1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Năng lực đọc phản biện của học sinh lớp 5 trong phân môn tập đọc

158 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có tư duy phản biện học sinh sẽ phát triển khả năng lắng nghe các ý kiến khác với ý kiến của bản thân để tìm hiểu sự thật, tìm hiểu rõ bản chất của vấn đề trước khi đưa ra kết luận về vấ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thụy Thi Minh

NĂNG LỰC ĐỌC PHẢN BIỆN CỦA HỌC SINH LỚP 5

TRONG PHÂN MÔN TẬP ĐỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thụy Thi Minh

NĂNG LỰC ĐỌC PHẢN BIỆN CỦA HỌC SINH LỚP 5 TRONG PHÂN MÔN TẬP ĐỌC

Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Tiểu học)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HOÀNG THỊ TUYẾT

Thành phố Hồ Chí Minh - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Nguyễn Thụy Thi Minh, xin cam đoan đề tài NĂNG LỰC ĐỌC PHẢN BIỆN CỦA HỌC SINH LỚP 5 TRONG PHÂN MÔN TẬP ĐỌC do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hoàng Thị Tuyết Số liệu của đề tài là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Tác giả luận văn

Nguyễn Thụy Thi Minh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ các cá nhân, đoàn thể

Trước tiên, tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Hoàng Thị Tuyết Cô

đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi có được một môi trường học tập và rèn luyện tốt

Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô thuộc khoa Giáo dục Tiểu học; Quý thầy cô thuộc các khoa trong Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh cũng như quý thầy cô đến từ các trường Đại học, Cao đẳng khác đã hướng dẫn, giảng dạy, cung cấp kiến thức và phương pháp trong suốt 2 năm học qua

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, cùng quý thầy cô và học sinh các trường Tiểu học trên địa bàn Thành phố Cần Thơ đã giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát

Cuối cùng, tôi xin gởi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã quan tâm, chia sẻ, động viên giúp tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình làm luận văn

Tôi rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của quý thầy cô và các bạn đối với luận văn này

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục biểu đồ

Danh mục sơ đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TƯ DUY PHẢN BIỆN VÀ NĂNG LỰC ĐỌC PHẢN BIỆN 10

1.1 Tư duy và tư duy phản biện 10

1.1.1 Tư duy và đặc điểm của tư duy 10

1.1.2 Tư duy phản biện và đặc điểm của tư duy phản biện 13

1.2 Đọc và đọc phản biện 30

1.2.1 Đọc 30

1.2.2 Đọc phản biện 33

Tiểu kết chương 1 42

Chương 2 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC ĐỌC PHẢN BIỆN CỦA HỌC SINH LỚP 5 THEO CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT HIỆN HÀNH VÀ THEO YÊU CẦU QUỐC TẾ 43

2.1 Năng lực đọc hiểu của học sinh lớp 5 theo chuẩn đọc hiểu của chương trình Tiếng Việt hiện hành 44

2.1.1 Mô tả năng lực đọc hiểu của học sinh lớp 5 theo chuẩn chương trình Tiếng Việt hiện hành 44

2.1.2 Tiêu chí đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh lớp 5 theo chương trình chuẩn hiện hành 51

2.1.3 Quy trình xây dựng và nội dung bài tập khảo sát năng lực đọc hiểu của học sinh lớp 5 theo chuẩn chương trình Tiếng Việt hiện hành 52

Trang 6

2.1.4 Phân tích kết quả khảo sát 55

2.2 Năng lực đọc phản biện của học sinh lớp 5 theo tiêu chí đọc phản biện 63

2.2.1 Xác lập tiêu chí đánh giá năng lực đọc phản biện 63

2.2.2 Xây dựng bài tập khảo sát năng lực đọc phản biện 65

2.2.3 Phân tích kết quả khảo sát 68

2.3 So sánh kết quả khảo sát năng lực đọc phản biện của học sinh lớp 5 theo chuẩn chương trình Tiếng Việt hiện hành và theo quan điểm đọc phản biện của quốc tế 77

Tiểu kết chương 2 85

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG ĐỌC PHẢN BIỆN CHO HỌC SINH LỚP 5 86

3.1 Nguyên nhân của thực trạng khảo sát và căn cứ đề xuất 86

3.2 Một số biện pháp phát triển kĩ năng đọc phản biện cho học sinh 88

3.2.1 Cách tiếp cận dạy học đọc theo quan điểm dạy đọc phản biện 88

3.2.2 Một số biện pháp phát triển kĩ năng đọc phản biện cho học sinh 92

Tiểu kết chương 3 101

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng miêu tả kỹ năng đọc dựa theo thang nhận thức của Bloom 45

Bảng 2.2 Mô tả chuẩn kiến thức, kĩ năng đọc theo chuẩn chương trình Tiếng Việt hiện hành 47

Bảng 2.3 Bảng thống kê tốc độ đọc cần đạt của HS lớp 5 theo mỗi giai đoạn trong năm học 50

Bảng 2.4 Phân bố nội dung đánh giá khả năng đọc phản biện theo chuẩn Tiếng Việt hiện hành 53

Bảng 2.5 Bảng tổng hợp tỉ lệ câu trả lời trắc nghiệm khách quan đề 1 55

Bảng 2.6 Bảng tổng hợp tỉ lệ câu trả lời trắc nghiệm khách quan đề 2 57

Bảng 2.7 Tiêu chí xây dựng bài tập có bổ sung thêm tiêu chí đọc phản biện 64

Bảng 2.8 Phân bố nội dung đánh giá khả năng đọc phản biện 65

Bảng 2.9 Bảng tổng hợp tỉ lệ câu trả lời trắc nghiệm khách quan đề 3 71

Bảng 2.10 Bảng tổng hợp tỉ lệ câu trả lời trắc nghiệm khách quan đề 4 72

Bảng 2.11 Cấu trúc bài khảo sát 78

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Tỉ lệ các đáp án trả lời của câu 2 (Đề 1) 60 Biểu đồ 2.2 Phân bố các đáp án trong câu 3 (đề 1) 61 Biểu đồ 2.3 Phân bố các đáp án cho câu hỏi dạng trắc nghiệm khách quan

(đề 3) 75 Biểu đồ 2.4 Phân bố các đáp án cho câu hỏi dạng trắc nghiệm khách quan

(đề 4) 76

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ quá trình tư duy 11

Sơ đồ 1.2 Sơ đồ quá trình tư duy phản biện 28

Sơ đồ 3.1 Vai trò của đặt câu hỏi dựa trên các khái niệm của tư duy phản biện 94

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Tư duy phản biện giúp học sinh có ý thức rõ ràng hơn trong việc lắng nghe

và tôn trọng ý kiến người khác trong lúc tranh luận Có tư duy phản biện học sinh sẽ phát triển khả năng lắng nghe các ý kiến khác với ý kiến của bản thân để tìm hiểu

sự thật, tìm hiểu rõ bản chất của vấn đề trước khi đưa ra kết luận về vấn đề đó Bên cạnh đó, tư duy phản biện giúp cho học sinh chủ động nhìn ra những hạn chế và những sai lầm dễ mắc phải trong quá trình tư duy của chính mình, từ đó giúp học sinh đưa ra những nhận định, phán đoán tối ưu nhất có thể có cho nên học sinh sẽ suy nghĩ theo hướng tích cực, giảm được trạng thái tâm lý buồn rầu, thất vọng, mất lòng tin khi gặp thất bại trong cuộc sống, trong học tập… Khi từng bản thân học sinh đều suy nghĩ theo hướng tích cực, các em sẽ tự khám phá những tiềm năng vốn

có trong bản thân mình và những tiềm năng này khi được khám phá, khai thác sẽ trở thành “nội lực” giúp từng cá thể vượt lên chính mình, tự khẳng định mình, góp phần hình thành nhân cách tự chủ, độc lập và sáng tạo

Tư duy phản biện giúp học sinh nỗ lực cập nhật, chắt lọc được thông tin cần thiết, có giá trị, bổ ích cho bản thân Từ rất nhiều nguồn thông tin hiện có như hiện nay, học sinh có khả năng nâng cao kỹ năng tiếp cận mọi nguồn tin, tra cứu tìm tin

và kỹ năng xử lý thông tin, trình bày vấn đề một cách sáng tạo, định vị luận điểm/ luận cứ một cách rõ ràng Việc học và rèn luyện tư duy phản biện một cách tích cực

sẽ hỗ trợ quá trình tiêu hóa kiến thức của học sinh, giúp học sinh suy nghĩ độc lập,

tư duy theo hướng mở, nhận thức mọi vấn đề một cách rõ ràng hơn, tập lập luận với những dẫn chứng đáng tin cậy, biết phân tích, phân loại, tổng hợp, so sánh, đánh giá, từ đó suy nghĩ chín chắn hơn, tự ra quyết định và hành động

Đọc là một kĩ năng cụ thể giúp người học tiếp thu tri thức của nhân loại Trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ GD& ĐT sau năm

2015, (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2014) một trong những yêu cầu việc đánh giá kết

quả học tập của học sinh là phải đánh giá được năng lực tư duy khuyến khích những

suy nghĩ độc lập, sáng tạo, hạn chế kiểm tra khả năng ghi nhớ máy móc Đối với

việc dạy đọc cấp tiểu học, ngoài yêu cầu trẻ đọc trôi chảy, lưu loát và hiểu nội dung

Trang 12

văn bản thì còn hướng đến mục tiêu giúp các em bước đầu biết đưa ra các phản hồi

về các văn bản đã học Mục tiêu dạy cho học sinh biết cách đưa ra những phản hồi này chính là một trong những biểu hiện rèn kĩ năng đọc phản biện cho học sinh Nó được quan tâm hình thành không chỉ trong dạy học tiếng mẹ đẻ mà còn trong các môn học và hoạt động giáo dục khác Năng lực đọc hiểu không chỉ đơn thuần giúp các em nhận diện mặt chữ, hiểu nghĩa từ, tránh sai chính tả; cung cấp cho các em vốn từ; mà trên hết là hình thành những phẩm chất của tư duy;… Ngoài ra, các em rèn luyện nhân cách, tính chân, thiện, mĩ và phát triển trí tuệ cảm xúc Từ đó, năng lực đọc hiểu tạo tiền đề thuận lợi cho các hoạt động học tập ở cấp học cao hơn – học tập suốt đời trong cuộc sống của các em

