Đó là bức tranh văn hoá dân gian trongthơ Hồ Xuân Hương, là vẻ đẹp của làng quê Việt qua những vần thơ nức tiếngcủa Nguyễn Khuyến, là những nét văn hoá truyền thống và cảnh sắc thiên nhi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
ĐOÀN THỊ TUYẾT
VĂN HÓA VIỆT TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thái Nguyên - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
ĐOÀN THỊ TUYẾT
VĂN HÓA VIỆT TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Thị Phương Thái
Thái Nguyên – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệutrích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đềutrung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Đoàn Thị Tuyết
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn BanGiám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Văn – Xã hội, Trường Đại học Khoa học –Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trongsuốt quá trình học tập
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướngdẫn PGS.TS Phạm Thị Phương Thái đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trongsuốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã giúp
đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Đoàn Thị Tuyết
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 9
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp mới của đề tài 11
7 Bố cục 11
NỘI DUNG 12
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA VIỆT VÀ NHÀ THƠ NGUYỄN KHUYẾN 12
1.1 Văn hóa và văn hóa Việt 12
1.1.1 Khái niệm văn hóa 12
1.1.2 Văn hóa Việt và đặc điểm văn hóa Việt 13
1.2 Không gian văn hoá xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX 16
1.3 Nguyễn Khuyến - Nhà thơ vùng đồng bằng Bắc Bộ 17
Tiểu kết Chương 1 21
Chương 2: DẤU ẤN VĂN HÓA VIỆT QUA BỨC TRANH THIÊN NHIÊN VÀ BỨC TRANH XÃ HỘI 23
2.1 Dấu ấn văn hóa Việt qua bức tranh thiên nhiên 23
2.1.1 Phong cảnh thiên nhiên làng quê Việt 23
2.1.2 Danh lam thắng cảnh Việt 32
2.1.3 Cảnh sắc bốn mùa vùng đồng bằng Bắc Bộ 38
2.2 Dấu ấn văn hóa Việt qua bức tranh đời sống xã hội 45
2.2.1 Thú vui đời thường 45
Trang 62.2.2 Sinh hoạt văn hóa làng xã 49
2.2.3 Sinh hoạt lao động, sản xuất 52
2.2.4 Các phong tục, tập quán 56
2.2.5 Tín ngưỡng, lễ hội 61
Tiểu kết Chương 2 65
Chương 3: DẤU ẤN VĂN HÓA VIỆT QUA LỐI ỨNG XỬ VÀ TÍNH CÁCH VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG NGƯỜI VIỆT 67
3.1 Dấu ấn văn hóa Việt qua lối ứng xử 67
3.1.1 Ứng xử với bản thân 67
3.1.2 Ứng xử với gia đình 72
3.1.3 Ứng xử với xã hội 77
3.2 Tính cách văn hóa truyền thống người Việt 81
3.2.1 Tính cộng đồng 81
3.2.2 Tính hướng nội 85
3.2.3 Tính trọng danh 89
3.2.4 Tính duy tình 93
3.3 Những cảm nhận và thái độ của nhà thơ trước những biến đổi của văn hóa Việt 96
Tiểu kết Chương 3 100
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 113
Trang 7sự tích tụ đậm nhất phải kể đến vùng đồng bằng Bắc Bộ - cái nôi hình thành vănhóa, văn minh Việt từ buổi ban đầu và hiện tại cũng là vùng văn hóa bảo lưuđược nhiều giá trị truyền thống hơn cả.
Nếu văn hoá thể hiện quan niệm và cách ứng xử của con người trước thếgiới thì văn học là một trong những hoạt động lưu giữ những thành quả đó mộtcách sinh động nhất Trong tác phẩm văn học, ta tìm thấy hình ảnh của văn hoáqua sự tiếp nhận và tái hiện của nhà văn Đó là bức tranh văn hoá dân gian trongthơ Hồ Xuân Hương, là vẻ đẹp của làng quê Việt qua những vần thơ nức tiếngcủa Nguyễn Khuyến, là những nét văn hoá truyền thống và cảnh sắc thiên nhiênđất nước trong truyện ngắn, tuỳ bút Nguyễn Tuân hay tiểu thuyết của Vũ Bằng,
là những tín ngưỡng, phong tục độc đáo trong sáng tác của Tô Hoài… Vì lẽ đó,nhiều nhà nghiên cứu đã căn cứ vào những dữ liệu văn học để tìm hiểu bức tranhvăn hoá của một thời đại hay một giai đoạn lịch sử Đây cũng là hướng nghiêncứu được quan tâm trong thời gian gần đây
2 Nguyễn Khuyến vẫn được biết đến với tư cách là “nhà thơ của làng cảnhViệt Nam” (Xuân Diệu); nhà thơ trữ tình, trào phúng xuất sắc; nhà thơ có tài năng
và nhân cách lớn trong nền văn học nước nhà Số lượng các công trình nghiên cứukhá đồ sộ về Nguyễn Khuyến đều thống nhất trong việc khẳng định vị trí của ôngvới tư cách là một tác gia văn học tiêu biểu nhưng có lẽ như vậy vẫn là chưa đủ đểkhẳng định vị thế của ông trong nền văn học, văn hóa nước nhà
Ông sinh ra và gắn bó một đời với Bình Lục – Yên Đổ nên nét văn hóa đặctrưng vùng đồng quê chiêm trũng nói riêng, bản sắc văn hóa Việt nói chung đãthấm đượm trong từng trang thơ Nguyễn Khuyến: Từ con đom đóm lập lòe ngõ
Trang 8sâu, con trâu già phì phò bên gốc tre đến bóng trăng lóng lánh in đáy nước; từ cáchdiễn đạt mộc mạc, dung dị đến cách ứng xử, nỗi trăn trở rất đỗi chân tình của conngười thôn quê… Tất cả đều toát lên vẻ đẹp văn hóa Việt một cách đậm đà, dung
dị Mỗi sáng tác của ông đều chứa đựng trong đó những sắc màu đa diện của vănhóa Việt từ cảnh sắc thiên nhiên, cách ứng xử đến các lề thói, phong tục, tập quánxưa Vì thế, tuy bấy lâu nay, thơ Nguyễn Khuyến đã được cảm thụ, soi tỏ ở nhiềugóc độ (giá trị nội dung, nghệ thuật, phong cách) nhưng những giá trị văn hóa trongthơ ông lại chưa được tìm hiểu một cách hệ thống, khái quát và nâng lên tầm bản
sắc văn hóa dân tộc Vì vậy, việc khai thác các biểu hiện, giá trị của Văn hóa Việt trong thơ Nguyễn Khuyến được chúng tôi lựa chọn để tiến hành nghiên cứu một
cách hệ thống, toàn diện nhằm đem đến một góc nhìn mới, một sự lý giải mới vềnhững giá trị nhiều mặt trong sáng tác của Nguyễn Khuyến, đồng thời luận văncũng muốn chứng minh một cách hệ thống để khẳng định và tôn vinh ông với tưcách một nhà văn hóa lớn của dân tộc Nguyễn Khuyến - nhà thơ góp phần khắchọa văn hóa Việt qua sáng tác của mình
Mặt khác, nhìn từ thực tiễn, chúng tôi còn thấy trong chương trình cáccấp, nội dung giảng dạy về Nguyễn Khuyến và tác phẩm của ông cũng chiếmmột thời lượng nhất định Vì thế, việc tìm về và khẳng định văn hóa Việt trongthơ Nguyễn Khuyến cũng sẽ góp phần khai thác tác phẩm văn học tưởng như cũ
ởnhững vỉa tầng giá trị mới từ đó đem đến một cái nhìn toàn diện hơn về tác giaNguyễn Khuyến cũng như sự nghiệp sáng tác của ông
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Lịch sử nghiên cứu về văn hóa Việt trong tác phẩm văn học
Văn hóa gồm nhiều thành tố cấu thành nên những công trình nghiên cứu
về văn hóa rất đồ sộ Bên cạnh các nghiên cứu chung về văn hóa Việt Nam vớicác tác giả như: Đào Duy Anh, Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Huyên, Phan Ngọc,Trần Quốc Vượng, Ngô Đức Thịnh, Trần Ngọc Thêm, Đinh Gia Khánh, NguyễnĐăng Duy… còn có khá nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Việt từ các bìnhdiện cụ thể trong mối quan hệ với văn học và biểu hiện của nó trong các tácphẩm văn học (đặc biệt là văn học trung đại) Có thể kể đến các tác giả với các
Trang 9công trình chuyên khảo tiêu biểu như: Triết lí đạo Phật trong Truyện Kiều của Cao Huy Đỉnh; cuốn Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa [8] của Lê Nguyên Cẩn; Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa (2002) [81] của Trần Nho Thìn… Trong đó, cuốn Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa (2002) [81], tác giả Trần Nho Thìn đã tiến hành giới thuyết một số vấn
đề lý luận của văn học trung đại Việt Nam nhìn từ góc độ văn hóa và cắt nghĩahình tượng nghệ thuật, thủ pháp nghệ thuật, các khía cạnh của cấu trúc nghệthuật của một số tác phẩm văn học trung đại từ nền tảng văn hóa Thông quaquyển sách này, những trăn trở của tác giả về một phương thức mới cho việc thểhiện chân lí nghệ thuật mà cụ thể là khoa học văn học đã được chưng cất và kếttinh thành một lí thuyết thật sự
Ngoài ra, còn một loạt các luận văn như: Văn hóa tâm linh trong văn xuôi trung đại [68]; Văn hóa ứng xử người Việt trong truyện thơ Nôm (2007) [20]; Văn hóa ứng xử trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du (2010) [42]; Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua một số ca dao - tục ngữ (2010) [3]; Văn hóa tâm linh người Việt trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh (2013) [34]; … Cụ thể là:
Luận văn Văn hóa ứng xử người Việt trong truyện thơ Nôm (2007) [20]
của Triệu Thùy Dương đã nghiên cứu văn hóa ứng xử của người Việt qua một sốtruyện thơ Nôm tiêu biểu thế kỷ XVIII – XIX Từ đó, tác giả đã tìm ra ảnhhưởng của thế ứng xử với tư cách là quan niệm sống, lối sống, nếp sống, lốihành động của một cộng đồng người trong thực tế đời sống đến văn học Luậnvăn đã tìm hiểu truyện thơ Nôm người Việt dưới góc nhìn từ truyền thống vănhóa Việt Người viết đã có ý thức tiếp thu cách làm văn hóa so sánh để chỉ ra đâu
là nét văn hóa thuần Việt và đâu là những ảnh hưởng của văn hóa ngoại sinh đếnvăn hóa, đặc biệt là văn hóa ứng xử người Việt qua thể loại truyện thơ Nôm
Hay luận văn Văn hóa tâm linh trong văn xuôi trung đại của Hoàng Thị
Minh Phương (2007) [68] đã tiến hành hệ thống hoá những biểu hiện của thếgiới tâm linh để có cái nhìn hệ thống, toàn diện về những yếu tố ấy trong cáchcảm nhận về thế giới và con người ở một thời kì lịch sử Tác giả luận văn đã đi
Trang 10sâu tìm hiểu thế giới tâm linh- thế giới thứ hai trong “mô hình hai thế giới” trongvăn học trung đại qua 17 tác phẩm văn xuôi thời trung đại.
