Đó là nhữngmảnh đời, những cuộc sống cụ thể mà các chị gặp trong những chuyến đi, trong cuộcsống mưu sinh hàng ngày: Người đọc có thể gặp một cụ già bán thuốc, một người đạpxích lô ế khá
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THIÊN SINH
ĐẶC ĐIỂM THƠ HOÀNG VIỆT HẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THIÊN SINH
ĐẶC ĐIỂM THƠ HOÀNG VIỆT HẰNG
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN BÍCH THU
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướngdẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Bích Thu Các nội dung nghiên cứu, kết quả trongluận văn này là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thiên Sinh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp cuối khóa, em đãnhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo khoa Ngữ văn,khoa Sau Đại học, Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Đặc biệt,với tất cả tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn PGS TSNguyễn Bích Thu - Người đã hết lòng tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trìnhhọc tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Em cũng xin gửi lời biết ơn sâu sắcđến nhà thơ Hoàng Việt Hằng - người đã cung cấp thông tin về các sáng tác và nhiệttình giúp đỡ em trong quá trình tìm hiểu đề tài
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới những người thân yêu đã luôn bên em, độngviên, khích lệ em trong những ngày học tập ở trường
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 6 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thiên Sinh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Cấu trúc luận văn 7
Chương 1 SÁNG TÁC CỦA HOÀNG VIỆT HẰNG TRONG DÒNG CHẢY CỦA THƠ NỮ THỜI KỲ ĐỔI MỚI 8
1.1 Khái lược về thơ nữ Việt Nam đương đại 8
1.2 Hành trình sáng tác của Hoàng Việt Hằng 11
1.2.1 Vài nét về tác giả 11
1.2.2 Thơ Hoàng Việt Hằng 14
Tiểu kết Chương 1 21
Chương 2 CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ HOÀNG VIỆT HẰNG 22
2.1 Cảm hứng chủ đạo trong thơ Hoàng Việt Hằng 22
2.1.1 Giới thuyết khái niệm cảm hứng chủ đạo 22
2.1.2 Cảm hứng về những chuyến đi 23
2.1.3 Cảm hứng trở về với chính mình 31
2.2 Cái tôi trữ tình trong thơ Hoàng Việt Hằng 38
2.2.1 Giới thuyết khái niệm về cái tôi trữ tình 38
2.2.2 Cái tôi thân phận 40
2.2.3 Cái tôi chia sẻ, đồng cảm với đồng loại 44
2.2.4 Cái tôi hoà nhập với thiên nhiên 48
Tiểu kết chương 2 52
Trang 6Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN TRONG THƠ HOÀNG VIỆT HẰNG 53
3.1 Cấu tứ trữ tình 53
3.1.1 Giới thuyết về khái niệm cấu tứ 53
3.1.2 Cấu tứ tương phản trong thơ Hoàng Việt Hằng 54
3.1.3 Cấu tứ để lửng trong thơ Hoàng Việt Hằng 58
3.2 Thể thơ 62
3.2.1 Giới thuyết khái niệm về thể thơ 62
3.2.2 Thể thơ lục bát 63
3.2.3 Thể thơ tự do 66
3.3.4 Thể thơ 5 chữ 71
3.3 Giọng điệu trữ tình 73
3.3.1 Giới thuyết khái niệm về giọng điệu 73
3.3.2 Giọng điệu suy tư, trăn trở, nhiều dự cảm 74
3.3.3 Giọng điệu giàu thương cảm, đậm chất nữ tính 78
Tiểu kết Chương 3 82
PHẦN KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử thơ ca Việt Nam, có lẽ chưa bao giờ phụ nữ lại làm thơ nhiều vàsôi động như những năm từ sau đổi mới đến nay Tiếp nối thế hệ thơ trưởng thànhtrong giai đoạn chống Mỹ như Phan Thị Thanh Nhàn, Xuân Quỳnh, Ý Nhi, ThuýBắc, Lê Thị Mây, Lâm Thị Mỹ Dạ là một đội ngũ sung sức: Lê Thị Kim, Đoàn ThịLam Luyến, Nguyễn Thị Hồng, Đỗ Bạch Mai, Phi Tuyết Ba, Bùi Kim Anh, NguyễnThị Thuý Quỳnh, Đoàn Ngọc Thu, Hoàng Việt Hằng, Tuyết Nga,… Trong số đó,Hoàng Việt Hằng là một trong những cây bút nữ liên tục ra sách, ngày càng trở nênquen thuộc với độc giả và công chúng
Hoàng Việt Hằng có mặt trong làng thơ Việt từ những năm chín mươi của thế kỉ
trước với hai tập thơ: Những dấu lặng (1990), Tự tay nhóm lửa (1996) Nhưng phải
đến đầu thế kỷ XXI này, tên tuổi của Hoàng Việt Hằng mới thực sự được đông đảobạn đọc biết đến Được vinh danh bởi hàng loạt giải thưởng như: giải thưởng của
Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam cho tập thơ Tự tay nhóm lửa (2005); giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội cho tập thơ Vệt trăng và cánh cửa (2008) Giải
thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và Tổng liên đoàn lao động Việt Nam tổ chức năm
2010- 2014 cho tập thơ Xóa đi và không xóa; giải thưởng của Hội Văn học nghệ thuật thủ đô năm 2016 cho tập thơ Trăng vàng ngồi vớt trăng vàng, là sự ghi nhận những
giá trị cũng như những đóng góp của nhà thơ với đời sống văn học Việt Nam Ngoài
ra, nhà thơ còn vinh dự được nhận nhiều giải thưởng báo chí, và các giải thưởng khácnhư: Giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội năm 1980-1981 cho tập truyện ngắn
Những lời chưa nói hết; tặng thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2010 cho tiểu
thuyết Một bàn tay thì đầy.
Coi nghề văn là lẽ sống, đến nay Hoàng Việt Hằng đã là tác giả của 7 tập thơ và 11tập văn xuôi Có thể nói, với số lượng tác phẩm đáng kể, cùng những giải thưởng vănhọc được nhận, Hoàng Việt Hằng là một cây bút khá tiêu biểu trong dòng văn học nữViệt Nam đương đại, đã dành trọn cuộc đời cho văn chương, coi nghề viết là hơi thở củađời mình Chúng tôi thiết nghĩ sẽ thật thiếu sót nếu không có những công trình tìm hiểu
và nghiên cứu về sáng tác của Hoàng Việt Hằng nói chung và thơ nói riêng một cách hệ
Trang 8thống và đầy đủ Vì vậy, chúng tôi đã chọn thơ Hoàng Việt Hằng làm đối tượng
nghiên cứu, với đề tài Đặc điểm thơ Hoàng Việt Hằng.
2 Lịch sử vấn đề
Hoàng Việt Hằng là một trong số những người viết khi có tác phẩm mới ra đờiđều được bạn đọc và giới phê bình đón nhận Đọc thơ Hoàng Việt Hằng, độc giả cảm
nhận được tấm lòng đôn hậu, giàu tình yêu thương con người Chị bộc bạch: Tôi chỉ
nhìn thấy những góc khuất, giống như nhìn một nửa chiếc lá nghiêng xuống đất, tối hơn… Tôi hay chớp được những nỗi bất hạnh trùng xuống của đàn bà, đàn bà dễ hiểu nhau hơn Tôi chọn một góc khuất của chiếc lá ấy để viết Những thua thiệt, những mưu cầu hạnh phúc giản đơn mà không được giản đơn, và tôi nghĩ văn chương phải nói ra điều gì đó giúp họ (Phỏng vấn Hoàng Việt Hoàng - Duy Văn) Và
không phải ngẫu nhiên, Lê Thiếu Nhơn cảm nhận: Hoàng Việt Hằng đã nếm trải
nhiều lao đao để những sóng gió bất trắc lặn vào trang giấy trắng thành những câu thơ vỗ về kiếp người nổi nênh [50].
Nhà thơ là một cây bút có sức sáng tạo mạnh mẽ, có thể viết cả thơ và văn xuôi(truyện ngắn và tản văn) Ở lĩnh vực nào, tác giả cũng gặt hái được thành công nhấtđịnh Để có những rung động sâu xa với những kiếp người nghèo khổ, nhà thơthường tự mình lãng du trên khắp các nẻo đường đất Việt và có khi sang cả các nướcbạn Chị bộc bạch:
Đi Ngộ ra nỗi đau riêng rất nhỏ Trên ngàn ngày cây số phía sau lưng
(Bấm chín đốt ngón tay)
Đọc tập thơ Xóa đi và không xóa, nhà nghiên cứu Mã Giang Lân nhận xét: …
các bài thơ như nói với mình, về mình nhưng lại là những lời nhắc nhở, khơi gợi lương tâm đồng loại Chất sống, tư tưởng của thơ là ở đấy [37] Nhà thơ làm thơ mà
người đọc thấy như chị đang thủ thỉ, đang tâm sự với mình trên những chuyến du ký
Cũng trong tập thơ này, tác giả Việt Quỳnh nhận thấy: Lời thơ Hoàng Việt Hằng đơn
giản như thủ thỉ, thấy gì, cảm gì thì ghi chép lại Câu thơ không phức tạp chữ nghĩa, không hoa lệ ngôn từ, cứ như một khoảnh tự mình trò chuyện với mình, dọc đường những lúc nghỉ chân đỡ phần mỏi mệt [52] Giữa bao bộn bề bon chen của cuộc sống
Trang 9hiện đại, giữa ồn ào náo nhiệt của Hà Nội phồn hoa, nhà thơ vẫn lặng lẽ sống, lặng lẽviết và lặng lẽ đi, như con ong cần mẫn dâng những giọt mật quý cho đời, để rồi lặng
lẽ tỏa hương
Qua khảo sát một số bài viết và công trình nghiên cứu về thơ văn của tác giả,chúng tôi nhận thấy có nhiều bài viết có nội dung liên quan đến đề tài Đa số các bàiviết đều có cùng nhận định thơ Hoàng Việt Hằng là tiếng nói chân thành tha thiết củatrái tim phụ nữ giàu yêu thương đa cảm, những trăn trở suy tư về mình và chiêm
nghiệm về cuộc sống Thơ Hoàng Việt Hằng không thuộc diện tài hoa nhưng nhiều
câu lấp lánh nước mắt khiến người đọc nao dạ [50] Nhiều bài thơ của chị như những
tiếng thở dài lặng lẽ sau bao tháng ngày mưu sinh bằng những trang báo Thật maymắn là nhà thơ vẫn vượt qua những thử thách của số phận để tiếp tục đi và viết Sau
bốn tập thơ Những dấu lặng, Tự tay nhóm lửa, Chuông vọng và Một mình khâu
những lặng im, Hoàng Việt Hằng tiếp tục cho xuất bản tập Vệt trăng và cánh cửa- tập
thơ đã đem lại cho chị giải thưởng hàng năm của hội nhà văn Hà Nội Về tập thơ này,
nhà nghiên cứu Mã Giang Lân nhận xét: tập thơ Vệt trăng và cánh cửa (2008) có
nhiều bài thơ hay xúc động, ám ảnh ngay từ tên bài thơ: Đèn lẻ bóng, những dấu lặng, Một mình khâu những lặng im, Ẩn ức… Có nhiều câu thật thương, thật xót xa: Lấy chồng lấy cả nỗi đau của chồng… Nỗi đau thân phận, niềm cảm thông với những kiếp người thua thiệt, nghị lực sống làm nên phẩm chất của tập thơ [37].