Đề án “Phát triển Văn hóa Đọc trong cộng đồng giai đoạn 2011 – 2020, tầm

nhìn 2030” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2014) nhấn mạnh học sinh trong thời gian tới

phải trở thành người học với năng lực đọc hiểu vững vàng; tìm tòi, nghiên cứu để giải quyết các vấn đề trong học tập cũng như đời sống và vận dụng kiến thức tiếp thu được vào trong thực tiễn

Hơn thế, thời gian gần đây, không ít vấn đề giáo dục liên quan tới việc đọc hiểu làm dấy lên hồi chuông báo động Học sinh học ở các cấp học cao chưa hiểu sâu sắc những câu ca dao, tục ngữ; hiểu chưa đúng, hiểu nhầm những tác phẩm văn chương,… tạo ra những câu chuyện cười trào nước mắt bởi thực tế dạy học ở tiểu học nói chung và trong dạy đọc nói riêng hiện nay cho thấy, HS chưa có nhiều cơ hội để thể hiện chính kiến, quan điểm của mình về những vấn đề được tác giả trình bày trong văn bản và lí giải theo cách riêng của mình Việc hiểu văn bản hầu như bị

“ép khuôn, đóng khuôn” trong cách hiểu, giải thích của giáo viên và sách giáo viên hoặc sách tham khảo, gợi ý Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng HS không có hứng thú khi học đọc, và dần trở nên “chai cứng” với văn chương Lâu dần, trẻ có xu hướng chấp nhận một cách hiển nhiên những gì giáo viên cung cấp, dễ dàng chấp nhận các ý kiến của người khác trong khi thực tế trẻ có khả năng hiểu theo một cách vô cùng thú vị của bản thân mình Để hạn chế vấn đề trên thì năng lực đọc hiểu của các em cần xem xét lại theo hướng tư duy phân tích, từng học sinh là từng người đọc phản biện theo hướng tích cực

Trang 13

Giáo dục là “nỗ lực bền vững, hệ thống và tự giác để khơi dậy tri thức, thái

độ, giá trị, kỹ năng và những năng lực” Đọc là giá trị, là năng lực cốt lõi chung của mỗi cá nhân trong học tập, làm việc và giao tiếp Đọc là hoạt động được sử dụng nhiều nhất trong quá trình học tập của mỗi cá nhân Trên bình diện quốc gia, đọc đã được nhiều nước xem là nội dung ưu tiên bậc nhất trong chương trình giáo dục cấp tiểu học nói riêng và phổ thông nói chung Trong quá trình đọc, hiểu chính là đích của hoạt động học Vì lẽ đó, việc dạy học đọc ở trường phổ thông và phát triển năng lực đọc cho người học cũng như xây dựng văn hóa đọc trong nhà trường đã và đang được nhiều quốc gia pháp lí hóa thành các chiến lược và kế hoạch hành động cấp nhà nước (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2014)

Bên cạnh đó, để trở thành một người đọc hiệu quả, học sinh cần có nhiều kĩ năng cơ bản mà quan trọng nhất là kĩ năng tư duy phản biện vì một số lợi ích sau (Deanne Spears, 2012):

Khả năng đọc phản biện giúp học sinh thoát ra khỏi cách suy nghĩ theo khuôn mẫu, thói quen truyền thống có sẵn đã được định hình trước, những rào cản của định kiến Từ đó, học sinh luôn nổ lực tìm kiếm, tiếp cận những cái mới, những giá trị mới của những vẫn đề tưởng như đã cũ kỹ Bên cạnh đó, học sinh luôn trong tâm thế để tiếp nhận những cái mới, cái tiến bộ trong suy nghĩ, trong cuộc sống Khi

có ý thức rõ ràng trong việc phải nhìn nhận mọi vấn đề dưới góc nhìn mới chắc chắn sẽ đưa lại những kết quả khác, mới lạ, có tính sáng tạo cao Vì vậy, nếu rèn luyện cho học sinh luôn suy nghĩ theo lối tư duy phản biện sẽ kích thích khả năng sáng tạo trong tư duy của các em

Áp dụng, phân tích và đánh giá thông tin dựa trên nền tảng tư duy phản biện

là một trong những nền tảng của giáo dục và nếu được dạy sớm, học sinh có thể thuần thục nghệ thuật tư duy phản biện từ đó hình thành văn hóa phản biện nhằm kết nối, hòa nhập cồng động mà trước nhất là hình thành khả năng học tập suốt đời cho từng cá nhân mỗi học sinh Thực tế trên đặt ra vấn đề giáo viên cần tổ chức dạy học nói chung và dạy đọc nói riêng như thế nào để phát triển tư duy cho người học ngay từ những năm đầu ở trường học, đặc biệt là tư duy phản biện Dạy học sinh kĩ năng để suy ngẫm, phát hiện các chi tiết sự kiện, phán đoán, đặt câu hỏi từ những

Trang 14

các văn bản đọc để từ đó trẻ đưa ra những cách giải quyết, cách hiểu của bản thân mình là một trong những yêu cầu cần thiết để phát triển năng lực tư duy cho trẻ

Xuất phát từ những nguyên nhân này, chúng tôi chọn đề tài “Năng lực đọc phản

biện của học sinh lớp 5 trong phân môn Tập đọc”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tại Việt Nam, năng lực tư duy phản biện và những yếu tố xây dựng, ảnh hưởng tới năng lực tư duy phản biện trong dần được quan tâm Đã có nhiều đề tài nghiên cứu xoay quanh vấn đề này

Về vấn đề tư duy phản biện, tác giả Hoàng Minh (2015) trong bài viết Rèn kĩ

năng phản biện cho học sinh (Hoàng Minh, 2015) đã nêu lên tầm quan trọng của

việc dạy kĩ năng phản biện cho học sinh nói chung Tác giả cũng dẫn chứng một số trường hợp HS có sự chuyển biến tích cực, tự tin và năng động sáng tạo hơn sau khi được giáo viên tạo cơ hội cho thảo luận trình bày quan điểm cá nhân về những vấn

đề có liên quan đến bài học trong chương trình Cùng vấn đề trên, bài viết “Rèn

luyện năng lực phản biện cho học sinh qua giờ đọc hiểu văn bản văn học” Trường

THPT Thị Nghè, 2016, đã đề cập đến khái niệm phản biện và năng lực phản biện cho học sinh cũng như ý nghĩa của việc rèn luyện kĩ năng phản biện cho học sinh Bài báo khoa học của hai tác giả Hồ Vũ Khuê Ngọc và Võ Đại Thành Nhân mang

tên “Giáo dục tư duy phản biện cho sinh viên Việt Nam: Bài học kinh nghiệm từ

Nhật Bản” đã trình bày những phương pháp nâng cao kĩ năng phản biện cho sinh

viên ở Nhật Bản mà chúng ta cần phải học hỏi (Hồ Vũ Khuê Ngọc và Võ Đại

Thành Nhân, 2016) Một nghiên cứu của Hạnh Ngân bàn về Dạy con tư duy phản

biện đề cập đến một số cách giúp trẻ phát triển tư duy phản biện trong đó có việc

phát triển kĩ năng đọc của trẻ như kể chuyện, đọc sách, đặt câu hỏi thông qua các sự việc diễn ra trong đời sống thường ngày (Hạnh Ngân, 2015) Một bài viết khác là

bài “Xây dựng tư duy phản biện cho trẻ nhỏ” đã chia sẻ tài liệu của quỹ tài trợ

những người mắc bệnh ung thư toàn cầu hàng đầu nước Mỹ (Livestrong) đã đề cập tới 6 bước hình thành và phát triển tư duy phản biện cho trẻ Trong đó, bước đầu tiên là dạy trẻ đọc một đoạn văn dài, từ đó trẻ sẽ tập đưa ra ý kiến của riêng mình (Xây dựng tư duy phản biện cho trẻ nhỏ, 2013)

Trang 15

Về vấn đề kĩ năng đọc phản biện, bài viết của tác giả Nguyễn Thanh Mai với

tiêu đề “Kĩ năng đọc có tư duy phê phán: Nhận diện và các bước áp dụng trong việt

dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài” đã phân tích kĩ năng đọc có tư duy phản biện

(tư duy phê phán) Tác giả đã chia sẻ cách dạy kĩ năng đọc với phê phán trước trong tiến trình đọc: Trước khi đọc, trong khi đọc và sau khi đọc Tác giả còn đưa ra một

số đề nghị trong quá trình áp dụng giảng dạy, hướng dẫn đọc để đạt hiệu quả cao, kích thích phát triển tư duy (Nguyễn Thanh Mai, 2001)

Bên cạnh đó, Cẩm nang tư duy đặt câu hỏi bản chất và Cẩm nang tư duy học

tập và nghiên cứu (Richard Paul – Linda Elder, 2015), đều đặt nền tảng trên các

khái niệm và công cụ tư duy phản biện cũng như các nguyên tắc tư duy phản biện Tuy nhiên hai quyển sách nhằm hướng tới nâng cao năng lực tư duy của người đọc

để người đọc có thể áp dụng vào các kỹ năng, ý tưởng vào công việc và cuộc sống

Các nghiên cứu trên đều tập trung vào việc khảo sát, phân tích và tổng hợp những mặt được, chưa được; các điểm tương đồng và khác biệt của mục tiêu phát triển năng lực tư duy phản biện của chương trình giáo dục Việt Nam so với định hướng, nguyên tắc và chuẩn mực phát triển năng lực đọc phản biện của quốc tế Các nghiên cứu cũng đã ngầm ẩn xu hướng phát triển năng lực đọc hiểu phát huy tính độc lập, kết nối, liên kết cuộc sống cho học sinh Tiểu học

Tuy các bài viết và khảo sát trên cũng đã cho thấy có nhiều công trình tiếp cận so sánh, vận dụng nhiều kinh nghiệm, khả năng tư duy được hội tiếp cận từ quốc tế nhưng chưa có nhiều nghiên cứu đi cụ thể vào vấn đề khả năng tư duy ở mức độ cao trong quá trình đọc của học sinh Tiểu học với các yêu cầu của tư duy phản biện

Trong khi đó các quốc gia nổi tiếng trên thế giới đã có nhiều công trình tìm hiểu về tư duy phản biện (critical thinking) nói chung và khả năng đọc phản biện (critical reading) nói riêng, các nghiên cứu đã cung cấp nhiều kiến thức mang tính

chất tổng quát như định nghĩa, vai trò, tác động của tư duy như Critical Thinking