Qua luận văn Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc
Bộ qua một số ca dao - tục ngữ (2010) [3], tác giả Trần Thúy Anh đã làm rõ
những đặc điểm ứng xử truyền thống của người Việt trong cái nôi văn hóa châuthổ Bắc Bộ Tác giả đã tái hiện lại bộ mặt lịch sử, chiều sâu văn hóa, nét sinhđộng, những sắc thái riêng biệt trong ứng xử của họ đồng thời chỉ ra những tiếpbiến văn hóa của thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt xưa qua tư liệu cadao và tục ngữ
Trương Thị Hòa trong luận văn Văn hóa tâm linh người Việt trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh (2013) [34] đã đi sâu nhận
dạng, thống kê, phân loại các hiện tượng tâm linh trong tác phẩm này Lấy điểmtựa là văn hóa truyền thống dân tộc, bước đầu luận văn đã đi sâu tìm hiểu, phântích một số biểu hiện văn hóa tâm linh nổi bật và các phương thức thể hiện cácyếu tố tâm linh, qua đó thấy được ý nghĩa của chúng đối với tác phẩm, cũng nhưđối với đời sống con người
Một số luận văn được thực hiện gần đây cũng tiến hành nghiên cứu các
bình diện của tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa như: So sánh hình tượng anh hùng Từ Hải và Lục Vân Tiên dưới góc nhìn văn hóa [58], Phong tục qua sáng tác của Tô Hoài trước 1945 [28] Đặc biệt, luận văn Tâm thức văn hóa Việt trong thơ Nguyễn Huy Hoàng (qua khảo sát Một thời tôi từng có và Canh ngọn đèn đợi sáng) [53] của Đào Thị Lê đã bước đầu khảo sát và làm sáng tỏ
những biểu hiện tâm thức văn hóa Việt trong thơ Nguyễn Huy Hoàng quaphương diện nội dung và nghệ thuật, từ đó thấy rõ giá trị nhân bản, nhân văn thơNguyễn Huy Hoàng từ góc nhìn văn hóa Đây là các công trình khá tiêu biểu cho
xu hướng nghiên cứu liên ngành về văn học dưới góc nhìn văn hóa – một hướngtiếp cận đã và đang được quan tâm trong thời gian gần đây Luận văn của chúngtôi được thực hiện như một sự kế thừa và tiếp nối xu hướng nghiên cứu này ở
một phạm vi khảo sát cụ thể và không trùng lặp – Thơ Nguyễn Khuyến nhằm tôn
vinh ông trong một vai trò mới – Nhà văn hóa lớn của dân tộc
Trang 112.2 Lịch sử nghiên cứu về văn hóa Việt trong sáng tác của Nguyễn Khuyến
Thơ văn Nguyễn Khuyến được công bố muộn, đăng tải lần đầu tiên trên
Nam phong tạp chí (1917) Việc sưu tầm, dịch thuật, giới thiệu thơ văn chữ Hán
của Nguyễn Khuyến được chính thức bắt đầu từ năm 1957, nhưng phải đến năm
1971, khi cuốn Thơ văn Nguyễn Khuyến được công bố, công việc này mới đạt được những thành tựu đáng kể Kể từ đây, việc nhìn nhận “Nguyễn Khuyến – một nhà thơ yêu nước ” bắt đầu được đề cập đến Cũng trong khoảng thời gian này, bộ Hợp tuyển thơ văn yêu nước Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX ra mắt và
Nguyễn Khuyến cũng có một vị trí nhất định trong bộ sách trên NguyễnKhuyến là một tác gia tiêu biểu của nền văn học trung đại Việt Nam Chính vìvậy, các công trình nghiên cứu về Nguyễn Khuyến và tác phẩm của ông có sốlượng không nhỏ
Nghiên cứu một cách hệ thống về cuộc đời và toàn bộ sự nghiệp văn thơNguyễn Khuyến có thể kể đến các cuốn sách chuyên khảo mang tính tổng hợp
các bài viết nghiên cứu về Nguyễn Khuyến như: Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm [64]; Nguyễn Khuyến thơ, lời bình và giai thoại [65]; Nguyễn Khuyến tác phẩm và lời bình; Nguyễn Khuyến thơ [66] Các công trình này đã tập hợp
các bài nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp và các tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ.Ngoài ra có thể kể đến một số bài viết khác về chân dung và phong cách nghệ
thuật thơ của ông như: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam [14] của Xuân Diệu; Thi hào Nguyễn Khuyến – đời và thơ [10] do Nguyễn Huệ Chi chủ biên; Tâm trạng Nguyễn Khuyến qua thơ tự trào của Vũ Thanh [64]; bài viết Nguyễn Khuyến, một phong cách thơ lớn của Nguyễn Lộc [56]; Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến [23] của Biện Văn Điền… Đặc biệt công trình “Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm” (2003) do Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu đã tập hợp một
cách khá đầy đủ những bài viết và công trình khoa học tiêu biểu về cuộc đời và
sự nghiệp của Nguyễn Khuyến từ xưa đến nay Cuốn sách đem đến cho bạn đọcmột bức tranh toàn cảnh những thành tựu trong việc nghiên cứu một trongnhững tác gia văn học lớn nhất cuối thế kỷ XIX Cuốn sách ra đời với mongmuốn trở thành cơ sở cho bước tiếp theo trong việc nghiên cứu sự nghiệp của
Trang 12nhà thơ được cả dân tộc yêu mến” [79, tr.44] Quyển sách với 4 phần chính đãgiúp chúng ta có cái nhìn tổng quát hơn về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của nhàthơ Nguyễn Khuyến cũng như phong cách nghệ thuật của thơ văn ông Đồngthời đây cũng là tài liệu tham khảo vô cùng quý báu cho chúng ta tham khảo về
nhà thơ Nguyễn Khuyến nói chung và đề tài Văn hóa Việt trong thơ Nguyễn
Khuyến nói riêng Có thể nói, Nguyễn Khuyến là nhà thơ để lại dấu ấn đậm nét
trong văn học với rất nhiều tác phẩm được lưu truyền hậu thế Vì vậy, thơ vănông đã được rất nhiều nhà nghiên cứu, phê bình quan tâm tìm hiểu ở các khíacạnh thuộc về nội dung và nghệ thuật
Nghiên cứu về tác phẩm của Nguyễn Khuyến dưới góc nhìn văn hóa cóthể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
Nghiên cứu về cảnh sắc làng quê trong thơ Nguyễn Khuyến: Có rất nhiều
bài viết, công trình bàn về vấn đề này với các tác giả tiêu biểu như: Xuân Diệu,
Mã Giang Lân, Nguyễn Huệ Chi, Trần Nho Thìn, Lê Trí Viễn, Đặng Thị Hảo vàđặc biệt là Vũ Thanh
Xuân Diệu trong cuốn “Các nhà thơ cổ điển Việt Nam” đã gọi Nguyễn
Khuyến là: “Nhà thơ của quê hương, làng cảnh Việt Nam” Tác giả đã có sự cảmnhận rất sâu sắc về nội dung và nghệ thuật ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến:
“Ba bài thơ thu hay vì Nguyễn Khuyến là một thi sĩ có tài Nhưng cần một điều kiện nữa: là nhà thơ có tài ấy phải gắn bó, thâm nhập, hòa tâm hồn mình một cách sâu sắc, thấm thía với đất nước Việt Nam Nhà thơ ấy phải sống như Nguyễn Khuyến” [14, tr.411] Không chỉ ca ngợi Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, Xuân Diệu còn cho rằng: “Hai trục xúc cảm rất rõ trong thơ Nguyễn Khuyến, là quê hương làng nước, và đồng bào nhân dân; không phải tâm hồn nhà thơ nào cũng có cả hai trụ cột như thế” [14, tr.411] Trong
“Thi hào Nguyễn Khuyến – đời và thơ”, bên cạnh việc đi sâu vào tìm hiểu, tập
hợp những tài liệu, những bài viết nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp vănchương của Nguyễn Khuyến, Nguyễn Huệ Chi còn nhận định về nhà thơ như
sau: “Nguyễn Khuyến đã đưa lại cho bức tranh làng cảnh Việt Nam cũng như cho khung cảnh sinh hoạt của nông thôn Việt Nam hương vị, màu sắc,
Trang 13đường nét, sức sống như nó vẫn tồn tại, mà ủ kín trong đó là cái hồn muôn đời của con người, đất nước Việt Nam” [10, tr.24] Mã Giang Lân cũng đánh giá:
“làm nên giá trị thơ văn của Nguyễn Khuyến là toàn bộ những sáng tác của nhàthơ, những nét làm nên cái đặc sắc riêng của Nguyễn Khuyến là những bài thơviết về cảnh và người ở chốn quê, những bài thơ bộc lộ tấm lòng của tác giả,trước đó cũng có những nhà thơ viết về làng cảnh Việt Nam nhưng chưa có ai đểlại ấn tượng sâu đậm bằng Nguyễn Khuyến” [52; tr.74] Còn Vũ Thanh cũng
khẳng định: “Nguyễn Khuyến sống đời sống của người nông dân quê ông và ông viết về cuộc đời họ, cảnh đời họ Có lẽ đây là lần đầu tiên trong lịch sử gần nghìn năm của văn học dân tộc Việt Nam đời sống nghèo khó của người nông dân với những cảnh sinh hoạt bình thường ở thôn quê trờ thành đối tượng phản ánh của thơ ca”, và “Nguyễn Khuyến chính là nhà thơ viết về nông thôn số một của văn học dân tộc (…) Chỉ đến Nguyễn Khuyến mới làm được những điều mà thơ ca truyền thống chưa làm được (và ngay cả trong thơ hiện đại có lẽ cũng chưa có được một nhà thơ nông thôn nào tầm cỡ như Nguyễn Khuyến) Một nông thôn thật sự đã hiện ra trong thơ Yên Đổ Đó là một nông thôn từng gắn
bó máu thịt với nhà thơ ngay từ thuở lọt lòng” [79; tr.18-19] Đặng Thị Hảo với bài viết Đề tài thiên nhiên và quan niệm thẩm mĩ đã chỉ ra những nét đặc sắc
trong nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của nhà thơ Nguyễn Khuyến: bút pháp nghệthuật điêu luyện, khiếu quan sát tinh tường, trực giác nhạy bén trước vẻ đẹp đadạng của thiên nhiên, cùng tình yêu quê hương hồn nhiên mà sâu sắc… Luận
văn Nội dung và nghệ thuật đặc sắc trong thơ thiên nhiên của Nguyễn Khuyến [55] của Đào Thị Linh cũng chỉ ra những đặc sắc trong những bài thơ viết về thiên nhiên của Nguyễn Khuyến như: cảnh vật làng quê, cảnh vật bốn mùa, danh lam thắng cảnh và một số yếu tố nghệ thuật (thể loại, ngôn ngữ, giọng
điệu, hình ảnh) góp phần thể hiện giá trị nội dung này…
Nghiên cứu về văn hóa sinh hoạt làng xã trong thơ Nguyễn Khuyến: Trong bài viết Từ những biến động trong nguyên tắc phản ánh thực tại của văn chương nhà nho đến bức tranh sinh hoạt nông thôn trong thơ Nguyễn Khuyến,
Trần Nho Thìn đã có những nhận xét hết sức khái quát về văn hóa làng xã trong
Trang 14thơ Tam Nguyên những ngày trở về Yên Đổ: “Các nhà nghiên cứu đã nói nhiềutới những bài thơ trong đó Nguyễn Khuyến kể lại các hình thức sinh hoạt có tínhchất văn hóa ở nông thôn: cảnh ông cùng các bạn đồng tuế lên lão năm mươi,cảnh chợ Đồng ngày giáp Tết Nguyên Đán, đêm giao thừa… Những bài thơ này
