1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu thuyết luận đề của khái hưng

104 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 127,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi thế cho nên văn chương của Khái Hưng nói riêng, văn chương Tự lực văn đoàn nói chung mới chỉ được khen ngợi môt chút về nội dung chống phong kiến và về những cách tân trong nghệ thuậ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN QUỐC LINH

TIỂU THUYẾT LUẬN ĐỀ CỦA KHÁI HƯNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,

VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN QUỐC LINH

TIỂU THUYẾT LUẬN ĐỀ CỦA KHÁI HƯNG

Nghành: Văn học Việt Nam

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình luận văn này là sự nỗ lực hết mình của tôitrong quá trình nghiên cứu Những số liệu thống kê hoàn toàn do tôi tựnghiên cứu Tôi xin chịu trách nhiệm về luận văn của mình

Tác giả luận văn

Nguyễn Quốc Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp cuối khóa, em đãnhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giảng viên, các nhànghiên cứu khoa học, Ban lãnh đạo khoa Ngữ văn, phòng Sau Đại học, Bangiám hiệu trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Đặc biệt Phó giáo sư - Tiến sĩPhan Trọng Thưởng đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn em trong việc nghiên cứu,tìm hiểu và hoàn thành đề tài này

Em xin cảm ơn quý thầy cô, các phòng ban, các tổ chức đoàn thể trongnhà trường Đại học Sư phạm Thái nguyên đã tạo những điều kiện thuận lợinhất để em hoàn thành khóa học Bằng cả tấm lòng mình, em xin gửi tới Phógiáo sư -Tiến sĩ Phan Trọng Thưởng lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất

Em xin cảm ơn Ban lãnh đạo Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Thái nguyên,Ban giám hiệu trường Trung học phổ thông Lê Hồng Phong, các bạn bè, đồngnghiệp, những người thân đã nhiệt tình ủng hộ, chia sẻ khó khăn, khích lệ tinhthần trong suốt thời gian qua

Em xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 14 tháng 4 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Quốc Linh

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

M Ở Đ Ầ U

1 Lý do chọn đề tài

2 Lịch sử vấn đề

3 Mục đích nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

6 Đóng góp của luận văn

7 Cấu trúc của luận văn

NỘI DUNG

Chương 1:KHÁI HƯNG VÀ TIỂU THUYẾT LUẬN ĐỀ .

1.1 Khái Hưng

1.1.1 Cuộc đời và con người

1.1.2 Mối quan hệ với nhóm Tự lực văn đoàn .

1.2 Tiểu thuyết luận đề

1.2.1 Khái niệm tiểu thuyết và tiểu thuyết luận đề

1.2.2 Tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn và Khái Hưng

Chương 2: CÁC LUẬN ĐỀ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA KHÁI HƯNG .

2.1 Chống lễ giáo và đại gia đình phong kiến

2.2 Đề cao cái tôi cá nhân và nếp sống âu hóa

2.3 Thể hiện ước mơ cải cách xã hội

Chương 3: NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT LUẬN ĐỀ CỦA KHÁI HƯNG

3.1 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện và kết cấu

3.1.1 Cốt truyện

Trang 6

3.1.2 Kết cấu 55

3.2 Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật 61

3.2.1 Các tiểu loại nhân vật 64

3.2.2 Các phương thức, biện pháp miêu tả nhân vật 72

3.3 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ và giọng điệu 78

3.3.1 Ngôn ngữ 78

3.3.2 Giọng điệu 87

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tự lực văn đoàn có nhiều đóng góp cho quá trình hiện đại hóa văn học

Việt Nam, đặc biệt là ở thể loại tiểu thuyết Trong sự tồn tại của nhóm, người takhông thể không nhắc đến Khái Hưng Với tài năng và tinh thần sáng tạo khôngmệt mỏi, ông đã có những ảnh hưởng quan trọng đối với quá trình hiện đại hóavăn học nước nhà đầu thế kỷ XX, đồng thời góp phần làm rạng danh tên tuổi

của văn đoàn Tự lực.

Khái Hưng để lại một số lượng tác phẩm tương đối lớn Những sáng táccủa ông có nhiều ảnh hưởng tới tư tưởng của tầng lớp thanh niên trí thức ViệtNam những năm 30 của thế kỷ XX, đồng thời tạo được sự ngưỡng mộ đối vớiđộc giả yêu mến văn học

Khái Hưng sáng tác ở nhiều thể loại song có lẽ thành công nhất vẫn là tiểu

thuyết, mà trước hết là tiểu thuyết luận đề Những tác phẩm của Tự lực văn đoàn nói chung, Khái Hưng nói riêng đã trở nên quen thuộc với độc giả yêu

mến văn học và giới nghiên cứu phê bình Vị trí của Khái Hưng ngày càngđược khẳng định vững chắc Nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về sự nghiệpvăn chương của ông là minh chứng hùng hồn khẳng định điều đó

Những thành công trong tiểu thuyết luận đề của Khái Hưng đã góp phần

từng bước tạo ra diện mạo mới cho văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX Nửa chừng xuân, Hồn bướm mơ tiên, Trống mái, Gia đình, Thoát ly ,Thừa tự….là

những cuốn tiểu thuyết tố cáo, phê phán mạnh mẽ những hủ tục lạc hậu và bênhvực quyền được hưởng hạnh phúc của cá nhân con người Trong tác phẩm củamình, Khái Hưng tỏ ra đặc biệt quan tâm tới thân phận đáng thương của ngườiphụ nữ trong gia đình phong kiến Ông xây dựng khá thành công hình tượngnhững người con gái có cá tính mạnh mẽ, dám đấu tranh chống lại những giáo

lý lạc hậu đã tồn tại, ăn sâu vào nếp nghĩ của người dân ta hàng nghìn năm qua

Đó là những cô gái tân thời có học thức, được tiếp xúc với văn minh phươngTây nên thấu hiểu sâu sắc những bất công mà họ là nạn nhân phải gánh chịu Vìthế khát vọng hạnh phúc, khát vọng tình yêu ở những người phụ nữ này mạnh

Trang 8

mẽ hơn ai hết Hành động chống đối lại xã hội ấy là điều hoàn toàn phù hợp vớiquy luật khách quan của sự phát triển Tác phẩm của Khái Hưng là những tiếngnói đả phá hủ tục phong kiến, đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ, hướng tới cải

cách xã hội Đây chính là đóng góp của Tự lực văn đoàn đối với tiến trình hiện

đại hóa văn học dân tộc Đến với tiểu thuyết luận đề của Khái Hưng, chúng tôimuốn góp tiếng nói khẳng định giá trị trong sáng tác của ông trên cả hai khíacạnh nội dung và nghệ thuật

2 Lịch sử vấn đề

Như trên đã nói, Tự lực văn đoàn và nhất là Khái Hưng đã để lại cho văn

học Việt Nam những tác phẩm có giá trị Tuy nhiên đây cũng là hiện tượng tạonên nhiều tranh luận trong lịch sử văn học nước nhà Việc nghiên cứu, đánh giá

tác phẩm của Khái Hưng nói riêng và Tự lực văn đoàn nói chung khá phức tạp.

Mỗi một thời người ta lại có những quan điểm khác nhau Có khi trong cùngmột thời nhưng hai miền Nam-Bắc cũng không đồng nhất ý kiến

Chúng tôi tạm chia những đánh giá về Tự lực văn đoàn và Khái Hưng làm

3 giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất (trước năm1945):

Đây là giai đoạn Tự lực văn đoàn đang hoạt động và thu hút được sự chú ý

của độc giả Khái Hưng được người đọc đón nhận nồng nhiệt, nhất là ở thể loạitiểu thuyết Ông cũng là một trong những tác giả được giới nghiên cứu phêbình quan tâm rất nhiều Người ta nhắc đến Khái Hưng qua các bài đánh giáchung về nhà văn, hoặc các bài phê bình, giới thiệu sách Đó là các ý kiến củaTrương Tửu, Đức Phiên, Trần Thanh Mại, Vũ Ngọc Phan… đăng trên các báo

Loa, Sông Hương, Phụ nữ thời đàm, Ngọ báo, Nhật tân, Ích hữu… Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu khác quan tâm tới tiểu thuyết của Khái Hưng.

Khi nhận xét về tác phẩm của Khái Hưng Dương Quảng Hàm đã viết

trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu (1942): “Tuy vẫn có khuynh hướng xã hội

nhưng lại thiên về mặt lý tưởng và có thi vị riêng … Khái Hưng có một cách tảngười và tả cảnh tuy xác thực mà có một vẻ nhẹ nhàng, thanh tú khiến cho

Trang 9

Trong cuốn Nhà văn hiện đại (1942) Vũ Ngọc Phan đã đánh giá tiểu

thuyết của Khái Hưng như sau: “Nhưng dù ở tiểu thuyết lý tưởng, tiểu thuyếtphong tục hay tiểu thuyết tâm lí, cái đặc sắc mà người ta thấy trong các tácphẩm của Khái Hưng là sự xét nhận rất đúng về tâm hồn nam nữ thanh niênViệt Nam” [37, tr 780]

Tiểu thuyết của Khái Hưng thời kì này được đánh giá cao về mặt nội dung

tư tưởng: chống lại chế độ phong kiến, muốn giải phóng cá nhân, giải thoát cho

người phụ nữ Trên báo Loa (1935) Trương Chính cho rằng: “Nửa chừng xuân

là cuốn truyện ghi dấu sự phấn đấu giữa cá nhân và chế độ ấy Tác giả biện luậncho quan hệ nhân sinh mới và công bố sự bất hợp thời của những tập quán donền luân lí cổ truyền tạo ra” [9, tr 313]

Nhìn chung, giới phê bình trước năm 1945 đánh giá cao Khái Hưng và

nhóm Tự lực văn đoàn Chủ đề chống lễ giáo phong kiến và giải phóng cá nhân

được chú ý quan tâm Song một số nhà nghiên cứu đương thời lại cho rằng tiểuthuyết của Khái Hưng vẫn còn một số hạn chế: đôi khi tư tưởng không thiếtthực, có tác phẩm kết cấu không chặt chẽ, thậm chí còn có những lỗi dùng từđặt câu …Các đánh giá này chỉ là những bước gợi mở chứ chưa đi sâu khámphá những đóng góp trên phương diện nghệ thuật Các công trình này cònchung chung và có phần đơn giản

Giai đoạn thứ hai (từ 1946-1986):

Do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh cho nên suốt một thời gian dài tiểuthuyết của Khái Hưng không được quan tâm Sau năm 1954 nó mới được đềcập đến Nhưng do sự phức tạp của tình hình chính trị nên ở hai miền Nam -Bắc có cách đánh giá khác nhau

Ở miền Bắc:

Các tác phẩm của Khái Hưng và Tự lực văn đoàn có thời gian dài bị cấm Năm 1957, sau khi tái bản cuốn Tiêu sơn tráng sĩ, trên các báo Văn nghệ quân đội, Độc lập, Tổ quốc, Tuần báo văn, các tác giả Trần Thanh Mại, Vĩnh Mai,

Nguyên Hồng, Nguyễn Văn Phú, Trương Chính, Lê Long, Trần Tín, Trần ChânDung đã tranh luận sôi nổi về tác phẩm này Cuối thập niên 50 và đầu thập niên

Trang 10

60 của thế kỷ XX xuất hiện một số công trình nghiên cứu, đánh giá tiểu thuyết

của Khái Hưng và Tự lực văn đoàn Cụ thể là: Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957) của nhóm Lê Quý Đôn; Văn học Việt Nam 1930-1945 (1961) của Bạch Năng Thi và Phan Cự Đệ; Sơ thảo lịch sử Văn học Việt Nam 1930-1945 (1964) của Viện Văn học…Đến những năm 70 thì những công trình như: Bàn

về cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại 1945) của Vũ Đức Phúc (1971), Tiểu thuyết Việt Nam của Phan Cự Đệ, tập 1 (1974) và các bài phê bình của Nguyễn Đức Đàn, Nam Mộc…đều nhắc đến Tự lực văn đoàn và tiểu thuyết của Khái Hưng Nhưng nhìn chung do quá chú trọng vào chức năng giáo dục của văn học, do các nhà phê bình đã căn cứ vào