Skills (Stella Cottrell, 2005), quyển sách làm rõ định nghĩa về tư duy phê phán và

cách để phát triển các kĩ năng tư duy cũng phê phán Critical language awareness

in the foreign language classroom, (Catherine Wallace, 1998), quyển sách gồm 9

Trang 16

chương với những nội dung xung quanh các vấn đề về một số luật để người đọc tham gia vào quá trình học tư duy ngôn ngữ, một số nghiên cứu về các phương pháp được tổ chức trong lớp học mà tư duy phản biện là phương pháp đầu tiên được nhắc

đến Bên cạnh đó, trong Critical reading in language education phát biểu rằng học

đọc rất quan trọng trong một khóa học giáo dục đại học cho sinh viên ngoại ngữ Quyển sách phân tích những vấn đề mà sinh viên ngoại ngữ không nên bị giới hạn bởi những ngôn ngữ đơn giản, hoặc các cuộc thảo luận đơn giản Bằng việc sử dụng các khả năng tư duy phản biện để thể hiện những cách thức mà nội dung văn bản đề cập (Hilary Janks, 2010), Nghiên cứu về tư duy phản biện và kĩ năng đọc phản biện của các nhà nghiên cứu nước ngoài, nhóm tác giả McPeck; JE Martin Robertson;

Marshall, L.; Rowland (1981) với nghiên cứu Reading Critically: Ways to develop

your critical reading skills đã đề cập đến các chiến lược để phát triển kĩ năng đọc

hiểu, trong đó gồm các bước trước khi đọc và trong khi đọc một văn bản Trong phần trước khi đọc văn bản, tác giả đi vào sâu vào vai trò của việc tìm hiểu tác giả

và bối cảnh của văn bản, còn trong quá trình đọc văn bản, nhóm tác giả tập trung vào việc xác định lý do viết tác phẩm và những khía cạnh được đề cập trong tác phẩm Trên cơ sở đó, người đọc có thể phản biện dựa vào những kinh nghiệm của

bản thân Tác giả Loni Kreis Taglieber (2000) với nghiên cứu Critical reading and

critical thinking đã trình bày một cách tổng quan về đọc phản biện và tư duy phản

biện Từ đó, tác giả cũng đã thu thập và đưa ra những cách để phát triển kĩ năng đọc phản biện cho người học như chiến thuật sử dụng những thông tin có sẵn trong văn bản hay sử dụng chính văn bản để phát triển kĩ năng tư duy phản biện cho học sinh Cũng vấn đề trên nhóm tác giả M Sénéchal, JA LeFevre (2002) với nghiên cứu

Parental Involvement in the Development of Children's Reading Skill: A Five Year Longitudinal Study đã trình bày kết quả khi khảo sát với 168 học sinh lớp 3 trong

tầng lớp trung lưu và thượng lưu, cho thấy rằng việc phụ huynh cho trẻ em tiếp xúc với sách có liên quan đến sự phát triển của từ vựng và kĩ năng nghe hiểu, làm gia tăng khả năng đọc phản biện Từ đó tác giả cho rằng, những kĩ năng ngôn ngữ trong

đó có kĩ năng tư duy phản biện có liên quan trực tiếp đến việc đọc của trẻ em trong lớp 3 Ngược lại, phụ huynh tham gia quá trình dạy trẻ em đọc và viết những từ góp

Trang 17

phần phát triển kĩ năng học chữ từ nhỏ cho học sinh Nhóm tác giả Aziza R Ellozy

and Hoda M H Mostafa (2010) trong bài viết Making Learning Visible: Using

E-maps to Enhance Critical Reading Skills thông qua thực nghiệm về việc sử dụng

bản đồ tổng hợp các khái niệm, ngữ cảnh (concept mind mapping) đã chứng minh rằng đây là một chiến lược hiệu quả trong việc làm gia tăng các kĩ năng đọc phản biện cho học sinh tại Ai Cập Còn nhóm tác giả Reza Zabihi, Mojtaba Pordel

(2011) trong bài viết An Investigation of Critical Reading in Reading Textbooks: A

Qualitative Analysis đã tìm hiểu những biểu hiện của tư duy phản biện và đọc phản

biện Từ cơ sở này, nhóm tác giả đã phân tích những biểu hiện của đọc phản biện được thể hiện trong sách giáo khoa dạy đọc ở Iran cũng đề cập đến việc đọc phản

biện Tác giả Deanne Spears trong nghiên cứu Developing critical reading skills

(Deanne Spears, 2012) đã nêu lên tầm quan trọng của hoạt động đọc, vai trò của đọc phản biện và một số chiến lược nhằm phát triển các kĩ năng đọc phản biện cho người đọc

Việc đánh giá năng lực tư duy phản biện trong môn đọc rất phổ biến, được quan tâm ở nhiều khu vực và quốc gia trên thế giới Nó còn là tiêu chí đánh giá hằng năm, là mục tiêu phát triển cao nhất của các trường học cũng như các tổ chức,

cơ quan giáo dục hay các nghiên cứu Do vậy, việc tìm hiểu năng lực tư duy phản biện ở học sinh đặc biệt là học sinh Tiểu học rất quan trọng mà hiện nay các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam đang được quan tâm nhiều nhằm hình thành năng lực giải quyết vấn đề và giúp học sinh dễ dàng hòa nhập với thế giới cũng như rèn luyện cho sự nghiệp học tập suốt đời Vấn đề này cũng đã từng được đề cập đến nhưng mới chỉ dừng ở việc nêu lên thực trạng của việc cần phải phát triển năng lực

tư duy cho trẻ, còn vấn đề tìm hiểu cụ thể của tư duy phản biện để áp dụng, lồng ghép vào trong dạy học nói chung và ở tiểu học nói riêng vẫn chưa được bàn đến một cách cụ thể Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ tìm hiểu về tư duy phản biện, đọc phản biện, biểu hiện của đọc phản biện và đề xuất những biện pháp dạy đọc nhằm phát triển năng lực đọc phản biện cho trẻ tiểu học

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 18

Nghiên cứu thực trạng năng lực đọc phản biện của học sinh và đề xuất một số biện pháp phát triển kĩ năng đọc phản biện cho học sinh lớp 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, đề tài sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

- Tìm hiểu năng lực đọc phản biện của HS lớp 5 trên 2 căn cứ: Chuẩn đọc hiểu của chương trình Tập đọc Tiếng việt hiện hành và chuẩn đọc hiểu của chương trình đọc theo năng lực đọc phản biện của thế giới

- Nghiên cứu lí luận

- Tiến hành khảo sát năng lực đọc phản biện của học sinh lớp 5

- Đề xuất một số biện pháp

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng: Năng lực đọc phản biện của học sinh Tiểu học lớp 5 trong phân môn Tập đọc

Khách thể: Quá trình giáo dục tư duy phản biện cho học sinh Tiểu học trong phân môn Tập đọc ở một số trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Cần Thơ

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Giới hạn của đề tài: đề tài giới hạn trong việc khảo sát năng lực đọc phản

biện của học sinh Tiểu học vào cuối học kì II năm học 2016– 2017

7 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi áp dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

7.1 Nhóm phương pháp hồi cứu tư liệu, nghiên cứu lí luận

Phương pháp hồi cứu tư liệu: theo phương pháp này, tôi sẽ đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu về dạy đọc, kĩ năng tư duy phản biện để có cơ sở lí thuyết về vấn đề nghiên cứu, làm căn cứ để xây dựng phiếu điều tra, khảo sát, dự giờ và đề xuất

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Trang 19

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu về chương trình đọc hiểu hiện hành có yếu tố đọc phản biện trong chương trình giáo dục Tiểu học hiện hành, nghiên cứu về căn cứ đọc phản biện trên thế giới

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi sử dụng để khảo sát năng lực đọc hiểu của HS trong chương trình hiện hành và năng lực đọc phản biện theo những yêu cầu đọc phản biện trên thế giới

- Phương pháp chuyên gia: trong quá trình nghiên cứu tôi xin ý kiến của một

số nhà sư phạm, các thầy cô giáo có nhiều năm kinh nghiệm để xây dựng các yêu cầu phù hợp trong việc xây dựng bảng hỏi cũng như tham khảo các biện pháp một

số biện pháp phát triển kĩ năng đọc phản biện

8 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm phần mở đầu, phần kết luận và 3 chương chính:

Chương 1 Cơ sở lí luận về tư duy phản biện và năng lực đọc phản biện

Chương 2 Khảo sát thực trạng về năng lực đọc phản biện của học sinh lớp 5 theo chương trình Tiếng Việt hiện hành và theo yêu cầu quốc tế

Chương 3 Một số biện pháp phát triển kĩ năng đọc phản biện cho học sinh lớp 5

Trang 20

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TƯ DUY PHẢN BIỆN

VÀ NĂNG LỰC ĐỌC PHẢN BIỆN 1.1 Tư duy và tư duy phản biện

1.1.1 Tư duy và đặc điểm của tư duy

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt – bộ não con người Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận, v.v (Mai Hữu Khuê, 1996)

Theo triết học duy tâm khách quan, tư duy là sản phẩm của "ý niệm tuyệt đối" với tư cách là bản năng siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật chất Theo George Wilhemer Fridrick Heghen: "Ý niệm tuyệt đối là bản nguyên của hoạt động và nó chỉ có thể biểu hiện trong tư duy, trong nhận thức tư biện mà thôi" Karl Marx nhận xét: "Đối với Heghen, vận động của tư duy được ông nhân cách hóa dưới tên gọi "ý niệm" là chúa sáng tạo ra hiện thực, hiện thực chỉ là hình thức bề ngoài của ý niệm" (Nguyễn Đình Trãi, 2001)

Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy là một trong các đặc tính của vật chất phát triển đến trình độ tổ chức cao Về lý thuyết, Karl Marx cho rằng: "Vận động kiểu tư duy chỉ là sự vận động của hiện thực khách quan được di chuyển vào

và được cải tạo/ tái tạo trong đầu óc con người dưới dạng một sự phản ánh" Những luận cứ này còn dựa trên những nghiên cứu thực nghiệm của Ivan Petrovich Pavlov, nhà sinh lý học, nhà tư tưởng người Nga Bằng các thí nghiệm tâm - sinh lý áp dụng trên động vật và con người, ông đi đến kết luận: "Hoạt động tâm lý là kết quả của hoạt động sinh lý của một bộ phận nhất định của bộ óc" (Nguyễn Đình Trãi, 2001)