Là người theo sát thơ Hoàng Việt Hằng, nhà nghiên cứu Mã Giang Lân cảm
nhận: Hoàng Việt Hằng chú trọng đưa chất sống vào thơ, hút nhụy sống từ nhiều
miền quê đất nước và vươn ra bên ngoài biên giới hy vọng đem lại màu mỡ cho thơ
[37].Nhà thơ thích đi du lịch một mình để ngắm nhìn khung cảnh thiên nhiên, để hòamình vào cuộc sống của những vùng đất khác nhau và quan trọng là để cảm và hiểucuộc sống còn nhiều lam lũ của những số phận nghèo khổ, để được thấy mình vẫncòn may mắn, từ đó cảm xúc viết được thăng hoa Gắn bó với nghiệp cầm bút, say mêvới nghệ thuật, đau đáu trước những số phận con người, những chiêm nghiệm củaHoàng Việt Hằng đã đạt đến độ triết lý, khiến người đọc phải trăn trở Nhân đọc tập
thơ Xóa đi và không xóa tác giả Lệ Thu chia sẻ: Xóa đi và không xóa có nhiều bài thơ
khiến tôi phải suy ngẫm, Bài thơ (Hạn sống - NTTS) như thể rời rạc, như không đầu
Trang 10không cuối, nhưng lay động lòng người về thế thái nhân tình, về tính nhân văn, về những điều mà phụ nữ ngày nay phải đối mặt: Rớt bão ở ngoài khơi/ rớt bão xuống đời người/ rớt bão… Và, gần như tâm thế của nhà thơ chủ ý hướng nội, đều phảng phất trắc ẩn với nhân gian Điều mà Hoàng Việt Hằng không muốn xóa (Lệ Thu-Đọc xóa đi và không xóa của Hoàng Việt Hằng, NXB Phụ nữ - 2012).
Tác giả Lê Thiếu Nhơn trong bài viết Hoàng Việt Hằng - tựa vào bút nghiên run
rẩy viết cũng ghi nhận: Nếu xét riêng dòng lục bát của Hoàng Việt Hằng thì nhà thơ phơi bày những vần điệu được khơi nguồn từ mạch ngôn từ tha thứ và cam chịu, sinh
ra và lớn lên ở Hà Nội, chất nền nã Thăng Long của Hoàng Việt Hằng ký gửi ít nhiều qua những dòng lục bát [50].
Trên đây là những bài viết, những ý kiến của các nhà phê bình cũng như các tácgiả về thơ của Hoàng Việt Hằng Các ý kiến đã trích dẫn mặc dù chưa đi sâu tìm hiểu,phân tích đánh giá một cách hệ thống, toàn diện về thơ Hoàng Việt Hằng nhưng đã
phần nào phác thảo được chân dung một người đàn bà làm thơ với những nét cảm
riêng của từng tác giả
Về luận văn, chúng tôi có dịp khảo sát hai luận văn đã chọn thơ văn Hoàng ViệtHằng là đối tượng nghiên cứu, mỗi luận văn tiếp cận vấn đề ở những góc độ khác
nhau Luận văn Đặc điểm văn xuôi Hoàng Việt Hằng của Hoàng Thị Lan Anh bảo vệ năm 2016, đi sâu tìm hiểu Những khám phá về đời sống - văn hóa trong văn xuôi
Hoàng Việt Hằng và Một vài phương thức thể hiện trong văn xuôi Hoàng Việt Hằng.
Từ đó, đưa đến những cái nhìn tương đối toàn diện về văn xuôi của tác giả về cả nội
dung và nghệ thuật: Hoàng Việt Hằng đã thể hiện cái tôi của mình trong từng trang
viết, với niềm khao khát đi và viết ấy người đọc tìm thấy trong những trang viết của nhà thơ là những quầng sáng kí ức, những phận người, những nét đẹp trong văn hóa ứng xử Tất cả đã tạo nên cái riêng, cái đặc sắc trong văn xuôi Hoàng Việt Hằng - Một nét khu biệt giữa tác giả với các tác giả nữ khác trong việc nhận diện tác phẩm trong lòng độc giả [2].
Tiếp theo, chúng tôi khảo sát luận văn thạc sĩ của tác giả Đới Thị Hồng với đề
tài Cái tôi trữ tình trong thơ Dư Thi Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng
đã bảo vệ thành công vào năm 2016 Ở luận văn này, tác giả đặt thơ Hoàng Việt
Trang 11Hằng trong đối sánh với thơ của hai tác giả nữ cùng thời để so sánh, kiến giải những
đặc điểm riêng về cái tôi trữ tình và nghệ thuật biểu hiện: ngôn ngữ, giọng điệu, thểthơ của 3 tác giả Điều thú vị nhất của luận văn là đã chỉ ra được giọng điệu thơ củatừng tác giả bên cạnh những đặc điểm chung của các nhà thơ cùng thời Luận văn đã
khẳng định: việc dám lên tiếng khẳng định cái tôi cá nhân dường như không còn xa
lạ mà nó đã trở thành một xu hướng cho các tâm hồn nghệ sĩ thỏa sức bộc lộ và sáng tạo để tạo nên những dấu ấn riêng của chính mình Dư Thi Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng là những nhà thơ tiêu biểu trong việc thể hiện cái tôi cá thể trong thơ và tạo được những thành công không thể phủ nhận Dẫu vậy, ba tác giả là
ba cá thể riêng biệt, tạo nên ba cá tính sáng tạo khác nhau (….) Hoàng Việt Hằng ý nhị, sắc sảo, giản dị, mộc mạc và giàu lòng trắc ẩn [34].
Cùng với các bài viết của giới sáng tác và phê bình về sáng tác của Hoàng ViệtHằng, những nhận định của người viết giúp chúng tôi có thêm những cảm nhận ngàymột sâu sắc hơn về văn thơ Hoàng Việt Hằng Đó là những gợi ý cho chúng tôi tiếp
cận và triển khai đề tài: Đặc điểm thơ Hoàng Việt Hằng.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật thơ Hoàng Việt Hằng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Hoàng Việt Hằng là cây bút đã khẳng định được tên tuổi của mình trên các thể
loại: tản văn, truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ Tuy nhiên, luận văn của chúng tôi chỉ
nghiên cứu về thơ Hoàng Việt Hằng, nên chúng tôi giới hạn khảo sát các tác phẩm
thơ của nữ thi sĩ này đã được in trong các tập thơ:
6 Xóa đi và không xóa (2012)
7 Trăng vàng ngồi vớt trăng vàng (2015).
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi thực hiện những phương pháp nghiêncứu chủ yếu sau: Phương pháp tiểu sử, Phương pháp thống kê, phân loại, Phươngpháp so sánh, đối chiếu, Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp tiểu sử: Phương pháp này chúng tôi chủ yếu sử dụng ở chương
I, phần giới thiệu về con người tác giả và những yếu tố hình thành nên tài năng vănchương
- Phương pháp thống kê, phân loại: Chúng tôi vận dụng phương pháp thống
kê, phân loại để thẩm định đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ, khoa học và chínhxác các đặc điểm về nội dung, nghệ thuật thơ Hoàng Việt Hằng
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi
cũng sưu tầm, tìm hiểu thêm tư liệu về một số tác giả nữ cùng thời để đối chiếu nhằmtìm ra những đặc điểm riêng, cá tính sáng tạo đặc biệt của tác giả
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Chúng tôi dùng phương pháp này để có
thể bước đầu cảm nhận và đưa ra những kết luận chính xác về nội dung, nghệ thuậtthơ Hoàng Việt Hằng
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài Đặc điểm thơ Hoàng Việt Hằng, mục đích chúng tôi hướng đến là:
Tìm hiểu một vài phương diện về nội dung tư tưởng của Hoàng Việt Hằng thông quanhững nét chủ đạo trong cảm hứng sáng tác của nhà thơ
Phát hiện những đặc điểm sáng tạo trong nghệ thuật thơ, từ đó góp một tiếng nóikhẳng định những đóng góp của Hoàng Việt Hằng đối với thơ nữ nói riêng và thơViệt Nam đương đại nói chung
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát, nhận diện thơ Hoàng Việt Hằng Nghiên cứu tính chất thống nhất giữanội dung và nghệ thuật thể hiện
Tìm hiểu nguồn cảm hứng chủ đạo, cái tôi trữ tình và những đặc điểm thơHoàng Việt Hằng
6 Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở khảo sát 5 tập thơ của Hoàng Việt Hằng, luận văn muốn nghiên cứumột cách tương đối toàn diện về đặc điểm thơ chị Từ đó, góp phần đánh giá
Trang 13một cách có căn cứ khoa học những đóng góp và vị trí của Hoàng Việt Hằng trong thơ ca Việt Nam đương đại.
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Sáng tác của Hoàng Việt Hằng trong dòng chảy của thơ nữ thời kỳ
đổi mới
Chương 2: Cảm hứng chủ đạo và cái tôi trữ tình trong thơ Hoàng Việt Hằng Chương 3: Nghệ thuật thể hiện trong thơ Hoàng Việt Hằng.