(1930-những tiêu chí chính trị của văn học cách mạng và lấy đó làm thước đo các giátrị của văn chương lãng mạn nên một số người đánh giá có phần quá nghiêmkhắc, với nhiều định kiến nặng nề Họ cho rằng, văn học là phải phản ánh nỗikhổ của người dân bị áp bức bóc lột mà quên đi đời sống nội tâm với bao dằnvặt, day dứt của thanh niên trí thức Bởi thế cho nên văn chương của Khái

Hưng nói riêng, văn chương Tự lực văn đoàn nói chung mới chỉ được khen

ngợi môt chút về nội dung chống phong kiến và về những cách tân trong nghệ

thuật tiểu thuyết Nhìn chung tiểu thuyết của Khái Hưng và của Tự lực văn đoàn thường được hiểu là: xa rời thưc tiễn, tiêu cực, bạc nhược suy đồi, phản động, có hại…Chẳng hạn như cuốn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1939 -

1945 có ghi nhận xét: “Trong những tác phẩm được xuất bản từ 1936 đến 1943,

tuy vẫn có một số yếu tố tốt như chống quan lại phong kiến trong gia đình,phản ánh sự ty tiện của những con người đặt đồng tiền lên trên tất cả, phê phánmột số địa chủ tham lam, ngu dốt, nhưng những mặt tiêu cực trong tư tưởng,

tình cảm của Khái Hưng phát triển mạnh hơn Tiêu sơn tráng sĩ (…), ca ngợi bọn phục vụ cho một chế độ suy tàn, không nghĩ tới nhân dân (…).Trống mái

tô vẽ lối sống của tư sản (…).Chủ nghĩa cải lương phản động biểu hiện rõ rệt

nhất trong Gia đình Ở đây tác giả muốn địa chủ là những người vừa có học,

Trang 11

cuốn Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam cũng có nhận định: “Chỉ hiềm

một điều ông (tức Khái Hưng) ít chú ý đến xã hội, đến những vấn đề mấu chốtcủa xã hội, chỉ quanh quẩn với những người trong giai cấp của mình, với mộtnhân sinh quan đặc tiểu tư sản cho nên nội dung tư tưởng của ông rất nghèonàn” [32, tr 337]

Ở miền Nam:

Tự lực văn đoàn lại được đề cao, chú trọng quá mức Nhiều tác phẩm của

văn đoàn này được in lại và phổ biến rộng rãi Ngoài các bài viết đăng trên cáctạp chí, còn có các công trình văn học được đưa vào giảng dạy trong nhà

trường, tiêu biểu như: Bình giảng về Tự lực văn đoàn (1958) của Nguyễn Văn Xung; Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1960) của Phạm Thế Ngũ; Tự lực văn đoàn (1960) của Doãn Quốc Sỹ; Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1972)

của Nguyễn Xuân Bào…Có những công trình nghiên cứu riêng về Khái Hưng

như: Khảo luận về Khái Hưng của Lê Hữu Mục; Luận đề về Khái Hưng của Nguyễn Duy Diễn và Bằng Phong; Luận đề về Khái Hưng của Nguyễn Bá

Lương và Tạ Văn Ru… Có các bài báo, hồi ký viết về tiểu sử, về những kỷ

niệm sống và sáng tác của Khái Hưng như: Ba tôi của Trần Khánh Triệu; Tưởng nhớ Khái Hưng của Vũ Bằng…Có các bài báo đánh giá lại những tiểu thuyết của Khái Hưng theo phương pháp mới như: Hồn bướm mơ tiên của Tam Ích; Tình yêu hiến dâng trong Hồn Bướm mơ tiên của Nguyễn Văn Trung…

Đặc biệt là có một số văn bản đi sâu nghiên cứu thân thế và tác phẩm của

Khái Hưng như: Lược sử văn nghệ Việt Nam - Nhà văn tiền chiến 1932-1945, của Thế Phong; Khái Hưng thân thế và tác phẩm của Thư Trung; Khái Hưng người thứ nhất muốn làm nguyên soái của văn chương sáng giá của Hồ Hữu Tương; Nhân nghĩ về Khái Hưng, Khái Hưng nhà văn và cuộc phấn đấu của Dương Nghiễm Mậu; Về tiểu thuyết của Khái Hưng của Đặng Phùng Quân; Thế giới nhân vật của Khái Hưng của Đào Trương Phúc; Người đàn bà trong tác phẩm của Khái Hưng của Vũ Hạnh…

Số ít ý kiến chưa công nhận, họ cảm thấy những tác phẩm của Khái Hưng và Tự

lực văn đoàn có “một cái gì đó nhạt nhẽo, giả tạo, hời hợt, vụng về” [34, tr 16].

Trang 12

Song phần đông đánh giá cao tiểu thuyết của Khái Hưng Chẳng hạn Phạm Thế

Ngũ cho rằng: “Văn nghệ Tự lực văn đoàn còn như trăng mới lên, hoa mới nở, người ta muốn vui, muốn nhìn đời qua cặp kính hồng” [30, tr 424] “Đến Tự lực văn đoàn đưa ra chủ trương viết giản dị, dễ hiểu, ít chữ Nho (…) Văn ấy có thể thấy mẫu mực trong tác phẩm đầu tay của Khái Hưng: Hồn bướm mơ tiên” [30, tr 429] Thư Trung nhận ra rằng: “những tác phẩm của Khái Hưng quả thật

đã đặt ra những vấn đề quan trọng, đã đóng góp công lao vào sự tiến hoá của xãhội Việt Nam (….) biết Khái Hưng là nhà văn của tuổi trẻ, của gia

đình,ba mươi năm trước; biết Khái Hưng là nhà văn có lòng yêu thương rộngrãi, có lòng tin vào cuộc sống, biết Khái Hưng là nhà văn phong tục, nhà văntâm lý có biệt tài; biết học trong văn Khái Hưng những mẫu mực của một bútpháp trong sáng, mực thước” [34, tr 17] Thế Phong ca ngợi: “Khái Hưng cóthiên bẩm viết tiểu thuyết ( ) về nghệ thuật tiểu thuyết, không phải mỗi lúc lại

có thể có một Khái Hưng (…) có thể gọi Khái Hưng là người đầu tiên biết viếttiểu thuyết trong lịch sử cực thịnh của văn chương Việt Nam ở giai đoạn đầu”[39, tr 46+47]

Có thể nói rằng các ý kiến đánh giá về Khái Hưng và Tự lực văn đoàn ở

giai đoạn này chưa có nhiều điểm mới so với giai đoạn trước Phần lớn các ýkiến đều đề cao, ghi nhận song còn mờ nhạt, chưa làm nổi bật được nhữngđóng góp cũng như hạn chế

Giai đoạn thứ ba (từ sau 1986):

Cùng với tiến trình đổi mới của đất nước, hoạt động sáng tác, xuất bản, phêbình văn học cũng từng bước có sự thay đổi Với quan điểm thông thoáng và

khách quan hơn nên việc nghiên cứu Tự lực văn đoàn nói chung và Khái Hưng nói

riêng đã thay đổi rõ rệt Cho đến thời điểm này hầu hết tiểu thuyết của ông đãđược tái bản, hoạt động nghiên cứu, đánh giá, phê bình diễn ra sôi nổi Người ta

đã tổ chức các hội nghị khoa học để xem xét lại văn chương của Tự lực văn đoàn Ngày 27-5-1989 khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội phối hợp với

Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp tổ chức cuộc Hội thảo văn

Trang 13

tuổi như: Tô Hoài, Huy Cận, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Trương Chính, Phong

Lê, Nguyễn Hoành Khung…đã tập trung khẳng định vai trò và những đóng góp

của Tự lực văn đoàn trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam.

Sau hội thảo này, nhiều bài báo, chương sách có giá trị nghiên cứu về sáng

tác của Tự lực văn đoàn đã được xuất bản Khi in lại các tác phẩm của Khái Hưng,

giới nghiên cứu đã có những đánh giá mới Trong lời giới thiệu các tiểu thuyết

Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Gia đình, Thừa tự, giáo sư Hà Minh Đức

vừa phân tích rất sâu sắc giá trị hiện thực, giá trị nghệ thuật, vừa chỉ ra những hạnchế của tác giả Giáo sư Phan Cự Đệ viết những bài giới thiệu cho các tiểu thuyết:

Tiêu sơn tráng sĩ, Trống mái, Gia đình, Đẹp, Băn khoăn, Thoát ly Qua đó ông đưa

ra nhiều ý kiến vừa mới mẻ vừa có sức thuyết phục Ví dụ: “Cuốn tiểu thuyết (Đẹp) đã ca ngợi niềm say mê sáng tạo của những người nghệ sĩ chân chính” [29,

tr 330] Hoặc: “Không thể xem Băn khoăn là một cuốn tiểu thuyết lãng mạn (…).

Phần lớn được xây dựng bằng bút pháp hiện thực” [29, tr 346] Phó Giáo sưNguyễn Hoành Khung và Phó Giáo sư Lê Thị Đức Hạnh cũng đã có các bài viết

về Tự lực văn đoàn, văn xuôi lãng mạn Việt Nam và phong trào Thơ mới…Qua

những bài viết và các công trình nghiên cứu này, những giá trị hiện thực, giá trị

tiến bộ trong sáng tác của Tự lực văn đoàn nói chung, của Khái Hưng nói riêng

được ghi nhận, đánh giá đúng mức, công bằng hơn Những hạn chế cũng đượcnhìn nhận, phê phán thấu tình đạt lý hơn so với giai đoan trước Giáo sư Phan Cự

Đệ đã viết trong Tự lực văn đoàn - Con người và văn chương: “So với tiểu thuyết trước năm 1930, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã đi sâu hơn nhiều vào thế giới nội tâm phong phú của con người” [4, tr 370] Mặc dầu vậy, theo Giáo sư, ở những

tác phẩm thời kỳ cuối Khái Hưng, Nhất Linh không những không đấu tranh đòigiải phóng cá nhân, mà còn có xu hướng đẩy con người vào chủ nghĩa duy tâm vàđịnh mệnh” [4, tr 330]

Theo thời gian, ngày càng có nhiều người nghiên cứu về Tự lực văn đoàn

và tiểu thuyết của Khái Hưng Tiêu biểu là các tác giả Đào Trọng Thức, TàoVăn Ân, Trịnh Hồ Khoa, Lê Thị Dục Tú, Vũ Thị Khánh Dần, Dương ThịHương, Nguyễn Thị Tuyến, Trần Thị Kim Hoa, Đào Thu Hằng Nhiều công

Trang 14

trình nghiên cứu đã được công bố, chẳng hạn như: luận án tiến sĩ “Bàn về tiểuthuyết của Khái Hưng của tác giả Ngô Văn Thư; luận văn thạc sĩ “Những nhậnđịnh bước đầu về tiểu thuyết của Khái Hưng” của Phạm Ngọc Phúc (tức Vu

Gia), “Đóng góp của Tự lực văn đoàn qua hai tiểu thuyết Đoạn tuyệt của Nhất Linh và Nửa chừng xuân của Khái Hưng” của Lại Thị Thúy Vân, “Nghệ thuật

tiểu thuyết Khái Hưng” của Nguyễn Hạ Uyên…Bằng sự nỗ lực kháo sát côngphu, kỹ lưỡng, kết hợp với việc vận dụng những phương pháp tiếp cận mới, họ

đã có những khám phá mới mẻ và xác đáng Đóng góp của Khái Hưng và của

Tự lực văn đoàn ngày càng được đánh giá phù hợp Nhìn chung, mọi người đều

phải ghi nhận giá trị trong sáng tác của văn đoàn này Chẳng hạn, Trịnh Hồ

Khoa viết: “Phải đến thế hệ nhà văn 32 (1932), bắt đầu từ Tự lực văn đoàn,

ngôn ngữ văn học mới được hoàn toàn đổi mới” [18, tr 60]