có sức diễn tả không khí, sắc màu, âm thanh của cuộc sống văn hóa độc đáo củanông thôn, rõ nét tưởng như có thể hít thở được không khí ấy.” [82,tr.565]
Tiếp tục mạch nghiên cứu trên, trong luận văn Văn hóa ứng xử trong thơ Nguyễn Khuyến (2015) [93], Thân Thị Minh Trang đã tiến hành tìm hiểu đặc
điểm văn hóa ứng xử của người Việt được thể hiện trong thơ Nguyễn Khuyến,làm rõ vai trò của văn hóa ứng xử và ý nghĩa của nó đối với mỗi cá nhân và xãhội Luận văn góp phần làm rõ hơn bối cảnh văn hóa, tâm tư, tình cảm của con
người trong buổi giao thời Bên cạnh đó, trong đề tài Giá trị văn hoá truyền thống trong trước tác chữ Nôm của Nguyễn Khuyến [71], Hoàng Mai Quyên
cũng đã quan tâm đến đời sống tình cảm và văn hóa giao tiếp của NguyễnKhuyến trong mối quan hệ với những người thân như: vợ con, bạn bè, học trò…Tuy nhiên, tác giả mới chỉ tìm hiểu một cách sơ lược về các mối quan hệ ứng xửnày chứ chưa đưa nó thành một hướng nghiên cứu chính, chi tiết và cụ thể Bên
cạnh đó còn có bài viết Giá trị văn hoá truyền thống trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến [30], Dương Thu Hằng và Hoàng Mai Quyên Bài viết đã đề cập đến
những nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa của nhân dân đồng bằng Bắc Bộ nóichung và người dân tổng Yên Đổ quê hương tác giả nói riêng Từ đó, hai tác giả
đi đến khẳng định mảng thơ Nôm của Nguyễn Khuyến đã lưu giữ được nhữnggiá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một khíacạnh của văn hóa Việt trong một bộ phận thơ của Nguyễn Khuyến Các giá trịvăn hóa truyền thống khác như: các biểu tượng văn hóa; tâm hồn, tính cách, lốiứng xử nổi bật của người Việt; thể thơ, giọng điệu cùng lớp ngôn từ chứa đựngchất văn hóa Việt… thì chưa được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ
Các công trình nghiên cứu trên đều là nguồn tư liệu vô cùng phong phú đểchúng ta có thể tìm hiểu về tác gia Nguyễn Khuyến một cách trọn vẹn và đầy đủnhất Các tác giả không chỉ giới thiệu về vị trí của Nguyễn Khuyến trong nền
Trang 15văn học trung đại Việt Nam mà còn đi vào tìm hiểu các khía cạnh nội dung, nghệthuật trong thơ văn ông Luận văn của chúng tôi được thực hiện với mong muốn
sẽ khảo sát để chỉ ra một cách hệ thống, toàn diện các biểu hiện của văn hóa Việtqua tư liệu thơ Nguyễn Khuyến, từ đó tiến hành giải mã các nét văn hóa ấy từgóc nhìn liên ngành văn học – văn hóa – xã hội - lịch sử để đi đến chứng minh,khẳng định và tôn vinh Nguyễn Khuyến với tư cách một nhà văn hóa lớn củadân tộc Việt Nam
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn lấy đối tượng nghiên cứu là các phương diện của Văn hóa Việt trong thơ Nguyễn Khuyến
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung nghiên cứu:
Các biểu hiện của văn hóa Việt trong thơ Nguyễn Khuyến, đặc biệt là trên
phương diện nội dung như: Phong cảnh làng quê Việt, bức tranh sinh hoạt ở làng quê Việt, phong tục tập quán, văn hóa ứng xử, tính cách văn hóa truyền thống người Việt… Trong quá trình phân tích chúng tôi cũng làm rõ một số dấu
ấn văn hóa Việt trên các khía cạnh nghệ thuật tiêu biểu: thể thơ, giọng điệu, ngôn ngữ, không gian văn hóa, Từ đó, tiến hành lý giải về các biểu hiện của
văn hóa Việt trong thơ Nguyễn Khuyến và so sánh với một số tác giả khác
Trang 164 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Chỉ ra một cách hệ thống, toàn diện các biểu hiện của văn hóa Việt trongthơ Nguyễn Khuyến, từ đó góp phần chứng minh, khẳng định và tôn vinhNguyễn Khuyến với tư cách là một nhà văn hóa lớn của dân tộc
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Tổng hợp tài liệu; thu thập các ngữ liệu để làm rõ các biểu hiện của văn hóa Việt trong thơ Nguyễn Khuyến;
+ Phân tích, làm rõ các giá trị về văn học đặc biệt là về văn hóa lịch sử thểhiện qua nội dung và nghệ thuật thơ Nguyễn Khuyến
+ Làm nổi bật cách khai thác các giá trị văn hóa độc đáo của NguyễnKhuyến, từ đó chỉ rõ tài năng, phong cách thơ của thi sĩ và tôn vinh ông ở mộtgóc nhìn mới với tư cách một nhà văn hóa lớn của dân tộc
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa
Đây là hướng nghiên cứu chủ đạo được chúng tôi sử dụng xuyên suốt toàn
bộ luận văn để khai thác một cách hệ thống, toàn diện các biểu hiện của nét vănhóa Việt trong thơ Nguyễn Khuyến cả trên bình diện nội dung và nghệ thuật thểhiện
5.2 Phân tích, tổng hợp
Từ các ngữ liệu khảo sát được, chúng tôi tiến hành phân tích, đánh giá vàgiải mã các ngữ liệu về văn hóa Việt được biểu hiện trong thơ Nguyễn Khuyếndưới góc nhìn văn hóa, lịch sử để đưa ra các kết luận khoa học liên quan đến vấn
đề nghiên cứu
5.3 So sánh, đối chiếu
Chúng tôi còn so sánh biểu hiện của văn hóa Việt trong thơ NguyễnKhuyến với một số tác giả khác như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bình Khiêm, TúXương…
Trang 17Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp, thủ pháp khác như:khảo sát, thống kê, miêu tả… để tiến hành làm rõ các biểu hiện của văn hóa Việttrong thơ ông.
6 Đóng góp mới của đề tài
Trên cơ sở tiến hành khảo sát, thống kê một cách hệ thống, toàn diện cácdạng biểu hiện của văn hóa Việt xét về mặt nội dung và nghệ thuật thể hiện cácnét văn hóa ấy trong thơ Nguyễn Khuyến, luận văn tiến hành giải mã các đặcđiểm trên dưới góc nhìn liên ngành để đi đến khẳng định giá trị về các tác phẩmcủa Nguyễn Khuyến trên phương diện văn học - văn hóa và tôn vinh tài năngnhiều mặt của ông (đặc biệt là trên phương diện văn hóa) trong dòng chảy vănhọc Việt Nam cũng như trong lịch sử văn hóa dân tộc
7 Bố cục
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văngồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về văn hóa Việt và nhà thơ Nguyễn Khuyến
Chương 2: Dấu ấn văn hóa Việt qua bức tranh thiên nhiên và bức tranh xã hộiChương 3: Dấu ấn văn hóa Việt qua lối ứng xử và tính cách văn hóatruyền thống người Việt
Trang 18NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA VIỆT VÀ NHÀ THƠ NGUYỄN KHUYẾN
1.1 Văn hóa và văn hóa Việt
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hoá là một vấn đề rất rộng, khó có định nghĩa nào bao quát đầy đủ nộihàm của nó Văn hoá bao hàm hết thảy các sinh hoạt của loài người, từ sinh hoạtvật chất đến sinh hoạt tinh thần, sinh hoạt xã hội Mọi hoạt động của con người vàsản phẩm - kết quả của những hoạt động ấy do con người có ý thức tác động vào tựnhiên và xã hội mà có đều thuộc về văn hoá Quá trình phát triển của loài người gắnliền với các hoạt động cải biến hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội Con ngườisáng tạo ra văn hoá và văn hoá lại tái tạo bản thân con người
Trên thế giới có khoảng hơn 300 định nghĩa về khái niệm này Người sửdụng từ văn hóa sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng (năm 77 – 76 trước Công nguyên)thời Tây Hán, với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người – văn trị giáo
hóa Theo chiết tự của chữ Hán: Văn: đẹp; hóa: trở nên, biến cải, văn hóa là làm
cho cái gì đó trở nên đẹp đẽ và có giá trị Ở phương Tây, thuật ngữ “văn hóa” trongtiếng Anh là “Culture”, trong tiếng Đức là “Kultur”, tiếng Pháp là “Cultura” và đềubắt nguồn từ chữ Latin “cultus” với nghĩa là “gieo trồng’’, “trồng trọt” Với nghĩaban đầu thuật ngữ “Văn hóa”, được cả người phương Tây và phương Đông quanniệm là sự giáo dục con người, là cái đối lập với tự nhiên
Ở nước ta, từ đầu thế kỉ XX, Đào Duy Anh đã phát hiện văn hóa phải gắnliền với sinh hoạt của con người nảy sinh trong quá trình lao động và trong từnghoàn cảnh địa lí nhất định: Theo ông, nghiên cứu “Các điều kiện địa lí có ảnhhưởng lớn đối với cách sinh hoạt của con người, song người là giống hoạt độngcho nên trở lại cũng có thể dùng sức mình mà xử trí và biến những điều kiện ấycho thích hợp với những điều kiện cần thiết của mình Cách sinh hoạt vì thế màcũng biến chuyển và khiến văn hóa cũng biến chuyển theo Nghiên cứu xem sựhoạt động để sinh hoạt về các phương diện của một dân tộc xưa nay biến chuyển
Trang 19thế nào, là nghiên cứu văn hóa lịch sử của dân tộc ấy”.[1, tr.3] Theo Trần QuốcVượng: “Văn hóa theo nghĩa rộng là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người,bao hàm cả kỹ thuật, kinh tế… để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử,một thái độ, tổng quát của con người về vũ trụ, với một hệ thống những chuẩnmực, những giá trị, những biểu tượng, những quan niệm… tạo nên phong cáchdiễn tả tri thức và nghệ thuật của con người [104, tr.25] Còn Trần Ngọc Thêmlại quan niệm: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh
và động, vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quátrình hoạt động thực tiễn, trong tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội củamình” [80, tr.10]
Qua các quan niệm trên, chúng tôi đồng tình với các ý kiến hiểu về vănhóa ở nghĩa rộng nhất của từ này đó là: Văn hoá là tổng thể những nét riêng biệttinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội haycủa một nhóm người trong xã hội Văn hóa là động lực phát triển khiến cho cộngđồng mang bản sắc độc đáo riêng
1.1.2 Văn hóa Việt và đặc điểm văn hóa Việt
Theo tác giả Lê Văn Toan [90], do điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vàlịch sử hình thành quốc gia dân tộc, văn hóa Việt Nam sớm có xu thế giao lưu,hội nhập, tiếp biến, nhờ thế Việt Nam có nền văn hóa đa ngôn ngữ, giàu bản sắc.Nền văn minh Đại Việt được xếp là một trong 34 nền văn minh đầu tiên củanhân loại Nhiều học giả thống nhất rằng, bản sắc văn hóa Việt Nam được tạo ra