Trang 14Chương 1 SÁNG TÁC CỦA HOÀNG VIỆT HẰNG TRONG DÒNG CHẢY CỦA THƠ NỮ THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1.1 Khái lược về thơ nữ Việt Nam đương đại
Thơ đương đại là một dòng chảy liên tục và là sự tiếp nối của thơ ca Việt Namgiai đoạn trước đó Giai đoạn trước ảnh hưởng đến giai đoạn sau và giai đoạn sau kếthừa, phát huy, cách tân giai đoạn trước Thơ đương đại Việt Nam là dàn hợp xướngcủa các cây bút nhiều thế hệ, vì thế, thơ nữ đương đại bao gồm các nhà thơ trưởngthành trong chiến tranh hoặc đã từng trải qua chiến tranh, và các nhà thơ trẻ thế hệ7X, 8X, 9X…
Các nhà thơ nữ đương đại chịu sự ảnh hưởng của những mạch nguồn thơ nữ trước
đó, từ thế hệ các tác giả trưởng thành trong chiến tranh như Xuân Quỳnh, Ý Nhi, PhanThị Thanh Nhàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Dư Thị Hoàn, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Lâm Thị
Mỹ Dạ, Thúy Bắc cho đến Đỗ Bạch Mai, Thảo Phương, Phi Tuyết Ba, Nguyễn ThịThúy Quỳnh Tiếp nối hành trình của thế hệ đi trước, các nhà thơ nữ trẻ cũng khai tháccác đề tài quen thuộc như: thân phận người phụ nữ, tình yêu và lòng thủy chung son sắtcủa người phụ nữ, tình mẫu tử, tình bạn…Bên cạnh đó, các cây bút nữ trẻ đi sâu khai phánhững đề tài mới của đời sống đầy biến động, những va đập của đời thường, niềm khátkhao hướng tới những cái mới, những chân trời mới lạ
Các nhà thơ đã thể hiện sự bắt nhịp nhanh chóng và hòa vào dòng chảy củavăn học trong bối cảnh đổi mới và hội nhập Họ khám phá và thích ứng để tiếng thơcủa mình vừa mang hơi thở thời đại vừa có nét thuần Việt không hề trộn lẫn Có thểvẫn là những cảm xúc cũ với những nét thanh dịu, với sự ngân nga của câu chữ, vầnđiệu hoặc là tiếng thơ mộc mạc, chân chất; Cũng có thể chỉ là sự e lệ, bẽn lẽn củanhững cô gái mới lớn lần đầu tập yêu với tiếng thơ trong trẻo, thơ ngây Cũng có thể
là tình cảm đầu đời không thổ lộ được phải giấu vào thơ như một tiếng thở dài nuốitiếc, nhớ nhung sầu muộn Hoặc đâu đó vẫn là những lo toan thường nhật, những khó
khăn tất bật của cuộc sống, cả chuyện cơm áo gạo tiền, cả chuyện sống và viết với
tiếng thơ cất lên đầy trăn trở Các nhà thơ nữ đã không chỉ là người thể hiện cuộcsống trên trang viết mà còn muốn tạo dựng, phơi mở một thế giới khác trong
Trang 15chính thế giới hiện thực này, thế giới của sự vươn tới mãnh liệt và đầy khát khao, thếgiới của bình yên và tình yêu Tâm hồn thi ca của họ đa cảm và tinh tế, luôn rung lêntất cả những nhịp đập cảm xúc nóng bỏng, giản dị, chân thực, táo bạo và liều lĩnh Họ
đã và đang tạo dựng cho mình một phong cách mới trong trào lưu thơ Việt Namđương đại
Tuy nhiên, những tìm tòi, khám phá và thể nghiệm dù ít nhiều đạt được thànhcông nhất định thì bên cạnh đó, lượng độc giả khắt khe với sự táo bạo đổi mới vẫnchiếm đa số Vậy nên, sự tiếp nối dòng chảy của thơ ca truyền thống kết hợp với sự
nỗ lực cách tân của các cây bút nữ vẫn nhận được sự đón tiếp nồng hậu hơn Với tâmhồn tinh tế và nhạy cảm của phụ nữ, các chị đã trở về với đề tài đời tư, thế sự đểthông cảm, sẻ chia với những con người và cuộc sống quanh mình Đó là nhữngmảnh đời, những cuộc sống cụ thể mà các chị gặp trong những chuyến đi, trong cuộcsống mưu sinh hàng ngày: Người đọc có thể gặp một cụ già bán thuốc, một người đạpxích lô ế khách trong thơ của Nguyễn Thị Hồng; một bà lão ăn xin cô đơn tội nghiệptrong thơ của Lê Hồ Lan; hay là nỗi đau của những em bé phải chịu thiệt thòi bởi
cảnh ly hôn của cha mẹ chúng trong Đồ chơi hôn nhân của Đoàn Ngọc Thu… Và
không phải một cái nhìn rất “xã hội học” hay những chiêm nghiệm, triết lý xa xôi nào
đó, mà với các nhà thơ nữ, đó là cái nhìn cảm thông, cái cúi xuống đời người cũngnhư cúi xuống đời mình
Tình cảm gia đình có lẽ là chủ đề thường xuyên và liên tục nhất trong thơ củacác nhà thơ nữ Đó là những lo âu, khắc khoải, đau đáu yêu thương người thân, giađình trong thơ của Bùi Anh Kim, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Việt Hằng…
Em khâu tóc trắng thay lời Mỗi khi cúi xuống rã rời nỗi đau Con chồng, vợ cũ, đồng sâu Lấy chồng lấy cả nỗi đau của chồng
(Hoàng Việt Hằng)
Xã hội thay đổi và phát triển, kéo theo đó, những giá trị tinh thần, văn hóadường như, với một số không ít người đã không được xem trọng Nhưng với các nhàthơ nữ có trái tim đầy nhân hậu dù là người dưng, thì những cảnh sống cơ cực, những
phận đời éo le cũng khiến họ đau đáu xót thương Cũng chẳng phải khéo dư nước mắt
Trang 16(Nguyễn Du) mà nỗi đau ấy, nước mắt ấy chính là sự đồng cảm, chính là những giọt nước mắt khóc mình:
Áo trẻ con hai ngàn Đổi giỏ ngô cũng được Giỏ ngô cũng hai ngàn Bát phở và giỏ ngô Vừa ăn chan nước mưa Tôi ăn chan nước mắt
(Hoàng Việt Hằng)
Đề tài tình yêu lứa đôi cũng là một đề tài quen thuộc trong thơ nữ Với trái timphụ nữ đa cảm và yếu đuối, cảm giác bị bỏ rơi, bị phụ bạc, hay khi đánh mất tình yêu,đánh mất niềm tin luôn được giãi bày trong thơ Đó là nỗi đau đớn, xót xa đến tê dại:
Lặng im ngạt trái tim em/ Tê dại đợi chờ/ Khiến cảm xúc trở nên băng giá/ Thêm một giọt lặng im/ Để chịu đựng vỡ òa/ Con người đi nhanh hơn đến bờ bên kia cuộc sống
(Bùi Kim Anh).
Hay: tình yêu vò xé ta/ hạnh phúc trở mặt với ta (Bùi Kim Anh) khiến người
đàn bà trở nên chát chúa, bực tức, và chỉ biết gặm nhấm những giọt nước mắt, đối
diện với màn đêm tĩnh lặng
Dường như, những người phụ nữ ấy chờ đợi một phép màu, một câu chuyện cổtích có thật trên đời để gọi cánh cửa của trái tim mở ra Nhưng, chờ đợi, hi vọng đều
chỉ là vô vọng và họ hiểu Không là cổ tích, họ đành đóng kín trái tim mình: Em gọi
mãi vừng ơi/ Câu thần chú đã không còn linh ứng/ Trước cánh cửa là em / Sau cánh
cửa là con đường hun hút (Đinh Thị Như Thúy).
Mỗi cuộc đời, mỗi số phận có những nỗi niềm riêng, nhưng điểm chung giữa
họ là tình yêu cuộc sống, sự dũng cảm vượt qua mọi khó khăn Chấp nhận đắng cay,
thậm chí làm quen với đắng cay như một liều Thuốc đắng bao ngày dã tật thành
quen (Đoàn Thị Lam Luyến).
Bằng trái tim bao dung, vị tha của người phụ nữ, khi tình yêu tan vỡ, họ không
oán hận mà chấp nhận đau khổ để hiến dâng cho tình yêu: Em lặng lẽ nói cười/ lặng
lẽ nát tan/ em thành lá, thành sương, thành lửa/ em lặng lẽ kêu gọi, lặng lẽ cầu xin/
lặng lẽ chờ mong/ lặng lẽ vỡ òa thành lệ/ ôi thời khắc huy hoàng (Ý Nhi).
Trang 17Những cảm xúc đời thường trước những sự kiện của đời sống xã hội, hay trongtình yêu đều được các nhà thơ nữ nhìn nhận và phản ánh thông qua tâm hồn, trái tim
dễ rung động và đa cảm của họ Bên cạnh ý thức về trách nhiệm công dân, tráchnhiệm với gia đình thì đồng thời, họ cũng khẳng định cái tôi đầy cá tính Bên cạnhnỗi xót thương, niềm cảm thông và cả đau đớn cho những thân phận bất hạnh, là khátvọng hạnh phúc, niềm hy vọng vào một tương lai tươi sáng hơn
Có thể nói rằng, thơ nữ đương đại cũng đang hội tụ rất nhiều thế hệ các nhàthơ nữ và đồng thời với đó là rất nhiều xúc cảm, giọng điệu cùng với sự tìm tòi, thểnghiệm không ngừng nghỉ Nhưng sau tất cả sự phá cách, sự thể nghiệm và cả họchỏi những trào lưu mới mẻ nhất của thi ca thế giới (giai đoạn hậu hiện đại) thì thơ nữvẫn trở về với bản tính, thiên chức của người phụ nữ và những tiếng thơ đằm thắm,dịu dàng - là tiếng thơ được người đọc yêu quý nhất: Đó là tình cảm gia đình với lotoan bộn bề thường nhật Đó là tình mẫu tử thiêng liêng và cao cả, là sự hi sinh vô bờbến cho con cái, là những trăn trở, suy tư về cuộc sống hiện đại trước những cảnh đờingang trái, éo le, trước những bất công và sự xuống cấp của đạo đức xã hội; là nhữngcay đắng khi tình yêu tan vỡ, khi bị phụ bạc, nhưng vẫn một lòng bao dung, vị tha.Tất cả góp phần không nhỏ tạo nên dàn hợp xướng của thơ ca đương đại
1.2 Hành trình sáng tác của Hoàng Việt Hằng
1.2.1 Vài nét về tác giả
Hoàng Việt Hằng sinh ngày 29-12-1953 tại làng Vân Hồ, thành phố Hà Nội
Chẳng thơm cũng thể hoa lài/ Dẫu không thanh không lịch cũng người Tràng An (Ca
dao) cô gái ấy, người phụ nữ ấy đã mang trong mình nét nền nã, thuần phác và thanhlịch của vùng đất văn hiến Năm 1973-1974, Hoàng Việt Hằng trở thành công nhânnhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo, đến năm 1977 làm công nhân Công ty xây dựng số
1Hà Nội Nhưng rồi có một mối tơ duyên đặc biệt đã buộc cô công nhân ngày ấy vàomối nợ văn chương, để mấy chục năm sau vẫn gắn bó với nghiệp viết và nhữngchuyến đi tìm cảm hứng Văn chương, thơ phú thực sự là cái nghiệp với thi nhân, nên
dù không lựa chọn thì cái nghiệp thơ vẫn cứ buộc lấy người thơ.
Sau khi theo học khóa Bồi dưỡng viết văn của Hội Nhà văn Việt Nam tại Quảng
Bá (năm 1974), Hoàng Việt Hằng chuyên tâm vào sáng tác, thành công đầu tiên là tập
Trang 18truyện ngắn Những lời chưa nói hết đạt Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội (1980) Nhưng tiếp đó, mười truyện ngắn của cây viết trẻ Hoàng Việt Hằng gửi đến Tạp chí
Văn nghệ quân đội đều rơi vào sọt rác trong phòng văn của biên tập viên Triệu Bôn.