3 Mục đích nghiên cứu

Như trên đã nói, việc nghiên cứu về Khái Hưng và Tự lực văn đoàn ngày

càng có những kết quả mới mẻ và xác đáng Tuy nhiên giới nghiên cứu chủ yếu

đánh giá chung về văn chương Tự lực văn đoàn hoặc bàn về tất cả các tiểu

thuyết của Khái Hưng Việc đi sâu nghiên cứu các luận đề và nghệ thuật trongtiểu thuyết luận đề của ông thì vẫn còn ít người để ý tới Bởi thế chúng tôimạnh dạn đi nghiên cứu các tiểu thuyết luận đề của Khái Hưng để thấy sự tôn

chỉ mục đích sáng tác của nhóm Tự lực văn đoàn ở nhà văn này Trong luận

văn, chúng tôi sẽ cố gắng tìm hiểu cặn kẽ việc triển khai các luận đề và nhất lànghệ thuật trong tiểu thuyết luận đề của ông Qua luận văn chúng tôi muốn đưamột tiếng nói nhỏ bé của mình vào để khẳng định, tôn vinh những đóng gópcủa Khái Hưng trong việc thúc đẩy sự phát triển của văn chương và tiến bộ của

Trang 15

nhau Một bên là những người có học thức, được tiếp xúc với văn minh phươngTây, đại diện cho tư tưởng mới mẻ, tiến bộ Một bên là những con người mangnặng tư tưởng phong kiến cổ hủ, lạc hậu Chúng tôi đi sâu phân tích tâm lý vàhành động của kiểu người thứ nhất để thấy tiếng nói chống phong kiến Tương

tự như vậy chúng tôi đi sâu phân tích tâm lý của kiểu người thứ hai để thấytiếng nói đấu tranh giải phóng cá nhân, giải phóng phụ nữ, hướng tới cải cách

xã hội Về phương diện nghệ thuật, chúng tôi quan tâm tới sự đổi mới trongnghệ thuật tiểu thuyết luận đề của Khái Hưng

4.1 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi khảo sát chính là các tiểu thuyết luận đề của Khái Hưng như:

Nửa chừng xuân, Hồn bướm mơ tiên, Trống mái, Gia đình, Thoát ly, Thừa tự Chúng tôi nghiên cứu thêm một số tiểu thuyết của Nhất Linh như: Lạnh lùng, Đoạn tuyệt, Đời mưa gió và tiểu thuyết Con đường sáng của Hoàng Đạo nhằm

bổ trợ thêm những hiểu biết về Tự lực văn đoàn.

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau :

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp so sánh đối chiếu

- Phương pháp thống kê phân loại

- Phương pháp văn học sử

6. Đóng góp của luận văn

Với luận văn này, chúng tôi mong muốn tiếp tục ghi nhận những đóng góp

của Tự lực văn đoàn nói chung và của Khái Hưng nói riêng đối với văn học

Việt Nam Luận văn đi vào khảo sát cụ thể các tiểu thuyết luận đề của KháiHưng để thấy để thấy được những ảnh hưởng của ông trên cả hai lĩnh vực vănchương và xã hội

Nghiên cứu tiểu thuyết luận đề của Khái Hưng chúng tôi muốn chỉ ra cônglao của ông trong công cuộc đấu tranh bênh vực cho cái mới, cái tiến bộ, lêntiếng đòi phá bỏ những cái lạc hậu, khẳng định quyền sống tự do của cá nhâncon người, nhất là người phụ nữ Đồng thời chúng tôi cũng nói lên những cách

Trang 16

tân trong nghệ thuật tiểu thuyết luận đề của Khái Hưng Qua đó chúng tôikhẳng định những ảnh hưởng quan trọng của ông trong việc tạo nên bước đổithay tích cực của văn chương Việt Nam hiện đại.

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luậnvăn đươc triển khai ở 3 chương:

Chương 1: Khái Hưng và tiểu thuyết luận đề

Chương 2: Các luận đề trong tiểu thuyết của Khái Hưng

Chương 3: Nghệ thuật tiểu thuyết luận đề của Khái Hưng

Trang 17

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI HƯNG VÀ TIỂU THUYẾT LUẬN ĐỀ 1.1 Khái Hưng

1.1.1 Cuộc đời và con người

Khái Hưng sinh năm 1897 tại làng Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh HảiDương, nay thuộc thành phố Hải Phòng Người dân Cổ Am nổi tiếng hiếu học,coi trọng văn hóa và thực tế đã từng có nhiều người đỗ đạt trong các khoa thiHán học Bởi vậy từ xưa ở đây người ta đã tự hào mà nói: Đông Cổ Am, NamHành Thiện

Thân phụ của ông là cụ Trần Mỹ (cụ vốn xuất thân trong gia đình dòng dõi

khoa bảng), một cử nhân Hán học, từng làm tuần phủ tỉnh Thái Bình Cụ Trần

Mỹ có tới năm người vợ nên rất đông con Khái Hưng là con của bà vợ cả và làanh trai nhà văn Trần Tiêu

Nhạc phụ của Khái Hưng là cụ Lê văn Đính (nguyên mẫu nhân vật Báo

trong tiểu thuyết Gia đình), người làng Dịch Diệp (một làng xưa nay đều có rất

nhiều người đỗ đạt), huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định Cụ Đính cũng xuất thân

trong gia đình khoa bảng, là cử nhân Hán học và từng làm tuần phủ, tổng đốcrồi thượng thư

Như vậy, cả thân phụ và nhạc phụ của Khái Hưng đều là đại quan, đều làmcông chức cho Pháp, nhưng có gốc văn hóa cũ, không phải là bọn tay sai bánnước cầu vinh hoặc xuất thân từ thầu khoán, bếp bồi, thông ngôn,… mới phất.Cho nên, tuy làm việc cho Pháp nhưng họ không thật sự được tin dùng và phầnnào cũng có tư tưởng ghét Tây Khái Hưng sống trong môi trường trưởng giả,nhưng ông cũng có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với tư tưởng, ý thức, nếp sống

và văn hóa phương Tây Nhà văn từng chứng kiến, trải nghiệm cuộc sống đạigia đình phong kiến với bao hủ tục, luật lệ phiền toái, lạc hậu Song ông cũngthấy rõ trong hai cái đại gia đình Trần - Lê của mình vẫn còn những dấu ấn đẹpcủa văn hóa cổ truyền Những điều đó có ảnh hưởng đến sáng tác của KháiHưng

Trang 18

Theo gia phả họ Trần ở làng Cổ Am, Khái Hưng tên thật là Trần Dư Khibuôn dầu ở Ninh Giang ông mới đổi thành Trần Khánh Giư Khái Hưng là bútdanh chính do xếp chữ theo lối anagramme mà thành Ngoài ra ông còn có các bútdanh khác như: Bán than, Nhát dao cạo, Chàng lẩn thẩn, Tò mò và Nhị Linh.

Lúc còn nhỏ Khái Hưng học chữ Nho, từ năm 12 tuổi mới theo Tây học

Ở trường Albert Sarraut, ông nổi tiếng là tinh nghịch và giỏi Pháp văn Ngay ởthời kỳ này Khái Hưng đã hoạt động văn hóa văn nghệ và đạt được những

thành tích đáng trân trọng (ông dịch vở hài kịch Les Pleideurs của Racine được

Hội Trí tri Nam Định trao tặng giải nhất, dịch bài thơ Tình tuyệt vọng của Arve

và bài thơ Dưới trăng uống rượu một mình của Lí Bạch, Khái Hưng còn là tác giả của bức họa Trăng xưa mô tả nỗi buồn nhớ Nhất Linh, người bạn thân thiết

vì công việc chống Pháp phải bỏ đi xa).

Khái Hưng đậu tú tài Pháp phần một (ban triết học) năm 1927, nhưng sau

đó ông không tiếp tục học lên để ra làm quan như đa số bạn học cùng thời mà

đã bỏ đi buôn dầu tại Ninh Giang Do tính phóng khoáng, bán chịu không thuđược nợ nên ông đã thất bại sau 3 năm kinh doanh Nhà văn bỏ Ninh Giang lên

Hà Nội dạy học ở trường tư thục Thăng Long, một trường nổi tiếng lúc bấy giờ.Vừa dạy học Khái Hưng vừa làm chủ bút và viết một số bài đăng trên báo

Phong hóa của Phạm Hữu Ninh từ số 1 đến số 13 Ngoài ra ông còn viết nhiều bài nghị luận đăng trên Văn học tạp chí.

Ở trường Thăng Long Khái Hưng đã gặp Nhất Linh Bởi cùng chung mộtquan niệm về văn chương và xã hội nên hai người nhanh chóng trở nên thân

thiết (Nhất Linh đã viết trong lời đề từ tác phẩm Đoạn tuyệt của mình rằng:

“Tặng Khái Hưng, tác giả Nửa chừng xuân, nhà văn cùng quan niệm với tôi về

xã hội hiện thời”) Về sau, tình cảm hai người càng trở nên gắn bó khăng khíthơn Khi thấy vợ chồng Khái Hưng hiếm muộn, ông bà Nhất Linh còn cho mộtngười con trai thứ về làm con nuôi họ Trần Cùng với Nhất Linh, Khái Hưng là

một trong những người đầu tiên tham gia vào ban biên tập báo Phong hóa, sau

Trang 19

Thời thế thay đổi, năm 1939 Đại chiến thế giới lần thứ hai bùng nổ, nhóm

Tự lực văn đoàn nghiêng về hoạt động chính trị Khái Hưng cũng tham gia

phong trào này nhưng chủ yếu do tình bạn chứ không phải là có tham vọng.Trần Khánh Triệu kể: “Theo lời mẹ tôi thì bản chất ba tôi là con người nghệ sĩ,nhưng về sau tham gia hoạt động chính trị cũng chỉ là thấy anh em làm, ba tôicũng tha thiết muốn làm với anh em” [50, tr 25] Năm 1945, Khái Hưng có

nhận viết cho tờ Việt Nam, tờ Chính nghĩa, bởi lẽ “anh Tam, anh Long đã làm

chả lẽ mình lại xa anh em” [50, tr 26] Bởi không tìm ra con đường đúng, phùhợp với hướng đi của lịch sử nên cuối đời Khái Hưng có lúc chống phá cáchmạng chứ không phải là cam tâm bán nước cầu vinh, cúi đầu làm nô lệ Conngười của Khái Hưng là con người của văn chương, của những tư tưởng lãngmạn chứ không phải là con người của hành động, của thực tiễn làm chính trị.Khái Hưng còn có tư tưởng bài Pháp và chống quan lại từ rất sớm Ở

truyện ngắn Tây xông nhà ông có kể rằng, vào tết năm 1930 gia đình nhà văn

đã bị bọn quan Pháp xông nhà và đe dọa: “Ông nói lí với tôi, phải không? Ôngnên biết: những ý tưởng bài Pháp, chống quan lại của ông sẽ chỉ đưa tai hại đếncho ông Rồi ông sẽ thấy” [16, tr 46]

Trong văn chương của mình Khái Hưng đã từng đả kích, châm biếm bọn

quan Tây rất mạnh mẽ Cũng ở truyện ngắn Tây xông nhà ông chỉ trích tên

quan đại là tội nhân, là tiểu nhân Ông viết: “Tôi đã được Tây xông nhà NgườiTây đó tên là Heineshilk - ấy là tôi theo vần đọc mà viết ra, chứ tôi cũng chưatrông thấy tên hắn trên giấy bao giờ Theo lời đồn, hắn là một người Áo can án

tử hình bỏ trốn sang nước Pháp đăng lính Lê dương đi Ma rốc dự chiến Mãnhạn hắn nhập Pháp tịch và được bổ đi coi một đồn lính khố xanh Nếu muốntìm một kiểu mẫu tiểu nhân thì hắn thực là một người hoàn toàn Đối với dângian hắn hống hách, đàn áp, bóc lột, chuyên chế như một ông vua chuyên chế.Trái lại đối với ông Sứ hay ông Giám binh thì hắn quỵ lụy, nịnh nọt, đút lót

trung thành như tên mọi trung thành với chủ” [16, tr 40].