ởvùng lúa nước sông Hồng cách đây hơn 4 nghìn năm, được tôi luyện và khẳngđịnh trong 2000 năm chống và đối thoại với Trung Quốc đã đủ tầm cỡ để tiếpbiến văn hóa thành công Trong suốt chiều dài lịch sử hơn 400 năm tiếp biến vănhóa Việt Nam với phương Tây dưới nhiều hình thức, vừa có cưỡng bức, vừa cóđối thoại văn hóa, có thời điểm vừa chống lại, vừa tiếp thu, nhưng văn hóa ViệtNam vẫn vừa giữ được bản sắc dân tộc, vừa hiện đại hóa
Cũng theo tác giả Lê Văn Toan, văn hóa Việt Nam có những nét mangtính đặc trưng phổ biển của văn hóa nói chung và có những đặc trưng riêng biệt,đặc thù Những đặc trưng cơ bản riêng biệt này được hình thành, đúc kết, bảo
Trang 20lưu, phát triển từ điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử, chính trị - kinh tế - xã hội củaViệt Nam Các học giả, nhà nghiên cứu chuyên ngành Việt Nam học, Văn hóahọc, Văn hóa Việt Nam tổng hợp và đưa ra 5 đặc trưng của văn hóa Việt Namnhư sau:
Tính cộng đồng làng xã, thể hiện rõ ở 6 phẩm chất: Tính đoàn kết, giúp
đỡ; Tính tập thể thương người; Tính dân chủ, làng xã; Tính trọng thể diện; Tìnhyêu quê hương, làng xóm; Lòng biết ơn Bên cạnh những phẩm chất tốt, tínhcộng đồng làng xã cũng để lại nhiều tật xấu trong văn hóa: Thói dựa dẫm; Thóicào bằng, chụp mũ; Bệnh sĩ diện, háo danh; Bệnh thành tích; Bệnh phong trào;Bệnh hình thức,
Tính trọng âm Bảy phẩm chất tốt được biểu hiện trong tính trọng âm là:
Tính ưa ổn định; Tính hiền hòa, bao dung; Tính trọng tình, đa cảm; Thiên hướngthơ ca; Sức chịu đựng, nhẫn nhịn; Lòng hiếu khách Bên cạnh đó, tính trọng âmcũng là mảnh đất hình thành những bệnh xấu như: Bệnh thụ động, khép kín;Bệnh lề mề, chậm chạp; Bệnh tủn mủn, thiếu tầm nhìn; Bệnh sùng ngoại,
Tính ưa hài hòa, thể hiện ở bốn phẩm chất: Tính mực thước; Tính ung
dung; Tính vui vẻ, lạc quan; Tính thực tế Tuy nhiên, tính ưa hài hòa cũng gâymặt hạn chế, như: Bệnh đại khái, xuề xòa; Bệnh dĩ hòa vi quý; Bệnh trung bìnhchủ nghĩa; Bệnh nước đôi, thiếu quyết đoán,
Tính kết hợp, thể hiện ở hai khả năng: Khả năng bao quát tốt; Khả năng
quan hệ tốt Mặt trái của tính kết hợp này cũng tạo ra những hậu quả xấu như:Thói hời hợt, thiếu sâu sắc; Bệnh sống bằng quan hệ,…
Tính linh hoạt Biểu hiện của tính linh hoạt được thể hiện ở 2 phẩm chất
tốt: Khả năng thích nghi cao; Tính sáng tạo Tính linh hoạt nhiều khi cũng dẫnđến hậu quả xấu như: Thói tùy tiện, cẩu thả; Bệnh thiếu ý thức pháp luật,…
Tổng hợp 5 đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam ta thấy phẩm chất,
giá trị cốt lõi tốt nhất chính là lòng yêu nước; tinh thần dân tộc; lòng nhân ái, thương người; tính cộng đồng làng xã; tính tinh tế.
Trang 21Còn Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”
[80] đã rút ra 5 đặc trưng lớn khi bàn về tính cách văn hóa truyền thống người Việt trong đó cũng có một số đặc trưng giống như trên Cụ thể như sau:
Tính cộng đồng: Việt Nam là quốc gia nông nghiệp, trong truyền thống làkiểu nông nghiệp thuần túy Tính thời vụ và nhu cầu chống thiên tai, bảo vệ anninh trật tự xã hội đã quy định kiểu liên kết làng xã cộng đồng trong lối sống
Tính ưa hài hòa: người Việt Nam nông nghiệp từ xa xưa mang trong mình
tư duy lưỡng phân - lưỡng hợp Họ nhận thức được quy luật cân bằng của cuộcsống bằng lối sống quân bình Do vậy, người Việt trong cuộc sống luôn cố gắngduy trì sự cân bằng, quân bình, tránh thái quá
Thiên về âm tính: vì điều kiện tự nhiên xứ nóng quy định lối sống nôngnghiệp âm tính, do vậy mà tính cách văn hóa Việt Nam cũng thiên về âm tính ởchừng mực nhất định Hệ quả của nó là tính thân thiện, tinh thần dành ưu tiêncho nữ giới Mặt trái của nó là thói quen chậm chạp, ít nhạy bén, nặng tình nhẹlý…
Tính tổng hợp: đời sống nông nghiệp thuần túy đòi hỏi người Việt Namphải cố gắng bao quát hết mọi diễn biến của thời tiết, thiên nhiên để có được vụmùa bội thu nhất Lịch sử văn minh trồng trọt ấy của người Việt Nam đã giúptạo hình tính tổng hợp trong tính cách văn hóa Hệ quả của nó là người Việt Nam
có khả năng bao quát vấn đề cao, song mặt trái của nó là tư duy phân tích (tưduy khoa học – thứ cần thiết cho phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật) lại yếukém Đời sống nông nghiệp theo cơ chế làng xã khép kín khiến người Việt Namphải có đầu óc linh hoạt trong ứng xử để tồn tại Tính linh hoạt thể hiện rõ néttrong tư duy, trong lối sống, trong cung cách ứng xử với cả tự nhiên và xã hội
Văn hóa, đặc trưng của văn hóa không phải là phạm trù bất biến, mà luônvận động, phát triển cùng với sự biến đổi của điều kiện tự nhiên và sự phát triểncủa xã hội loài người Vì thế, trong những năm gần đây, nhiều nhà khoa học đã
và đang tập trung nghiên cứu, đề xuất nhiều hướng đi, nhiều giải pháp phát triển
Trang 22văn hóa, con người Việt Nam trong hiện tại và tương lai với mong muốn 5 đặctrưng cơ bản của văn hóa Việt Nam sẽ được bảo tồn và dịch chuyển theo hướngngày càng hoàn thiện hơn [91]
1.2 Không gian văn hoá xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
Văn học Việt Nam chặng cuối thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XXđược coi là giai đoạn văn học có tính chất chuyển tiếp, giao thời Mặc dù chỉdiễn ra trong nửa thế kỷ, khoảng thời gian ngắn ngủi so với một nghìn năm vănhọc trung đại, nhưng đây là giai đoạn có nhiều sự kiện văn hóa, văn học quantrọng Do có sự gắn bó chặt chẽ giữa văn học và đời sống xã hội nên từ nhữngbiến cố lịch sử, những sự kiện chính trị cho đến không khí thời đại, tâm lý cộngđồng tất cả đều được lưu giữ trong tác phẩm văn học Không những thế, chínhvăn chương cũng tác động một cách tích cực, góp phần tạo nên sự sôi động củađời sống xã hội lúc này Không gian văn hóa xã hội Việt Nam giai đoạn nàycũng chịu sự chi phối của các biến cố lịch sử trên
Cuộc chiến tranh xâm lược do thực dân Pháp phát động nhằm vào ViệtNam năm 1858 chính là biến cố quan trọng, có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đối với
sự vận động của văn học giai đoạn này Bước ngoặt này đã kéo theo những xáotrộn, những thay đổi mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện trên mọi lĩnh vực đời sốngtrong đó có lĩnh vực văn chương Văn học là tấm gương phản ánh cuộc sống quatừng giai đoạn lịch sử nên ở giai đoạn này tính thời sự, thế sự trong văn học trởthành một đặc điểm nổi bật Việc lựa chọn nội dung, xác định mục tiêu, đốitượng hướng tới của văn học hay vị thế của văn học trong sinh hoạt cộng đồngđều được các nhà văn chú trọng Đời sống văn học giai đoạn này trở nên sôiđộng và có những biến đổi sâu sắc diễn ra theo nhịp điệu ngày càng nhanh
"Việc nước" trở thành vấn đề nóng bỏng nhất, cấp bách nhất của cả dân tộc lúcnày Nó không chỉ là chuyện của đời sống thực tế mà còn là chuyện văn chương,chuyện của văn nhân nho sĩ
Từ cuộc đấu tranh vũ trang cả dân tộc bắt đầu chuyển sang cuộc đấu tranh
về văn hóa và lối sống trước sự xâm lược và sự áp đảo của văn hóa vật chất vàtinh thần của kẻ thù từ phương Tây Văn hóa truyền thống dân tộc đứng trước
Trang 23nguy cơ bị hủy diệt, phải tranh chấp với một kẻ thù hùng mạnh về mọi phươngdiện, dẫn đến những xáo trộn lớn lao trong đời sống văn hóa: Công cuộc khaithác thuộc địa lần thứ nhất và lần thứ hai của thực dân Pháp kết hợp với quátrình xây dựng thuộc địa và chính sách xóa bỏ nền văn hóa truyền thống từ ngànđời của Việt Nam (bỏ chữ Hán, Nôm, học chữ Pháp và Quốc ngữ v.v…) đã làmthay đổi dần xã hội.
Nguyễn Khuyến và các nhà thơ thuộc thế hệ ông đã dùng văn học để đấutranh nhằm bảo vệ nền văn hóa truyền thống, chống lại các chính sách văn hóaphản động của kẻ thù Việc phản ánh văn hóa Việt trong thơ ca của họ trở nên có
ý thức hơn lúc nào hết Không gian đời sống lịch sử, xã hội cũng chính là khônggian văn hóa được các tác giả đương thời (trong đó có Nguyễn Khuyến) kịp thờiphản ánh chân thực, sống động trong các tác phẩm của mình dưới nhiều bìnhdiện khác nhau
1.3 Nguyễn Khuyến - Nhà thơ vùng đồng bằng Bắc Bộ
Nguyễn Khuyến (1835–1909), sinh tại quê mẹ làng Hoàng Xá, huyện ÝYên, tỉnh Nam Ðịnh Lớn lên sống ở quê cha - làng Vị Hạ, tổng Yên Ðổ, huyệnBình Lục, tỉnh Hà Nam Vùng quê mang đặc trưng điển hình của vùng đồngbằng chiêm trũng này đã ăn sâu vào tâm thức ông từ thuở thiếu thời để tạo thànhmột thứ vốn sống thực tế cấu thành nên các thi phẩm viết về làng quê mang đậmdấu ấn Việt
Nguyễn Khuyến nổi tiếng là một người thông minh, hiếu học Năm 1864,ông đi thi Hương và đỗ Giải nguyên ở trường thi Nam Ðịnh Năm 1871, thi Hộilần hai, đỗ Hội nguyên và thi Ðình đỗ Ðình nguyên - Nguyễn Khuyến đứng đầu
ba kỳ thi nên người đời gọi ông là Tam nguyên Yên Ðổ Ông làm nhiều chứcquan dưới triều Tự Ðức Tình hình xã hội cuối thế kỷ XIX hết sức hỗn loạnkhiến ông cảm thấy lúc nào cũng sống trong tình trạng nghi kỵ nặng nề nên cuốicùng đã cho con trai mình là Nguyễn Hoan ra làm quan Kể từ đó, NguyễnKhuyến được sống tương đối yên ổn ở quê nhà cho đến khi mất Những thăngtrầm của cuộc đời, những biến động của lịch sử đã tôi luyện, hun đúc nên cốtcách tâm hồn ông, khí chất con người ông Chính điều đó đã giúp ông luôn lựa
Trang 24chọn được những cách ứng xử khéo léo, trọng tình, trọng nghĩa không chỉ tronggia đình mà còn ngoài xã hội.