Tìm đến tận nơi để hỏi cho rõ lý do thì chỉ nhận được nụ cười đủ khiến người ta phải
chui xuống đất vì xấu hổ (lời Hoàng Việt Hằng), bởi lẽ những truyện ngắn viết về
chiến tranh của một cô nàng quan sát chiến trận từ xa không thể qua mắt được mộtngười lính chiến đã từng ngược bom đạn trở về Và rồi một mối duyên trắc trở giữa
cô gái trẻ với nhà văn thương binh đã đến Tình yêu ấy đã trải qua biết bao ghềnhthác, kéo dài bao nhiêu năm rồi mới có được một đám cưới, một danh phận với ngườiđàn ông đã có một đời vợ và một đàn con- một người thương binh không có thẻ Sựthua thiệt ấy của nhà văn Triệu Bôn đã trút cả vào đôi vai Hoàng Việt Hằng Như lẽthường, để rồi chuỗi ngày tiếp nối, Hoàng Việt Hằng gồng sức mình lên để gánh vác,
để san sẻ, bù đắp cho cái hạnh phúc nhỏ nhoi của mình Người ta thường nói, Hoàng
Việt Hằng có một đôi vai rộng cả về nghĩa đen và nghĩa bóng, đôi vai mà mỗi khi đi
may áo, người thợ may nào cũng lấy làm ngạc nhiên bởi nó quá rộng Đôi vai manggánh nặng của nhân tình thế thái và của văn chương Đôi vai gánh vác mọi việc hệtrọng trong đời Đôi vai đã từng bốc vải ở chợ Bắc Qua những năm nghèo khó, cơcực để lấy tiền nuôi con, chăm chồng Đôi vai ấy luôn một mình, đến bệnh viện một
mình vượt cạn, một mình xây nhà, một mình đi sau xe tang mẹ, một mình cõng chồng
đi khắp các bệnh viện ròng rã mười năm trời… Đôi vai đã thức khuya dậy sớm, lam
lũ với đủ mọi bận bịu để làm tròn bổn phận, thiên chức của một người mẹ người vợ.Đôi vai đã nâng đỡ cả thể chất và tâm hồn Hoàng Việt Hằng
Từ năm 1993, khi nhà văn Triệu Bôn bị tai biến mạch máu não, di chứng liệtnửa người, Hoàng Việt Hằng chuyển sang làm báo tự do để mưu sinh 10 năm viếtvăn, viết báo để kiếm từng thang thuốc mong chồng thoát cơn bạo bệnh, 10 năm ròng
rã cõng chồng đi khắp các bệnh viện, nhưng định mệnh nghiệt ngã vẫn mang ngườichồng của chị - nhà văn Triệu Bôn ra đi Sự ra đi của người chồng, những lo toan vất
vả của cuộc sống đã khiến mái tóc người phụ nữ ấy bạc dần, mỗi sợi bạc là một nỗi
đau và đã có lúc chị tưởng như gục ngã: Em vẫn thấy anh ngồi/ Như dấu chấm than
viết ngược/ Lúc ốm đau em đã muốn bỏ cuộc/ Nhưng thấy con tha thủi
Trang 19không đành (Dấu chấm than viết ngược) Có lẽ đứa con trai bé bỏng, có lẽ chính thi
ca, văn chương đã cho người phụ nữ ấy tựa vào để sống, để đi và viết tiếp Quen vớiviệc tự làm, tự chịu, ngay cả khi cận kề sự an nguy của sinh mệnh vẫn không muốnmình là mục tiêu thương xót của đám đông Nằm trên giường bệnh sau ca phẫu thuật,
nhà thơ đã mở máy tính, gõ bàn phím với phép tính trong đầu: Bài này đủ cho mũi
tiêm ngày mai…
Trở thành hội viên Hội nhà văn Việt Nam từ năm 2002, Hoàng Việt Hằng đượcđánh giá là cây bút đa năng, sáng tác nhiều thể loại và là một trong những tác giả nữ
viết sung sức nhất đầu thế kỷ XXI Suốt một đời cầu cạnh bút nghiên run rẩy viết,
Hoàng Việt Hằng đã nhận được không ít giải thưởng văn học: Giải thưởng của Hội
Nhà văn Hà Nội cho tập truyện ngắn Những lời chưa nói hết năm 1980 Giải thưởng của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam năm 1990-1995 với tập thơ Những dấu lặng.
Giải thưởng của Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2005 cho tập
thơ Một mình khâu những lặng im Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội với tập thơ
Vệt trăng và cánh cửa năm 2008 Tặng thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2010
cho tiểu thuyết Một bàn tay thì đầy Giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam và Tổng liên đoàn lao động Việt Nam tổ chức năm 2010-2014 với tập thơ Xóa đi và không
xóa Và nhiều lần Hoàng Việt Hằng nhận giải thưởng báo chí cho thể loại tản văn.
Không quá khi nói rằng: Hoàng Việt Hằng là người cần mẫn cày trên cánh đồng
chữ (thơ Hoàng Việt Hằng) Những tác phẩm ở đủ các thể loại vẫn ra đời đều đặn,
riêng về thơ, đến nay, tác giả đã xuất bản được 7 tập thơ:
- Những dấu lặng (thơ), Nxb Phụ Nữ 1990.
- Tự tay nhóm lửa (thơ), Nxb Hội Nhà văn 1996.
- Chuông vọng (thơ), Nxb Phụ Nữ 2000.
- Một mình khâu những lặng im (thơ), Nxb Phụ Nữ 2005.
- Vệt trăng và cánh cửa (thơ), Nxb Phụ Nữ 2008.
- Xoá đi và không xoá (thơ), Nxb Phụ Nữ 2012.
- Trăng vàng ngồi vớt trăng vàng (thơ), Nxb Phụ Nữ 2015.
Ởvăn xuôi, Hoàng Việt Hằng sáng tác cả truyện ngắn, truyện thiếu nhi, tản văn,
tạp văn và tiểu thuyết, trong đó đã xuất bản 11 tác phẩm:
Trang 20- Những lời chưa nói hết (tập truyện ngắn), Nxb Thanh Niên 1987.
- Ngón nhẫn xinh xinh (tập truyện thiếu nhi ), Nxb Kim Đồng 1998.
- Dấu chấm than viết ngược (tập tản văn), Nxb Phụ Nữ 2008, tái bản 2009.
- Một bàn tay thì đầy (tiểu thuyết), Nxb Phụ Nữ 2010.
- Người cho đã không nhớ (tập tản văn), Nxb Thanh Niên 2012.
- Tiếng dẻ cùi phía cây cơm vàng (tạp văn), Nxb Phụ Nữ 2013.
- Tiêu gì cho thời gian để sống (tản văn), Nxb Trẻ 2014.
- Nắng trưa không đứng bóng (tập truyện), Nxb Văn học 2015.
- Bóng đổ nơi chân sóng (tập truyện), Nxb Văn học 2015.
- Giọt người ở mấy Vũng Mây (tản văn), Nxb Kim Đồng 2017.
- Người tình không bỏ được (ký chân dung), Nxb QĐND 2017.
Mặc dù đã ở cái tuổi đứng bóng, nhưng Hoàng Việt Hằng vẫn đi và viết Nhữngbài thơ, những truyện ngắn, ký, tản văn vẫn tươi rói cảm xúc của cuộc sống Có lẽmột lần nữa phải khẳng định rằng, Hoàng Việt Hằng là một trong những cây bút nữgiàu nội lực sáng tạo Cuộc đời chị nếm trải đầy đắng cay, sóng gió, với biết baonhiêu gian truân, nhưng chị vẫn miệt mài sáng tác và không ngừng hút nhụy từ cuộcsống để dâng cho đời mật ngọt là những áng văn thơ Dù sáng tác rất nhiều thể loại,thành công ở rất nhiều lĩnh vực nhưng người đọc vẫn nhớ đến, vẫn biết đến mộtHoàng Việt Hằng, một nhà thơ của phụ nữ, viết về cuộc đời mình mà cũng là viết vềcuộc đời của những người phụ nữ nói chung: ngọt ngào, đằm thắm, đắm say trongtình yêu đấy mà cũng đầy trăn trở, cay đắng, xót xa
1.2.2 Thơ Hoàng Việt Hằng
Hoàng Việt Hằng yêu và đến với thơ từ rất sớm, nhưng thành công với văn
xuôi trước khi thành công với thơ Ngay từ năm 1980, tập truyện ngắn Những lời
chưa nói hết đã nhận được giải thưởng của Hội nhà văn thành phố Hà Nội Thế
nhưng theo như lời của nhà văn Triệu Bôn, ngay từ lần gặp đầu tiên khi nhà thơ mangbản thảo truyện ngắn đến tòa soạn tạp chí Văn nghệ Quân đội, thì Hoàng Việt Hằnghợp với thơ hơn văn xuôi Sống giữa Hà Nội phồn hoa tấp nập, Hoàng Việt Hằng
không chọn cho mình một con đường mưu sinh nhàn hạ, mà như chị chia sẻ: Hẹn gì
với những đam mê/ mà em bùa ngải viết thuê lần hồi, chị đến với văn chương như
Trang 21một niềm đam mê, và cũng là để mưu sinh, kiếm sống - một nghề đầy thử thách và
không ít nhọc nhằn Hơn nữa, với cái tâm của một người làm nghề: Tôi chọn một thứ
văn chương trong sạch, và tôi thường cúi xuống những số phận nghèo khổ (NTTS),
thì cuộc mưu sinh ấy còn nhọc nhằn gấp bội phần Nhất là khi chị vừa phải cày trên
đồng chữ (Thơ Hoàng Việt Hằng) để nuôi mình, chữa bệnh cho chồng và nuôi con
trong cảnh: Con chồng, vợ cũ, đồng sâu/ Lấy chồng lấy cả nỗi đau của chồng (Một
mình khâu những lặng im).
Đam mê với nghề và như là duyên phận, là định mệnh nghề đã chọn người,Hoàng Việt Hằng đã sống và viết với tất cả tình yêu và nhiệt huyết Tiền nhuận bútnhận được chị không dành riêng cho mình mà để mua thuốc cho chồng, nuôi con và
để trang trải cho những chuyến đi tìm cảm hứng sáng tác Là nhà văn, đồng thời làphóng viên báo Du lịch, dù tuổi đã cao, chị vẫn luôn tràn đầy nhiệt huyết cho nhữngchuyến đi với hành trang là cây bút và chiếc máy ảnh, bước chân chị in dấu trên khắpcác nẻo đường với tâm hồn tràn đầy yêu thương, trắc ẩn và những vần thơ đầy ắp hơithở của cuộc sống, kiếm tìm và suy tư của chị cứ thế lần lượt ra đời
Viết về mình, viết về những vùng đất mà mình đã đặt chân qua, và đặc biệt chịcòn xúc cảm sâu sắc với những mảnh đời, những kiếp người nhỏ bé bất hạnh: Day
dứt cho những số phận sống quanh mình ở Hà Nội: Ôi, những ngõ của người nghèo
Hà Nội/ Tôi thương yêu bạc tóc lúc nào/ Người đời bảo: nhuộm tóc cho xanh lại/ Tóc
có thể nhuộm xanh/ Nhưng vui buồn ngõ xuân/ Sao nhuộm lại?(Ngõ xuân- Hoàng Việt Hằng), đau đáu với những mảnh đời phải nếm trải bất hạnh do thiên tai, bão lũ
nơi mảnh đất miền Trung đầy nắng gió: Đi dọc miền Trung/ Mắt cứ chạm vào những
dây phơi/ Áo trẻ nhỏ màu cháo lươn/ Miếng vá còn vương ở tay áo cánh nâu màu bã
trầu/… Sau bão đã lâu/ Nỗi đau còn như sóng lật/ Cả chiếc dây phơi ?(Thơ Hoàng Việt Hằng), rồi đến các bản vùng núi cao, miền biển, hay tận đất nước Ấn Độ xa xôi.