Truyện ngắn Quan công sứ cũng là một tiếng nói bài Pháp Ở đó Khái

Hưng đã để cho các nhân vật chế giễu viên công sứ là dốt nát, xấu xa

Khái Hưng mất năm 1947 ở Nam Định

Trang 20

1.1.2 Mối quan hệ với nhóm Tự lực văn đoàn

Người đứng đầu nhóm Tự lực văn đoàn là Nhất Linh, tức Nguyễn Tường

Tam Ông sinh năm 1906 trong một gia đình quan lại ở tỉnh Hải Dương Vàođời, ông bắt đầu làm việc ở Sở tài chính Đông Dương Nhưng rồi ông bỏ việc

và vào học trường Cao đẳng Mỹ thuật Năm 1927 được học bổng của Hội Nhưtây du học, ông sang Pháp học khoa học tự nhiên Ba năm sau về nước với bằng

cử nhân, Nhất Linh mua lại trường tư thục của Nguyễn Văn Tòng, lấy giáo sư

mới (trong số ấy có Trần Khánh Giư) đổi tên trường là Thăng Long Đầu năm

1932, ông mua lại tờ Phong hóa của Nguyễn Xuân Mai đã ra được 13 số đổi

thành một tờ báo hài hước, dùng tiếng cười làm vũ khí chế giễu những tệ nạn

của phong hóa An Nam Phong hóa mới làm ăn phát đạt, Nguyễn Tường Tam

nhường trường cho một nhóm giáo sư khác và cùng với Trần Khánh Giư rút về

làm báo, viết sách, lập Tự lực văn đoàn, mở nhà xuất bản Đời nay.

Tự lực văn đoàn thành lập vào tháng 3 năm 1933 với các thành viên chính

thức là Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), Khái Hưng (Trần Khánh Giư), HoàngĐạo (Nguyễn Tường Long), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), Tú Mỡ (Hồ

Trọng Hiếu), Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ) Về sau thêm Xuân Diệu (Ngô Xuân Diệu), Trần Tiêu (em Khái Hưng) nữa Cộng tác chặt chẽ với văn đoàn này còn

có các nhà thơ của phong trào Thơ Mới như : Huy Cận, Anh Thơ, Lưu Trọng

Lư, Đoàn Phú Tứ, Thanh Tịnh; các nhà văn như: Nguyên Hồng, Đỗ Đức Thu,Phan Văn Dật, Mạnh Phú Tư, Vi Huyền Đắc… ; các họa sĩ nổi tiếng như: TôNgọc Vân, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Cát Tường Cơ quan ngôn luận của nhóm

là tờ báo Phong hóa, khi Phong hóa bị đóng cửa (năm 1936) thì có tờ Ngày

nay thay thế.

Tự lực văn đoàn làm việc theo tinh thần anh em một nhà, dựa vào sức

mình, tổ chức không quá mười người nên không phải xin phép nhà nước.Nhóm hoạt động với tư cách độc lập không theo một chỉ thị nào ngoài đườnglối do chính họ vạch ra Không cần văn bản điều lệ, họ lấy lòng tin nhau làmcốt Họ nêu mục đích tôn chỉ, anh em trong nội bộ nhóm tự nguyện, tự giác

Trang 21

Mục đích của Tự lực văn đoàn gồm 4 điểm như sau:

1. Tự lực văn đoàn họp những người đồng chí trong văn giới Người trong

đoàn đối với nhau cốt có liên lạc về tinh thần, cùng nhau theo đuổi một tôn chỉ,hết sức giúp đỡ nhau để đạt được mục đích chung, hết sức che chở nhau trongnhững cuộc văn chương

2. Người trong đoàn có quyền đề dưới tên mình chữ Tự lực văn đoàn và

bao nhiêu tác phẩm của mình đều được văn đoàn nhận và đặt dấu hiệu

3. Những sách của người ngoài, hoặc đã xuất bản, hoặc còn là bản thảo,gửi đến để văn đoàn xét, nếu hai phần ba người trong văn đoàn có mặt ở hộiđồng xét là có giá trị và hợp với tôn chỉ thì sẽ nhận đặt dấu hiệu của đoàn và sẽ

tùy sức cổ động giúp Tự lực văn đoàn không phải là một hội buôn bán sách.

4. Sau này, nếu có thể được, văn đoàn sẽ đặt giải thưởng gọi là “Giải

thưởng Tự lực văn đoàn” để thưởng những tác phẩm có giá trị và hợp với tôn

chỉ của văn đoàn

Tháng 6 năm 1934, tôn chỉ của Tự lực văn đoàn được công bố trên báo Phong hóa gồm có 10 điều tâm niệm:

1.Tự mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiêndịch sách nước ngoài nếu những sách này chỉ có tính cách văn chương thôi.Mục đích để làm giàu thêm văn sản trong nước

2. Soạn hay dịch những sách có tư tưởng xã hội, chú ý làm cho người và

xã hội ngày một hay hơn lên

3. Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tính cách bình dân,

và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân

4. Dùng một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ Nho, một lối văn thật có tính cách An Nam

5. Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ

6. Ca tụng những nét hay, vẻ đẹp của nước nhà mà có tính cách bình dân,khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân Không có tínhcách trưởng giả, quý phái

7. Trọng tự do cá nhân

Trang 22

8. Làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa.

9. Đem phương pháp khoa học Thái Tây ứng dụng vào văn chương An Nam

10. Theo một điều trong chín điều trên đây cũng được, miễn là đừng trái ngược với những điều khác

Với mục đích và tôn chỉ đã đề ra, Tư lực văn đoàn đã mở ra một quan

niệm văn chương hết sức tiến bộ, thể hiện khát vọng xây dựng một nền văn họcdân tộc theo xu hướng hiện đại và niềm mong mỏi được đấu tranh cho sự giảiphóng cái tôi cá nhân, giải phóng con người ra khỏi sự ràng buộc của hệ tưtưởng phong kiến, đồng thời muốn đem lại sự trong sáng cho ngôn ngữ tiếng

Việt Nhờ tinh thần đoàn kết, niềm say mê văn chương, Tự lực văn đoàn đã gặt

hái được nhiều thành công vang dội, hoạt động của nhóm có ảnh hưởng quantrọng đối với việc hiện đại hóa các thể loại văn học, nhất là tiểu thuyết

Trước khi gặp Nhất Linh, Khái Hưng đã có những tư tưởng và quan điểm

sống gần gũi với nhà sáng lập Tự lực văn đoàn Nhất Linh với bằng cử nhân Pháp

có thể kiếm một việc làm, một địa vị cao và chắc chắn trong xã hội, nhưng đãchọn nghề viết văn, làm báo Khái Hưng với bằng tú tài Tây, lại sinh ra trong mộtgia đình quan lại cao cấp, có quyền thế, ông có điều kiện đi vào con đường làmquan, làm giàu nhưng lại theo nghề tự do như buôn bán, dạy học tư thục và viếtvăn Nếu Nhất Linh được học ở Pháp, tiếp thu văn hóa Pháp ở trình độ đại học,được sống trưc tiếp trong môi trường xã hội và văn hóa phương Tây, thì KháiHưng cũng được học ở trường Albert Sarraut và tiếp thu văn hóa Pháp ở trình độ

tú tài Tây Khái Hưng sống trong một gia đình trưởng giả điển hình nên ông cóđiều kiện tiếp thu văn hóa phương Tây Khái Hưng lại giỏi Pháp văn khiến ông cóthể tự tìm hiểu thêm về văn hóa, văn chương Pháp (điều mà các nhà văn thế hệ đitrước khó lòng làm được) Bởi vậy Khái Hưng và Nhất Linh gắn bó với nhautrong hoạt động văn chương cũng là điều dễ hiểu

Trước khi tham gia Tự lực văn đoàn, Khái Hưng đã hoạt động văn học,

quan niệm về xã hội và văn chương của ông tuy có những điểm mới nhưng vẫn

còn khuynh cổ Tham gia biên tập báo Phong hóa mới rồi Tự lực văn đoàn,

Trang 23

những chuyển biến rõ rệt về tư tưởng và nghệ thuật, ông đã đóng góp rất lớncho văn đoàn của mình Nhà văn đã đứng hẳn về phía những tư tưởng tự do,dân chủ và nếp sống văn hóa, văn minh phương Tây Ông đã phê phán mạnh

mẽ lễ giáo và đại gia đình phong kiến cùng những hủ tục, những tín điều, giáo

lý của văn hóa cũ

Ban đầu, mới tham gia biên tập báo Phong hóa Khái Hưng vẫn tiếp tục

viết văn nghị luận, vì ông nghĩ đấy là sở trường Nhưng về sau, nhờ sự xâydựng của anh em trong nhóm và nhất là sự khuyến khích của Nhất Linh ôngmới chuyển sang viết truyện Ở thể loại này Khái Hưng đã có đóng góp lớn cho

văn đoàn Tự lực Trong ba năm liền 1932, 1933, 1934, ông đã cho ra đời nhiều

truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch Hoạt động báo chí và sáng tác văn chương của

ông khá phong phú, nhưng đóng góp nhiều và thành công hơn cho Tự lực văn đoàn vẫn là văn chương với nhiều thể loại.

Hồn bướm mơ tiên và Nửa chừng xuân (là hai cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông và cũng là của Tự lực văn đoàn) đã gây được tiếng vang rất lớn Ở hai tác phẩm này, bước đầu những quan niệm mới của nhóm Tự lực văn đoàn về xã

hội và nhân sinh đã in sâu vào thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Những ý tưởng

đả phá phong kiến Nho giáo, khẳng định tự do cá nhân và nếp sống mới đãđược thể hiện linh động qua các nhân vật Đó là sự khẳng định tình yêu tự do

vượt ra ngoài sự bó buộc của nhà Phật trong Hồn bướm mơ tiên Đó là cuộc đấu

tranh giữa cái mới với cái cũ, phê phán lễ giáo phong kiến chà đạp lên hạnhphúc của tuổi trẻ, khẳng định hôn nhân một vợ một chồng, ngợi ca vẻ đẹp của

người bình dân trong Nửa chừng xuân Có lẽ vì thế, bằng hai tác phẩm này Khái Hưng đã góp phần làm cho độc giả bắt đầu yêu mến văn chương Tự lực văn đoàn.

Đặt trong tiến trình lịch sử, Hồn bướm mơ tiên được đánh giá là một trong

những mốc mở đầu cho một thời kì mới của văn học Nhận xét về điều này,Giáo sư Thanh Lãng viết: “Nhưng điều đáng chú ý là sự ra đời của mấy truyện

như Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng, Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan, Tôi kéo xe của Tam Lang Từ cách xây dựng truyện, cách đặt vấn đề, cách mô

Trang 24

tả tâm lý các vai truyện mà nhất là lời văn dễ dãi linh động, ba tác giả này nhưvạch ra một đường rạch lớn phân đôi hai thế hệ trước (13 - 32) và thế hệ sau(32 - 45)” [25, tr 33].