Các nhà tâm lý học Mác – xít, trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng,

đã khẳng định: “Tư duy là sản phẩm cao cấp của một dạng vật chất hữu cơ có tổ chức cao, đó là bộ não con người Trong quá trình phản ánh hiện thực khách quan

Trang 21

bằng những khái niệm, phán đoán,… Theo V.I Lê nin, tư duy là sự phản ánh thế giới tự nhiên sâu sắc hơn, trung thành hơn, đầy đủ hơn, đi sâu một cách vô hạn, tiến gần đến chân lý khách quan hơn (Mai Hữu Khuê, 1996)

Được mệnh danh là cha đẻ của "Tư duy về tư duy" (Thinking on Thinking)

và là nhà khoa học bậc thầy về tư duy, giáo sư Edward de Bono cũng đã nhận định

rằng: "Tư duy là kỹ năng vận hành của bộ não mà nhờ đó trí thông minh được nuôi

dưỡng và phát triển" (Edward de Bono, 1985)

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ quá trình tư duy (K.K Platonop, 1970)

Bàn về đặc điểm của quá trình tư duy, Nguyễn Xuân Thức (Nguyễn Xuân Thức, 2014) cho rằng: Tư duy là một quá trình có mở đầu, diễn biến và kết thúc rõ ràng Trong đó ông đã đề cập đến 5 đặc điểm cơ bản của tư duy như sau: Tính có vấn đề, tính gián tiếp, tính trừu tượng hóa, khái quát hóa của tư duy, tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ và tư duy liên hệ mật thiết với nhận thức cảm tính Cụ thể là:

(1) Tính có vấn đề của tư duy: Hoạt động tư duy chỉ diễn ra trong thực tiễn

cuộc sống, khi chúng ta có nhu cầu đạt được mục đích mới, hiểu biết mới mà những

Phủ định

Hành động

tư duy mới

Kiểm tra giả thuyết

Khẳng định

Giải quyết vấn đề Chính xác hóa

Trang 22

phương pháp hay công cụ cũ không đủ khả năng giải quyết được vấn đề để đạt được mục đích Tuy nhiên không phải bất kì tình huống nào cũng kích thích quá trình tư duy diễn ra, nó chỉ diễn ra với một tình huống thực sự có ý nghĩa đối với chủ thể quá trình tư duy

(2) Tính gián tiếp của quá trình tư duy: Tư duy giúp cho con người có thể

nhận thức rõ hơn về thế giới quan Tư duy có khả năng phản ánh một cách sâu sắc bản chất của sự vật, hiện tượng thông qua các công cụ, phương tiện, các thành tựu nhận thức của nhân loại và kinh nghiệm cá nhân Tính gián tiếp của tư duy được thể hiện trước hết ở việc con người sử dụng ngôn ngữ để tư duy Nhờ có ngôn ngữ mà con người sử dụng các kết quả nhận thức (quy tắc, khái niệm, công thức, quy luật,…) và kinh nghiệm của bản thân vào quá trình tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát,…) để nhận thức được cái bên trong, bản chất của sự vật hiện tượng

(3) Tính trừu tượng hóa và khái quát hóa của tư duy: Tư duy có khả năng

phản ánh bản chất nhất, cái chung nhất cho nhiều sự vật, hiện tượng, quá trình, hợp nhất thành một nhóm, một loại, một quy luật Ngược lại, tư duy có thể truy xuất khỏi cái tổng thể, cái chung đó thành nhiều bộ phận cấu thành Như vậy tư duy mang đồng thời cả 2 tính chất Đó là tính trừu tượng và tính khái quát

(4) Tư duy gắn liền với ngôn ngữ: Tư duy và ngôn ngữ là cặp phạm trù có

quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Tư duy quyết định ngôn ngữ và chi phối ngôn ngữ Ngôn ngữ là phương tiện để tư duy thể hiện, bộc lộ ra bên ngoài, chịu sự thống trị của tư duy Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư duy không thể diễn ra được, cũng như sản phẩm của tư duy sẽ không tồn tại trong chủ thể và cả đối với người khác

(5) Tư duy quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính: Nhận thức cảm tính

chính là cầu nối, là kênh thông tin của hoạt động tư duy, là mối liên hệ giữa tư duy

và hiện thực đời sống Các hoạt động trong quá trình nhận thức của con người từ cảm tính đến lí tính đều có mối qua lại, tác động bổ sung cho nhau Quá trình nhận thức cảm tính là nền tảng của quá trình nhận thức lí tính Ngược lại, tư duy cũng như các sản phẩm của quá trình tư duy sẽ ảnh hưởng ngược lại quá trình nhận thức cảm tính như tính lựa chọn, tính ổn định của tri giác

Trang 23

1.1.2 Tư duy phản biện và đặc điểm của tư duy phản biện

a) Lịch sử của tư duy phản biện

Trí tuệ có nguồn gốc từ tư duy phản biện cũng cổ xưa như là từ nguyên mẫu của nó, cuối cùng là theo cách thực hành giảng dạy và tầm nhìn của Socrates cách đây 2.500 năm trước, người đã phát hiện ra bằng một phương pháp khảo sát người dân rằng họ không thể biện minh một cách hợp lý các tuyên bố tin tưởng vào kiến thức của họ Ý nghĩa lúng túng, bằng chứng không đầy đủ, hoặc những niềm tin mâu thuẫn thường xuyên ẩn náu bên dưới bài hùng biện mượt mà nhưng phần lớn là trống rỗng Socrates thiết lập một thực tế là không thể phụ thuộc vào những người trong "thẩm quyền" để có kiến thức và hiểu biết sâu sắc Ông đã chứng minh rằng những người có thể có quyền lực và vị thế cao vẫn còn rất bối rối và không hợp

lý Ông đã thiết lập tầm quan trọng của việc đặt ra những câu hỏi sâu sắc để nghiên cứu sâu sắc vào suy nghĩ trước khi chúng tôi chấp nhận ý tưởng là xứng đáng với niềm tin Ông đã xác định tầm quan trọng của việc tìm kiếm bằng chứng, xem xét chặt chẽ các lý luận và giả định, phân tích các khái niệm cơ bản, và tìm ra ý nghĩa không chỉ của những gì được nói mà còn về những gì được thực hiện tốt Phương pháp đặt câu hỏi của ông bây giờ được gọi là "Câu hỏi Khổng lồ" hay phương pháp đặt câu hỏi trong học tập được gọi là “phương pháp Socrates” (May, Hope, 2000)

Socrates thiết lập chương trình nghị sự cho truyền thống tư duy phản biện, phản ánh lại những niềm tin và giải thích chung, phân biệt rõ những niềm tin hợp lý

và bất hợp lý từ những điều đó - thiếu bằng chứng hoặc bằng chứng không hợp lý

để đảm bảo niềm tin Thực tiễn của Socrates được tiếp nối bởi tư duy phê phán của Plato (người đã ghi lại suy nghĩ của Socrates), Aristotle và những người hoài nghi ở

Hy Lạp, tất cả đều nhấn mạnh rằng mọi thứ thường rất khác so với những gì chúng xuất hiện và chỉ có trí tuệ được đào tạo để nhìn xuyên qua mọi thứ nhìn về phía chúng ta trên bề mặt (những hình thức lừa đảo) theo cách mà họ thực sự nằm dưới

bề mặt (thực tế sâu sắc hơn của cuộc sống) Từ truyền thống Hy Lạp cổ đại này đã xuất hiện nhu cầu, đối với bất kỳ ai khao khát hiểu được thực tế sâu sắc hơn, suy nghĩ một cách có hệ thống, để tìm ra ý nghĩa rộng rãi và sâu sắc, chỉ để suy nghĩ

Trang 24

toàn diện, có lý lẽ hợp lý và đáp ứng các phản đối có thể đưa chúng ta vượt quá bề mặt (Richard Paul – Linda Elder, 2015)

Vào thời trung cổ, truyền thống tư duy phê phán có tính hệ thống đã được thể hiện trong các bài viết và lời dạy của các nhà tư tưởng như Thomas Aquinas

(Sumna Theologica), người đảm bảo suy nghĩ của mình đạt được bài kiểm tra về tư

duy phản biện, luôn luôn có hệ thống tuyên bố, xem xét và trả lời mọi lời chỉ trích ý tưởng của ông như là một giai đoạn cần thiết để phát triển chúng Aquinas nâng cao nhận thức của chúng ta không chỉ về tiềm năng của lý luận mà còn về nhu cầu lập luận để được canh tác một cách có hệ thống và "kiểm tra chéo" Tất nhiên, suy nghĩ của Aquinas cũng minh hoạ rằng những ai nghĩ rằng phản biện không phải lúc nào cũng từ chối niềm tin đã được thiết lập, chỉ có những niềm tin mà thiếu cơ sở hợp lý

thì sẽ bị từ chối (Loni Kreis Taglieber, 2000)

Trong thời Phục hưng (Thế kỷ 15, 16), một loạt các học giả ở Châu Âu như Colet, Erasmus và Moore ở Anh bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc về tôn giáo, nghệ thuật, xã hội, bản chất con người, luật pháp và tự do Họ tiến hành với giả định rằng hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống con người là cần tìm kiếm phân tích và phản biện Khoảng năm mươi năm sau, tại Pháp, Descartes lập luận về sự cần thiết phải

có kỷ luật đặc biệt về hệ thống của tâm để hướng dẫn nó trong suy nghĩ Ông nói rõ

và bảo vệ sự cần thiết phải suy nghĩ rõ ràng và chính xác Ông đã phát triển một

phương pháp tư duy phê phán dựa trên nguyên tắc nghi ngờ hệ thống Ông nhấn

mạnh sự cần thiết phải dựa vào suy nghĩ tốt thông qua các giả định cơ bản Tất cả các phần của suy nghĩ, ông lập luận, nên được đặt câu hỏi, nghi ngờ và thử nghiệm Trong cùng khoảng thời gian đó, Ngài Thomas Moore đã phát triển một mô hình về một trật tự xã hội mới Utopia, trong đó mọi lĩnh vực của thế giới hiện nay đều bị phê bình Luận đề tiềm ẩn của ông là các hệ thống xã hội được thiết lập cần được phân tích và phê bình triệt để Tư duy phê phán của các học giả thời Phục hưng đã mở ra con đường cho sự xuất hiện của khoa học và cho sự phát triển của nền dân chủ, nhân quyền và tự do tư tưởng