Sáng tác của Nguyễn Khuyến gồm hơn 800 tác phẩm có giá trị, bao gồm thơ,văn, câu đối, ca trù viết bằng chữ Hán và chữ Nôm nhưng thành công nhất là ở thể
loại thơ Nôm Các tác phẩm gồm có Quế Sơn thi tập, Yên Đổ thi tập, "Bạn đến chơi nhà" và 3 bài thơ về mùa thu cùng nhiều bài ca, hát ả đào, văn tế, câu đối truyền miệng Trong đó, Quế sơn thi tập có khoảng 200 bài thơ bằng chữ Hán và
100 bài thơ bằng chữ Nôm với nhiều thể loại khác nhau Có bài Nguyễn Khuyếnviết bằng chữ Hán rồi dịch ra chữ Nôm hoặc ông viết bằng chữ Nôm rồi dịch sangchữ Hán Cả hai loại đều khó để xác định đâu là bản nguyên tác, đâu là bản dịch vìchúng rất điêu luyện Trong bộ phận thơ Nôm, Nguyễn Khuyến vừa là nhà thơ tràophúng vừa là nhà thơ trữ tình, nhuốm đậm tư tưởng Lão - Trang và triết lý ĐôngPhương Thơ chữ Hán của ông hầu hết là thơ trữ tình Trong số các tác phẩm để lạicho đời, Nguyễn Khuyến đã dồn rất nhiều tài năng và tâm huyết vào các sáng táctrữ tình Xoay quanh đề tài nông thôn, tác giả đã thể hiện thành công bức tranhthiên nhiên, con người và cuộc sống nơi đây Qua đó, giãi bày một cách kín đáonhững nỗi niềm băn khoăn, những tâm sự lớn của lòng mình Chiều sâu tư tưởngkết hợp hài hòa với nghệ thuật thơ sáng tạo, điêu luyện đã đưa những thi phẩm ấylên một vị thế xứng đáng trong thi đàn dân tộc Do đó, trải qua nhiều biến thiên củathời gian, tên tuổi của Nguyễn Khuyến vẫn đi cùng năm tháng và ghi tạc trong lòngcông chúng yêu thơ
Nguyễn Khuyến là một con người, một tâm hồn Việt Nam tiêu biểu.Chính vì thế, thơ ông cùng với thơ Hồ Xuân Hương trước kia, thơ Nguyễn Bính
và một số nhà thơ khác sau này, đã tạo thành một xu hướng thi ca vô cùng độcđáo và đặc sắc, chuyên đặc tả bản sắc Việt Nam trên hai phương diện chủ yếu làbản sắc quê hương đất nước Việt Nam và bản sắc tâm hồn Việt Nam Trước hết,
người ta biết đến và ghi nhận Nguyễn Khuyến với tư cách một nhà thơ của vùng đồng quê chiêm trũng đồng bằng Bắc Bộ Điều này đã được các nhà nghiên cứu
khẳng định như một chân lý và được thể hiện một cách vô cùng đậm nét qua cácsáng tác của ông Khung cảnh đặc trưng của xứ sở văn minh lúa nước với những
Trang 25đồng ruộng thanh bình, những làng quê xanh ngát có lũy tre bao bọc xungquanh, với nhịp sống êm đềm, thơ mộng và đầy chất trữ tình đã đi vào thơNguyễn Khuyến một cách tự nhiên mà đầy sức lay động.
Tuy đã từng đỗ đạt cao, từng ra làm quan hơn 10 năm, thế nhưng bến neođậu duy nhất cho Tam Nguyên Yên Đổ trong cuộc đời ông có lẽ chỉ có thể là quêcha, thôn Vị Hạ, tổng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Đã từng gắn bó,
in đậm trong hồi ức tuổi thơ cũng như trong suốt phần đời còn lại Điều này đãtạo nên một vốn hiểu biết sâu rộng và tình cảm đẹp đẽ của nhà thơ với cảnh vậtnông thôn Suốt cuộc đời mình, Nguyễn Khuyến luôn sống chan hòa, gần gũi,chân tình với những người nông dân nghèo khổ Ông xứng đáng là nhà thơ củanông thôn với những bài thơ miêu tả tinh tế, chân thực những vẻ đẹp bình dị củalàng cảnh và nếp sống nông thôn Qua những bài thơ trữ tình trong trẻo, tác giảdựng nên một bức tranh thiên nhiên nông thôn rất tinh tế, xinh xắn Nhưng có lẽnổi tiếng nhất và cũng là tiêu biểu nhất cho vùng quê chiêm trũng Bắc Bộ chính
là chùm ba bài thơ thu: “Thu vịnh”, “Thu điếu” và “Thu ẩm”
Nguyễn Khuyến còn là một nhà thơ, một nhà văn hóa có cách ứng xử tinh
tế, sâu sắc với thiên nhiên và con người Mặc dù đã dự phần “bảng vàng bia đá”,
uyên thâm tất cả điển chương Hán học nhưng Nguyễn Khuyến có khuynh hướngmuốn giữ nguyên vẹn tâm hồn, phong cách của một con người, một ông già của
xứ làng quê Việt Nam ấy, trọn đời sống chan hoà với những người “chân quê”giữa đồng đất, làng xóm quê hương Theo tác giả Kiều Văn, ở bất kì bài thơ nàocủa thi nhân Nguyễn Khuyến cũng đều có cái “lõi” thánh nhân Vì vậy muốn
“thẩm” thơ Nguyễn Khuyến, nhất thiết phải “lặn” xuống tận đáy tâm hồn, trí tuệ
và bản chất con người ông Yêu con người, nhất là người dân quê Việt Nam,ngòi bút của Nguyễn Khuyến đã miêu tả hình ảnh của họ thật là sinh động, thânthương và đôi khi kèm theo nụ cười kín đáo Hình ảnh quê hương làng xóm đã
in đậm dấu vào thơ Nguyễn Khuyến Cảnh nông thôn Việt Nam trong thơ ông lànhững tác phẩm thơ – hoạ tuyệt diệu và hữu tình, có sức lay động trái tim conngười Việt Nam ở nhiều thời đại Là một bậc đại Nho danh tiếng nhưng NguyễnKhuyến không tự đối lập mình với mọi người Trái lại, tấm lòng thi nhân luôn
Trang 26tìm đến với những cảnh sống chật vật, eo hẹp của lớp dân quê dân cày, luôn lấyhồn mình để hiểu hồn người Mỗi bài thơ viết về người nông dân của Yên Đổ đãcho ta cái nhìn đa chiều, trọn vẹn, đầy đủ hơn nó không chỉ là cơ cảnh của riêngngười nông dân Bắc Bộ mà còn là điển hình cho cả một tầng lớp của dân tộc talúc bấy giờ Qua đó, ta thấy cái nhìn độ lượng của tấm lòng nhân hậu, chan chứatình yêu thương của cụ Tam Nguyên với mọi người xung quanh Chính vì conngười và thơ Nguyễn Khuyến đạt tới mức điển hình cho con người Việt Nam,tâm hồn Việt Nam, tiếng nói và văn chương Việt Nam – nói cách khác, cho bảnsắc Việt Nam – mà trong số rất nhiều nhà thơ Việt Nam thuộc mọi thời đại, chỉ
có ông và một số ít nhà thơ khác được tôn xưng bằng danh hiệu nhà thơ dân tộc
Và nhắc đến Nguyễn Khuyến người ta còn khẳng định ông với cốt cách của nhà Nho thời kỳ mãn chiều xế bóng của vương triều phong kiến với những
nỗi niềm trăn trở, băn khoăn, nuối tiếc thời quá vãng của hoàng triều phongkiến Thời Nguyễn Khuyến sống là giai đoạn dân tộc ta rơi vào thảm hoạ mấtnước Triều đình phong kiến nhà Nguyễn suy tàn không còn khả năng lãnh đạonhân dân chống lại cuộc xâm lược của ngoại bang Không ít kẻ xuất thân “sĩphu” đã cam tâm làm tay sai cho giặc Bản thân Nguyễn Khuyến cũng đã trótmột lần dấn thân vào con đường hoạn lộ Nhưng rồi với nhãn quan chính trị sắcbén của một bậc hiền triết, ông đã nhìn rõ chân tướng của thời đại ông Giữ vữngphẩm cách của một sĩ phu biết liêm sỉ và của một người yêu nước chân chính,ông đã dứt khoát vứt bỏ mọi thứ vinh hoa phú quý, treo ấn từ quan, giả đui giảđiếc, quay trở về nơi thôn dã sống với nhân dân Để giữ được nhân cách,Nguyễn Khuyến đã phải chấp nhận sống bần bách, trăn trở suốt đời Ông làmthơ, ca trù, câu đối cho mọi người thưởng thức Ông khai sinh ra dòng văn thơtrào phúng trữ tình Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX Chính nhờ có một nhân cáchcao cả và khí tiết của một bậc “hiền tài quốc gia” mà Nguyễn Khuyến đã xoaychuyển được ván cờ sự nghiệp của chính cuộc đời mình, từ “vô vi” biến thành
“hữu vi”, từ bại biến thành thắng Thay vì cái kết thúc đáng buồn thường gặp ởnhững sĩ phu bất phùng thời, bất đắc chí, ông đã lập nên một sự nghiệp vănchương rạng rỡ! Đồng thời ông nêu một tấm gương sống vô cùng cao quý cho
Trang 27đương thời và cho hậu thế Ông đã sống với thiên nhiên, với non sông đất nướcbằng tất cả tấm tình dào dạt và say mê.
