con tàu đều đựoc dệt nên bởi hàng loạt hình ảnh

ẩn dụ, chính vì thế mà ý nghĩa của nó luôn biến hoá, tạo nênnhững sắc thái thẩm mĩ đa dạng

Tuy nhiên, đến đoạn thơ thứ hai gồm bảy kổ thơ tiếp theo,biểu tợng Tây Bắc lại đợc thể hiện qua hàng loạt hình ảnh và chitiết cụ thể, chắt lọc từ kỉ niệm và suối nguồn ân tình của nhàthơ Tây Bắc ở đây là nhân dân, và nhân dân chính là ngọnnguồn bất tận của sự sống và hạnh phúc, ngọn nguồn của sáng tạonghệ thuật, là những gì thân thiết, sâu nặng nhất của tác giả

Trang 22

Trong đoạn thơ đã có hai câu thơ sau đã để lại ấn tợng sâu sắccho độc giả:

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Khi ta di đất đã hoá tâm hồn

Thậm chí chính tác giả cho rằng thành công của mình khi

viết bài thơ Tiếng hát con tàu là đã sáng tạo hai câu thơ nói

trên

Nhng câu thơ này lại hay bị đọc nhầm thành:

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn Vậy, liệu có thể thay thế từ đã bằng từ bỗng đợc không? Nếu diễn đạt là: Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn thì từ bỗng thể

hiện trang thái ngạc nhiên của chủ thể, bởi sự biến đổi nói trên làhết sức bất ngờ, màu nhiệm, nằm ngoài ý nghĩ của anh Nhng

trong câu thơ của Chế Lan Viên Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn

thì sự chuyển hoá ở đây không phải bất ngờ, đối với chủ thể trữtình, sự chuyển hoá đó luôn ở trong tâm niệm, và anh ta xem

đó là một chân lí hiển nhiên Cho nên, từ “đã” rõ ràng diễn tảsâu sắc mối liên hệ gần nh là máu thịt của tác giả đối với đất n-

ớc, nhân dân Ngoài ra, chúng ta thấy trong tác phẩm, “tâm hồnluôn có mối liên hệ kì lạ với đẫt; chẳng hạn với câu thơ đã phân

tích: Nơi máu rõ tâm hồn ta thấm đất; và khi “tâm hồn” đợc tách ra đồng nhất với nhiều đối tợng: Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia; Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu Việc

dùng từ đã trong câu thơ rõ ràng bị chi phối bởi ý nghĩa tổngthể của thi phẩm

Nội dung đoạn thơ cuối cùng là khúc hát lên rừng say mê, náo nức.Nhà thơ “bay” về với đất nớc, nhân dân bằng đôi cánh vội của

tâm hồn vui sớng, dạt dào, và cảm hứng thi ca bay bổng: Tàu hãy

vỗ dùm ta đôi cánh vội Hình ảnh đôi cánh vội là một hình

ảnh ẩn dụ, và vì thế, hình ảnh con tàu cũng đợc thẩm mĩ hoá,thi ca hoá, là tác nhân và nguồn năng lợng tinh thần khởi độngcho đôi cánh tâm hồn

ở khổ thơ này, ngời đọc cảm thấy một khung cảnh rộn ràng,tấp nập, nhộn nhịp trên đờng đi:

Mắt ta nhớ mặt ngời ta nhớ tiếng Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào

Rẽ ngời mà đi, vịn tay mà đến

Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao

Trang 23

Hàng loạt các động từ dăng, rì rào, rẽ, đến, vịn, và tính

từ chín, nồng, nóng tạo nên cảm giác hối hả, ngây ngất.

Tây Bắc ơi ngời là mẹ của hồn thơ Những hình ảnh nh vàng, cơn mơ, vành trăng đều là

hình ảnh ẩn dụ cho thi ca Cho nên tàu hoá thành một thi sĩmộng mơ:

Ai bảo con tàu không mộng tởng Mỗi đêm ra đi không uống một vành trăng

ở đầu bài thơ tàu đói những vành trăng, còn ở đây thì thoảlòng khao khát Và thi sĩ cũng đồng nhất với con tàu, ngập tràntrong cảm hứng sáng tạo và niềm hạnh phúc vô biên:

Lòng ta cũng nh tàu ta cũng uống Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân

Đây cũng chính là thời khắc kì diệu của sự tái sinh tâm hồnnhà thơ Tác giả đã thoát ra khỏi chân trời riêng nhỏ hẹp để đếnvới bầu trời của đất nớc nhân dân rộng lớn; đã đi từ chân trời củamột ngời đến chân trời của mọi ngời, thoát ra khỏi thế giới siêuhình, ma quái, chết chóc, h vô, đầm đìa giọt lệ của thung lũng

đau thơng đến cánh đồng vui tràn ngập ánh sáng và phù sa

Đến đây chúng ta hoàn toàn có thể lí giải cặn kẽ về tính triết

lí của thi phẩm, một nội dung vốn đợc nói đến thờng xuyên, nhngcha phải đã đợc phân tích thấu đáo Tính triết lí của bài thơ đ-

ợc thể hiện ngay ở câu đề từ Cụ thể là khi tâm hồn, tình cảmcủa thi sĩ hoà nhập với không khí náo nức, tng bừng, với niềm vui

chung của nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nớc (Khi lòng ta đã hoá những con tàu; Khi tổ quốc bốn bề lên tiếng hát) thì cũng chính là lúc soi vào lòng mình nhà thơ có thể thấy

đợc cả cuộc đời rộng lớn (Tâm hồn ta là tây Bắc chứ còn

đâu) Tác giả đã diễn tả mối quan hệ sắc sảo mối quan hệ biện

chứng giữa cá nhân và cộng đồng, giữa cái riêng và cái chung Cóthể nói, toàn bộ bài thơ xoay quanh trục triết lí đó Những điều

đáng nói hơn là triết lí nói trên đã hoà thành chân lí, niềm tin,trở thành cảm hứng mãnh liệt Tác giả hoàn toàn không chứngminh những triết lí nói trên mà cảm nhận nó một cách sống độngqua sự vận động và biến hoá kì diệu của chính tâm hồn mình.Hay nói cách khác việc diễn tả toàn bộ quá trình tái sinh tâm hồncủa thi sĩ trong thi phẩm là minh chứng hùng hồn, thấm thía chochân lí đợc phát biểu Do đó, triết lí và trữ tình trong bài thơhoà quyện với nhau nh linh hồn và thể xác

Ngày đăng: 26/12/2020, 18:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w