Trong thời Phục hưng của Ý, hoàng tử phê bình chính trị Machiavelli's, và là người đặt nền móng cho tư tưởng phản biện chính trị Ông từ chối không cho rằng

Trang 25

chính phủ đã hoạt động như những người có quyền lực nói rằng nó đã làm Thay vào đó, ông phản biện và phân tích nó hoạt động như thế nào và đặt nền móng cho

tư duy chính trị, một mặt là các chương trình thực sự của các chính trị gia, và mặt khác, nhiều mâu thuẫn và mâu thuẫn của thế giới khắc nghiệt, tàn bạo chính trị trong ngày của mình Hobbes và Locke (trong thế kỷ 16 và thế kỷ 17) thể hiện sự tự tin tương tự trong tâm trí quan trọng của nhà tư tưởng mà chúng ta tìm thấy ở Machiavelli Không chấp nhận hình ảnh truyền thống của những thứ chiếm ưu thế trong suy nghĩ mỗi ngày của họ Không được chấp nhận là nhất thiết rằng đã được coi là "bình thường" trong văn hoá của họ Cả hai đều nhìn vào tâm trí phản biện đã

mở ra những khung cảnh mới trong học tập Hobbes chấp nhận quan điểm tự nhiên của thế giới, trong đó tất cả mọi thứ được giải thích bằng bằng chứng và lý luận Locke bảo vệ một phân tích thông thường về cuộc sống hàng ngày và tư tưởng Ông đặt nền móng lý thuyết cho việc suy nghĩ phản biện về các quyền cơ bản của con người và trách nhiệm của chính phủ phải chấp nhận những lời chỉ trích có lý của các công dân

Chính tinh thần tự do trí tuệ và tư tưởng phê phán mà những người như Robert Boyle (vào thế kỷ 17) và Sir Isaac Newton (vào thế kỷ 17 và 18) đã làm việc như các nhà phản biện chuyên nghiệp Trong hoài nghi của mình, Boyle nghiêm khắc chỉ trích lý thuyết hóa học đã có trước ông Newton, lần lượt, đã phát triển một khuôn khổ sâu rộng của tư tưởng đã phê bình một cách toàn diện quan điểm thế giới chấp nhận truyền thống Ông mở rộng tư duy phản biện về những tư tưởng như Copernicus, Galileo, và Kepler Sau Boyle và Newton, TDPB đã được nhận ra bởi những người phản ánh nghiêm túc về thế giới tự nhiên rằng quan điểm tự trị của thế giới phải bị bỏ rơi để ủng hộ quan điểm dựa hoàn toàn vào các bằng chứng thu thập cẩn thận và lý luận

Một đóng góp quan trọng khác đối với tư duy phản biện đã được thực hiện bởi các nhà tư tưởng của Pháp Khai sáng: Bayle, Montesquieu, Voltaire, và Diderot Tất cả đều bắt đầu bằng tiền đề cho thấy trí óc của con người, khi bị kỷ luật bởi lý trí, có thể hiểu được bản chất của thế giới xã hội và chính trị hơn Hơn nữa, đối với những nhà tư duy này, lý do phải quay trở lại bên trong chính mình, để xác

Trang 26

định điểm yếu và điểm mạnh của tư duy Họ đánh giá sự trao đổi trí tuệ có kỷ luật, trong đó tất cả các quan điểm phải được đưa ra để phân tích và phê bình Họ tin rằng tất cả các cơ quan có thẩm quyển phải luôn có những cuộc họp bằng cách này hay cách khác để kiểm tra và trả lời các câu hỏi phản biện một cách hợp lý

Các nhà tư tưởng thế kỷ 18 đã mở rộng quan niệm của chúng ta về tư tưởng phản biện hơn nữa, phát triển ý thức về sức mạnh của tư duy phản biện và các công

cụ của nó Áp dụng cho vấn đề kinh tế, nó đã sinh ra Adam Smith, sự giàu có của các quốc gia trong cùng một năm, áp dụng cho khái niệm truyền thống của lòng trung thành với nhà vua, nó tạo ra Tuyên ngôn độc lập Áp dụng cho chính lý thuyết, nó tạo ra Kant phản biện lý tính thuần túy

Trong thế kỷ 19, tư tưởng phản biện đã được Comte và Spencer mở rộng hơn nữa trong lĩnh vực đời sống xã hội loài người Áp dụng cho các vấn đề của chủ nghĩa tư bản, nó đã đưa ra lời phê bình về xã hội và kinh tế của Karl Marx Áp dụng cho lịch sử văn hoá con người và nền tảng của đời sống sinh vật, áp dụng vào tâm trí vô thức, nó được phản ánh trong các tác phẩm của Sigmund Freud Áp dụng cho các nền văn hoá, nó đã dẫn đến việc thành lập các lĩnh vực nghiên cứu Nhân học Áp dụng cho ngôn ngữ, nó dẫn đến lĩnh vực Ngôn ngữ học và nhiều nghiên cứu sâu về các chức năng của các biểu tượng và ngôn ngữ trong cuộc sống con người

Trong thế kỷ 20, sự hiểu biết của chúng ta về quyền lực và tính chất của tư duy phản biện đã xuất hiện ngày càng rõ ràng hơn Vào năm 1906, William Graham Sumner xuất bản một nghiên cứu phá hoại nền tảng của xã hội học và nhân học Folkways, trong đó ông ghi lại xu hướng tâm trí con người suy nghĩ về mặt xã hội và xu hướng song song cho các trường học để phục vụ cho chức năng của xã hội tuyên truyền: "Các trường học tạo ra mọi người theo một khuôn mẫu, chính thống Giáo dục trường học, trừ khi nó được quy định bởi những kiến thức tốt nhất và ý thức tốt nhất, sẽ tạo ra những người đàn ông và phụ nữ tất cả đều có một khuôn mẫu, như thể biến thành một máy tiện các quan điểm phổ biến luôn luôn có những sai lầm, những sự thật nửa sự thật và những khái quát hóa rộng rãi” (Fisher, 2001)

Trang 27

Đồng thời, Sumner nhận ra nhu cầu sâu sắc về tư duy phản biện trong cuộc sống và trong giáo dục:

Lịch sử phát triển tư duy phản biện trong giáo dục

Truyền thống TDPB được cho là bắt nguồn từ phương Tây với tầm nhìn và thực tiễn hoạt động của nhà triết học Hy Lạp Socrates từ những năm 2000 trước công nguyên Socrates quan sát những bài diễn văn của những người có quyền thế

và nhận thấy rằng đằng sau sự hùng biện đầy thuyết phục có thể là một sự trống rỗng cũng như người ta không thể đặt niềm tin vào quyền lực Socrates cho rằng cần phải thắc mắc, chất vấn trước khi chấp nhận và tin vào một điều gì và nhấn mạnh vào tầm quan trọng của việc đặt câu hỏi trong các đối thoại nhằm mục đích học tập Phương pháp đặt câu hỏi trong học tập được gọi là “phương pháp Socrates” (May, Hope, 2000)

Khó có thể xác thực được ai là người đầu tiên nhấn mạnh tầm quan trọng của TDPB trong giáo dục hiện đại Do sự ảnh hưởng sâu rộng của cá nhân John Dewey, một nhà triết học, tâm lý học và giáo dục người Mỹ, với nền giáo dục Mỹ và do ảnh hưởng sâu rộng của văn hóa Mỹ tới toàn thế giới, John Dewey được coi là cha đẻ của TDPB trong giáo dục hiện đại (Vaske, 1998; Fisher, 2001) với việc đưa ra khái niệm “reflective thinking” (vẫn có thể dịch là TDPB, giống như “critical thinking”) Dewey định nghĩa TDPB như sau:

“As an 'active' process, ‘reflective thinking’ is contrasted with the kind of thinking in which you receive ideas and information from someone else” (Vaske,

1998; Fisher, 2001)

“Sự xem xét chủ động, kiên trì và cẩn thận các cơ sở của một niềm tin hoặc cái được cho rằng là kiến thức cũng như những kết luận xa hơn mà niềm tin và cái được cho rằng là kiến thức ấy có thể gợi ra”

Dewey đã đối lập TDPB với việc nhận ý tưởng và thông tin một cách thụ động và sự suy nghĩ hời hợt, thoáng qua, đi đến kết luận sớm khi chưa có đầy đủ cơ

sở Định nghĩa TDPB của Dewey nhấn mạnh vào “cơ sở của một niềm tin hoặc cái được cho rằng là kiến thức” và “những kết luận xa hơn mà niềm tin hoặc cái được cho rằng là kiến thức ấy có thể gợi ra” Chúng ta có thể tạm gọi là các lý do

Trang 28

(reasons) và các suy diễn “implications” từ các niềm tin và kiến thức mà chúng ta

có được Trong tư tưởng của Dewey, lý lẽ và lập luận (reasoning) đóng vai trò then chốt trong TDPB

Xã hội ngày càng phát triển, sản sinh ra những lượng thông tin lớn và nhiều vấn đề phức tạp Từ những năm 1980, TDPB ngày càng được quan tâm và trở thành một cụm từ nổi bật trong giáo dục và kinh doanh (Vaske, 1998) Khái niệm TDPB chính vì thế cũng được mở rộng, không chỉ dừng lại ở việc xem xét các lý lẽ và lập luận cho một niềm tin hay một kiến thức nào đó Từ hạt nhân lý lẽ và lập luận, TDPB được mở rộng sang các lĩnh vực khác

TDPB trở thành yếu tố quan trọng trong giao tiếp, một lĩnh vực ở đó mà sự đúng đắn của lý lẽ và lập luận chỉ là một trong những yếu tố tạo nên thành công TDPB trong giao tiếp, con người cần phải nhạy cảm với ngôn ngữ sử dụng cũng như biết sử dụng các biện pháp tạo tình cảm

TDPB cũng mở rộng sang lĩnh vực ý tưởng, gắn việc với tính sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề Tính đúng với thực tiễn, tiêu chí cơ bản để đánh giá lý lẽ và lập luận, không còn là đủ để xem xét các ý tưởng có tính mới (chưa được đưa ra hoặc chưa được thực thi)

Tiếp theo, TDPB được mở rộng ra việc đánh giá mức hiểu của mỗi người

“Biết mình không biết cũng là biết”, phương Đông bao đời nay, với tính hướng nội,