Tóm lại, Nguyễn Khuyến là nhà thơ trữ tình xuất sắc nhưng không dừnglại ở đó, chính sự nghiệp sáng tác phong phú, đặc sắc của ông còn góp phần tolớn vào mục đích giữ gìn và bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống của dântộc đặc biệt là những giá trị thuộc về văn hóa ứng xử, về những nền nếp sinhhoạt văn hóa của người Việt giai đoạn lịch sử lúc bấy giờ Cuộc đời gắn liền vớinhững thăng trầm của dân tộc đã giúp ông có những suy ngẫm và trải nghiệm đểquý yêu và trân trọng hơn những giá trị văn hóa cội rễ của dân tộc Chính tìnhyêu với những con người bình dị, cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp nơi làng quê vàđặc biệt là nhân cách cao quý của bậc đại Nho là những yếu tố dẫn NguyễnKhuyến đến với chủ đề văn hóa Việt trong hầu hết các sáng tác của mình Haynói cách khác, ông chính là người đã lưu giữ và khắc họa một cách khá đủ đầybức tranh văn hóa Việt buổi đương thời
Tiểu kết Chương 1
Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo ra, chi phối toàn bộ hoạt độngcủa con người Chính vì vậy, nó đã trở thành một trong những đối tượng nghiêncứu chính của khoa học nhân văn và là một trong những khái niệm tạo nên sựtranh luận hết sức phong phú Tuy có những quan niệm khác nhau nhưng tác giảđều thừa nhận văn hóa là sản phẩm của loài người, được tạo ra và phát triểntrong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Và chính văn hóa lại tham giavào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa củamỗi dân tộc, của mỗi thời đại thường được in dấu trong các tác phẩm văn họcnghệ thuật Văn học Việt Nam cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX với nhiều biếnđộng về lịch sử đã dẫn đến những đổi thay về không gian văn hóa xã hội Cáctác giả đương thời đã hít thở bầu không khí ấy để rồi suy tư, chiêm nghiệm vàthai nghén ra các tác phẩm có giá trị lớn lao không chỉ về phương diện văn học
mà còn về phương diện lịch sử, tư tưởng và văn hóa Nguyễn Khuyến là một bậctúc nho cao đạo, một tác gia văn học sống trong không gian văn hóa đồng bằngBắc Bộ giai đoạn lịch sử nói trên đã để lại cho đời hơn 800 tác phẩm văn
Trang 28chương thuộc nhiều thể loại Trong sáng tác thơ ca của ông, người ta tìm thấydấu ấn văn hóa Việt được thể hiện một cách sánh đậm ở nhiều phương diện,chiều cạnh khác nhau Chúng tôi sẽ làm rõ các biểu hiện này để đi đến khẳngđịnh rõ hơn vị trí của ông với tư cách là một nhà văn hóa Việt ở chương 2 vàchương 3.
Trang 29Chương 2
DẤU ẤN VĂN HÓA VIỆT QUA BỨC TRANH THIÊN NHIÊN VÀ BỨC TRANH XÃ HỘI
2.1 Dấu ấn văn hóa Việt qua bức tranh thiên nhiên
2.1.1 Phong cảnh thiên nhiên làng quê Việt
Sinh ra ở vùng quê Bình Lục đồng trắng nước trong – nằm trên dải đấtngười Việt cổ chọn làm nơi sinh tụ, Nguyễn Khuyến sớm đã nhận chân được nềnvăn hóa Việt truyền thống chảy qua bao thế hệ Những nét văn hóa độc đáo chỉ
có ở vùng đồng bằng Bắc Bộ ẩn tàng sau những cánh đồng chiêm trũng, trongtừng cảnh sắc bốn mùa… đã đi vào thơ ông một cách tự nhiên, như thể đó là mộtphần hồn không thể thiếu tạo nên sức hấp dẫn lan tỏa tới trái tim người đọc.Giống như đa phần các nho sĩ thời bấy giờ, lúc đầu, Nguyễn Khuyến đến vớivăn chương như một cuộc dạo chơi, một thú vui gửi gắm biết bao ẩn ức của kẻ sĩđương thời Càng về sau đó, ông càng thấy văn chương như cái nghiệp mà ôngtrời đã gán cho bản thể của con người mình Và Nguyễn Khuyến, trong tâm thếcủa người sáng tạo luôn coi việc làm thơ như là sự thôi thúc từ nội tâm, bằngtình yêu chân thành với chính mảnh đất mang đậm dấu tích văn hóa Đông Sơn
từ thuở vua Hùng lập nước
Cũng như nhiều thi sĩ cùng thời, Nguyễn Khuyến luôn có xu hướng muốngiải mã các hình ảnh hoặc biểu tượng xuất hiện trong tự nhiên và đời sống xãhội để chạm tay đến sự khám phá mới mẻ Là một nhà thơ gắn bó với đời sốngnông thôn vùng quê chiêm trũng Bắc Bộ, thiên nhiên chính là nguồn cảm hứngsáng tạo vô tận không bao giờ vơi cạn trong các sáng tác của ông Đó chính lànhững hình ảnh thiên nhiên mang đậm màu sắc văn hóa thuần Việt, thân thuộc
và gần gũi với cuộc sống hàng ngày Trong số vô vàn hình ảnh biểu trưng chothiên nhiên, hơn tất cả đó là các hình ảnh về sông ngòi, ao hồ, đồng ruộng và cácloại cây cối gắn bó với làng quê Việt Nam
Trang 30Tiến hành khảo sát 353 bài thơ chữ Hán và chữ Nôm của Nguyễn
Khuyến, ở một chừng mực nhất định chúng tôi tạm thời đưa ra kết quả ban đầu
như sau:
Bảng 2.1 Một số hình ảnh thiên nhiên tiêu biểu mang đậm dấu ấn văn hóa
Việt trong thơ Nguyễn Khuyến
3 Các loài cây cối (tre, trúc, bèo, hoa…)
Tổng số
Kết quả thống kê cho thấy, hệ thống hình ảnh thiên nhiên tiêu biểu mang
đậm dấu ấn văn hóa Việt xuất hiện với nhịp độ phong phú, với những biểu hiện
cụ thể cho từng mảng màu văn hóa khác nhau trong tổng quan văn hóa Việt nhìn
dưới góc độ không gian thiên nhiên Nguyễn Khuyến đã sử dụng những hình
ảnh này như một phương pháp nghệ thuật đắc dụng nhằm chuyển tải những
thông điệp nhân văn về văn hóa dân tộc trong tác phẩm của ông
Với mặt bằng văn hóa sâu rộng, những trang thơ viết về thiên nhiên, làng
quê thấm đẫm phong vị văn hóa Việt của Nguyễn Khuyến đã ra đời, như một sự
thể nghiệm của tình yêu văn hóa dành cho quê hương mình Cùng sự hiểu biết
tận tường về danh thắng, cảnh sắc vùng đồng bằng Bắc Bộ, Nguyễn Khuyến đã
khéo léo gọt giũa đến mức tối đa phong cảnh thiên nhiên làng quê Việt từ thực tế
đời sống để đưa vào trang viết một bức tranh thiên nhiên nông thôn tinh tế, xinh
Trang 31Cùng với 2 bài thơ Thu điếu và Thu ẩm, trong bài thơ này, mặc dù ông sử
dụng thể thơ Đường luật để sáng tác song ngôn từ trong các bài đều thuần Việt
và tuyệt nhiên không xuất hiện một danh từ Hán – Việt nào Đó chính là mộttrong những cách ông thể hiện tinh thần dân tộc và chất văn hóa trong vănchương của mình Nhờ vậy mà hình ảnh vùng đồng chiêm trũng Bình Lục đi vàotrang thơ rất đỗi gần gũi, bình dị mà thân quen Đặc biệt, gia công thêm chất vănhóa Việt ở đây không thể không nhắc đến hình ảnh thanh tú của cần trúc đongđưa trước gió Sự lay động nhẹ của cần trúc, sự tĩnh lặng sâu thẳm của bầu trờihòa với cảnh mặt nước sương khói huyền ảo đã mở ra một bề rộng mặc chobóng trăng tràn qua song thưa lúc trời đêm Ở Việt Nam, tre – trúc vốn gắn liềnvới đời sống của người dân lao động, với hoạt động trồng trọt lâu đời của ngườidân Việt Trên hành trình mưu sinh và phát triển, tre – trúc thể hiện cho nền vănhoá xóm làng mang tính cộng đồng tự trị chặt chẽ, bởi nó đại diện cho sự vữngchắc, mạnh mẽ và có khả năng chống chọi với sóng gió cuộc đời Qua khảo sát,chúng tôi thấy hình ảnh này xuất hiện 13 lần trong thơ Nguyễn Khuyến Hình
ảnh rặng tre, trúc bao bọc quanh làng là thứ quen thuộc trong cuộc sống của
người dân quê Nó gắn với quá trình hình thành, phát triển, là nơi tụ tập củangười nông dân vào những trưa hè oi ả và là hình ảnh tuyệt đẹp không thể thiếutrong bức tranh làng cảnh Bắc Bộ mỗi độ thu về
Ngoài việc miêu tả không gian thiên nhiên mùa thu qua hình ảnh tre-trúc,thì ở một góc quan sát khác, Nguyễn Khuyến cũng đã vẽ nên một bức tranhkhông gian làng quê đầy đủ với ao, cá, bướm, trúc vô cùng sinh động, chân thực,bình dị nơi thôn dã:
“Cá vượt khóm rau lên mặt nước,Bướm len lá trúc lượn rèm thưa”
(Ngẫu hứng ngày hè)
Tre – trúc còn thể hiện nỗi nhớ quê hương da diết, nỗi lòng khắc khoải
của thi nhân trước sự thay đổi nhanh chóng của thời thế: “Thiên ngoại vân y đa
hóa cẩu/ Song tiền trúc ảnh mối nghi nhân” (Mây áo chuyển vần thường hóa chó/ Bóng tre lấp loáng ngỡ là ai?) (Ngẫu thành 1); Tre còn xuất hiện trong
Trang 32cuộc chia ly với người bạn tri kỷ: “Cựu tình lịch sổ thanh xuân ngoại/ Trọc tửu
lương khuynh lục trúc tiền” (Tuổi hoa gắn bó tình thêm dặm/ Trúc biếc nghiêng che chén cạn mời) (Tặng hành nhân Nguyễn Đài)…
Hình ảnh tre – trúc trong thơ Nguyễn Khuyến mang nhiều nghĩa biểutrưng ý nghĩa Đó không chỉ đơn thuần là hình ảnh văn hóa gắn chặt với khônggian thiên nhiên làng quê đất Việt, biểu hiện cho cốt cách người Việt chịuthương chịu khó và luôn lạc quan vượt qua khó khăn, mà còn là nơi gửi gắmnhững tâm sự sâu kín của nhà thơ trước cuộc đời Cũng từ cách xây dựng hìnhảnh thiên nhiên quen thuộc như vậy, thơ Nguyễn Khuyến trở nên hấp dẫn, độcđáo hơn bao giờ hết bởi nó được tác tạo bằng cả nét tĩnh và nét động đầy nghệthuật, chứa đựng những gam màu đa sắc mà không phải ở vùng quê nào cũng cóđược, mang đậm cảnh sắc hương quê của vùng Bắc Bộ Đó chính là nét đặctrưng được gọi tên qua vẻ đẹp văn hóa vốn có từ ngàn đời xưa
Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Khuyến được gọi là “nhà thơ của quêhương làng cảnh Việt Nam” Sau khi cáo bệnh từ quan, ông trở về với ruộng vườn,hòa mình vào cuộc sống nông thôn Thiên nhiên trong thơ ông không bó buộc phải
là rộng lớn, đặc sắc, mà nhiều khi chỉ là những cảnh, những hình ảnh giản dị với aobèo ruộng muống, với những thứ quen thuộc của quê hương xứ sở:
“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợi tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo”
(Thu điếu)Được mệnh danh là “nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam”,Nguyễn Khuyến đã giúp cho người đọc được đắm mình trong không gian nôngthôn thuần khiết, nguyên bản vẽ lên từ chính những lớp từ thuần Việt Tiết trờivùng đồng bằng Bắc Bộ vào thu được Nguyễn Khuyến vẽ nên qua bức tranhlàng quê gần gũi, mộc mạc, có ao thu không đơn thuần là nước trong mà là
“trong vắt” mang theo hơi lạnh khẽ khàng chạm nhẹ vào da thịt, có chiếc thuyềncâu bé đến nỗi “tẻo teo” chông chênh trên chiếc ao bèo gợi nên cảm giác an
Trang 33nhàn mà tĩnh tại, không vướng sự đời, như một nét chấm phá giữa bức tranhthủy mặc, bình dị, có ngõ trúc yên ắng tới mức “vắng teo”… Từ ngữ chính xác
mà uyển chuyển, từ gọi từ để đạt đến hiệu quả diễn đạt cao nhất Những câu chữđược gieo vần “eo” vô cùng tinh tế, chọn lọc từ kho tàng ngôn ngữ tiếng Việtphong phú đã giúp cho bài thơ có sức hấp dẫn đặc biệt, sinh động song cũngkhông kém phần mới lạ, độc đáo
Đáng chú ý ở đây chính là hình ảnh ao làng quá đỗi quen thuộc trong bức
tranh thiên nhiên làng quê Bắc Bộ - một hình ảnh hồn quê thiêng liêng, đẹp đẽcủa người Việt Ao làng không chỉ để cấp nước sinh hoạt, giặt, rửa, nuôi cá, thảbèo, nuôi lợn mà còn như những hào sâu tăng thêm khả năng bảo vệ làng, đồngthời tiêu nước để tránh ngập úng Đó còn là mạch suối nguồn yêu thương nuôidưỡng tâm hồn của bao đứa trẻ, là nơi chứng kiến bao kỷ niệm thăng trầm củangười dân và làng xóm Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác Trong thơ
Nguyễn Khuyến, hình ảnh ao làng được nhắc đến 6 lần, gợi lên không gian
thanh tĩnh, yên bình nơi làng quê, đồng thời đó còn như một sự gợi nhắc chínhbản thân thi sĩ dù đi đâu cũng không quên biểu tượng hồn thiêng của quê hươngmình Trong chùm thơ thu độc đáo, Nguyễn Khuyến đã cho ta thấy hình ảnh aolàng với cảnh sắc thiên nhiên, tác tạo nên bức tranh thu không chỉ mang tínhchất tĩnh:
“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo” (Thu điếu)
mà còn mang cả tính chất động:
“Làn ao lóng lánh bóng trăng loe” (Thu ẩm)Không giống với lối miêu tả thơ truyền thống giai đoạn trước chỉ thiên vềtĩnh, Nguyễn Khuyến đã vẽ cả nét động trong từng câu thơ miêu tả về ao làng.Nếu cảm nhận thật kỹ, lắng nghe thật sâu, người đọc còn có thể thấy cả tĩnh vàđộng trong cùng một câu thơ Ao làng hiện lên sinh động, chân thực, gắn liềnvới không gian thiên nhiên tươi đẹp và cuộc sống bình dị của con người nơi làngquê Bắc Bộ Nó không chỉ đơn thuần gợi lên vẻ đẹp thanh nhàn của đời sốngthôn quê mà còn là hình ảnh đầy ý nghĩa, gắn bó với mỗi người con đất Việt, lànơi khiến họ thương nhớ khôn nguôi mỗi khi đi xa
Trang 34Tình yêu quê hương, yêu văn hóa dân tộc tha thiết của Nguyễn Khuyếncòn thể hiện trong bức tranh quê thanh bình yên ả:
“Chuông trưa vẳng tiếng người không biết, Trâu thả sườn non ngủ gốc cây”
(Nhớ cảnh chùa Đọi)Viết về nông thôn bằng cả trái tim và thứ tình cảm đằm thắm, phong cảnhlàng quê Việt Nam trong thơ ông hiện lên với đầy đủ những âm thanh và màusắc đặc trưng từ ngàn đời, độc đáo mà gần gũi, thân quen mà đẹp đẽ đến diệu kỳ.Trong không gian bình dị với hình ảnh chú trâu nằm ngủ gốc cây giữa trưa hè,tiếng chuông chùa quen thuộc hệt như thước phim quay chậm nhằm tái hiện mộtcách chân thực nhất, sống động nhất khung cảnh vùng thôn dã đặc trưng củalàng quê Việt Nam, trái ngược hoàn toàn với không gian văn hóa vùng đô thịvốn tập nập, xô bồ, ồn ã Hay như cảnh nước lũ tràn về luôn thấy ở vùng đồngchiêm trũng như quê Yên Đổ vào mùa lũ, cho thấy một khung cảnh quá đỗi quenthuộc của vùng quê mỗi mùa con nước đổ:
“Tiếng sáo vo ve chiều nước vọng,Chiếc thuyền len lỏi bóng trăng trôi”
(Nước lụt Hà Nam)Nếu như mùa thu ở chốn thị thành khiến con người ta ít cảm nhận được sựbình dị, thanh vắng thì không gian thu ở làng quê trong thơ Nguyễn Khuyến lạikhông còn sự bon chen, hối hả, ngột ngạt nữa, mà thay vào đó là bức tranh đêmmùa thu với đầy đủ âm thanh của tiếng giun dế, hình ảnh bầu trời sao hòa lẫnmàn sương thu lành lạnh quen thuộc vô cùng:
“Nhất thiên tinh đẩu dạ trầm trầm,
Sạ thính thanh thanh thứ bất câm.
Cách trúc cao đê xao bính chẩm, Hòa sương đoạn tục tả thương âm”.
Dịch nghĩa:
“Đêm khuya thăm thẳm một trời sao,Giun dế ran ran nối tiếp nhau
Trang 35Rền rĩ thấp cao khua gối mộng,Dập dìu khoan nhặt thấm sương ngđu”.
(Thu dạ cùng thanh)
Trước Nguyễn Khuyến, đại thi hăo Nguyễn Du cũng từng viết Thu dạ,
trong đó cũng có hình ảnh “sao sâng”, có “tiếng dế kíu” nêo nề trong đím lạnh:
“Phiền tinh lịch lịch lộ như ngđn, Đông bích hăn trùng bi cânh tđn”.
Dịch nghĩa:
“Sao văng lấp lânh ânh sương dầy,
Dế khóc tường đông giọng đắng cay”
Thế nhưng, trong bút phâp miíu tả của Nguyễn Du, do ảnh hưởng củatính ước lệ, tượng trưng của thơ Đường luật nín sự sinh động, chđn thực chưađạt đến độ đủ đầy, gần gũi, mang đậm phong vị hồn Việt qua hình thức lời thơ,cđu chữ như vần thơ Nguyễn Khuyến Điều đó đê tạo nín sự khâc biệt trong bútphâp miíu tả, quâ trình dđn tộc hóa mùa thu cho thật lă thu đất Việt, ấn địnhNguyễn Khuyến lă “nhă thơ của lăng cảnh Việt Nam”
Một số nghiín cứu trước đđy đê chỉ rõ tăi năng của Nguyễn Khuyến trongviệc sử dụng từ lây vă từ chỉ mău sắc Ông được coi lă người có biệt tăi trongviệc sử dụng câc lớp từ năy nhằm chỉ ra câc dụng ý nghệ thuật khâc nhau Phải
lă một người yíu tiếng Việt, am hiểu sđu sắc câc đặc trưng về thanh, về vần vă ýnghĩa của đm tiết tiếng Việt cũng như am hiểu câc giâ trị văn hóa truyền thốngcủa dđn tộc thì Nguyễn Khuyến mới có được khả năng ấy Nguyễn Khuyến ưadùng câc từ lây đm vă chú trọng đến cả hai phương diện: hòa phối đm thanh văhòa phối ngữ nghĩa Một điều thú vị vă sâng tạo trong thơ Nguyễn Khuyến lẵng thường ưa dùng câc từ lây có giâ trị gợi hình, biểu cảm để phản ảnh hiệnthực ở những góc cạnh tinh vi, tinh tế nhất (cảnh vật, con người) – đđy lă điều ítgặp trong văn học trung đại vốn mang tính ước lệ, tượng trưng rất cao
Nguyễn Khuyến đê hoăn toăn chắt lọc lời ăn tiếng nói hăng ngăy củangười nông dđn Việt để vịnh cảnh, đủ lăm nín nĩt riíng thuần Việt của mình
Những cụm từ lây đm (đm đầu, đm chính, đm đầu + đm chính) như: lạnh lẽo, tẻo
Trang 36teo, lơ lửng (Thu điếu); le te, lập lòe, phất phơ, lóng lánh (Thu ẩm); lơ phơ, hắt hiu (Thu vịnh) đã tạo nên sự phong phú, đa dạng trong biểu đạt cảm xúc chỉ có ở
ngôn ngữ tiếng Việt Đó cũng chính là căn cội tạo nên một bản sắc thuần Việtriêng của một nhà thơ yêu quê hương làng cảnh Việt Nam tha thiết Đặc biệt,vẫn bàn ở góc độ các từ láy đôi, chùm những bài thơ thu của Nguyễn Khuyến cóhai từ láy rất thú vị, đó là: “Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo (Thu điếu) và “Nămgian nhà cỏ thấp le te” (Thu vịnh) Theo Phạm Ánh Quyên “Một chiếc thuyềncâu bé nhỏ trong lòng một chiếc ao nhỏ bé, đã bé rồi lại còn tẻo teo, không chỉ là
tí teo cố định bé mà do cách điệp vần eo khiến cho cái sự bé ấy như đang tiếp bé
đi, teo nhỏ lại Nhà cỏ không thấp lè tè như trong điểm nhìn của người đứngngoài đường nhìn vào mà thấp le te trong điểm nhìn của người ngồi trong nhànhìn ra, nhìn thấy mái gianh chắn trước mắt đấy, thấy khoảng sáng ngoài nhà,thấy mình ở trong bóng tối nhưng cái mái nhà ấy vẫn ở trên đầu mình cho nênthấp le te Rất thấp, rất nhỏ nhưng không cụ thể như lè tè, hơn nữa le te như làm
mờ đi sự lôi thôi, lụp xụp của căn nhà Nếu thay le te bằng lè tè, sẽ làm mất đi sựhài hoà về âm điệu giữa các câu thơ trong bài, cấu trúc của dòng thơ Đường luật
cũng bị phá vỡ Khuôn vần [e] đã tạo nên mạch ngầm xuyên suốt bài thơ (le te, lập loè, trăng loe, đỏ hoe, say nhè), vừa phù hợp với yêu cầu diễn đạt vừa gợi tả
cảnh nghèo của làng quê và tâm sự u uất trong tâm hồn nhà thơ”
Qua khảo sát chúng tôi còn thấy, nếu như các tác giả trong văn học trungđại ưa dùng các màu vàng, đỏ, hồng, tía – vốn là những màu thuộc gam đặc biệtđược coi trọng trong quan niệm của thẩm mĩ văn học cổ bởi nó biểu trưng chocái đẹp vương giả, quý phái, phồn hoa thì Nguyễn Khuyến lại ưa dùng các gammàu nhạt, mờ ảo và thanh đạm bởi nhà thơ hướng về thế giới làng quê, tìm đếnthiên nhiên và mùa thu trong suốt Màu sắc riêng biệt trong thơ ông có ngọnnguồn từ cốt cách sống và phong cách sáng tạo tinh tế Ông đã nhào nặn, tái tạonhững nguyên liệu, vật liệu quen thuộc của cảnh quê nhưng lại khắc phục đượccái thô mộc cố hữu để vẽ lên một bức tranh quê với những gam màu thanh nhã