Khái Hưng đã góp phần làm phong phú thể loại tiểu thuyết Theo Vũ Ngọc

Phan trong Nhà văn hiện đại, Khái Hưng có các loại tiểu thuyết: lãng mạn, tâm

lý, phong tục Theo Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học, tiểu thuyết của

Khái Hưng có các ý hướng: ý hướng thơ, ý hướng tranh đấu, ý hướng lịch sử, ýhướng tâm lý Có người lại cho rằng Khái Hưng viết các loại tiểu thuyết luận

đề, tiểu thuyết tâm lý Qua các ý kiến đó ta thấy, với Khái Hưng tiểu thuyết đã

có nhiều hình thức: tiểu thuyết lý tưởng, tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết phongtục, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết tâm lý…

Khái Hưng đã viết mười hai trên tổng số hai mươi cuốn tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn (ngoài ra ông còn có hai cuốn viết chung với Nhất Linh) Trong

đó có nhiều cuốn được đánh giá cao

1.2 Tiểu thuyết luận đề

1.2.1 Khái niệm tiểu thuyết và tiểu thuyết luận đề

Khái niệm tiểu thuyết

Tiểu thuyết ra đời sớm ở châu Âu, vào thời kì cá nhân con người khôngcòn cảm thấy lợi ích và nguyện vọng của mình gắn liền với cộng đồng xã hội

cổ đại Nhưng phải đến thế kỉ XIX với sự xuất hiện của những cây bút “đạithụ” như Xtăng đan, Banzăc, L Tônxtôi, Đôxtôiepxki…thể loại tiểu thuyết mớiđạt tới sự hoàn thiện

Nhà nghiên cứu M Bakhtin cho rằng: tiểu thuyết là loại văn chương duy nhấtluôn biến đổi bởi nó phản ánh được một cách sâu sắc, cơ bản và nhạy bén hơn sự

chuyển biến của bản thân hiện thưc Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Tiểu

thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọigiới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiềucuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinhhoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [13, tr 328] Đây là một trongnhững thể loại quan trọng bậc nhất của văn chương hiện đại Nó

Trang 25

“không đơn thuần chỉ là một thể loại trong nhiều thể loại Đó là thể loại duynhất nảy sinh và được nuôi dưỡng bởi thời đại mới của lịch sử thế giới và vì thế

mà thân thuộc sâu sắc với thời đại ấy” [27, tr 21]

Ở Việt Nam tiểu thuyết phát triển muộn Tận đầu thế kỉ XVIII với sự xuất

hiện của Nam Triều công nghiệp diễn chí, Hoàng Lê nhất thống chí, nước ta

mới có tác phẩm có quy mô tiểu thuyết Tuy nhiên những tác phẩm này vẫnthuộc loai hình cổ điển phương Đông Phải sang đầu thế kỉ XX, khi xã hội ViệtNam chuyển từ phong kiến sang thực dân nửa phong kiến thì tiểu thuyết củanước nhà mới mang tinh thần của thời đại mới Qua sự giao lưu và tiếp nhậnnhững tinh hoa của văn học phương Tây, tiểu thuyết Việt Nam mới thực sự trởthành tiểu thuyết hiện đại

Tiểu thuyết luận đề

Tiểu thuyết luận đề được hiểu là tiểu thuyết mà cốt truyện và số phận nhân

vật được dùng để chứng minh cho một luận đề (vấn đề triết học, đạo đức, xã

hội) có trước

Tiểu thuyết luận đề khác với luận đề của tiểu thuyết Luận đề của tiểuthuyết chính là chủ đề, là vấn đề “triết lý xã hội, đạo đức và các loại hình tưtưởng khác đặt ra trong tác phẩm” [2, tr 46] Chủ đề được hình thành từ hiệnthực cuộc sống thông qua sự khái quát hóa của nhà văn, chủ đề toát ra từ ýnghĩa khách quan của tác phẩm

Trong tiểu thuyết luận đề, luận đề là cái có trước Cốt truyện và nhân vậtđược tác giả sử dụng nhằm làm sáng tỏ luận đề Nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũcho rằng: “Tiểu thuyết luận đề là tiếng để dịch thành ngữ Pháp Roman à thèse.Luận đề đây là chỉ cái chủ trương, cái quan niệm có hệ thống của một tác giả vềmột vấn đề trọng đại của tư tưởng và liên quan đến xã hội nhân sinh Nhà vănviết ra một câu chuyện với chủ ý trình bày những nhân vật, dẫn dắt các tình tiết

để đi đến một kết cục, tất cả nhằm bênh vực cái quan niệm riêng của mình…Người ta nhận ra tiểu thuyết luận đề ở chỗ, tác giả đã rõ rệt chủ ý

Trang 26

bênh vực một quan niệm, để chống lại một quan niệm khác và rõ rệt uốn nắncâu chuyện, khuôn đúc nhân vật, phục vụ cho chủ ý của mình” [30, tr 244].Đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết luận đề là tính định hướng trong khaithác nhân vật và cốt truyện Trong tiểu thuyết luận đề, độc giả dễ dàng nhận ra

sự can thiệp của tác giả Ở đó nhà văn luôn xây dựng hai tuyến nhân vật đốilập, có mâu thuẫn, xung đột gay gắt với nhau và nhân vật chính diện luôn là

“phát ngôn viên” cho tư tưởng của chính tác giả Nhân vật cũng thường đượckhai thác ở những khía cạnh có lợi cho luận đề Kết thúc của tiểu thuyết luận đềthường là kết thúc có hậu Bởi vậy tiểu thuyết luận đề thường mang màu sắcđạo đức và duy lý

1.2.2 Tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn và Khái Hưng

Tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn

Đầu thế kỉ XX, tầng lớp trí thức Tây học ở nước ta ngày càng phát triểnmạnh mẽ Họ tiếp nhận và chiụ ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa phương Tâyhiện đại Vì thế ý thức cá nhân trong họ trỗi dậy mạnh mẽ, trong khi đó chế độgia đình phong kiến vẫn đầy rẫy những tập tục lạc hậu Cuộc đối đầu giữa haiphe cũ - mới ngày càng căng thẳng quyết liệt, khó có thể dung hòa Trước tình

hình trên của xã hôi, Tự lưc văn đoàn nhanh chóng cho ra đời nhiều tác phẩm

có nội dung chống lễ giáo phong kiến, đòi giải phóng con người cá nhân.Những tác phẩm này ngay từ khi mới ra đời đã nhận được sự ủng hộ, yêu mếncủa đại đa số độc giả trẻ tuổi, những người đang khao khát sống cuộc đời tự do

Mở đầu cho cuộc chiến chống lễ giáo phong kiến, giải phóng con người

cá nhân là cuốn tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng Ở tiểu thuyết

này, tuy luận đề chống lễ giáo phong kiến chưa được đặt ra trực tiếp nhưngthông qua những hành động, suy nghĩ của các nhân vật, nhà văn gián tiếp phêphán những tập tục lạc hậu của chế độ đại gia đình Nhà văn kín đáo lên án sựkìm hãm quyền được yêu, được tự do lựa chọn hạnh phúc lứa đôi Bởi thế từkhi mới ra đời, tác phẩm nhận được sự chào đón nồng nhiệt của độc giả Bạn

đọc nói chung và thanh niên nói riêng đã tích cực ủng hộ cho Tự lực văn đoàn.

Trang 27

Đây chính là yếu tố thúc đẩy, cổ vũ nhóm tiếp tục sáng tác các tiểu thuyết có

luận đề chống lễ giáo phong kiến

Các tiểu thuyết ra đời sau Hồn bướm mơ tiên như Đoạn tuyệt, Nửa chừng xuân, Lạnh lùng, Gia đình, Thoát ly, Thừa tự đã trực tiếp tấn công vào thành trì

của lễ giáo phong kiến Các tiểu thuyết này đã phê phán nền luân lí bảo thủ,phê phán những thứ mà phái cũ gọi là truyền thống, gia phong nền nếp Cụ thể

đó là chế độ đa thê với quan niệm “trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ

có môt chồng” trong các tiểu thuyết Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt; là mâu thuẫn

muôn đời giữa mẹ chồng nàng dâu với quạn niệm nghiệt ngã “mất tiền mua

mâm bà đâm cho thủng” trong Đoạn tuyệt; là chế độ hôn nhân gả bán và tư tưởng phải “môn đăng hộ đối” trong cả Đoạn tuyệt và Nửa chừng xuân; là

nghĩa vụ tam tòng và bổn phận thủ tiết của người đàn bà theo quan niệm “tại

gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” trong tác phẩm Lạnh lùng Trong các tiểu thuyết luận đề, Tự lực văn đoàn đã dụng công xây dựng

các nhân vật lí tưởng nhằm làm sáng tỏ luận đề của mình và thể hiện tôn chỉ,mục đích hoạt động văn chương của nhóm Theo giáo sư Hoàng Xuân Hãn thì

Tự lực văn đoàn là những cây bút “thấm nhuần văn hóa Pháp” Các sáng tác

của họ chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây mới mẻ Họ ca ngợi và cổ vũcho cái mới, họ đi tiên phong trong công cuộc đổi mới tư duy nghệ thuật lúcbấy giờ Nhanh chóng nắm bắt xung đột giữa mới và cũ trong xã hội, các nhà

văn của Tự lực văn đoàn sử dụng văn chương như một thứ vũ khí chống lại

những nền nếp, ý thức, tư tưởng đã lỗi thời Bởi thế tiểu thuyết luận đề đã trởthành hình thức văn chương có hiệu quả, phù hợp với mục tiêu đấu tranh của

văn đoàn Tự lực Tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn đi theo hai hướng:

Thứ nhất là đấu tranh chống lễ giáo phong kiến và giải phóng con người

cá nhân; thể hiện những khát vọng về cuộc sống tự do, được hưởng hạnh phúc,

được tự do yêu đương: Trong các sáng tác của Tự lực văn đoàn, chúng ta thấy

có cái tôi cá nhân mạnh mẽ, luôn khao khát được sống, được yêu, luôn muốnthoát ra khỏi sự ràng buộc của những hủ tục luật lệ khắt khe Bởi vậy, cuộc đấutranh quyết liệt giữa hai phe cũ và mới đã diễn ra Một bên là những thanh niên

Trang 28

trí thức đại diện cho những tư tưởng tiến bộ của thời đại Một bên là nhữngnhân vật đại diện cho nền luân lí truyền thống luôn khăng khăng giữ lấy quan

điểm của mình Thông qua các tiểu thuyết luận đề, Tự lực văn đoàn phê phán

mạnh mẽ lễ giáo phong kiến đã chà đạp lên quyền sống, quyền được hưởnghạnh phúc chính đáng của cá nhân con người

Thứ hai là cải cách xã hội: Nội dung cải cách xã hội trong các tiểu thuyết

luận đề của Tự lực văn đoàn mang đậm màu sắc cải lương tư sản Những tiểu thuyết theo hướng này là Gia đình của Khái Hưng, Con đường sáng của Hoàng Đạo Ở tiểu thuyết Gia đình như đã nói, tác giả Khái Hưng ca ngợi những địa

chủ giàu lòng nhân ái, biết quan tâm tới cuộc sống khổ cực của người nôngdân Họ có những việc làm thiết thực nhằm cải thiện cuộc sống của những

người dân nghèo Ở tác phẩm Con đường sáng tác giả Hoàng Đạo lại vẽ lên

bức tranh đẹp về một cuộc sống mới của người nông dân Ở đó có sân vậnđộng, thư viện…địa chủ và nông dân cùng nhau vui vẻ mỗi khi được mùa Tuynhiên, tất cả chỉ là hiện thực giả tạo, là những viễn cảnh không bao giờ có thật

Nó được vẽ lên bởi trí tưởng tượng có phần chủ quan của nhà văn Hơn nữa cốttruyện và nhân vật được xây dựng một cách quá khiên cưỡng, gượng ép nhằmchứng minh cho luận đề mà nhà văn đã đặt ra Do đó tiểu thuyết luận đề đi theohướng này không thu được thành công