đã nhấn mạnh vào khả năng tự hiểu mình Phương Tây, với tính hướng ngoại, mới lưu tâm đến khả năng hiểu chính bản thân mình Điều quan trọng là khả năng tự nhận biết sự hiểu biết của mình ngày nay được đặt trong bối cảnh xã hội yêu cầu học tập không ngừng nghỉ Các công ty tuyển dụng nhân sự nói rằng họ không phải chỉ đòi hỏi người có bằng cấp 4 năm hay là 7 năm mà đòi hỏi có “bằng cấp 40 năm” Nói một cách khác, xã hội yêu cầu khả năng học tập suốt đời, điều không thể nào có được nếu thiếu TDPB

Tóm lại, các công cụ và nguồn lực của nhà tư tưởng phản biện đã được tăng lên rất nhiều nhờ các công trình của lịch sử tư tưởng phản biện Hàng trăm nhà tư tưởng đã góp phần vào sự phát triển của nó Mỗi môn học chính đã có một số đóng góp cho TDPB

Trang 29

b) Định nghĩa về tư duy phản biện

Tư duy phản biện (critical thinking) là một trong những khái niệm phức tạp, được hiểu theo nhiều cách khác nhau Truyền thống TDPB được cho là bắt nguồn từ phương Tây với tầm nhìn và thực tiễn hoạt động của nhà triết học Hy Lạp Socrates

từ những năm 2000 TCN Socrates quan sát những bài diễn văn của những người có quyền thế và nhận thấy rằng đằng sau sự hùng biện đầy thuyết phục có thể là một sự trống rỗng cũng như người ta không thể đặt niềm tin vào quyền lực Socrates cho rằng cần phải thắc mắc, chất vấn trước khi chấp nhận và tin vào một điều gì và nhấn mạnh vào tầm quan trọng của việc đặt câu hỏi trong các đối thoại nhằm mục đích học tập

John Dewey, một nhà triết học, tâm lý học và giáo dục người Mỹ, với nền giáo dục Mỹ và do ảnh hưởng sâu rộng của văn hóa Mỹ tới toàn thế giới, John Dewey được coi là cha đẻ của TDPB trong giáo dục hiện đại với việc đưa ra khái niệm “reflective thinking” (vẫn có thể dịch là TDPB, giống như “critical thinking”) bằng việc nhấn mạnh lý lẽ và lập luận là hai yếu tố đóng vai trò then chốt trong TDPB Dewey định nghĩa TDPB như sau:

“Critical thinking is the skilled and active interpretation and evaluation of observations and communications, information and argumentation.” (Dewey,

Cũng như Dewey, Glaser vẫn tập trung vào lĩnh vực lý lẽ và lập luận, nhưng ông đã có đóng góp khi chỉ ra tư duy dựa trên thái độ, kiến thức và kĩ năng Glaser cũng là người đưa ra danh sách các năng lực cơ bản của TDPB, bao gồm: (a) nhận

Trang 30

biết vấn đề, (b) tìm kiếm giải pháp, (c) thu thập, sắp đặt các dữ liệu phù hợp, (d) nhận ra các tiền giả định và giá trị ẩn, (d) hiểu và sử dụng ngôn ngữ với tính chính xác, rành mạch, (f) diễn giải dữ liệu, (g) đánh giá các chứng cứ và phát ngôn, (h) nhận biết quan hệ logic giữa các mệnh đề, (i) xác lập các kết luận và khái quát hóa

có cơ sở, (j) biết kiểm tra các kết luận và các khái quá hóa, (k) thiết lập lại hệ tư tưởng, niềm tin của mình khi có nhiều kinh nghiệm hơn và (l) phán xét chính xác về các sự vật cụ thể cũng như chất lượng trong cuộc sống hàng ngày (Edward Glaser, 1941)

Robert Ennis một nhà nghiên cứu nổi tiếng về tư duy phản biện, lại định nghĩa tư duy phản biện là sự suy nghĩ sâu sắc, nhạy cảm, thực tế và hữu ích để quyết định niềm tin hay hành động (Robert Ennis, 1996)

Theo Richard Paul : “TDPB là loại hình suy nghĩ về bất cứ chủ đề, nội dung,

hay vấn đề nào mà ở đó người suy nghĩ nâng cao chất lượng suy nghĩ của mình bằng cách nhận biết cấu trúc của suy nghĩ cũng như là tự đặt cho mình những tiêu chuẩn tư duy” (Richard Paul – Linda Elder, 2015)

Định nghĩa của Robert Ennis và Richard Paul đều chú ý tới quá trình của suy nghĩ hay “suy nghĩ về quá trình suy nghĩ” cũng như nền tảng cho việc tự đặt cho mình những tiêu chuẩn tư duy Paul và Elder đã đưa ra 7 tiêu chí tối thiểu của TDPB như sau: sự rõ ràng, rành mạch (clarity), tính chính xác (accuracy), sự cụ thể,

tỉ mỉ (precision), tính phù hợp (relevance), độ sâu (depth), độ rộng (breadth), tính logic (Paul và Elder, 2002)

Quan điểm về tư duy phản biện của Angela Jones (2010) cho rằng tư duy phản biện là một phạm trù chỉ sự suy luận theo lối mở, không bị hạn chế, số lượng các giải pháp là không giới hạn, bao hàm cả việc xây dựng các điều kiện, các điều kiện và ý tưởng đúng đắn để đi đến kết luận vấn đề Michael Scriven (2003) thì tư duy phản biện là khả năng, hành động để thấu hiểu và đánh giá những dữ liệu thu thập được thông qua quan sát, giao tiếp, truyền thông, và tranh luận Có thể hiểu đơn giản rằng, tư duy phản biện bao gồm các kĩ năng tìm kiếm, phân tích thông tin một cách khoa học để có thể đưa ra các phán đoán và trên cơ sở đó đưa ra các quyết định Theo Peter A Facione định nghĩa TDPB là:

Trang 31

"We understand critical thinking to be purposeful, self -regulatory judgment which results in interpretation, analysis, evaluation, and inference, as well

as explanation of the evidential, conceptual, methodological, criteriological,

Facione, 2013)

“Quá trình phán đoán (judgement) có mục đích (purposeful) và tự điều

chỉnh (self-regulatory), thể hiện ở sự diễn dịch (interpretation), phân tích (analysis), đánh giá (evaluation), và suy luận (inference), dựa trên chứng cứ (evidence), khái niệm (concepts), phương pháp (methodology), tiêu chí (criteria) và bối cảnh (context) của sự vật hiện tượng”

Định nghĩa trên chỉ ra được 04 quá trình cũng như là kết quả của suy nghĩ, bao gồm: (1) sự diễn dịch, (2) sự phân tích, (3) sự đánh giá, (4) sự suy luận Đồng thời, định nghĩa trên cũng đưa ra 05 cơ sở đề xem xét sự vật hiện tượng bao gồm: (1) chứng cứ, (2) khái niệm, (3) phương pháp, (4) tiêu chí, và (5) bối cảnh

Tổ chức giáo dục National Council for Excellence in Critical Thinking (NCECT) định nghĩa kĩ năng tư duy phản biện là “quá trình - được tiến hành có kỷ luật về mặt trí tuệ - khái niệm hóa, áp dụng, phân tích, tổng hợp, và/hoặc đánh giá thông tin thu thập từ, hay tạo ra bởi, sự quan sát, kinh nghiệm, suy ngẫm và lập luận, hay giao tiếp, như là một hướng dẫn cho lòng tin và hành động.” Trong thực

tế, người có tư duy phản biện là người học tập tích cực Họ là những người thường xuyên tra vấn về những gì họ thấy và nghe, và họ muốn biết những gì ở sau bề mặt

Như vậy, có thể hiểu tư duy phản biện là khả năng thấu hiểu và đánh giá được những dữ liệu thu thập được thông qua quan sát, giao tiếp, truyền thông, và tranh luận Rèn luyện tư duy phản biện sẽ giúp cá nhân nâng cao kỹ năng nhìn nhận, đánh giá để đi đến hoàn thiện một vấn đề, giúp bản thân chủ động, linh hoạt và sáng tạo hơn trong việc tiếp cận kiến thức và áp dụng kiến thức vào thực tế Tư duy phản

biện có tính chủ động, do đó khi một người có tư duy phản biện họ sẽ tự nảy ra

những câu hỏi, tự đi tìm các thông tin liên quan, quan sát, nhìn nhận, đánh giá vấn

đề hơn là học hỏi thụ động từ người khác Cách đặt câu hỏi để kích hoạt tư duy phản biện cũng chính là khả năng kích họat, mở rộng tư duy, từ đó có thể vận dụng

Trang 32

các kiến thức vào việc giải thích, phân tích, đánh giá, tổng hợp và cuối cùng là vận dụng vào cuộc sống

Tư duy phản biện bắt nguồn từ tính hai mặt (thậm chí nhiều mặt) của vấn đề

Vì vậy, người có tư duy phản biện cần hội tụ những điều kiện cần sau để phát hiện

ra những mặt ít người quan tâm đến (Mathew Lipman, 2003)

– Khả năng quan sát : Quan sát ở đây không phải chỉ là nhìn mà phải là hiểu Mỗi người có một trình độ khác nhau trong việc “nhìn hiểu” cũng tương tự như

“Nghe” và “Nghe hiểu”, “Đọc” và “Đọc hiểu” Kết quả của quan sát khiến ta hiểu được bản chất đằng sau vẻ bề ngoài của sự vật, hiện tượng

– Luôn luôn tò mò và đi tìm kiếm câu trả lời: Sau khi hiểu được bản chất ta bắt đầu nhìn nó dưới nhiều góc độ khác nhau Lúc này các câu hỏi sẽ rất có ích đặc biệt là câu hỏi Tại sao? Làm thế nào? Quan trọng là bạn phải hướng ngược lại so với xu thế chung Nếu chỉ đặt câu hỏi mà không chủ động đi tìm câu trả lời thì bạn

sẽ được xếp vào loại đa nghi, phá đám, bàn ngược

– Luôn nghi ngờ: đặc biệt là sự vật hiện tượng đó bạn mới gặp lần đầu Một phát ngôn từ người mà bạn thiếu tin tưởng đương nhiên sẽ phải được soi xét kỹ hơn

so với một người mà bạn đã hoàn toàn tin tưởng

– Có tư duy logic: Tư duy logic là khả năng kết nối các mắt xích tưởng như chẳng có liên kết gì với nhau Tư duy logic và tư duy phản biện không phải là một

mà là bổ trợ cho nhau Không có tư duy logic thì bạn cùng lắm chỉ đặt ra được câu hỏi chứ khó tự tìm ra câu trả lời Ngược lại việc sở hữu tư duy phản biện khó hơn nhiều so với tư duy logic