Sau những cung đường, những số phận, là những suy tư, trăn trở, chiêm nghiệm củanhà thơ về thế thái nhân tình, về lẽ sống, về tình người, về cách đối xử giữa người vớingười, cách sống chung với thiên nhiên… mà nhiều khi, giữa xã hội xô bồ với nhịpsống nhanh, “sống gấp” này, con người có phần thờ ơ, vô cảm
Trang 22Mặc dù thành công với khá nhiều tác phẩm văn xuôi đủ các thể loại, từ truyệnngắn, truyện thiếu nhi, tiểu thuyết, tản văn, tạp văn, ký thì người đọc vẫn biết đến,
nhớ đến một Hoàng Việt Hằng - nhà thơ Tác giả từng tâm sự: Tôi trở thành một
người làm thơ, viết báo, thế chấp một đời cho văn chương Tôi như người chạy chợ thức khuya dậy sớm trên ruộng chữ nghĩa của mình Và, Ngay cả đi bộ/ Câu thơ lẽo đẽo theo sau/ Ngay cả lên tàu/ Câu thơ chập chờn mưa tuyết/ Ngay cả khi bay nghiêng/ Ẩn ức, chập chờn như ánh sao, chập chờn như ánh đèn/ Tôi cầu cạnh bút
nghiên/ Run rẩy viết (Ẩn ức) Vậy nên, không phải ngẫu nhiên, thơ ca như cái nghiệp
buộc lấy người thơ và Hoàng Việt Hằng là một người thơ đích thực!
Nằm trong dòng chảy của thơ ca đương đại nói chung và dòng chảy của thơ nữđương đại nói riêng, thơ Hoàng Việt Hằng mang một tiếng nói độc đáo, một tiếng nóichân chất, mộc mạc mà đằm thắm xúc cảm Thơ Hoàng Việt Hằng không gây ấntượng với người đọc bằng cách gây “sốc” về cảm hứng, ý tứ, không đi vào lòng ngườiđọc bằng sự chắt lọc ngôn ngữ, hình ảnh để mang đến cảm giác mượt mà, ngọt ngào,
mà chỉ đơn giản là những xúc cảm thật, ý tứ thật, những gì đến từ cuộc sống hàngngày! Vậy nên, thơ Hoàng Việt Hằng giống như những lời tự sự, những lời bộc bạch
về cuộc sống thường nhật và những cảm xúc thường ngày của mình Và điều lắng vàolòng độc giả chính là những điều rất thật đó
Đọc thơ Hoàng Việt Hằng, độc giả như được đọc cuốn nhật ký của người phụ
nữ đã từng trải hầu hết mọi đắng cay của đời người, người phụ nữ có trái tim nhânhậu của hết thảy mọi phụ nữ! Những đắng cay tưởng đến bất tận và những yêuthương đằm thắm cũng đến vô cùng Đơn giản những điều đó đều có được từ sự soithấu những đắng cay, nhọc nhằn của cuộc đời nhà thơ để chị nhìn ra nỗi đắng cay,nhọc nhằn của kiếp người quanh mình bằng những trải nghiệm trong cuộc sốngthường nhật hoặc qua những chuyến đi Thơ Hoàng Việt Hằng ở giai đoạn đầu thiên
về thiên nhiên, trữ tình và những phận người lao động, những người công nhân trongngành công nghiệp cơ khí, có nhiều câu ánh lên day dứt:
tôi sống cuộc đời vất vả
có đau khổ lớn hơn cả đau khổ Nỗi buồn sao không thể khác đi!
Những dấu lặng
Trang 23Ngay cả nỗi buồn lúc đó, nhà thơ cũng đã nhìn nhận thật khác, nó không hề đơnđiệu, không phải chỉ là nỗi buồn của cái tôi, của cá nhân, mà rộng hơn là của nhữngngười lao khổ.
Trước tiên phải nói rằng, chất thơ của Hoàng Việt Hằng xuất phát từ cái tôi nộicảm, từ thân phận mình, từ những tình cảm cho chồng, cho con Tình yêu dẫu ngọtngào đến đâu thì trong giới văn nghệ sĩ, không ai là không biết mối tình trắc trở, đắngcay của nhà thơ với nhà văn Triệu Bôn Nhưng đắng cay có hề gì, vất vả trăm bề cũng
có nghĩa gì, bởi khi yêu, người đàn ông đó là hơi thở, là sự sống của tâm hồn:
Anh- của mỗi hơi thở tôi
Của nhiều nỗi vui và mất mát
Trên khoang thuyền một người trai đang hát
Nước mắt tôi nhòa nhạt phía chân trời
(Buổi sớm ở Bến Đoan)
Tình yêu ngọt ngào, thuần khiết trong sáng đến vô ngần:
Những ngày thơ dại tin yêu
Những ngày chỉ ước được nhìn nhau thôi
(Viết cho tuổi hai mươi)
Người đọc nhận thấy cảm xúc bẽn lẽn, e ngại mà cũng đầy đắm say của cô gáituổi đôi mươi, lần đầu bước vào thế giới của tình yêu Nhưng sẽ không ai biết rằngtrong cái đắm say ngọt ngào đó lại là nỗi đắng cay vô cùng bởi tình yêu ấy trắc trở
nhường nào Hoàng Việt Hằng đã từng chia sẻ Nhưng ám ảnh nhất, không sao quên
được nhất là mỗi lần lên cầu thang gỗ nhà số 4, tôi luôn run sợ, luôn luôn nín thở, bàn chân như phản xạ phải nhón ngón chân, không để cho chiếc guốc nhựa vang ra tiếng động trên cầu thang gỗ Nếu nghe thấy, hẳn là ông nhà văn H, hay ông nhà văn T… sẽ thò đầu ra cửa phòng làm việc, thì hôm sau anh Triệu Bôn sẽ lại bị lôi ra họp
kiểm điểm (Dưới cây hoa đại nhà số 4 - Hoàng Việt Hằng) Và những câu thơ, tưởng
chừng là tiếng nói của tình yêu ngọt ngào ấy lại là nỗi đắng cay chất chứa, đó chính lànét riêng, xúc cảm riêng trong tình yêu của Hoàng Việt Hằng
Cho đến khi tình yêu ấy được cho phép, hai người yêu nhau được trở thành vợchồng thì những gì đã qua vẫn còn, vẫn luôn ám ảnh:
Trang 24Anh đã chôn vùi mối tình câm
Ngỡ bao năm không dễ gì đào bới
Hạnh phúc của thời bình em không đắp nổi
Mối tình câm và lặng của chiến tranh
Sự ra đi của nhà văn Triệu Bôn, người chồng mà nhà thơ hết mực yêu thương đã
để lại nỗi đau vô bờ bến Đau đấy, nhưng vẫn phải sống, cố sống để viết để nuôi
con… Vậy nên phải gói nỗi đau lại, gói cả những kỷ niệm: Em đã gói kỷ niệm/ Gói
giọt sương trên lá sen khô/ Gói cả anh và tình yêu hai ta xưa/ Nhưng gói mãi đến
mùa xuân phải mở/ Cho nỗi buồn không héo khô (Dù em có dụi mắt).
Ai từng biết những trắc trở trong tình yêu của nhà thơ mới biết được tình yêucủa hai người gắn bó như thế nào Và khi một người ra đi, một người phải ở lại, nỗi
đau ấy lớn lắm! Đau đến mức: Em chỉ muốn ngồi một mình vậy thôi/ Với nỗi buồn
khi chết rồi vẫn nhớ/ Ngày ngày em đối mặt với cánh cửa/…/Nhưng mà mẹ ơi/ Con ở đây con chờ/ Cho con ăn gì thôi con đói lắm /Tiếng con gọi chạm vào giây cót/ Và
thời gian - phút chết lăn đi (Đối mặt với cánh cửa).
Cùng với nỗi đau, cùng những trách nhiệm phải làm, phải sống, là những kỷ
niệm vẫn tươi nguyên như ngày nào, như vừa mới xảy ra: Bên hàng cây cơm nguội
ngày ấy anh ôm em/ Cây cũng trẻ/ Và cây nghiêng ngả/ Bây giờ cây đã già/ Và anh
trở về với đất (Dấu ngã ở bên trời).
Nỗi đau, kỷ niệm và những nhớ thương không bao giờ nguôi, nỗi đau không baogiờ vơi cạn cứ trở đi trở lại trong cuộc sống hàng ngày của nhà thơ Để nhiều khi ngỡ
như: Như thể anh mới về/ Mắc lại cái dây phơi/ Để hong khô nước mắt/ Mắt ướt mà
không khóc/ Lá vàng chan thu tàn/ Lá vàng vun đơn lẻ… (Mắt ướt)
Trang 25Và ai dám bảo rằng những gì đã qua là đã trôi xa? Bởi trong tâm hồn nhà thơ thìnhững yêu thương ngọt ngào và cả những đắng cay đã qua vẫn luôn còn mãi Tìnhyêu là thế, và với Hoàng Việt Hằng, tình yêu đầu đời đó cũng là tình yêu suốt đời,
vĩnh cửu Vậy nên: Em chẳng có thứ gì/ Ngoài anh và lối đi/ Và cuộc đời cụ thể/ Để
em còn đam mê/ Để em còn tốt nữa (Cây me lá vàng).
Viết cho mình, viết về mình và tình yêu của mình, đó là nội dung khá lớn trongthơ Hoàng Việt Hằng Dù cuộc đời nhà thơ, tình yêu của nhà thơ không có mấy phútngọt ngào mà chỉ dằng dặc những lo toan, những đắng cay, đau đớn Dẫu vẫn biết trái
tim có lý lẽ của riêng nó, và tình yêu là tự mình lựa chọn và chấp nhận: Lấy chồng
lấy cả nỗi đau của chồng, và:
Văn chương bảy sắc cầu vồng
Chuyện tình anh cũ em không biết gì
(Một mình khâu những lặng im)
Nhưng sao vẫn không khỏi xót xa, ngậm ngùi cho tình cảnh của người phụ nữđến sau:
Một mai cơn gió se se
Buông xuôi anh lỡ vội về chốn quê
Thấy đông con cháu bạn bè
Mà em đơn lẻ, mà em thu vàng
Buông xuôi anh có mơ màng
Mà trăng gió với vỡ vàng đất đai
Buông anh em đọc ban mai
Tung vần thơ với vắt vai chuyện đời
(Một mình khâu những lặng im)
Tung vần thơ với vắt vai chuyện đời, câu thơ nghe nhẹ tênh, như người viết đã
trút bỏ tất cả mọi muộn phiền, trăn trở, đắng cay, đau đớn của chuyện đời, chuyện
mình mà sao day dứt thế Bởi không quên được, không xóa được, nên cố nói là
“buông”, cố khao khát để “buông” sao? Mơ ước, mong muốn thế dẫu biết rằng khôngthể, không bao giờ làm được như thế? Và có phải vì thế nên nhà thơ đã chịu thua,
chấp nhận: Nhưng số phận ơi/ Người đã chiến thắng tôi rồi/ Tôi là kẻ thua trận duy
nhất mỉm cười/ Trước tỉ số một đèn, một bóng (Hồ Bảy Mẫu).
Trang 26Dù đôi lúc tưởng như gục ngã, nhà thơ vẫn phải đứng dậy, phải nuôi con, phải là
chỗ dựa cho con: Một mai góc biển chân trời/ Viết nuôi con lớn lên người mới xong
(Một mình khâu những lặng im).