Tiểu thuyết luận đề của Khái Hưng

Khái Hưng có sáng tác ở nhiều thể loại: kịch, truyện ngắn, tiểu thuyết

Kịch gồm có Tục lụy (1937), Đồng bệnh (1942) Truyện ngắn gồm những tác phẩm như: Dọc đường gió bụi (1936), Tiếng suối reo (1937), Đợi chờ (1939), Đồng xu (1939), Đội mũ lệch (1941) Tiểu thuyết chiếm số lượng nhiều hơn so với hai thể loại trên Đó là các tác phẩm: Hồn bướm mơ tiên (1933), Nửa chừng xuân (1934), Gia đình (1935), Trống mái (1936), Thoát ly (1936), Thừa tự (1940), Hạnh (1940), Những ngày vui (1941), Đẹp (1941) … Trong đó Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Trống mái, Gia đình, Thoát ly, Thừa tự là

những cuốn tiểu thuyết có tính chất luận đề

Trang 29

Chống lễ giáo phong kiến, giải phóng con người cá nhân là cảm hứng chủđạo và cũng là cảm hứng dồi dào nhất trong suốt sáng tác của Khái Hưng Bằng

hai cuốn tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên và Nửa chừng xuân, Khái Hưng đã trở thành người đầu tiên của Tự lực văn đoàn tấn công vào thành trì của lễ giáo phong kiến Nếu như Hồn bướm mơ tiên mới chỉ là sự hé mở về một cuộc chiến chống lại tư tưởng bảo thủ của chế độ đại gia đình phong kiến thì đến Nửa chừng xuân, ngòi bút của nhà văn đã trực diện tấn công vào những phép tắc

luật lệ hà khắc, nghiệt ngã của xã hội này Qua tác phẩm, Khái Hưng đã khẳngđịnh quyền tự do hôn nhân của con người

các tiểu thuyết Gia đình, Thoát ly, Thừa tự, Khái Hưng tiếp tục đả phá

lễ giáo phong kiến Mỗi tác phẩm khai thác một vấn đề, nhưng đều thể hiện

tinh thần phản phong quyết liệt Trong tiểu thuyết Gia đình, tác giả đi vào mô tả

sự rạn nứt của đại gia đình phong kiến do tác động của xã hội tiến bộ Ở Thoát

ly, nhà văn mô tả rất chân thật và sinh động sự vô nhân đạo của chế độ đa thê, đồng thời lên án cảnh mẹ ghẻ áp bức hành hạ con chồng Đến Thừa tự Khái

Hưng lại vẽ lên bức tranh về một gia đình quyền thế mà toàn những kẻ hám lợi,nên ghen ghét thù oán lẫn nhau Vẫn tiếp nối cảm hứng phê phán chế độ đa thênhưng ở đây Khái Hưng tập trung vào mối quan hệ dì ghẻ con chồng Mối quan

hệ ấy thể hiện qua vấn đề thừa tự Lợi ích của việc thừa tự là căn nguyên gây ranhững bất hòa, thù hận giữa những người ruột thịt

Trong tiểu thuyết luận đề, Khái Hưng không chỉ tấn công vào lễ giáophong kiến, đòi giải phóng con người cá nhân, mà còn gửi gắm vào đó ước mơcải cách xã hội, mong muốn đem đến cuộc sống mới tốt đẹp hơn cho người dânquê nghèo khổ Một số nhân vật địa chủ trong tiểu thuyết luận đề của KháiHưng vừa ý thức rõ về quyền sống cá nhân, có lối sống mới vừa đặc biệt quantâm đến đời sống của người nông dân Họ gần gũi giúp đỡ những người nghèokhổ Mong ước của họ là cải cách xã hội và thay đổi cuộc sống của những

người dân quê Tiểu thuyết Gia đình là tiếng nói ca ngợi những địa chủ tân học

có tấm lòng nhân ái Họ đã đào giếng, mở trường học, mang đến một cuộc sốngvăn minh cho người nông dân nghèo

Trang 30

Khái Hưng tập trung thể hiện xung đột giữa cái mới và cái cũ nên tiểu thuyếtluận đề của ông thường có hai kiểu người Những thanh niên thấm nhuần tư tưởnghiện đại của phương Tây thì coi trọng tự do yêu đương và tự do hôn nhân Trongkhi đó, các bậc phụ huynh đại diện cho tư duy truyền thống lại quan niệm lấy vợ

là phải tìm nơi môn đăng hộ đối Trong tiểu thuyết Nửa chừng xuân, Khái Hưng

đã đả phá mạnh mẽ những tập tục không còn hợp thời, những thứ từng ngày, từng

giờ phong tỏa cuộc sống tự do của con người Qua các tiểu thuyết của mình, KháiHưng tố cáo chế độ đại gia đình phong kiến hàng nghàn năm qua đã đặt quy tắclên trên tự do, đặt luân thường lên trên nhân đạo

Có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về tiểu thuyết luận đề của Khái Hưng.Tuy nhiên đa số các ý kiến đều nghiêng về khen ngợi Giáo sư Hà Minh Đức

nhận xét: “Đến Thừa tự, Gia đình, Thoát ly, Khái Hưng bộc lộ mặt mạnh của

ngòi bút đi sâu vào cảnh ngộ của những gia đình giàu có, phát hiện ra nhữngmâu thuẫn, những rạn nứt khó hàn gắn do tính chất lỗi thời của lễ giáo phongkiến và quyền lực của đồng tiền gây ra”

Tiểu kết chương 1

Có thể nói, tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn nói chung và của Khái

Hưng nói riêng đã tạo nên những giá trị mới cho văn học nước nhà Bởi lẽ cácnhà văn đã tìm được hướng đi, có mục tiêu đấu tranh, lại mở ra những khátvọng và quyền sống cho cá nhân con người Đây chính là những điểm cách tân

và cũng là đóng góp tích cực của Tự lực văn đoàn cho sự đổi mới của văn

chương Việt Nam những năm 30 của thế kỷ XX

Với sự đóng góp về cả số lượng và chất lượng tác phẩm, Khái Hưng giữ

vai trò là nhà văn trụ cột, có khả năng sáng tạo dồi dào nhất trong nhóm Tự lực văn đoàn Ông là nhà tiểu thuyết có tài năng và đã góp phần làm cho thể loại

này trở thành chủ lực của văn đoàn mình Sáng tác của Khái Hưng góp phần

quan trọng để tạo nên sức hấp dẫn cho văn chương của văn đoàn Tự lực.

Trang 31

Chương 2 CÁC LUẬN ĐỀ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA KHÁI HƯNG

2.1 Chống lễ giáo và đại gia đình phong kiến

Chống lễ giáo và đại gia đình phong kiến là sở trường và là địa hạt KháiHưng gặt hái được nhiều thành công hơn cả Bởi lẽ ông có rất nhiều thuận lợi.Thuận lợi thứ nhất là: Khái Hưng đã sống và sáng tác trên tinh thần chống

phong kiến quyết liệt của Tự lực văn đoàn Từ tôn chỉ, mục đích đến các hoạt

động sáng tạo của nhóm đều hướng đến việc “làm cho người ta biết rằng đạoKhổng không hợp thời nữa” Với lập trường duy tân cấp tiến của người trí thức

tư sản Tây học, các nhà văn của văn đoàn Tự lực đã chống phong kiến rất mạnh

mẽ Giáo sư Thanh Lãng từng nhận xét: “Điều tai ác đáng chú ý hơn cả là Tự lực văn đoàn coi việc đả phá, đàn áp, tiêu diệt Nho giáo như là một trong chín

tôn chỉ mà tất cả mọi người trong văn đoàn hầu như phải uống máu ăn thề vớinhau mà triệt để thi hành Có nhiều nhà văn, nhiều tổ chức đôi khi cũng lêntiếng đả kích Nho giáo rất kịch liệt phũ phàng, nhưng chưa có ai coi việc đàn

áp Nho giáo là tôn chỉ cả Tất cả cái khác, cái mới quyết liệt, cái mới phũ phàng

của Tự lực văn đoàn là ở chỗ ấy” [23, tr 29].

Thuận lợi thứ hai là: Nhà văn đã từng sống nhiều trong môi trường trưởnggiả Sinh ra và lớn lên ở một gia đình quan lại phong kiến, sau này bố mẹ, anh

em bên vợ cũng đều là quan lại thời ấy nên ông hiểu rất rõ những xung đột vềtiền tài, về nếp sống, tư tưởng, tâm lý của tầng lớp này Bản thân Khái Hưngtừng chịu cảnh dì ghẻ con chồng với bao nhiêu khổ ải khiến ông vô cùng cămghét Ta hãy nghe Trần Khánh Triệu, con nuôi của Khái Hưng kể lại: “Sinhtrưởng trong một gia đình quan lại nhưng ngay từ tấm bé, theo lời mẹ tôi thuậtlại, ba tôi đã phải chịu đựng cảnh hành hạ của bà dì ghẻ khắc nghiệt” [50, tr.150] Mặt khác nhà văn lại được học hành, tiếp xúc với lối sống phóng túng, tự do,bình đẳng của phương Tây Do đó việc chống lễ giáo và đại gia đình phongkiến đối với Khái Hưng là một lẽ đương nhiên

Thuận lợi thứ ba là: Khái Hưng rất nghiêm túc trong công việc Với ông, viếtvăn là phản ánh những gì trông thấy, nghe thấy, là bộc lộ thành thật những điều

Trang 32

“giấu kĩ ở tận đáy lòng, những nỗi băn khoăn, những sự vui mừng, lo sợ, tức tối,thèm muốn, ghen ghét đang ẩn náu trong khối óc, trong trái tim ta” [15, tr 6 ].

Những điều kiện trên khiến cho cảm hứng chống phong kiến trở thànhnguồn sáng tạo dồi dào và thường trực trong sáng tác của Khái Hưng Làm báo,ông phê phán lễ giáo và đại gia đình phong kiến quyết liệt Viết tiểu thuyết, ông

mở đầu cho những tiểu thuyết phản phong của Tự lực văn đoàn Hồn bướm mơ tiên và Nửa chừng xuân là những tiểu thuyết chống phong kiến đầu tiên của văn đoàn này Nếu Hồn bướm mơ tiên mới chỉ phác họa và hé mở cuộc chiến chống chế độ đại gia đình, thì đến Nửa chừng xuân, ngòi bút của Khái Hưng đã

trực tiếp chĩa mũi tấn công vào lễ giáo và đạo đức phong kiến (hạnh phúc lứa

đôi của Mai và Lộc bị bà mẹ Lộc ngăn trở dẫn đến tan vỡ) Ngoài ra ở Nửa chừng xuân nhà văn còn tái hiện cảnh người dân thôn quê bị cường hào áp bức,

bóc lột

các tiểu thuyết tiếp theo như: Trống mái, Gia đình, Thoát ly, Thừa tự,

Khái Hưng tiếp tục tấn công vào thành trì của lễ giáo phong kiến Mỗi tác phẩmkhai thác một nội dung, nhưng đều thể hiện tinh thần phản phong quyết liệt,

mạnh mẽ Trống mái biểu dương lối sống tự do, hồn nhiên, khỏe khoắn, lành

mạnh, vượt ra khỏi sự gò bó, tẻ nhạt, nhàm chán của môi trường trưởng giả

Gia đình là bản cáo trạng kết tội xã hội phong kiến về nhiều phương diện Đó

là chế độ quan trường, thói háo danh, tục lệ ma chay, khao vọng, giỗ chạp…

Đến Thoát ly, Khái Hưng tiếp tục phê phán chế độ đa thê, quan hệ dì ghẻ con chồng, đề cao hôn nhân tự do một vợ một chồng Tác phẩm Thừa tự lại phản

ánh mâu thuẫn giữa mẹ kế với con chồng xoay quanh vấn đề thừa tự

Có thể nói, chống phong kiến là cảm hứng chủ đạo trên suốt chặng đườngdài của tiểu thuyết Khái Hưng Nhà văn đã trở đi trở lại và thu hoạch đượcnhiều thành công ở chủ đề này Nhiều bức tranh, nhiều hình tượng nghệ thuậtcủa ông có giá trị hiện thực, giá trị phản phong sâu sắc

Tiểu thuyết chống phong kiến của Khái Hưng và của các nhà văn khác

Trang 33

Đối tượng Khái Hưng và những người Tự lực hướng đến là môi trường,

cuộc sống và tâm lí trưởng giả

Trong tác phẩm của mình, Khái Hưng và các nhà văn Tự lực đều lấy gia

đình làm nền tảng cho câu chuyện Cả Khái Hưng và các bạn trong nhóm đềukhông cố ý cho các nhân vật tham gia vào xung đột xã hội Tiểu thuyết của

Khái Hưng và Tự lực văn đoàn đều đi sâu khám phá những mâu thuẫn trong

các gia đình quyền thế Đó là mâu thuẫn giữa cũ và mới, giữa cá nhân với đạigia đình, giữa tập tục cổ truyền và văn minh, Âu hóa Những xung đột về tưtưởng, tình cảm, lối sống, xoay quanh các vấn đề hôn nhân gia đình phong tụctập quán…là đối tượng phản ánh của Khái Hưng và các tác giả trong văn đoàn

Tự lực.

Khái Hưng cũng đi theo lập trường chung của cả nhóm Khi miêu tảnhững mâu thuẫn giữa cũ và mới, giữa cá nhân và đại gia đình ông tỏ thái độdứt khoát theo mới, Âu hóa, trọng tự do cá nhân, làm cho người ta thấy đạoKhổng không hợp thời nữa Trong khi ủng hộ phái mới Khái Hưng và cả nhóm

dứt khoát phê phán phái cũ Bởi thế tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn có hai kiểu

người đối lập Một bên là những con người hủ lậu, tham lam, hám tiền tài, háodanh vọng, keo kiệt, giả dối, đố kị…Một bên là những người trẻ trung, vui tươi,nhân hậu, tế nhị…

Các điểm tương đồng nêu trên được thể hiện trong các tác phẩm Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Trống mái, Gia đình, Thoát ly, Thừa tự Trong Hồn bướm mơ tiên, nhân vật Thi (tức Lan) đã trốn chạy khỏi đại gia đình để

không bị ép gả chồng Đó cũng là một biểu hiện của tinh thần chống lễ giáophong kiến Ở chốn từ bi, Lan vẫn không vượt qua được sức hấp dẫn của tìnhyêu nam nữ Cô chăm chú nghe sư cụ kể về người cháu trai học trường Canhnông Đến khi gặp Ngọc, cô làm quen rồi vui vẻ chỉ đường, tiếp đón, phục vụchu đáo Trong tâm trí Lan ngày đêm luôn có hình bóng Ngọc Lan đã yêu mêman, đã bị hút hồn vì Ngọc Ngược lại chàng sinh viên Ngọc danh nghĩa đếnthăm bác và vãn cảnh chùa nhưng cũng cố tìm hiểu Lan rồi yêu cô say đắm.Nói về tình yêu tự do trong sáng của Lan và Ngọc cũng là một sự gián tiếp phêphán lễ giáo và đại gia đình phong kiến

Trang 34

Nửa chừng xuân được coi là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Tự lực văn đoàn

trực tiếp tấn công vào lễ giáo phong kiến Ở trong tác phẩm này, xung đột giữamới và cũ xoay quanh vấn đề hôn nhân diễn ra quyết liệt Đại diện cho phái mới làMai, Lộc, Huy, Minh, Bạch Hải Bởi thấm nhuần những tư tưởng và nếp sốngphương Tây nên họ coi trọng tự do yêu đương và hôn nhân Họ cho rằng hôn nhânphải dựa trên tình yêu, sự cảm thông, quý trọng lẫn nhau Đại diện cho phái cũ là

bà Án (mẹ Lộc) lại quan niệm lấy vợ gả chồng là phải chọn nơi môn đăng hộ đối.Nhà quan mà thông gia với bọn cùng đinh là mất thể diện, mất danh giá tổ tiên, làbất hiếu với ông bà cha mẹ Với bà, vợ mà cha mẹ lấy cho, có cheo, có hỏi, cócưới mới quý chứ đồ liễu ngõ hoa tuồng thì chỉ tổ làm bẩn nhà Bà nghĩ rằng

“ngoài vòng lễ nghi, vượt hẳn quyền thúc bá thì dẫu sao người con gái cũng khôngthể gọi là một người con gái có đức hạnh được” [48, tr 148] Vì thế, trong mắt bà,Mai chỉ là một con bé khốn nạn vô giáo dục, một kẻ hạ lưu không xứng đáng làm

vợ quan tham tả Bà không coi Mai là một người tử tế mà chỉ như một cô gáigiang hồ, dơ bẩn, dùng lời ngon ngọt dụ dỗ con bà Bà tin “con có cha như nhà cónóc” còn Mai “là gái mà lại mồ côi cha mẹ thì tránh làm sao khỏi sự lầm lỡ” [47,

tr 148] Vì thế bà không chấp nhận một người con dâu như vậy Hai phái cũ vàmới không thể dung hòa, không thể hiểu nổi nhau Có lần Huy (em Mai) đã nóihẳn với bà Án: “Cụ tức là biểu hiện, tức là một người đại diện cho nền luân lí cũ

Mà tâm trí chúng cháu đã trót nhiễm những tư tưởng mới Hiểu nhau khó lắm,thưa cụ Cụ với bọn hậu sinh chúng cháu như hai con sông cùng một nguồn, cùngchảy ra bể, nhưng mỗi đằng chảy theo một phía dốc bên sườn núi, gặp nhau saođược” [47, tr 216] Cùng mang tư tưởng mới như Huy, Lộc từng nói với mẹ: “lấy

vợ là một sự quan trọng một đời, phải tự chọn lấy một người ý hợp tâm đầu thì giađình mới được vui vẻ thuận hòa…Chứ xưa nay cha mẹ hỏi vợ cho con chỉ kénnhững chỗ môn đăng hộ đối, như thế gia đình có sự êm thấm là nhờ ở sự bắt buộc

mà có, chi nhờ có lễ nghi mà có, chứ không phải vì tính tình của vợ chồng hợpnhau Theo lễ nghi, vợ phải phục tùng chồng, chồng bảo sao nghe vậy Dẫu bị ápchế cũng không dám hé môi Như thế thì làm gì mà chả êm thấm” [47, tr 136]

Trang 35

nhất quyết xin bà Án cho mình lấy Mai vì theo anh Mai là người toàn diện cảdung nhan lẫn đức hạnh.

Bà Án là người mang rất nhiều những lễ nghi đạo đức Đó là con người

mà ý thức Nho giáo đã “ăn sâu vào tâm não, hòa vào mạch máu, đã thành mộtcái di sản thiêng liêng về tinh thần bất vong bất diệt” [47, tr 133] Bề ngoài bà

cứ ca tụng những lễ nghi cổ truyền như ngũ luân, ngũ thường, tam tòng tứ đức,chữ nhân chữ tín Song bên trong không còn lòng nhân ái, và sự tôn trọng nhâncách của những người không cùng tầng lớp với mình Hai lần Mai và bà Ángặp nhau là hai cuộc đối đầu quyết liệt Cả hai lần đó Mai đều làm cho bà Án

bẽ mặt, đuối lí Khái Hưng khiến cho người đọc rất bất bình với bà Án Mặc dù

bà rất thương con và cũng có khi ân hận về hành vi tàn nhẫn của mình, nhưngnhững thủ đoạn bà dùng để chia rẽ Lộc với Mai cùng ý định dùng hôn nhân làmbậc thang danh vọng cho con, đặc biệt là thái độ lạnh lùng đến tàn nhẫn khiếnMai phải bỏ nhà ra đi giữa lúc bụng mang dạ chửa, thì không chỉ khiến độc giảcăm thù một bà Án cụ thể mà còn căm phẫn cả nền luân lí, lễ giáo phong kiến.Ngược lại, Mai đã chiếm được cảm tình của người đọc Người ta cảm thông,yêu mến Mai bởi cô yêu đương tự do mà không rơi vào lố lăng phóng đãng,gặp cảnh éo le mà có nhiều nghị lực, biết tự trọng, biết hy sinh, biết chung thủy.Người ta cũng trân trọng, đề cao Mai bởi trong bất cứ hoàn cảnh nào cô cũngkhông chấp nhận cảnh lẽ mọn Cha mẹ không còn, không nơi nương tựa, mộtmình nuôi em ăn học, khó khăn túng quẫn Mai định bán nhà để ra Hà Nội tìm

kế sinh nhai Tuy bị Hàn Thanh giàu có dồn ép, dọa nạt, dỗ ngon dỗ ngọt lấy lẽhắn nhưng cô kiên quyết chối từ Lúc ở vào tình thế khó khăn, để cứu mình,cứu con, bảo vệ hạnh phúc, Mai phải cúi đầu xin kẻ quyền thế Nhưng khi bà

Án tỏ ý cho phép Lộc lấy cô làm vợ lẽ thì “Mai đã căm tức, cười mũi: bẩm bàlớn, nhà con không có mả đi lấy lẽ” [47, tr 151] Về sau, Lộc lấy con quan tuầnnhưng không có con, bà Án lên Phú Thọ để bắt đứa cháu trai và bày tỏ ý địnhrước Mai về làm vợ hai con bà, một lần nữa Mai kiên quyết không chấp nhận.Mai khẳng định dứt khoát rằng thà làm “chị xa, chị bếp chị bồi mà được một vợmột chồng, yêu mến nhau…khi vui có nhau khi buồn có nhau” [47, tr 214] còn

Trang 36

hơn làm cô huyện hai Cô không muốn làm lẽ để hoặc là bị áp chế hoặc trởthành kẻ áp chế người khác Mặc dù Lộc đã tìm gặp lại, nhận lỗi và cầu xin Maisum họp nhưng cô vẫn từ chối để giữ mãi mối tình trong sáng cao đẹp Đến lúcnày, Mai không muốn chia sẻ tình yêu với ai và cũng không muốn ai vì mình

mà đau khổ Mai không chỉ mang tình yêu tự do mà còn là người kiên quyếtkhông chấp nhận cảnh chung chồng Như vậy có thể nói, qua nhân vật Mai,Khái Hưng đã tỏ thái độ quyết liệt chống lại chế độ đa thê Mai là một “chiến

sĩ” đầu tiên của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn trực tiếp chống lại lễ giáo phong

kiến

Việc phê phán chế độ đa thê còn thể hiện ở các cuốn tiểu thuyết Gia đình, Thoát ly, Thừa tự Tuy nhiên, mỗi tác phẩm lại nhấn mạnh một khía cạnh riêng.

tiểu thuyết Gia đình tác giả đã vẽ lên một bức tranh phong tục và tâm lí

của gia đình quyền thế Song tác phẩm lại đi sâu miêu tả những rạn nứt tìnhcảm do những nguyên nhân bên trong và bên ngoài Là một đại khoa mangnặng tư tưởng học để ra làm quan nên ông án Nguyễn ảnh hưởng đến con cáitham vọng vinh hoa Nhưng thời thế đã khác, chức tri huyện, tri phủ không cònđược coi trọng như trước nữa Chức quan của Viết có những lúc làm cho Ngatức tối, khổ sở, Phụng tự mãn, khinh thường người khác, ông bà Án đối xử vớicon không công bằng Song cũng có những lúc nó làm cho Phụng phải buồnphiền, đau khổ Vốn không phải người tốt, lại có chức quyền, sống trong môitrường đầy những cám dỗ, Viết nhanh chóng trở thành kẻ tham nhũng, sa đọa,bất nhân, tàn ác Tác giả kể rằng: “Tàn ác lâu ngày đã trở thành thói quen Buổiđầu khi nghe bọn thơ lại xúi giục chàng làm việc bất nhân thì chàng áy náy, đắn

đo, rụt rè, có lần hối hận suốt đêm không ngủ được Nhưng dần chàng đã trởnên can đảm và giữ được trơ như đá, vững như đồng khi đứng trước nhữnghành vi thương tâm, khi có những hành vi dã man, tàn ngược” [47, tr 540]

Trong tiểu thuyết Gia đình có lẽ An là người khổ nhất về đường quan lộ.

Từng đậu tú tài Tây nhưng anh không học lên để ra làm quan mà lại chủ trươngquy điền, vui thú với thiên nhiên đồng quê, sống cuộc đời tự do phóng khoáng.Tuy vậy gia đình anh lại vốn có truyền thống khoa bảng, cả họ chờ đợi vào

Trang 37

chức quan của An để giành vị trí tiên chỉ và có thế lực trong làng Gia đình,dòng họ ép buộc anh từ bỏ ý nguyện Định kiến chung của xã hội và gia đình

cứ bao vây anh, khiến cho anh rơi vào bi kịch “Tấn bi kịch gia đình cách vàingày lại diễn ra một lần, mà tình ái giữa hai vợ chồng ngày một thêm phai nhạt[47, tr 506] “Cái cảm giác sung sướng không trở lại nữa (…) sự trống rỗngcàng tăng Nó như vết ung thư, mỗi ngày một loét rộng thêm thậm chí chàngcòn nghĩ đời chàng như một quả héo, chỉ còn đợi rụng” [47, tr 498] Sự xungđột về quan điểm sống giữa An và Nga diễn ra suốt từ đầu tác phẩm Bởi cókhát vọng được làm bà lớn cho bằng chị bằng em nên Nga ra sức thúc ép chồngphải học lên để làm quan Để đạt mục đích của mình, có lúc Nga dùng lời ngonngọt dỗ dành, có khi khích bác, lôi kéo họ hàng vào việc thúc ép chồng Thậmchí có thời điểm cô nặng nề quá đáng, mất hết vẻ dịu dàng khiến An đau khổđến mức muốn tự tử Cuối cùng chàng đành chiều theo ý vợ cho êm ấm cửanhà An lên Hà Nội học tiếp rồi ra làm quan, sống cuộc đời giả dối, xấu xa,buồn chán Cuốn tiểu thuyết như một bản cáo trạng dữ dội phanh phui tất cả bềtrong nhơ nhớp của cái nghề danh giá ấy dưới thời Pháp thuộc

Nhà văn cũng miêu tả tỉ mỉ, sinh động những bức tranh ma chay, giỗ chạp,khao vọng, cưới hỏi để làm tăng sức phê phán lễ giáo và đại gia đình phong kiến.Khái Hưng chỉ rõ quan điểm khác biệt của hai phái cũ, mới trước những tập tục, lễnghi cổ truyền Khi mẹ mất, “An thương xót đau đớn, tưởng như một phần thânthể, một phần linh hồn lìa bỏ chàng để rời sang một thế giới khác Chàng ôm lấythây mẹ gào khóc thảm thiết Chàng không hề tưởng rằng tình mẫu tử lại có thể bịcắt đứt một cách mau chóng và đột ngột như thế” [47, tr 500] Ngược lại, chachàng vẫn “bình tĩnh, lạnh lùng, thản nhiên bàn đến các công việc mời làng, mờixóm, cười đùa, nói chuyện với bác, chú và gào thét, quát mắng đày tớ ầm ỹ” [47,

tr 500] Đến lúc cha qua đời, bề ngoài An không tỏ ra đau buồn như ngày mất mẹ

“nhưng vết thương lòng chàng cảm thấy sâu hơn Vì chàng hiểu rằng mất mẹ,người con chỉ thiếu thốn tình yêu mến, nhưng mất cha thì ngoài sự trông cậynương nhờ ra, chàng như mất một sự thiêng liêng huyền bí mà chàng không biếtđích là sự gì” [47, tr 500] Trong khi đó chú

Trang 38

chàng lại cho tiến hành đủ thứ lễ nghi “Chú làm trăm thứ lố lăng, nào mời thầybùa, thầy bèn, nào đặt nhà táng minh tinh, thuyết bát nhã, nào bắt rước nghênhngang ngoài đường những con lợn quay, những con gà luộc, lại thêm một sự lốlăng vào bậc nhất trong sự lố lăng: thuê hai thằng đeo mặt nạ đi theo múa hátpha trò để người xem cười phá lên từng cơn” [47, tr 501].

Tiểu thuyết Thoát ly phản ánh sự áp bức đến ghê sợ của mẹ kế đối với con

chồng Tài năng, vốn sống, sự căm giận của Khái Hưng tập trung cả ở tác phẩmnày Bằng trải nghiệm của bản thân với cuộc sống dì ghẻ con chồng, nhà văn đã

mô tả rất chân thật chế độ đa thê vô nhân đạo Truyện dì ghẻ đối xử tệ với conchồng là câu chuyện muôn thuở Ca dao có câu “Mấy đời bánh đúc có xương/Mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng” Song đến thời điểm này Khái Hưng mớichỉ ra nhiều thảm kịch bi đát Những con người trẻ tuổi với đầy khát khao tự docảm thấy gia đình dưới quyền dì ghẻ chẳng khác gì chốn ngục tù Nhân vậtLương đã đứng ra thành lập một hội với cái tên hài hước, “Hội bị tai nạn dì ghẻđộc ác và mất dạy” Anh phải bỏ trường Luật, đi dạy học tư lấy tiền nuôi em vìkhông chịu được cảnh dì ghẻ con chồng Bởi dì ghẻ mà gia đình Yến cũng tannát, cô bỏ nhà đi và dấn thân vào nghề gái nhảy Từ sáu tuổi Hồng đã mồ côi

mẹ, cô sống trong sự ghẻ lạnh của cha và sự cay nghiệt của mẹ kế Hai vaichính của tấn thảm kịch, một người dì ghẻ độc ác, một người cha lãnh đạmhoặc có lúc a dua, nhu nhược đã đánh đập nàng, lại thêm những đứa em ngangnghạnh, tai ngược, “những quân do thám” khiến Hồng như tù nhân trong địangục Khi Hồng học năm thứ hai trường Nữ Sư phạm thì dì ghẻ bảo cha bắt cô

về để “dạy làm ăn” Thực chất ý đồ của bà là để cho Hồng không thoát ly đượcnữa mà chỉ như đầy tớ, con ở cho bà sai khiến Bà còn bắt Hồng nhuộm răngđen vì theo bà để răng trắng như vợ Tây là làm đĩ, nhục gia phong Trong cáigia đình ấy Hồng bị coi như kẻ thù Cô bị tước đoạt mọi thứ nhân quyền, kể cảquyền tự do hôn nhân Người dì ghẻ tìm đủ mọi cách để phá đám hết chuyệndạm hỏi này đến chuyện dạm hỏi khác Bà từ chối gả Hồng cho một người vừađậu tú tài, không cho Hồng lấy một ông Tham góa vợ, gài bẫy để Hồng mangtiếng lẳng lơ Mục đích của bà là để gán Hồng cho cháu mình, một anh chàng

Trang 39

lêu lổng học ba năm ở lớp nhất mà chưa đậu nổi cái bằng cơ thủy Cuộc đời củaHồng như một tấm vải thưa, dệt toàn bằng những ngày sầu thảm Đã có lúc quáuất ức nàng vừa khóc vừa nói những lời chua chát: “Làm quả phụ hay làm gì thìlàm, làm cả gái giang hồ cũng được nhưng đừng ở trong một gia đình có mộtngười dì ghẻ như dì ghẻ của tôi” [47, tr 709] Hoặc “Thà vào ngồi tù, thà dấn tânvào nơi hồng lâu, thanh lâu còn hơn quay về cái gia đình ấy!” [29, tr 317 ].

Ở tác phẩm này, hình ảnh người mẹ kế hiện lên không chỉ với lương tâm xấu xa

mà còn với hình hài quái dị Bà có “cái trán bóp lại dưới làn tóc vấn trần mỏngmanh vì không độn, đôi mắt lim dim không nhìn như còn ngái ngủ, cặp môimỏng dính như căng thẳng ra do một cái răng cài phía trong mồm” [47, tr 734]

Đọc Thoát ly ta thấy sự phê phán quyết liệt của nhà văn đối với mối quan hệ dì ghẻ con chồng.

Cũng phê phán chế độ đa thê, nhưng ở Thừa tự Khái Hưng lại tập trung

vào mối quan hệ mẹ ghẻ con chồng xoay quanh việc ăn thừa tự Vì quyền lợi

mà bà Ba cùng với đám con chồng chống đối nhau kịch liệt Vì đồng tiền mànhững con người này luôn đối xử với nhau bằng những mưu mô, thủ đoạn Ởđây không có chỗ cho tình cảm gia đình, tình anh em ruột thịt Một miếng lợinhỏ bà Ba nhả ra để lập thừa tự cũng đủ để làm cho hai người con chồng nghi

kị, xô xát nhau Như vậy, với một đề tài quen thuộc, nhà văn một lần nữa khoétsâu vào chỗ mục ruỗng của chế độ đại gia đình Khái Hưng phơi bày cho độcgiả thấy bộ mặt thật của con người trong những gia đình quyền quý, nhữngmánh khóe, toan tính rất vụn vặt nhưng cũng rất con người

Tuy nhiên, tiếng nói chống lễ giáo và đại gia đình phong kiến của KháiHưng có những điểm riêng rõ nét Dương Quảng Hàm đã viết trong Việt Namvăn học sử yếu: “Các tác phẩm của ông (tức Khái Hưng) tuy vẫn có khuynhhướng xã hội, nhưng lại thiên về mặt lí tưởng và có thi vị riêng” [12, tr 446].Tiểu thuyết của Khái Hưng phản ánh chân thực đời sống bằng thái độ khoanhòa Nhà văn lặng lẽ quan sát, thu thập những cảnh, những người để rồi dựnglên bức tranh sinh động về cuộc sống muôn màu muôn vẻ Ở tác phẩm củaKhái Hưng, những xung đột mới - cũ chứa nhiều chất liệu của đời sống, nhiều

Trang 40

rung động nghệ thuật chứ không công thức, sơ lược Trong khi đó Nhất Linhthường lấy những quan niệm chính trị làm luận đề cho tiểu thuyết Tính luận đề

và chất trí tuệ thể hiện rõ ở tiểu thuyết của ông Nhất Linh coi trọng tính luận

đề hơn tính nghệ thuật Bởi thế ông thường quan tâm, ghi nhận những chi tiết

có lợi cho luận đề

Các nhân vật chính trong Nửa chừng xuân của Khái Hưng và Đoạn tuyệt

của Nhất Linh đã thể hiện những nét tương đồng và khác biệt giữa hai nhà văn

này Trong Đoạn tuyệt của Nhất Linh, nhân vật Loan là một cô gái có học chữ

Tây, sống theo lối mới Cô rất quyết liệt trong việc chống lễ giáo và đại giađình phong kiến Ngay ở những trang đầu của tác phẩm, trước thông tin về cáichết của cô Minh Nguyệt, Loan đã nói thẳng:

“Khốn nạn, việc quái gì mà phải tự tử Mẹ chồng ác thì về nhà bố mẹ mà

ở, tội gì rước khổ vào thân rồi đến nỗi tự tử (…) Việc gì mà phải hết hi vọng

Mẹ chồng ác thì đi chỗ khác mà ở, chồng ghét thì lại càng nên đi lắm” [52,tr.150] Đối với hạnh phúc trăm năm của mình, Loan có suy nghĩ rất hiện đại

Cô đã xin mẹ cho mình tự quyết định việc hôn nhân Cô đứng ngang hàng vớichồng trong ngày cưới để làm lễ gia tiên Bị mẹ chồng đối xử cay nghiệt, Loannói: “bà cũng là người tôi cũng là người không ai hơn kém ai” [46, tr 20] Vì

thế, cuối cùng Loan được giải phóng Mai trong Nửa chừng xuân thì khác Bởi

là con nhà Nho và bản thân cũng học chữ Nho cho nên Mai chống lễ giáophong kiến bằng thái độ khoan hòa Cô chịu đựng đau khổ, không chấp nhận

cảnh lẽ mọn nhưng vẫn giữ trọn mối tình chung thủy Trong Đoạn tuyệt, bà phán Lợi là một mẹ chồng độc ác và hoàn toàn cổ hủ Nhưng trong Nửa chừng xuân “tác giả chỉ muốn xây dựng một mệnh phụ có đầu óc đầy quan niệm cũ,

chỉ vì con mà phải già tay ràng buộc Khái Hưng không mài bút cho sắc để lên

án bà Án Bởi thế trong tác phẩm của ông bà Án bệ vệ, nói năng đanh thép,luôn chăm lo đến tương lai của con giai Bà lại còn biết ăn năn, hối hận, đấu dịuvới Mai ở cuối truyện” [47, tr 245]

Miêu tả những tình cảm yêu đương, những suy nghĩ của giới trẻ, ngòi bút

Ngày đăng: 27/11/2020, 11:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w