mà vẫn vô cùng gần gũi, mang thần thái của vùng thôn dã
Trang 37Chúng tôi rất tâm đắc với nhận xét của tác giả Biện Văn Điền khi tiếnhành khảo sát về lớp từ này trong thơ Nguyễn Khuyến Theo Biện Văn Điền:
“Thế giới cảnh vật trong thơ Nguyễn Khuyến luôn mới mẻ, hấp dẫn với hai sắcmàu chủ đạo là xanh và trong Hai màu sắc thể hiện đóng góp xuất sắc nhất củaNguyễn Khuyến trong tìm tòi ngôn ngữ diễn đạt: Những tính từ chỉ màu sắc đặctrưng, mang rõ cá tính Nguyễn Khuyến, mang đậm hồn quê Việt Nam Nếu màuxanh chủ yếu là biểu hiện của cảm nhận đối tượng khách thể thì màu trong –trong suốt – trong vắt cơ bản là biểu hiện của khát vọng thẩm mĩ tha thiết nhấtcủa nhà thơ Hơn thế nữa, giữa hai loại màu sắc này trong thơ ông có một sựtương liên, giao thoa hòa đồng đến tuyệt mĩ, tạo nên một màu sắc đặc biệt, hư
hư, thực thực đầy sương khói và huyền ảo.” [23; tr.42]
Bức tranh thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến đôi khi không nhất thiếtphải sử dụng một gam màu nóng ấm cụ thể mà đôi khi chỉ được vẽ qua từ gợimàu sắc vừa hư vừa thực, nhạt và mờ ảo cũng đủ để vẽ lên cảnh làng quê về
chiều tối lảng bảng khói lan “Lưng dậu phất phơ màu khói nhạt” (Thu ẩm), hay
gam màu đặc trưng miêu tả không gian của mùa xuân miền Bắc “Mới sang
xuân, sớm sớm trời đầy hơi sương” (Xuân bệnh),… Quả thực, lớp từ chỉ màu sắc
vô cùng đa dạng, sinh động trong nhiều bài thơ Nôm như: “Tầng mây lơ lửng
trời xanh ngắt” (Thu điếu), Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao (Thu vịnh), “Da trời
ai nhuộm mà xanh ngắt” (Thu ẩm), “Một khóm thủy tiên năm bảy cụm/Xanh xanh như sắp thập thò hoa” (Mừng con dựng được nhà),… đều được thi sĩ dụng
công gọt giũa, chắt lọc tinh tế từ kho tàng ngôn ngữ dân tộc để người đọc đượcđón nhận những vần thơ thuần Việt hết sức sống động, chân thực Nếu các từ
gam màu lạnh như (bạc, trắng, lốm đốm) được tác giả sử dụng nhiều trong các bài thơ trữ tình, tự thuật, tự trào thì các tính từ chỉ sắc xanh, trong lại giúp cho
Nguyễn Khuyến vẽ lên những bức tranh thiên nhiên chỉ có ở làng quê Việt vùngđồng bằng Bắc Bộ Các phân tích trên giúp chúng ta khẳng định rằng NguyễnKhuyến là nhà thơ am hiểu sâu sắc giá trị ngôn ngữ Việt và dùng nó một cách tàitình và sáng tạo để thể hiện các giá trị văn hóa Việt qua các sáng tác của mình
Trang 38Như một mặc định, lại như một cảm nghiệm của sáng tạo, NguyễnKhuyến gắn liền cuộc đời văn chương của mình với văn hóa Việt bằng cả tráitim và sự thuộc hiểu, bằng tâm huyết và tinh thần lao động nghệ thuật công phu.Cùng với đó là lối miêu tả chân thực, đan cài hài hòa và tinh tế các hình ảnhthiên nhiên, các lớp từ ngữ chỉ màu sắc và từ láy tinh tế đã tạo nên một bức tranhđậm đà sắc màu văn hóa Việt trong thơ ông Tất cả mặt bằng văn hóa sâu rộng
ấy đã giúp ông trụ vững trên mảnh đất sáng tạo nghệ thuật mà không sợ lạcbước, giúp ông tác tạo nên những bức tranh thiên nhiên làng quê Việt mang đậmphong vị đặc trưng của vùng Bắc Bộ mà trước và cả sau này, không phải nhà thơnào cũng vẽ họa giống y như vậy được
2.1.2 Danh lam thắng cảnh Việt
Đất Việt tự ngàn xưa đã được thiên nhiên ban tặng nhiều danh thắng tươiđẹp, tráng lệ, với những địa danh chùa chiền, núi non hùng vĩ đã tồn tại mộtcách bền bỉ, kiêu hãnh từ bao đời nay Như một ám ảnh chủ đạo, lấp lánh trênnhững trang thơ, Nguyễn Khuyến khi viết về phong cảnh làng quê đất Việt đã đềcập đến không ít các danh lam thắng cảnh của nước ta, đặc biệt là các danhthắng ở khu vực Bắc Trung Bộ Ở những nơi ông có dịp đặt chân tới, và ở chínhmảnh đất đã sinh ra và lớn lên, ông đều dành trọn sự yêu thương, trân quý khiđặt bút miêu tả Đó là cảnh chùa chiền tọa lạc trong không khí huyền linh củanúi non hùng vĩ, hay đơn thuần chỉ là vùng quê chiêm trũng Bình Lục thời thơ
ấu khiến ông thương nhớ đi về để chắt chiu từng ly hạnh phúc,…
Bằng sự quan sát tinh tế và cảm quan miêu tả nhạy bén, Nguyễn Khuyếntái tạo lại vẻ đẹp của những danh lam thắng cảnh mà nhà thơ đã từng đặt chânđến như núi Tam Điệp, núi Dục Thúy, núi Ngũ Hành, rồi cảnh chùa Đọi, đềntrên núi Dạ, sông Thạch Hãn… Mỗi tên núi, tên sông, tên chùa đều đượcNguyễn Khuyến miêu tả theo cách riêng Có những địa danh, nhà thơ tả tậntường tới từng chi tiết bằng cả sự thuộc hiểu như chính ông là người bản xứ.Ngoài việc nhắc đến các địa danh nổi tiếng trong nước như các nhà thơ trước đótừng đề cập đến, Nguyễn Khuyến còn chú ý đưa vào thơ những địa danh quenthuộc được gọi tên qua không gian văn hóa chợ mang đậm hồn dân tộc:
Trang 39“Ai đi Hương Tích chợ trời đi!
Chợ họp quanh năm cả bốn thì
Đổi chác người tiên cùng khách bụt
Bán buôn gió chị lại trăng dì
Yến anh chào khách nhà mây tỏa,Hoa quả bày hàng điếm cỏ che
Giá áo, lợn, tằm, tiền, gạo đủ
Bán mua mặc ý muốn chi chi”
(Chơi chợ trời Hương Tích)Hương Tích, hay Hương Sơn, được coi là một trong những danh thắngđược mệnh danh là Nam Thiên Đệ Nhất Động (động đẹp nhất trời Nam) Cứ đếnđầu mùa xuân, khi du khách thập phương đến thăm động Hương Sơn thì ngườidân bản xứ cũng bày cảnh buôn bán thức ăn, đèn nhang cho khách cúng chùatrên một vùng đất lộ thiên, gọi là chợ trời Hương Tích Những vần thơ miêu tảcảnh chợ của Nguyễn Khuyến không chỉ phô vẽ khung cảnh thực tế mà trên tất
cả, đó còn là sự tự ý thức trân trọng nét đẹp văn hóa truyền thống lâu đời tự ngànxưa của ông cha để lại, đó là văn hóa chợ thể hiện tinh thần cộng đồng cao độtrong lối sống cổ truyền lâu đời
Không gian văn hóa đặc trưng của vùng quê đồng bằng Bắc Bộ chính làkhung cảnh họp chợ phiên theo một chu kỳ cố định Từ xưa đến nay, thói quensinh hoạt truyền thống này luôn được duy trì, trở thành nét văn hóa độc đáotruyền từ đời này sang đời khác không dễ gì thay đổi được Họp chợ, không chỉđơn thuần là nhu cầu mua bán đặc sản của các vùng miền, mà còn xuất phát từnhu cầu giao lưu, gặp gỡ, mong muốn được chia sẻ những tâm tư tình cảm củacon người Ngoài cảnh chợ Hương Tích, Nguyễn Khuyến còn viết về phiên chợquê nhà từng gắn bó với ông như một phần máu thịt, đó là chợ Đồng Đây cũng
là một điểm đến của nhiều du khách thập phương mỗi dịp tết đến xuân về nhằmgiao lưu, buôn bán, trao đổi nông sản, hàng hóa:
“Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng,Năm nay chợ họp có đông không?
Trang 40Dở trời, mưa bụi còn hơi rét.
Nếm rượu, tường đền được mấy ông?”
(Chợ Đồng)Chợ Đồng xưa họp vào ngày 24, 26, 30 tháng Chạp hàng năm, trongkhông khí se lạnh nhà nhà náo nức chuẩn bị đón tết Thế nhưng, Chợ Đồng trongcảm nhận của Nguyễn Khuyến, nay đã không còn tấp nập, đông vui nữa Vì thế,viết về cảnh họp chợ quê hương mình, Nguyễn Khuyến viết như là sự thôi thúc
từ ruột gan, viết bằng cả tình yêu chân thành, sự tri ân sâu sắc thông qua từng
chi tiết cảnh chợ vô cùng sống động: mưa bụi rét, rượu, hàng quán… Một
không gian văn hóa được mở ra với muôn vàn sắc thái độc đáo và đây cũngchính là không gian “đặc sệt” chất Bắc Bộ với dáng vóc, phong vị được gọi tênqua nét đẹp văn hóa tinh thần đặc sắc Chợ làng không chỉ là một phạm trù kinh
tế đơn thuần mà còn là một biểu hiện văn hóa Việt đặc trưng một cách đậm nét,góp phần làm nên những tập quán, tạo lời ăn tiếng nói, hình thành phong tháiứng xử Chợ làng quê, đặc biệt là chợ tết, có thể xem như một hoạt động nổi bật,góp phần tạo nên diện mạo, văn hóa làng Nguyễn Khuyến đã đề cập đến chợ tết
ở quê hương ông trong bài thơ trên Chợ là khuôn mặt vùng quê, là nơi conngười học hỏi, giao lưu, tu rèn nhân cách, phong cách làm người Vì thế, ca dao
có câu “thứ nhất tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa” Chợ Đồng trong thơNguyễn Khuyến diễn ra vào giáp tết, với những mặt hàng quen thuộc hàng ngàyđược bày bán, thậm chí có phần sơ sài Bởi nếu năm nào làng được mùa, chợđông đúc người mua, người bán Năm nào làng mất mùa, đói kém thì sự huyênnáo, đông đúc và nhộn nhịp sẽ giảm đi Tuy nhiên, người dân ở đây luôn tâm
niệm“đói cũng ngày tết, hết cũng ngày mùa”, nên nét văn hóa chợ xưa vẫn luôn
được gìn giữ qua bao đời là vì thế
Nhằm nắm bắt cái gốc rễ sâu xa mang tính bản sắc của văn hóa Việt,Nguyễn Khuyến đã hướng ngòi bút của mình vào việc khai thác những cứ liệu
về văn hóa tâm linh thông qua việc miêu tả cảnh chùa chiền và núi non Đó là
cảnh chùa Đọi đặt trong không gian thanh tao, thoáng đãng – một thắng cảnhthuộc huyện Duy Tiên – Hà Nam: