Hi, các bạn, Hôm nay mình chia sẽ với các bạn về tài liệu powerpoint về Tổng quan về Internet. Dù hiện tại internet ko còn xa lạ với người Việt Nam, nhưng mình hy vọng tài liệu này sẽ vẫn hữu ích với các bạn. Chúc lướt web vui vẻ.
Trang 1www.themegallery.com
Trang 2TỔNG QUAN VỀ INTERNET
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Trang 3I.LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA INTERNET
U N I V E R S I T Y
Trang 4I.LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA INTERNET
Lịch sử của mạng Internet bắt đầu từ mạng máy tính vào
những năm 1960 Một cơ quan của Bộ Quốc Phòng Mỹ,
cơ quan quản lý dự án nghiên cứu phát triển (ARPA-
Advanced Research Projects Agency) đã đề nghị liên kết bốn điểm đầu tiên vào tháng 7 năm 1968 Bốn địa điểm
đầu tiên đó là viện nghiên cứu Standford, Trường đại
học tổng hợp California ở Log Angeles, Trường đại học tổng hợp California ở Santa Barbara và Trường Đại Học Tổng Hợp Utah
Trong thuật ngữ ngày nay, chúng ta có thể gọi mạng mà người ta đã xây dựng như trên là mạng Liên Khu Vực
(Wide Area Network) hay WAN (mặc dù nó nhỏ hơn rất
nhiều) Bốn địa điểm trên được nối thành mạng vào năm
1969 đã đánh dấu sự ra đời của Internet ngày nay: Mạng được biết đến dưới cái tên ARPANET đã hình thành
Giao thức cơ sở có liên lạc trên Internet là TCP/IP.
Trang 5I.LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA INTERNET
Buổi đầu, máy tính và đường liên lạc có khâu xử lý
rất chậm, với đường dây dài thì khâu chuyển tín
hiệu nhanh nhất là 50kbit/giây Số lượng máy tính nối vào mạng rất ít (chỉ 200 máy chủ vào năm
1981).
ARPANET càng phát triển khi càng có nhiều máy
nối vào - rất nhiều trong số này là từ các cơ quan của Bộ Quốc Phòng hoặc những trường Đại Học nghiên cứu với các đầu nối vào Bộ Quốc Phòng Đây là những giao điểm trên mạng Trong khi
ARPANET đang cố gắng chiếm lĩnh mạng quốc gia thì một nghiên cứu tại trung tâm nghiên cứu Xeroc Corporation’s Palo Alto đã phát triển một kỹ thuật được sử dụng trong mạng cục bộ là Ethernet.
Trang 6I.LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA INTERNET
Theo thời gian, Ethernet trở nên là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để cung cấp một mạng cục bộ Trong thời gian này, DARPA(đặt lại tên từ ARPA) chuyển sang hợp nhất TCP/IP vào version hệ điều hành UNIX của Trường Đại học California ở
Berkeley Với sự hợp nhất như vậy tạo nên một thế hệ mạnh trên thị trưường, những trạm làm việc độc lập sử dụng UNIX, TCP/IP cũng có thể dễ dàng xây dựng vào phần mềm hệ điều hành, và những nhà cung cấp máy tính như SUN cũng chế tạo một cửa cho Ethernet TCP/IP trên Ethernet đã trở thành một cách thức thông dụng để trạm làm việc nối đến trạm khác
Trong thập kỷ 1980, máy tính cá nhân được sử dụng rộng rãi trong các Công ty và Trường Đại học trên thế giới Mạng
Ethernet kết nối với các PC trở thành phổ biến Các sản phẩm phần mềm thương mại cũng đã ra những chương trình cho
phép máy PC và máy UNIX giao tiếp cùng một ngôn ngữ trên mạng.
Trang 7I.LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA INTERNET
Vào giữa thập kỷ 1980, giao thức TCP/IP được
dùng trong một số kết nối khu vực và cũng được
sử dụng cho các mạng cục bộ và mạng liên khu
vực (Campus wide) Giai đoạn này tạo nên sự
phát triển bùng nổ.
Thuật ngữ “Internet” xuất hiện lần đầu vào
khoảng năm 1974 trong khi mạng vẫn được gọi
là ARPANET cho đến năm 1980, khi Bộ quốc
phòng Mỹ quyết định tách riêng phần mạng về
quân sự thành “MILNET” Cái tên ARPANET vẫn
được sử dụng cho phần mạng (phi quân sự) còn
lại dành cho các trường đại học và cơ quan
nghiên cứu Vào thời điểm này, ARPANET (hay
Internet) còn ở quy mô rất nhỏ.
Trang 8I.LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA INTERNET
Mốc lịch sử quan trọng của Internet được chọn vào giữa thập kỷ 1980, khi tổ chức khoa học quốc gia
Mỹ NSF thành lập mạng liên kết các trung tâm máy tính lớn với nhau gọi là NSFNET Nhiều doanh
nghiệp đã chuyển từ ARPANET sang NSFNET và do
đó sau gần 20 năm hoạt động ARPANET không còn hiệu quả nữa và đã ngừng hoạt động vào khoảng
năm 1990
Sự hình thành mạng Backbone của NSFNET và
những mạng vùng khác đã tạo một môi trường
thuận lợi cho sự phát triển của Internet Tới năm
1995, NSFNET thu lại thành một mạng nghiên cứu
Internet thì tiếp tục phát triển không ngừng.
Trang 9I.LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA INTERNET
NSFNET - 1986
Trang 10I.LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA INTERNET
ARPANETđược thành lập
ARPANET sử dụng GT TCP/IP
NSFNET thay thế ARPANET
13 triệu máy tính được kết nối
200 triệu máy tính được kết nối
2001
Trang 11I.LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA INTERNET
12 /1997 - Việt Nam gia nhập Internet
Trang 12I.LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA INTERNET
Trang 13II.CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.ISP (Internet Service Provider) 2.IAP (Internet Access Provider)
3.GIAO THỨC TCP/IP
4.ĐỊA CHỈ IP
Trang 14II.1.ISP (Internet Service Provider)
ISP là nhà cung cấp dịch vụ Internet
Các ISP phải thuê đường và cổng của một IAP Các ISP
có quyền kinh doanh thông qua các hợp đồng cung cấp dịch vụ Internet cho các tổ chức và các cá nhân.
Các loại ISP dùng riêng được quyền cung cấp đầy đủ
các dịch vụ Internet Điều khác nhau duy nhất giữa ISP
và ISP riêng là ko cung cấp dịch vụ Internet với mục đích kinh doanh Người dùng chỉ cần thoả thuận với một ISP hay ISP riêng nào đó về các dịch vụ được sử dụng và thủ tuc thanh toán được gọi là thuê bao Internet.
ISP có nhiệm vụ cung cấp cho người dùng những phần mềm cần thiết (giả thiết người dùng đã có đầy đủ phần cứng) và chỉ dẫn để người dùng có thể truy cập tới ISP
đó thông qua đường điện thoại, hoặc đường dây riêng nối trực tiếp
Trang 15II.1.ISP (Internet Service Provider)
CÔNG TY THÔNG TIN
VIỄN THÔNG ĐIỆN LỰC
TIN
TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN
THÔNG VIỆT NAM (VNPT) THÔNG QUÂN ĐỘI (VIETTEL) TỔNG CÔNG TY VIỄN CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ INTERNET ( OCI)
CÔNG TY CỔ PHẦN VIỄN
THÔNG THẾ HỆ MỚI (VNGT)
CÔNG TY THÔNG TIN ĐIỆN
TỬ HÀNG HẢI (VISHIPEL)
CÔNG TY SAIGONTOURIST
(SCTV)
CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CÔNG TY CỔ PHẦN VIỄN CÔNG TY CỔ PHẦN VÔ
Danh sách các ISP ở Việt Nam hiện nay:
Trang 16II 2.IAP (Internet Access Provider)
Trang 17II 2.IAP (Internet Access Provider)
IAP là nhà cung cấp khả năng truy cập Internet Nếu hiểu
Internet như một siêu xa lộ thông tin thì IAP là phương tiện
để đưa người dùng vào xa lộ, hay nói cách khác là kết nối bạn trực tiếp với Internet IAP có thể làm luôn chức năng của ISP nhưng ngược lại thì không Một IAP thường phục vụ cho nhiều ISP khác nhau.
Các máy chủ chứa đựng những thông tin mà ISP có thể cung cấp Một khi đã nằm trong Internet, các máy chủ được kết nối với nhau, thường là qua hệ thống cáp tốc độ cao như cáp quang Mỗi máy có địa chỉ riêng gọi là URL (Uniform Resource Locator) Người dùng có thể truy cập trực tiếp đến máy chủ thông qua cáp mạng Nhưng phần lớn đều truy cập từ xa thông qua đường dây điện thoại Các ISP lại nối vào IAP để giao tiếp với Internet Việc kết nối này có thể thông qua cáp quang hoặc vệ tinh viễn thông.
Trang 18II.3.GIAO THỨC TCP/IP
Bộ giao thức TCP/IP, ngắn gọn là TCP/IP
(Internet protocol suite hoặc IP suite hoặc TCP/IP protocol suite - bộ giao thức liên mạng), là một bộ các giao thức truyền thông cài đặt chồng giao thức mà Internet và hầu hết các mạng máy tính thương mại đang chạy trên đó Bộ giao thức này được đặt tên theo hai giao thức chính của nó là TCP (Giao thức Điều khiển Giao vận)
và IP (Giao thức Liên mạng) Chúng cũng là hai giao thức đầu tiên được định nghĩa.
Như nhiều bộ giao thức khác, bộ giao thức TCP/IP có thể được coi là một tập hợp các tầng, mỗi tầng giải quyết một tập các vấn đề có liên quan đến việc truyền dữ liệu, và cung cấp cho các giao thức tầng cấp trên một dịch vụ được định nghĩa
rõ ràng dựa trên việc sử dụng các dịch vụ của các tầng thấp hơn Về mặt lôgic, các tầng trên gần với người dùng hơn và làm việc với dữ liệu trừu tượng hơn, chúng dựa vào các giao thức tầng cấp dưới để biến đổi dữ liệu thành các dạng mà cuối cùng có thể được truyền đi một cách vật lý.
Trang 19II.3.GIAO THỨC TCP/IP
Trang 20II.3.GIAO THỨC TCP/IP
Nhiệm vụ chính của giao thức IP là cung cấp khả năng kết nối các mạng con thành liên kết mạng để truyền dữ liệu, vai trò của IP là vai trò của giao thức tầng mạng trong mô hình OSI Giao thức IP là một giao thức kiểu không liên kết (connectionless) có nghĩa là không cần
có giai đoạn thiết lập liên kết trước khi truyền dữ liệu
Mô hình OSI miêu tả một tập cố định gồm 7 tầng mà một số nhà sản xuất lựa chọn và nó có thể được so sánh tương đối với bộ giao thức TCP/IP
Hiện nay, một số hệ điều hành thương mại có bao gồm
và cài đặt sẵn chồng TCP/IP Đối với đa số người dùng, chúng ta không cần phải lùng tìm bản lập trình thực thi của nó TCP/IP được bao gồm trong tất cả các phiên bản Unix thương mại và các phân phối của Linux, cũng như với Mac OS X, Microsoft Windows, và Windows Server
Trang 21II.3.GIAO THỨC TCP/IP
Các lớp giao thức TCP/IP bao gồm:
Lớp truy cập mạng – Cung cấp giao diện tương tác với mạng vật lý Format dữ liệu cho bộ phận truyền tải trung gian và tạo địa chỉ dữ liệu cho các tiểu mạng dựa trên địa chỉ phần cứng vật lý Cung cấp việc kiểm tra lỗi trong quá trình truyền dữ liệu.
Lớp Internet – Cung cấp địa chỉ logic, độc lập với phần cứng, để dữ liệu có thể lướt qua các tiểu mạng có cấu trúc vật lý khác nhau Cung cấp chức năng định tuyến để giao lưu lượng giao thông và hỗ trợ việc vận chuyển liên mạng Thuật ngữ liên mạng được dùng để đề cập đến các mạng rộng lớn hơn, kết nối từ nhiều LAN Tạo sự gắn kết giữa địa chỉ vật lý và địa chỉ logic.
Lớp vận chuyển – Giúp kiểm soát luồng dữ liệu, kiểm tra lỗi và xác nhận các dịch vụ cho liên mạng Đóng vai trò giao diện cho các ứng dụng mạng.
Lớp ứng dụng – Cung cấp các ứng dụng để giải quyết sự cố mạng, vận chuyển file, điều khiển từ xa, và các hoạt động Internet Đồng thời hỗ trợ Giao diện Lập trình Ứng dụng (API) mạng, cho phép các chương trình được thiết kế cho một hệ điều hành nào đó có thể truy cập mạng.
Trang 22II.3.GIAO THỨC TCP/IP
Bảy lớp của mô hình OSI như sau:
Lớp vật lý - Chuyển đổi dữ liệu sang các dòng xung điện, đi qua bộ phận truyền tải trung gian và giám sát quá trình truyền dữ liệu.
Lớp kết nối dữ liệu - Cung cấp giao diện cho bộ điều hợp mạng, duy trì kết nối logic cho tiểu mạng.
Lớp mạng - Hỗ trợ địa chỉ logic và định tuyến.
Lớp vận chuyển - Kiểm tra lỗi và kiểm soát việc lưu chuyển liên mạng.
Lớp khu vực - Thiết lập các khu vực cho các ứng dụng tương tác giữa các máy tính.
Lớp trình bày - Dịch dữ liệu sang một dạng tiêu chuẩn, quản lý việc
mã hoá và nén dữ liệu.
Lớp ứng dụng - Cung cấp giao diện cho các ứng dụng; hỗ trợ ứng
dụng gửi file, truyền thông, …
Điều cần đặc biệt lưu tâm là TCP/IP và OSI là các tiêu chuẩn, không phải là các bộ lọc hay phần mềm tạo giao thức.
Trang 23Nhờ bộ giao thức truyền thông TCP/IP nên các máy tính trong internet hoạt động và trao đổi với nhau được.
Gói tin gửi
Gói tin nhận
II.3.GIAO THỨC TCP/IP
Trang 24II.4.ĐỊA CHỈ IP
Địa chỉ IP (Internet Protocol)
là một địa chỉ đơn nhất mà những thiết bị điện tử hiện nay đang sử dụng để nhận diện và liên lạc với nhau trên mạng máy tính bằng cách sử dụng tiêu chuẩn Giao thức Internet (IP).Mỗi địa chỉ IP là duy nhất trong cùng một cấp mạng.
Một cách đơn giản hơn:IP là một địa chỉ của một máy tính khi tham gia vào mạng nhằm giúp cho các máy tính có thể chuyển thông tin cho nhau một cách chính xác, tránh thất lạc Bất kỳ thiết bị mạng nào—bao gồm bộ định tuyến, bộ chuyển mạch mạng, máy vi tính, máy chủ hạ tầng, máy in, máy fax qua Internet, và vài loại điện thoại — tham gia vào mạng đều có địa chỉ riêng, và địa chỉ này là đơn nhất trong phạm vi của một mạng cụ thể Vài địa chỉ IP có giá trị đơn nhất trong phạm vi Internet toàn cầu, trong khi một số khác chỉ cần phải đơn nhất trong phạm vi một công ty
Trang 25II.4.ĐỊA CHỈ IP
Địa chỉ IP hoạt động như một bộ định vị để một thiết bị
IP tìm thấy và giao tiếp với nhau Tuy nhiên, mục đích của nó không phải dùng làm bộ định danh luôn luôn xác định duy nhất một thiết bị cụ thể Trong thực tế hiện nay, một địa IP hầu như không làm bộ định danh, do những công nghệ như gán địa chỉ động và biên dịch địa chỉ mạng.
Địa chỉ IP do Tổ chức cấp phát số hiệu Internet (IANA) quản lý và tạo ra IANA nói chung phân chia những "siêu khối" đến Cơ quan Internet khu vực, rồi từ đó lại phân chia thành những khối nhỏ hơn đến nhà cung cấp dịch vụ Internet và công ty
Trang 26- EFG.HIJ.KMN.OPQ (ví dụ một địa chỉ IP: 220.231.124.5)
- Trong đó mỗi ký tự trên đại diện cho một con số do người sử dụng máy tính, modem hoặc một máy chủ có chức năng riêng (DHCP) gán cho chúng.
IPv6
- Địa chỉ IP theo phiên bản IPv6 sử dụng 128 bit để mã hoá dữ liệu,
nó cho phép sử dụng nhiều địa chỉ hơn so với IPv4.
- Địa chỉ IP phiên bản IPv6 đang dần được đưa vào áp dụng bởi nguồn tài nguyên IPv4 đang cạn kiệt do sự phát triển rất nhanh của công nghệ thông tin Hàng loạt các quốc gia, tổ chức trên thế giới
đã nhanh chóng chuẩn bị triển khai để đưa vào sử dụng theo lộ trình bắt đầu từ năm 2008 đến năm 2010.
Trang 27II.4.ĐỊA CHỈ IP
IP tĩnh / động khi sử dụng Internet
Thuật ngữ IP “tĩnh” được nói đến như một địa chỉ IP cố định dành riêng cho một người, hoặc nhóm người sử dụng mà thiết bị kết nối đến Internet của họ luôn luôn được đặt một địa chỉ IP Thông thường IP tĩnh được cấp cho một máy chủ với một mục đích riêng (máy chủ web, mail…) để nhiều người có thể truy cập mà không làm gián đoạn các quá trình đó.Một số ISP sẽ yêu cầu khách hàng khai báo (hoặc cam kết) về mục đích của việc sử dụng IP tĩnh để quản lý khi cung cấp dịch vụ IP tĩnh cho khách hàng (nhằm tránh tạo ra các máy chủ cung cấp dịch vụ mà không đăng ký hoặc không được phép theo quy định riêng của từng quốc gia).
Trái lại với IP tĩnh là các IP động: Nếu không sử dụng các dịch vụ
đặc biệt cần dùng IP tĩnh, khách hàng thông thường chỉ được ISP gán cho các IP khác nhau sau mỗi lần kết nối hoặc trong một phiên kết nối được đổi thành các IP khác Hành động cấp IP động của các ISP nhằm tiết kiệm nguồn địa chỉ IP đang cạn kiệt hiện nay Khi một máy tính không được kết nối vào mạng Internet thì nhà cung cấp sẽ
sử dụng IP đó để cấp cho một người sử dụng khác.Như vậy nếu như sử dụng IP động thì người sử dụng không thể trở thành người cung cấp một dịch vụ trên Internet bởi địa chỉ IP này luôn bị thay đổi.
Trang 28II.4.ĐỊA CHỈ IP
Quản lý địa chỉ IP ở các cấp độ mạng
Địa chỉ IP cần được quản lý một cách hợp lý nhằm tránh xảy ra các xung đột khi đồng thời có hai địa chỉ IP giống nhau trên cùng một cấp mạng máy tính.
Ở cấp mạng toàn cầu (Internet), một tổ chức đứng ra
quản lý cấp phát các dải IP cho các nhà cung cấp dịch
vụ kết nối Internet (IXP,ISP) các dải IP để cung cấp cho khách hàng của mình.
Ở các cấp mạng nhỏ hơn (WAN), người quản trị mạng
cung cấp đến các lớp cho các mạng nhỏ hơn thông qua máy chủ DHCP.
Ở các mạng nhỏ hơn nữa (LAN) thì việc quản lý địa chỉ
IP nội bộ thường do các modem ADSL (có DHCP) gán địa chỉ IP cho từng máy tính (khi thiết đặt chế độ tự động trong hệ điều hành) hoặc do người sử dụng tự thiết đặt.
Trang 29II.4.ĐỊA CHỈ IP
Dùng chung IP trên Internet
Do địa chỉ IP phiên bản IPv4 đang trở nên không đủ cung cấp cho tất cả những người đăng ký kết nối vào Internet nên rất nhiều máy tính đã phải dùng chung một địa chỉ IP ở cấp độ mạng toàn cầu.
Một ví dụ đơn giản: Các quán Internet Café, hay một công ty có rất nhiều máy tính, nhưng chỉ dùng một đường truyền tới nhà cung cấp dịch vụ Internet, tất cả các máy tính đó đều được dùng chung một IP làm đại diện khi kết nối với mạng Internet toàn cầu.
Khi các máy tính dùng chung một IP, các gói tin vận chuyển đi và đến sẽ được định tuyến cho nó giữa các máy tính của người sử dụng với một máy chủ cung cấp dịch vụ (ở xa) đảm bảo chính xác (không lẫn sang các máy khác dùng chung IP) thông qua một máy chủ nội bộ (ở gần) hoặc một bộ định tuyến (router).
Ở mức độ sử dụng gia đình, các modem ADSL ngày nay (có nhiều hơn một cổng, có thể là RJ-45+USB hoặc 3-5 cổng RJ-45) cũng được tích hợp sẵn bộ định tuyến và cho phép nhiều máy tính cùng
Trang 30III.CÁC PHƯƠNG THỨC KẾT NỐI INTERNET
1 DIAL-UP NETWORKING (QUAY SỐ)
2.DỊCH VỤ THUÊ KÊNH RIÊNG (LEASED LINE)
3 ADSL (ĐƯỜNG DÂY THUÊ BAO SỐ BẤT ĐỐI XỨNG)
Trang 31III.1 DIAL-UP NETWORKING
Dial-up networking là kết nối bằng quay số điện thoại (PSTN) Sau đây là một số các đặc trưng về Dial-up networking:
Dial-up networking sử dụng một modem, như giao diện
giữa một máy tính PC với một mạng (chẳng hạn như Internet) Tốc độ kết nối 56 kbps.
Quay số với một modem là phương pháp rẻ nhất và sẵn
dùng để kết nối Internet.
Tốc độ lớn nhất khi người dùng tải dữ liệu sử dụng
dial-up networking được giới hạn bởi băng thông của hệ thống điện thoại, chất lượng đường truyền và giao vận trên mạng Internet.
Tốc độ kết nối qua khi sử dụng phương pháp quay số
Dial-up networking luôn sử dụng truyền thông với ISP
sử dụng theo giao thức điểm nối điểm.
Trang 32III.1 DIAL-UP NETWORKING
Trang 33III.1 DIAL-UP NETWORKING
Ban đầu người dùng sẽ lựa chọn một nhà cung cấp dịch vụ ISP, và phần mềm quay số đã có sẵn trong hệ điều hành Windows với giao diện sử dụng đơn giản Với mỗi người sử dụng, khi quay số đòi hỏi một account truy cập với tên sử dụng và mật khẩu truy cập dịch vụ tới nhà cung cấp ISP Sau khi thiết lập các thao tác đó xong, mỗi lần truy cập sau, người dùng chỉ cần thực hiện kết nối bằng cách nháy kép chuột trên biểu tượng dial-up, dial-up networking sẽ sử dụng modem để quay số tới nhà cung cấp số dịch vụ ISP, nơi sẽ có một modem khác trả lời Chỉ sau một vài giây, các modem sẽ sử dụng các tín hiệu điều khiển để xem xem các modem có thể kết nối với tốc độ tối đa là bao nhiêu Tiếng kêu của modem khi bắt đầu kết nối
là khi modem của người dùng và của nhà cung cấp dịch vụ đang ước định tốc độ và thiết lập kết nối sử dụng.
Khi kết nối đã được thiết lập, modem của người dùng sẽ trở lại trạng thái im lặng, và dial-up networking sẽ gửi tên truy cập và mật khẩu của người dùng tới nhà cung cấp ISP Tại đầu cuối ISP, một máy tính sẽ kiểm tra tên và mật khẩu truy cập của người dùng dựa trên một cơ sở dữ liệu các khách hàng được quyền sử dụng dịch
vụ Sau khi đã kiểm tra chứng thực này, của sổ trạng thái dial-up networking biến mất, và người dùng có thể duyệt thông tin các website, gửi email, download các file, Quá trình xử lý này được
Trang 34III.1 DIAL-UP NETWORKING
Ưu điểm: Dễ lắp đặt, chi phí ban đầu thấp
Nhược điểm: Tốc độ đường truyền thấp
ISP
Trang 35III.2.DỊCH VỤ THUÊ KÊNH RIÊNG (LEASED LINE)
Dịch vụ Internet trực tiếp - Leased Line là một trong những dịch vụ cao cấp được cung cấp thông qua việc thiết lập 1 đường truyền cho các công ty hay văn phòng
có nhu cầu sử dụng Internet tốc độ cao một cách thường xuyên.
Điểm mạnh của dịch vụ Leased Line là tính linh hoạt, sự
ổn định, kết nối tới mọi địa điểm mà khách hàng yêu cầu Đối tượng sử dụng dịch vụ này là các doanh nghiệp, tổ chức lớn cần một đường truyền riêng tốc độ cao, ổn định với nhiều dịch vụ.
Phù hợp với các tổ chức, doanh nghiệp:
Thường xuyên sử dụng Internet
Trao đổi thông tin với dung lượng lớn
Yêu cầu cao về tốc độ truy nhập
Trang 36III.2.DỊCH VỤ THUÊ KÊNH RIÊNG (LEASED LINE)
Ưu điểm của dịch vụ:
Kết nối Internet 24h/24h bằng các đường kết nối trực
tiếp, an toàn, tin cậy với tốc độ cao được dự phòng tốt trên nền mạng trục Internet quốc gia.
Thu nhận và tổng hợp thông tin trên phạm vi toàn cầu,
liên lạc hiệu quả và tiết kiệm với các khách hàng và các đối tác kinh doanh của bạn.
Tham gia vào Thương mại điện tử một cách nhanh chóng bằng cách chủ động mở ra cho mình những kênh phân phối bán hàng trên Internet
Khởi tạo không hạn chế các hộp thư cho nhân viên trong công ty
Tự cập nhật, kiểm soát các thông tin trên Website của
Trang 37III.2.DỊCH VỤ THUÊ KÊNH RIÊNG (LEASED LINE)
Yêu cầu về kỹ thuật
Thiết bị định tuyến (Router)
Modem tốc độ cao (NTU, HTU) - triển khai trên hạ tầng cáp đồng
Fmux, Modem tốc độ cao có giao diện quang - triển khai trên hạ
quang
Mạng LAN
Máy chủ
Trang 38III.2.DỊCH VỤ THUÊ KÊNH RIÊNG (LEASED LINE)