– Khả năng tự loại “cái tôi” ra khỏi khung cảnh: Khi đánh giá một vấn đề nào

đó phải coi bản thân như một người nào đó không phải là chính mình Nếu không chúng ta sẽ dễ bị cảm xúc cá nhân chi phối Đây chính là rào cản lớn để có tư duy phản biện và biến nó thành có ích cho chính bản thân

– Kỹ năng ra quyết định: ra quyết định là một quy trình bao gồm: (1) Gọi tên vấn đề, (2) Tìm kiếm các đối tượng liên quan tới vấn đề, (3) Tìm nguyên nhân, (4) Tìm giải pháp, (5) Tổ chức thực hiện Khi bạn phát ngôn ra là “chúng ta nên làm thế này” thì trong đầu bạn phải hình thành đầy đủ các thông tin trong tiến trình ra quyết

Trang 33

định rồi Nó sẽ giúp cho ý kiến của bạn chặt chẽ và có thể tiếp tục tương tác với người khác

Đặc trưng của một ý kiến phản biện thường mang tính thiểu số vì đơn giản nếu nó của đa số thì đó là ý kiến chính thống rồi Người có tư duy phản biện thường đưa các ý kiến trái ngược với suy nghĩ thông thường của nhóm đó Gộp lại thì dấu hiệu của một ý kiến phản biện là nó là của thiểu số và nó phải không giống với những ý thông thường của nhóm đó, tổ chức đó (Tạ Hồng Huệ, 2016)

Tư duy phản biện được hình thành theo thang cấp độ từ thấp đến cao: (Tạ Hồng Huệ, 2016)

(1) Biết: Nhớ được ý chính, yếu tố cơ bản

(2) Hiểu: Tổng hợp, giảng giải lại được ý nghĩa, tìm được ý nghĩa chính của lượng kiến thức đó Học sinh lĩnh hội kiến thức, nhận diện vấn đề bằng cách nghe, quan sát để phát hiện ra các nguyên tắc, quy tắc, nguyên lý, quy luật Học sinh chỉ quan tâm học thuộc lòng những kiến thức mới dưới dạng sự kiện do giáo viên cung cấp

(3) Áp dụng: Sử dụng các lý thuyết một cách mới, áp dụng vào một tình huống mới Học sinh có thể bắt chước, thực hành làm theo mẫu của giáo viên đưa

ra và khi thực hiện các thao tác theo mẫu có thể điều chỉnh, thay đổi, sửa đổi mẫu

để sử dụng trong hoạt động thường ngày Học sinh bắt đầu nhận thức ra rằng có thể

có những quan điểm khác nhau về cùng một vấn đề và có thể có những quan điểm hoàn toàn đối lập nhau Học sinh cảm thấy đủ sức để tự mình suy nghĩ, để đặt lại vấn đề về những kiến thức do giáo viên truyền đạt

(4) Phân tích, tổng hợp: Kiểm tra các lí do của các lý thuyết, tìm kiếm những bằng chứng và xem xét mối quan hệ giữa các phần của sự vật, học sinh có khả năng phân loại được vấn đề, đặt các giả thuyết hoặc tìm ra các luận điểm, luận cứ, bằng chứng liên quan bằng cách đối chiếu, so sánh, kiểm tra Sau khi phân tích, học sinh

có thể tổng hợp nghĩa là hợp nhất, kết hợp các ý kiến, thiết kế các biện pháp, phát triển vấn đề, tạo ra cái mới

(5) Đánh giá: xem xét lại những giá trị đã nghiên cứu trên nền tảng tiêu chuẩn, so sánh lại ý tưởng từ đó xác định lại điểm mạnh và điểm yếu của công trình

Trang 34

nghiên cứu khoa học từ đó có khả năng khen ngợi, phê phán dựa vào các tiêu chuẩn

cụ thể, diễn giải các bằng chứng một cách có hệ thống

(6) Sáng tạo: Tổng hợp ý tưởng từ nhiều nguồn khác nhau để tạo thành một sản phẩm mới từ sản phẩm gốc Học sinh có khả năng khởi xướng hoạt động mới hoặc kết hợp nhiều hoạt động khác nhau, kết hợp được các kỹ năng khác nhau, có thể tạo ra cái mới dựa trên cái cũ Đây là cấp độ sáng tạo trong nhận thức sẽ thể hiện rõ ràng các cách tiếp cận vấn đề khác nhau, có quan điểm cá nhân rõ ràng, có khả năng bảo vệ quan điểm cá nhân và có cách tiêu hóa kiến thức riêng cũng như vận dụng kiến thức để đưa ra những lựa chọn hay những quyết định của mình, chủ động thực hiện điều mình ưa thích sau khi đã cân nhắc, lựa chọn, kết hợp mục tiêu mới với các mục tiêu khác theo thứ tự ưu tiên

Nhìn chung, tư duy phản biện cũng bao gồm các thang bậc nhận thức theo thang nhận thức của Bloom - một trong những hệ phân loại được sử dụng nhiều nhất trong giáo dục để đặt mục tiêu cũng như tổ chức các hoạt động cụ thể

Thang bậc nhận thức của Bloom gồm 6 bậc, xếp theo thứ tự từ thấp đến cao như sau:

1 Nhớ (knowledge): Nhớ lại các dữ liệu đã học được trước đây

2 Thông hiểu (comprehension): Nắm được ý nghĩa của sự vật hiện tượng

3 Vận dụng (application): Sử dụng những điều đã học các tài liệu đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới

4 Phân tích (analysis): Hiểu cấu trúc, mối quan hệ giữa các thành phân và nguyên lý tổ chức bao hàm của sự vật hiện tượng

5 Tổng hợp (synthesis): Sắp xếp lại thông tin để hình thành một tổng thể mới

6 Đánh giá (evaluation): Xác định giá trị của sự vật hiện tượng

Anderson và Krathwohl đã chỉnh lý lại thang bậc nhận thức này Việc chỉnh

lý này trước hết bao gồm việc sử dụng đúng từ ngữ hơn (đổi từ các danh từ sang động từ và đổi từ “knowledge” thành “remember”) Bản thân khi chúng tôi dịch thang bậc nhận thức gốc của Bloom sang tiếng Việt cũng đã làm những việc này (chuyển đổi danh từ sang động từ, và dịch “knowledge” thành nhớ) Một điểm khác biệt nữa là Anderson và Krathwohl (2001) đã chuyển tên gọi “tổng hợp” (synthesis)

Trang 35

thành “sáng tạo” (create) và chuyển nó lên bậc trên của đánh giá (evaluate) Nghĩa

là, theo Anderson và Krathwohl thì khả năng sáng tạo ở một bậc cao hơn khả năng đánh giá (Anderson và Krathwohl, 2001)

Thang bậc nhận thức của Bloom liên quan tới TDPB ở chỗ nhiều nhà giáo dục cho rằng TDPB là thể hiện khả năng đánh giá, và người học phải đạt đến mức thang cao nhất của nhận thức thì mới được gọi là có TDPB Nếu chỉ nhớ, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp thì vẫn chưa đạt được trình độ TDPB Nói một cách khác, TDPB là trình độ nhận thức cao nhất trong thang bậc nhận thức gốc của Bloom Trong thực tế, khi nhìn nhận sự vật hiện tượng, không phải lúc nào cũng cần thiết phải đánh giá TDPB phải bao gồm cả khả năng biết là lúc nào chưa nên đánh giá,

và ở một nghĩa nào đó thì đó vẫn là một khả năng đánh giá

Thứ bậc thì tư duy phản biện phải nằm ở đỉnh cao là sự sáng tạo, mặc dù nó không phải là sáng tạo nhưng nó là chất xúc tác cho sáng tạo

c) Đặc điểm của tư duy phản biện

Theo Mathew Lipman, tư duy phản biện mang nhiều đặc điểm đặc trưng được biểu hiện qua những yếu tố sau: (Mathew Lipman, 2003)

- Sản phẩm của tư duy phản biện là các phán đoán:

Phán đoán là hình thức diễn đạt chung của mọi quan điểm, ước lượng, và kết luận, do đó, cũng bao hàm cả các cách thức giải quyết vấn đề, quyết định được đưa

ra, sự thông hiểu khái niệm Vì vậy, nói rằng sản phẩm của tư duy phản biện là các phán đoán thì có ý nghĩa rất khái quát Tuy nhiên, tư duy phản biện hướng đến sự khôn ngoan nên các sản phẩm được nhắm đến của tư duy phản biện phải là các phán đoán tốt Sự phân biệt cơ bản giữa một phán đoán tốt và một phán đoán không

có giá trị là tính ứng dụng thực tiễn của nó Mọi người, cho dù họ là bác sĩ hay nông dân, họ đều phải thường xuyên đưa ra các phán đoán trong công việc cũng như trong đời sống Một bác sĩ giỏi không thể chỉ chẩn bệnh tốt mà còn phải kê đơn thuốc và tiên lượng phản ứng của bệnh nhân, cũng như là các cân nhắc về vấn đề đạo đức Một phán đoán tốt là kết quả của sự xem xét đến tất cả mọi vấn đề liên quan, bao gồm cả chính phán đoán đó Một phán đoán tốt phải là sản phẩm của một

Trang 36

tiến trình tư duy thuần thục về kỹ năng và có sử dụng các thủ thuật và công cụ hỗ trợ thích hợp

Tư duy phản biện là loại tư duy ứng dụng Do đó, nó không chỉ nhắm đến việc đạt được sự hiểu biết, mà còn là việc vận dụng kiến thức để tạo ra những thay đổi tích cực Một cách tóm tắt: sản phẩm tối thiểu của tư duy phản biện là các phán đoán, và sản phẩm tối đa của nó là sự ứng dụng thực tiễn của các phán đoán đó

- Tư duy phản biện là loại tư duy dựa vào tiêu chuẩn

Có một mối quan hệ logic giữa các khái niệm tư duy phản biện, tiêu chuẩn,

và phán đoán, đó là: Tư duy phản biện được nhận định như là một loại tư duy đáng tin cậy, thuần thục về kỹ năng và khả năng đánh giá, do vậy, không thể hiểu tư duy phản biện mà thiếu quan tâm đến tiêu chuẩn

- Tư duy phản biện là loại tư duy tự điều chỉnh

Phần nhiều những suy nghĩ của chúng ta là rất chủ quan, chúng ta không thường tự tranh luận với mình xem điều mình nghĩ là đúng hay sai Chúng ta thường suy nghĩ một cách chung chung, từ việc này liên tưởng đến việc khác, nhưng không quan tâm đầy đủ đến vấn đề chân lý hay giá trị, và thậm chí ít quan tâm đến khả năng có thể mắc sai sót Mặc dù chúng ta có thể tự phản ánh chính suy nghĩ của mình, nhưng vẫn có thể làm điều đó một cách chủ quan Vì thế, việc phát hiện ra những mâu thuẫn, thiếu căn cứ, nhầm lẫn trong tiến trình tư duy của mình

và sửa chữa tất cả các lỗi là một mục tiêu của tư duy phản biện

- Tư duy phản biện thể hiện sự nhảy cảm trước bối cảnh

Tư duy nhạy cảm với bối cảnh có nghĩa là phải:

+ Nhận thức được các tình huống ngoại lệ hay khác thường Chúng ta thường suy nghĩ đến tính chân thực hay giả dối của một phát biểu độc lập với tính cách của người nói, nhưng trong toà án, tính cách của nhân chứng có thể là một yếu

tố có liên quan để xem xét

+ Nhận thức được các giới hạn đặc biệt, các biến cố, các rào cản của suy luận

có lý (những thành kiến, định kiến) Ví dụ như hai đường thẳng song song không bao giờ gặp nhau, điều này là chắc chắn trong hình học Euclidean, nhưng trong hình học phi Euclidean thì không

Trang 37

+ Nhận thức được tính tổng thể và nhạy cảm với những cái đặc biệt và đơn nhất

+ Nhận thức được các dấu hiệu không điển hình

+ Nhận thức được rằng có một số thuật ngữ có thể có sự thay đổi về nghĩa khi chuyển sang bối cảnh khác hay lĩnh vực khác, có một số thuật ngữ không có từ tương đương trong ngôn ngữ khác, hay chỉ có ý nghĩa trong bối cảnh đặc biệt

Quá trình tư duy phản biện căn bản dựa trên quá trình tư duy nên cũng gồm 5

bước, tuy vậy quá trình tư duy phản biện mang đặc trưng riêng của nó Theo Tạ

Hồng Huệ, 5 bước của quá trình tư duy phản biện gồm:

Bước 1: Kích hoạt kiến thức nền: Trong giai đoạn này học sinh huy động

kiến thức cũ và chọn lựa, xâu chuỗi các kiến thức có liên quan đến vấn đề

Bước 2: Trải nghiệm: Dựa trên kiến thức nền học sinh được trãi nghiệm một

nhiệm vụ học tập cụ thể Học sinh là người tổ chức mọi hoạt động để chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kĩ năng

Bước 3: Phản hồi: Học sinh phân tích đánh giá lại các hoạt động vừa tổ

chức, so sánh với bạn kề bên, trong nhóm, trong lớp với quan điểm khác nhau

Bước 4: Hình thành kiến thức kinh nghiệm mới: Trên cơ sở những kế hoạch,

thiết kế đã hình thảnh và kiểm chứng tiến hành tìm hiểu và rút ra kiến thức mới Kiến thức dược tạo từ kinh nghiệm trở nên có hệ thống và lưu giữ sâu sắc trong bộ nhớ

Bước 5: Đưa kiến thức, kĩ năng vừa hình thành vào thực tiễn: Với các kiến

thức và kĩ năng đã hình thành, học sinh vận dụng vào những hoàn cảnh thực sự có ý nghĩa

Trang 38

Sơ đồ 1.2 Sơ đồ quá trình tư duy phản biện (Tạ Hồng Huệ, 2016)

Bên cạnh đó, K B Beyer cũng đã nêu lên các đặc điểm thiết yếu của người

có tư duy phản biện, đó là: (K B Beyer, 1995)

- Không có thành kiến: Người có tư duy phản biện là người ham tìm hiểu, biết lắng nghe và có thể chấp nhận ý kiến trái ngược với mình, đề cao giá trị công bằng, tôn trọng bằng chứng và lý lẽ, thích sự rõ ràng chính xác, biết xem xét các quan điểm khác nhau, và sẽ thay đổi quan điểm khi sự suy luận cho thấy phải làm như vậy

- Biết vận dụng các tiêu chuẩn: Cần phải có các điều kiện được thoả mãn nhất định để một phát biểu trở thành có thể tin cậy được Mặc dù các lĩnh vực khác nhau có thể có các tiêu chuẩn khác nhau, nhưng có một số tiêu chuẩn có thể được

áp dụng chung cho nhiều vấn đề, ví dụ như: “…một khẳng định bất kỳ phải … được dựa trên những sự thật chính xác có liên quan, từ các nguồn đáng tin cậy, rõ ràng, không thiên lệch, thoát khỏi logic ngụy biện, hợp logic, lý lẽ vững chắc”

- Có khả năng tranh luận: Đưa ra các lý lẽ với các bằng chứng hỗ trợ Tư duy phản biện bao gồm cả việc nhận dạng, đánh giá, và xây dựng các lý lẽ

Lý luận

Đánh giá

Giải quyết vấn đề Quyết định

Phân tích

Tư duy phản biện

Trang 39

- Có khả năng suy luận: Có khả năng rút ra kết luận từ một hoặc nhiều chi tiết Để làm được việc này cần phải nhìn thấy được mối quan hệ logic giữa các dữ liệu

- Xem xét vấn đề từ nhiều phương diện khác nhau: Người có tư duy phản biện cần phải tiếp cận hiện tượng từ nhiều quan điểm khác nhau

- Áp dụng các thủ thuật tư duy: Tư duy phản biện sử dụng nhiều thủ thuật tư duy khác nhau, bao gồm đặt câu hỏi, đưa ra các phán đoán, thiết lập các giả định

Ý kiến phản biện có giá trị rất lớn quyết định tới sự thành bại của tổ chức thậm chí là sự tiến bộ của loài người Bất cứ một ý kiến nào mới lạ mới ra đời đều trước hết là bị đám đông vùi dập, khi ý kiến đó đã tự chứng minh được từ thực tế thì

nó mới dần được chấp nhận Ngày nay, theo xu hướng toàn cầu hóa trên thế giới, học sinh Tiểu học ở nước ta cũng đang hướng tới suy nghĩ tích cực, chủ động mà TDPB là một trong những hành trang cần thiết để các em có thêm phương tiện để tự thể hiện mình, khẳng định mình xứng đáng là người chủ tương lai của đất nước TDPB giúp học sinh: (Mathew Lipman, 2003)

(1) Thoát ra khỏi cách suy nghĩ theo khuôn mẫu, thói quen truyền thống có sẵn đã được định hình trước, những rào cản của định kiến Từ đó, học sinh luôn nổ lực tìm kiếm, tiếp cận những cái mới, những giá trị mới của những vẫn đề tưởng như đã cũ kỹ Bên cạnh đó, học sinh luôn trong tâm thế để tiếp nhận những cái mới, cái tiến bộ trong suy nghĩ, trong cuộc sống Khi có ý thức rõ ràng trong việc phải nhìn nhận mọi vấn đề dưới góc nhìn mới chắc chắn sẽ đưa lại những kết quả khác, mới lạ, có tính sáng tạo cao Vì vậy, nếu rèn luyện cho học sinh luôn suy nghĩ theo lối tư duy phản biện sẽ kích thích khả năng sáng tạo trong tư duy của các em

(2) Suy nghĩ một vấn đề theo nhiều hướng khác nhau với những cách giải quyết khác nhau Từ cái nhìn đa chiều trước một vấn đề cần giải quyết trong học tập, trong cuộc sống sẽ giúp cho học sinh tránh được hiện tượng nhìn nhận vấn đề cách một chiều, phiến diện từ đó hình thành suy nghĩ để giải quyết mọi vấn đề theo hướng xem xét kĩ mọi góc độ, mọi khía cạnh, đưa ra nhiều phương án khác nhau và lựa chọn được phương án tối ưu với những lập luận và cơ sở vững chắc

Trang 40

(3) Có ý thức rõ ràng hơn trong việc lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác trong lúc tranh luận Có tư duy phản biện học sinh sẽ phát triển khả năng lắng nghe các ý kiến khác với ý kiến của bản thân để tìm hiểu sự thật, tìm hiểu rõ bản chất của vấn đề trước khi đưa ra kết luận về vấn đề đó

(4) Chủ động nhìn ra những hạn chế và những sai lầm dễ mắc phải trong quá

trình tư duy của chính mình, từ đó giúp học sinh đưa ra những nhận định, phán đoán tối ưu nhất có thể có

(5) Suy nghĩ theo hướng tích cực, giảm được trạng thái tâm lý buồn rầu, thất vọng, mất lòng tin khi gặp thất bại trong cuộc sống, trong học tập … Khi từng bản thân học sinh đều suy nghĩ theo hướng tích cực, họ sẽ tự khám phá những tiềm năng vốn có trong bản thân mình và những tiềm năng này khi được khám phá, khai thác

sẽ trở thành “nội lực” giúp từng cá thể vượt lên chính mình, tự khẳng định mình, góp phần hình thành nhân cách tự chủ, độc lập và sáng tạo

(6) Nỗ lực cập nhật, chắt lọc được thông tin cần thiết, có giá trị, bổ ích cho bản thân Từ rất nhiều nguồn thông tin hiện có như hiện nay, học sinh có khả năng nâng cao kỹ năng tiếp cận mọi nguồn tin, tra cứu tìm tin và kỹ năng xử lý thông tin, trình bày vấn đề một cách sáng tạo, định vị luận điểm/ luận cứ một cách rõ ràng Việc học và rèn luyện tư duy phản biện một cách tích cực sẽ hỗ trợ quá trình tiêu hóa kiến thức của học sinh, giúp học sinh suy nghĩ độc lập, tư duy theo hướng mở, nhận thức mọi vấn đề một cách rõ ràng hơn, tập lập luận với những dẫn chứng đáng tin cậy, biết phân tích, phân loại, tổng hợp, so sánh, đánh giá, từ đó suy nghĩ chín chắn hơn, tự ra quyết định và hành động

Ngày đăng: 20/12/2020, 19:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w