Cũng bởi tình yêu và tình mẫu tử thiêng liêng nên: Có dễ lạy trời quên được
chuyện xưa/ Trái tim cô đơn - trái tim máu ứa/ Mẹ sẽ giữ trong lòng những gì buồn
khổ/ Để cho con yêu sống tuổi trưởng thành (Có những barie vô hình).
Sau những riêng tư, những tình cảm cá nhân, tâm hồn, tình cảm và trái tim ngườiphụ nữ Việt Nam ấy, thì thơ của Hoàng Việt Hằng còn là trải nghiệm của nhữngchuyến đi Đi, như một nhu cầu bởi không ai có thể chìm đắm mãi với nỗi đau và mấtmát Không ai có thể đóng kín hồn mình để gặm nhấm nỗi đau riêng đến hết cuộc
đời Và đi để - như nhà thơ chiêm nghiệm trong lời mở đầu tập thơ Trăng vàng ngồi
Chỉ xin một bình yên thôi
Để đi để viết để đời câu thơ
(Chùa Một Mái)
Vì vậy, một mảng lớn trong sáng tác của Hoàng Việt Hằng là trải nghiệm nhữngchuyến đi Những địa danh đã đi vào thơ, đủ cho thấy người phụ nữ ấy đã đặt chân đếngần như hầu hết các nơi trên mọi miền đất nước, từ Bắc vào Nam, từ núi cao đến biểnrộng Hoàng Việt Hằng đã đến, đã đưa vào thơ mình từ: Thác Bờ, Sông Mã, Bến En, ĐụcKhê… đến Đảo Dấu, Mẫu Sơn, Mường Lát, Tủa Chùa, Mường Lay, Buôn Đôn,… cácđịa danh của nước bạn Lào: Nậm Khan, Kỉu Mai Lo… đất nước Campuchia, Thái Lan:Ăng Ko Thom, Pattaya… Đi để hòa mình với thiên nhiên, với con người, để cảm nhận,cảm thông cho nỗi đau của người đời từ nỗi đau của riêng mình
Nhìn chung, thơ Hoàng Việt Hằng là tiếng nói của một tâm hồn phụ nữ đầy yêuthương và từng trải Đi vào thế giới thơ Hoàng Việt Hằng, có thể nói: Sự hấp dẫn, cáihay của thơ chính là những tình cảm chân thành, giản dị như những lời tâm sự, sẻchia Và thơ, với Hoàng Việt Hằng vừa là duyên nợ, vừa là điểm tựa:
Trang 27Tôi tựa vào câu thơ Đứng vững trên đất đá Tôi tựa vào dịu dàng
Để vượt qua những gì tưởng không thể vượt qua.
(Những dấu lặng)
Tiểu kết Chương 1
Thơ ca đương đại Việt Nam đang có những bước đột phá và đã đạt được không ítnhững giá trị về nội dung và nghệ thuật, hình thành nhiều trào lưu và xu hướng Tuynhiên, một trào lưu lớn để trở thành chủ lưu mang tính định hướng cho cả dòng thơ ca thì
có lẽ chưa có Nhưng cũng có thể hiểu, đó chính là sự phong phú và đa dạng, thể hiệnmột nhu cầu tất yếu của thơ ca đương đại, vì mỗi nhà thơ đều là một cá thể xã hội và mộtchủ thể sáng tạo, và việc thể hiện cái tôi nội cảm chính là một nhu cầu
Không ít các nhà thơ nữ đương đại đã dám táo bạo tìm một nguồn cảm hứng,một cách thể hiện mới, thể hiện cá tính, một giọng nói cá nhân của mình Dàn hợpxướng của thơ ca đương đại nói chung và thơ nữ nói riêng đã cho thấy sự đa thanhđiệu của các tâm hồn nghệ sĩ Tuy nhiên, các nhà thơ nữ đương đại vẫn thể hiện đượcnhững nét đẹp đằm thắm của những tâm hồn người phụ nữ Việt Nam
Hoàng Việt Hằng sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, đất thanh lịch ngàn năm - nên nétnền nã, thuần phác thể hiện khá rõ trong cả nội dung lẫn nghệ thuật thơ của chị Vìthế, thay vì tìm những sự phá cách về cả nội dung và nghệ thuật thể hiện thì thơ chịthường chỉ nói về mình, những niềm vui, hạnh phúc nhỏ nhoi, những buồn đau trĩunặng, những chuyến đi và cảm xúc đời thường Có thể nói, Hoàng Việt Hằng không
ồn ào, gây chú ý như một hiện tượng văn học, nhưng chị đã khẳng định được vị trícủa mình và có những đóng góp đáng kể cho thơ ca đương đại nói riêng và văn họcViệt Nam đương đại nói chung
Trang 28Chương 2 CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH
TRONG THƠ HOÀNG VIỆT HẰNG 2.1 Cảm hứng chủ đạo trong thơ Hoàng Việt Hằng
2.1.1 Giới thuyết khái niệm cảm hứng chủ đạo
Cảm hứng có thể hiểu là nhân tố tư tưởng chi phối nội dung và nghệ thuật của
tác phẩm văn chương Đó là trạng thái tâm lý đặc biệt, thể hiện sự chú ý được tậptrung cao độ, kết hợp với trạng thái cảm xúc mãnh liệt và thúc đẩy trí tưởng tượng,làm phát sinh khả năng sáng tạo Nó có thể được coi như động lực thôi thúc, là cănnguyên để người nghệ sĩ sáng tác Vì vậy, cảm hứng là yếu tố đầu tiên và quan trọngnhất để hình thành tác phẩm văn chương Heghel và Biêlinxki đều định nghĩa: (cảm
hứng) là trạng thái hưng phấn cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất
của cuộc sống mà họ miêu tả Sự chiếm lĩnh ấy bao giờ cũng bắt nguồn từ lý tưởng
xã hội của nhà văn, nhằm phát triển và cải tạo thực tại [45, tr.141].
Tư tưởng của tác phẩm bao gồm khuynh hướng triết học, chính trị, đạo đức, làkhuynh hướng tình cảm, thẩm mỹ thể hiện trong tác phẩm Tư tưởng của tác phẩm cóquan hệ chặt chẽ với quan niệm về thế giới, quan niệm về nhân sinh, với tình cảm vàthái độ của nghệ sĩ Tư tưởng của người nghệ sĩ sẽ chi phối sự nhìn nhận và đánh giácác hiện tượng đời sống trong tác phẩm, cách phản ánh và thể hiện tình cảm của mìnhtrong tác phẩm Vì vậy, trong nghiên cứu văn học đã hình thành khái niệm cảm hứngchủ đạo với tư cách là nhân tố tư tưởng trong sáng tạo nghệ thuật Trong Bút ký triết
học, Lê-nin cũng đã từng viết: Tư tưởng - đó là nhận thức và khát vọng (mong muốn)
của con người [45, tr.265] Tư tưởng của tác phẩm văn học luôn gắn liền với cảm xúc
mãnh liệt của nhà văn, nhà thơ Nhà phê bình Biêlinxki phát biểu: Tư tưởng, đó
không phải là phép tam đoạn thức, không phải là giáo điều, không phải là qui tắc,
mà là một ham mê sống động, đó là cảm hứng [45, tr.268].
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã đưa ra quan điểm về cảm hứng một cách cụ
thể hơn: Cảm hứng là một tình cảm mạnh mẽ, mang tư tưởng, là một ham muốn tích
cực đưa đến hành động Điều quan trọng là cần nhận ra cảm hứng như một lớp nội dung đặc thù của tác phẩm văn học Cảm hứng trong tác phẩm trước hết là niềm say
Trang 29mê khẳng định chân lý, lý tưởng, phủ định sự giả dối mà mọi hiện tượng xấu xa, tiêu cực, là thái độ ngợi ca, đồng tình với nhân vật chính diện, là sự phê phán, tố cáo các thế lực đen tối, các hiện tượng tầm thường [45, tr.268].
Dẫn ra một số quan điểm như vậy, chúng tôi muốn giới thuyết về khái niệm cảmhứng chủ đạo trong sáng tác văn học là sự say mê, hòa nhập vào đối tượng, trở thànhtương ứng với nó, không chỉ là sự trải nghiệm mà thực sự là hóa thân, xuyên thấu vàođối tượng Chính vì thế, người đọc có thể dễ dàng bắt gặp tác giả trong những sángtác, đó là giọng điệu, là ngôn ngữ, là hình tượng nhân vật trữ tình, và cao hơn thế, là
tư tưởng, là thái độ, tình cảm của người nghệ sĩ với cuộc đời và con người Vậy nên,mọi vấn đề đặt ra trong tác phẩm đều có thể lý giải một cách thấu đáo khi chúng tanắm được, hiểu được cảm hứng chủ đạo của tác giả Nói cách khác, tác phẩm vănchương được ví như đứa con tinh thần của người nghệ sĩ, vì vậy, tác giả đã gửi gắm
tư tưởng, tình cảm của mình trong đó
Chế Lan Viên từng nói (đại ý rằng): Thơ muốn làm cho người ta khóc, trướctiên mình phải khóc, muốn làm cho người ta cười, trước hết mình phải cười Nghĩa là,người làm thơ phải cảm xúc gấp nhiều lần người thường Thơ là con đẻ của cảm xúc,của trạng thái tâm hồn Vậy nên, cảm hứng chủ đạo trong thơ là yếu tố quan trọng
nhất của tư tưởng tác phẩm Cảm hứng chủ đạo luôn luôn là trung tâm điểm là vương
quốc sự thật của nghệ thuật Cảm hứng chủ đạo bao trùm và xuyên suốt toàn bộ sáng
tác của nghệ sĩ nói chung và nhà thơ nói riêng Do đó, việc nghiên cứu những đặcđiểm trong sáng tác của một tác giả không thể tách rời việc nghiên cứu, nắm bắt cảmhứng chủ đạo của tác giả đó
2.1.2 Cảm hứng về những chuyến đi
Như chúng tôi đã trình bày, cảm hứng chủ đạo xuất phát từ tư tưởng, tình cảm
và những xúc cảm mãnh liệt, thường xuyên nhất của người nghệ sĩ Nên có lẽ, nhữngtình cảm, xúc cảm mãnh liệt và thường xuyên nhất của Hoàng Việt Hằng là từ thânphận, từ nỗi buồn và niềm đau, nỗi cô độc của bản thân mình Một cuộc đời phụ nữ
đa cảm mà đầy bất hạnh, cuộc đời ấy có lẽ chẳng được mấy ngày vui vẻ, hạnh phúc
và ngay cả khi hạnh phúc nhất cũng là những lúc cực nhọc nhất, tâm trạng vẫn là luôn
lo lắng, ám ảnh Nhưng chúng tôi muốn nói đến cảm hứng về những chuyến đi trước.
Bởi có lẽ, không một nhà thơ nào chỉ gói trọn xúc cảm của mình ở những tình cảm cá
Trang 30nhân riêng tư, đặc biệt đó là những nỗi đau không bao giờ nguôi ngoai Ngay cả mộtngười bình thường cũng khó mà tiếp tục sống nếu chỉ đắm chìm mãi vào nỗi đau củamình Mà họ vẫn phải đi, phải giao lưu với thế giới bên ngoài Họ đi không chỉ đểlàm dịu đi nỗi đau riêng, không phải tìm cách quên đi tất cả, mà dường như đi là đểsoi thấu, đồng cảm và hóa thân vào những nỗi bất hạnh của người đời Từ đó, tiếngthơ Hoàng Việt Hằng bật lên như chính tiếng thở than, tiếng khóc của chính mình và
cho cả những thân phận bất hạnh: Hoàng Việt Hằng đã nếm trải nhiều lao đao để
những sóng gió bất trắc lặn vào trang giấy trắng thành những câu thơ vỗ về kiếp người nổi nênh [50].
Tác giả Việt Quỳnh khi đọc tập thơ Xóa đi và không xóa cũng nhận định: Lời
thơ Hoàng Việt Hằng đơn giản như thủ thỉ, thấy gì, cảm gì thì ghi chép lại Câu thơ không phức tạp chữ nghĩa, không hoa lệ ngôn từ, cứ như một khoảnh tự mình trò chuyện với mình, dọc đường những lúc nghỉ chân đỡ phần mỏi mệt Biết bao địa danh
đã qua, biết bao cuộc đời và con người đã gặp, biết bao nhiêu xúc cảm chân thành đãbật lên thành thơ Vậy nên, trước tiên chúng tôi muốn đề cập đến cảm hứng từ những
chuyến đi của nhà thơ Qua những địa danh để gặp những con người.
2.1.2.1 Qua những địa danh
Hoàng Việt Hằng đã đến, đã đưa vào thơ mình rất nhiều địa danh trên mọi miềnđất nước, từ: Thác Bờ, Sông Mã, Sông Mực, Bến En, Đục Khê,… đến Đảo Dấu, MẫuSơn, Mường Lát, Tủa Chùa, Mường Lay, Buôn Đôn, Ngọa Vân… Và cả các địa danhcủa nước bạn Lào: Nậm Khan, Kỉu Mai Lo… hay Campuchia, Thái Lan: Ăng KoThom, Pattaya… Trung Hoa với Vạn Lý Trường Thành, Ấn Độ với đền Majhtal…Chị đi như con ong cần mẫn hút nhụy sống của cuộc đời để mang đến mật ngọt,hương thơm là những vần thơ Địa danh nào cũng mang đến một xúc cảm, địa danh
nào cũng để lại một suy tư Đó là Hồ Ba Bể: Hồ trong núi/ Cây ô rô lá đỏ/ Cây ô rô
lá xanh/ Hoa chuối rừng lặng lẽ tỏa hương/ Vẳng tiếng người gọi trâu lạc/ Ngẩng mặt/ Vách núi thẳm xanh/ Cây thẳm xanh/ Cúi mặt/ Hồ trong núi/ Thẳm xanh/ Tôi đã
ước/ Mình thẳm xanh/ Nơi này… (Hồ Ba Bể).
Và vẫn Hồ Ba Bể, với núi rừng, với xúc cảm như mơ hồ mà đẹp trong trẻo:
Thảng thốt một loài chim/ Bay từ sông Năng tới/ Cá dưới hồ quẫy đuôi/ Ba Bể mờ
sương khói (Thơ đề lưng núi Ba Bể).
Trang 31Những chuyến đi nối tiếp chuyến đi, Hoàng Việt Hằng đi khi có thể và nếu cần
một lý do, thì: Tôi biết lý do tôi bỏ phố…/Vì lâu lắm/ Không được nhìn tàn tro/ Vì lâu
lắm/ Không được nhìn bếp lửa/ Tôi biết lý do tôi bỏ phố/ Vì lâu lắm/ Không được đi
trên cỏ/ Vì lâu lắm/ Không được nghe thác đổ… (Thác bờ).
Đi vì lý do gì ư? Đi để đi và đi để được… ước, mà cũng chẳng ước gì to tát cao siêu, chẳng ước gì xa vời Người khác có thể ước mọi thứ của cải vật chất, bình yên
hạnh phúc, còn Hoàng Việt Hằng chỉ ước:
Đứng trên đỉnh núi Thạch Lâm
Mà sao chỉ ước một năm thế này
Chuyến đi mờ ảo như mây
Chốn này đã núi, chốn này thung xanh
(Lên núi Thạch Lâm ước)
Đi và thấy nơi nào trên Tổ Quốc này cũng thân quen, thân quen như chính làquê hương mình Với một tâm hồn rộng mở, chan chứa niềm yêu đời, yêu người, thi
sĩ coi nơi nào trên Tổ Quốc này cũng thân thương, cũng gần gũi, cũng là nơi chôn
nhau cắt rốn Vậy nên về phố Hiến, nhà thơ như được trở về :
Tôi về phố Hiến tháng ba
Như người bận việc đi xa lâu ngày
(Phố Hiến)
Đi và cảm nhận, từ các địa danh Hà Nội, rồi ngược từ Thác Bờ của dòng sông
Đà đến nơi biên ải, cực Bắc của Tổ Quốc:
Vừa ở Bình Liêu hun hút gió
tôi đã về lội nước ở Chi Lăng
(Miền biên ải)
Rồi từ nơi địa đầu cực Bắc xa xôi, nhà thơ đến nơi cực Nam của Tổ Quốc, nhận thấy sự vật, cảnh quan như từ lâu vẫn thế:
Những con thuyền trôi xuôi
Tiếng tù và vẫn thổi
Ở doi đất cuối trời
Triền rừng xanh màu đước
(Đất mũi)
Trang 32Ngọn lau bên bờ sông, hay cây rừng cây núi, cây đước ở vùng Cà Mau đã quen,
đã thân thuộc Nói đến Cà Mau không là nói đến rừng đước:
mà đước Cà Mau mà người dâu bể
chợ Cái Nước bấm ngón tay ngày lẻ
thuyền như dấu huyền nghiêng nửa vệt trăng
những cây đước non tươi cây mới hồi sinh
(Đước Cà Mau)
Những địa danh đó, những chuyến đi đó không phải là một cuộc du hí, mộtchuyến du ngoạn, cũng không phải vì tham vọng hay ham muốn được đặt chân, ghidấu tên mình ở nơi đó như cách thông thường của những người ưa khám phá Nhà thơ
đã chia sẻ rất thật:
Tôi đặt chân lên đảo Dấu
Chẳng mong để lại dấu gì
(Ra đảo Dấu)
Bởi cuộc hành trình nào cũng lắm gian nan Một chuyến đi không thảnh thơi vànhẹ nhõm cả tâm trạng lẫn hành lý mang theo, cũng không nhẹ nhàng như chỉ ngồitrên xe, trên tàu, trên thuyền Nhiều khi, người đọc thấy nhà thơ như đang hành xáctrong những chuyến đi đó:
Tôi ngồi đếm suối không tên
Đếm hoa cúc quỳ Đếm rừng hoa dẻ Phải tập đếm thôi như trẻ nhỏ
Để vượt qua những dốc nín thở Đến Sìn Hồ mộng mơ
(Sìn Hồ ở cây số không)
Thế nên, nhiều lúc nhà thơ tự hỏi mình, nghe mà xót xa:
Một ngày đội mấy cơn mưa
Trang 33Và ngược dòng sông Mã trong một hành trình ẩn chứa đầy những hiểm nguy:
Ngược dòng sông Mã mùa đông
Nước sông trong nước sông trong nao lòng….
Vượt ghềnh lũ xoáy gió giông
Chân em lội ngược nước trong thầm thì…
(Ngược dòng sông Mã)
Hình ảnh cỏ lau bên bờ sông Mực không khiến người ta nao lòng như sông Mã mà nghiêng như chênh chao, như chơi vơi, như những hơi thở gấp gáp trên cuộc hành trình.
Lên núi, lên rừng, gặp suối, gặp sông, rồi nhà thơ lại tìm đến biển để thấy:
Sóng xô bờ đã vô hồi
Có người ngồi đếm sóng dồi gần xa
(Biển)
Thấy xác xao những thanh âm của một miền quê nào đó, thăm thẳm một xúccảm nhớ thương nào đó:
Cát Bà lắm đảo con con
Nhiều nhà đất thó vẫn còn liêu xiêu
Ở đây nghe được tiếng rìu
Tiếng chim trói cột đìu hiu cuối trời
(Một ngày)
Nhà thơ không ngần ngại chia sẻ cái tôi của mình cùng bạn đọc, thông qua các
đại từ nhân xưng tôi, ta rất chân thành, hay có lúc là em thật hiền dịu Mỗi bài thơ là
một trang nhật ký hành trình nhiều gian truân, kỷ niệm và ẩn chứa bao nỗi niềm.Không dừng lại ở địa đầu cực Bắc hay cực Nam của Tổ quốc, ở núi cao, sông sâu,vực thẳm hay biển rộng trên đất nước mình Hoàng Việt Hằng còn đi xa hơn thế Đó
là dòng Nậm Khan của nước bạn Lào anh em: Bên này sông Nậm Khan…/Bản Pạc
Vẹt hồn sông còn quệt nắng/ Trên túp lều mây trắng đến ngang vai (Bên này sông Nậm Khan).
Đó là cánh rừng bạt ngàn gỗ tếch bên bản Kỉu Mai Lo, là những ngôi mộ chiến
sĩ vô danh, là dòng suối Nậm Xoong trong vắt, là đất Thái Lan với biển Pattaya nổi
tiếng: Bay trên biển Pattaya/ mẹ nhìn thấy biển xanh và sóng trắng/ Lặn dưới biển
Pattaya/ mẹ nhìn thấy cá thần tiên bơi ngược nắng (Trên biển Pattaya).
Trang 34Và vẫn là đất Thái, là biển của người Thái, nhưng đó là biển Phu Kẹt sau thảm
họa sóng thần kinh hoàng: Vẫn là bãi biển ngày xưa/ sóng thần cũng có số dư sóng
thần/ bao nhiêu nông nỗi người trần/ bóng dừa phơi nắng bước chân đổ dài/ chỉ
trong chớp mắt thiên tai/ mồ côi đến cả lâu đài mồ côi (Biển Phu Kẹt).
Rồi nhà thơ lại đến với đất nước Trung Hoa để thấy con tim như mắc nợ vẻ đẹp
của thảo nguyên, của tiếng hát người chăn cừu: Một chiều Vạn Lý Trường Thành/
Một chiều xe ngựa độc hành thảo nguyên/ Tiếng lục lạc vạt cỏ mềm/ Ngôi nhà đất thó
với đèn giấy giăng (Thảo nguyên).
Xa hơn nữa, nhà thơ du hành đến đất nước Ấn Độ, ngắm nhìn dòng sông Hằng sông thiêng của người Ấn, chiêm ngưỡng Bodhgaya nơi có cội cây bồ đề thiêng của đất Phật, và thả bước trên sa mạc Thar:
-Bắt đầu mùa khô ở Bodhgaya lá bồ đề đang
rụng những thảm lá ngàn năm vẫn màu vàng ấy
người ăn chay đi lễ khắp nơi này
rồi họ tạt sang sông Hằng gột rửa…
(Trên bến của sông Hằng)
Rồi đến với ngôi đền Taj Mahal để lại tự nhìn sâu vào tâm hồn, tình yêu và khát vọng của mình: Không thấy treo đồng hồ/ Ở trên đền Taj Mahal/ Không có tiếng tích
tắc/ Khoảnh khắc vàng/ Chỉ run rẩy mà thôi (Đền Taj Mahal).
Qua những chuyến đi đến với núi, sông, đảo, biển, ghềnh thác nhiều lần nhàthơ còn tìm đến những ngôi chùa như tìm một nơi tĩnh tại, một chốn thanh nghiêm để
buông bỏ mọi vướng bận và rũ sạch bụi trần, phải chăng vì cũng là đã hẹn: Mai về
thả bước êm đềm/ Tụng kinh, gõ mõ - điềm nhiên trước chùa (Biển) Vậy nên:
Tôi tìm sân sau chùa Sái
Với những bông hoa nhỏ dại
Không rõ tên và không có ai mua
Những vết rêu cũng ít người qua lại
mượt trong giấc mơ
(Sân sau ngôi chùa Sái)
Còn đây là hình ảnh như tiên cảnh, như nói lên tâm hồn lâng lâng đầy xúc cảm
thanh tao, thoát tục của nhà thơ: Đi chậm thì leo đến non trưa/ Ngẩng nhìn cây tùng
cổ mà mơ/ Sớm nay leo núi qua hồ biếc/ Thấy trúc che vàng một lối xưa/ Ngũ sắc ríu
ran từ lau sậy…(Lên Ngọa Vân)
Trang 35Hoàng Việt Hằng nhiều lần tìm đến chùa, ghi lại chuyện chùa để thấy mình cóthể buông bỏ được như khát khao buông bỏ mọi chuyện đời dẫu lòng còn nặng tìnhvới cuộc đời lắm:
Chùa Hang trong núi Lăng Tiêu Muốn đi hết phải một chiều mùa đông Học im lặng của con sông
Học người đốn củi cành cong buông rìu Ngước nhìn dòng chữ phủ rêu
Tiếng chuông vẫn vọng đìu hiu nơi này
(Chùa trong núi Lăng Tiêu)
Còn rất nhiều địa danh khác Hoàng Việt Hằng đến và cảm nhận, lắng đọngnhững xúc cảm về cảnh vật, về con người Đó là người bán vải ở chợ Đục Khê, làngười phụ nữ ở Buôn Đôn với ngôi nhà vắng bóng, là anh kiểm lâm viên ở rừng Bến
En, người đãi hến ở bến sông Hương, cô gái mơ hồ nào đó ở Mường Lát, rồi chùaSái, Kim Sơn, Trường Sơn với những ngôi mộ đá, những người Dao áo đỏ ở Mẫu
Sơn, người trồng cây trên đảo Sủ Vàng
Hoàng Việt Hằng đi không ngừng để tìm cảm hứng, để tìm chất liệu đưa vào thơ.Những chuyến đi, những địa danh đã không chỉ lưu lại dấu chân của nhà thơ mà còn lưulại trong trái tim của chị hình ảnh những con người chị đã gặp trên từng cung đường
2.1.2.2 Gặp những con người
Hoàng Việt Hằng đi nhiều không phải như một người nhàn nhã đi thưởng ngoạncảnh sắc của mây trời, của núi non sông suối, của biển cả bao la mà để nhìn cuộc đời,nhìn chính mình Cảm nhận về thiên nhiên cũng là một dòng xúc cảm nhưng cảmnhận về cuộc sống, về những con người trên cuộc hành trình ấy mới là dòng xúc cảmchính trong những chuyến đi của chị Và mỗi địa danh chị đặt chân đến có biết baonhiêu cảnh đời, bao nhiêu kiếp người Từ thân phận mình, với những gì đã trảinghiệm trong cuộc đời, trên những chuyến đi, Hoàng Việt Hằng như đồng cảm hơnvới cuộc sống mưu sinh của những người cùng giới:
Trang 36Là một nhà thơ nhạy cảm, có tấm lòng đầy nhân ái, qua những vùng đất, gặp nhữngcon người, mỗi người một cảnh ngộ, trái tim Hoàng Việt Hằng luôn thổn thức trước nỗiđau của con người, nhất là của người đàn bà góa bụa Những bài thơ của Hoàng ViệtHằng như nói với mình, về mình, nhưng cũng là sự giãi bày, đồng cảm và chia sẻ vớiđồng loại, với những người cùng giới đã và đang gánh chịu nỗi bất hạnh trên đất nước
mình hay ở bên kia thế giới: Suốt mùa khô chị quét lá vàng/ Cắm cúi đốt/ Lửa tàn thì mới khóc/ Con gái tôi nằm đây/ Chồng tôi cũng nằm đây/ Cha mẹ cũng nằm đây/ Hai
mươi chín năm quét lá/ Giọt nước mắt không màu (Chị Klung Lang).
Với tâm hồn phụ nữ, nhà thơ dễ dàng nhận thấy, thấu hiểu tâm trạng của người
đàn bà: Ai phơi trắng cói đồng Kim Sơn/ Có một người đàn bà đan cói cúi xuống/ Em
không dám hỏi/ Sợ vỡ đi nỗi buồn… (Ai phơi trắng cói đồng Kim Sơn).
Hoàng Việt Hằng dễ dàng cảm nhận, thấu hiểu được nỗi bất hạnh, cô đơn củanhững người phụ nữ nơi chị đi qua Vậy nên, một chị Ngải cô độc bên này sông Nậm
Khan cũng ám ảnh người đọc: Bên này sông Nậm Khan/ Chị Ngải sống một mình?
Túp lều gianh và chiếc ấm sành/ Chị đi nhổ cỏ và nuôi vịt/ Khi mò cua bắt tép cũng qua ngày/ Bản Pạc Vẹt hồn sông còn quệt nắng/ Trên túp lều mây trắng đến ngang
vai (Bên này sông Nậm Khan).
Đau khổ, bất hạnh không phải đến với tất cả những thân phận phụ nữ, nhưng có
lẽ sự lam lũ, vất vả luôn đồng hành với họ Và trái tim Hoàng Việt Hằng đã mẫn cảmnhận ra những công việc lặp lại một cách đơn điệu hàng ngày trong cuộc mưu sinh
của những người đàn bà trong các bài thơ: Một lần đi chợ Đục Khê, Người mẹ ở
Buôn Đôn, Mạ ở Gio Linh, Tết biển.
Từ cuộc đời của chính mình, Hoàng Việt Hằng như thấu hiểu đến tận đáy lòngnỗi cô đơn của người đàn bà đêm đêm trong chiêm bao vẫn nhớ lời chồng hẹn về:
mơ nhìn trẻ con hàng xóm rồi nuốt khan từng giọt xuân tàn:
bốn mươi năm sống với những bằng khen
vợ liệt sĩ, vách liếp, đèn nghiêng…
(Tết biển)
Bước qua cuộc chiến tranh, không chỉ các Mẹ, các chị ôm mãi niềm đau, niềm nhớ vì mất chồng, mất con, những người vợ mất chồng mất đi cả niềm hạnh phúc
Trang 37được làm vợ, làm mẹ Mà những người lính trở về sau cuộc chiến cũng vậy Có người
trở về: đầy đủ họ tên/ nhưng mãi mãi không có con không thể/ sau những trận bom, lại có người nỗi buồn rải thảm trong cơ thể Khó có thể so sánh niềm đau nào hơn
niềm đau nào Bằng niềm cảm thong chân thành, Hoàng Việt Hằng đã ghi lại hìnhảnh người cựu chiến binh cô độc trong cuộc sống đời thường, lặng lẽ với việc làmbình dị mà ý nghĩa hàng ngày:
anh vẫn rang gạo, rang muối
đi rắc khắp hàng mộ
vô danh khuất lối những điếu thuốc lá quấn một thời anh lặng lẽ thắp hương cho đồng đội
(Phía sau vô danh)
Trong thơ chị xuất hiện những con người bình dị, hàng ngày hàng giờ đối mặtvới cuộc mưu sinh, với những công việc bình lặng ít ai biết đến, nhưng lại có ý nghĩa
với cuộc đời: người thợ săn trong Đảo Sủ Vàng, anh kiểm lâm viên trong Kiểm lâm
viên rừng Bến En, cô giáo trong Viên ngọc trai ở bến Cái Bèo.
Hoàng Việt Hằng đã lưu dấu chân qua bao vùng đất từ cực Bắc đến cực Nam tổ
quốc, từ Việt Nam ra nước ngoài Và với nhà thơ: nơi nao qua lòng lại chẳng yêu
thương (Chế Lan Viên).
Có lẽ bởi tâm hồn nhạy cảm của người phụ nữ, bởi nỗi bất hạnh của bản thân
mà chị dễ thấu hiểu và cảm thương cho những số phận bất hạnh Đồng thời, thơ chịcòn ẩn chứa những vẻ đẹp rất nhân văn sau những nỗi bất hạnh ấy; là những lời tri ânkín đáo trước sự hy sinh thầm lặng như những con sóng ngầm dưới sâu đại dương,chẳng ai biết đến mà có sức mạnh to lớn làm nên những giá trị của cuộc đời
2.1.3 Cảm hứng trở về với chính mình
Đi là để trở về, để gặp lại chính mình, chúng tôi đã nói về điều đó trong cảmhứng từ những chuyến đi của Hoàng Việt Hằng Và thực sự, thơ của các nhà thơ nữđương đại nói chung và thơ của Hoàng Việt Hằng nói riêng đều xuất phát từ cái tôi
nội cảm đầy tha thiết, đầy nhân văn Nói như nhà nghiên cứu Mã Giang Lân: nỗi
buồn với nhà thơ lại là tài sản quý giá Có thể nỗi buồn làm cho con người dễ nhận
Trang 38ra bản thể mình, dễ cảm thông chia sẻ với mọi cảnh ngộ và nhạy cảm với những biến thái của cuộc đời [37] Và cảm hứng trở về với chính mình cũng là một mạch cảm
hứng chủ đạo trong thơ chị
2.1.3.1 Lời tự sự lặng lẽ
Nếu bạn đọc có may mắn được đọc hết thơ của Hoàng Việt Hằng sẽ biết về toàn
bộ cuộc đời chị, từ hoàn cảnh xuất thân đến tâm trạng, tình cảm Thơ Hoàng ViệtHằng bộc lộ cái tôi “kép” Bên cạnh cái tôi hướng nội, đi sâu vào con người cá nhân,với những lời tâm tình, tự bạch chân thành mà da diết Là cái tôi hướng ngoại, sẵnsàng mở lòng đón nhận mọi vang động, tủi hờn từ cuộc sống để đồng điệu, sẻ chia
Đọc thơ chị, người đọc như đồng cảm hơn với một lý lịch trích ngang (NTTS), và như chia sẻ hơn với một tuổi ấu thơ: Chỉ ước ngủ có đèn/ Có anh em không tha thủi
Mây trôi Cậu thui thủi một mình
Thì con cũng nhận can trường trong tay
(Lục bát cho mình)
Ngay khi đến với tình yêu, thơ Hoàng Việt Hằng vẫn ẩn giấu tâm sự của một
người đàn bà: Hạnh phúc của thời bình em không đắp nổi (Thơ tình viết tặng
chồng), trong đời riêng chị vẫn luôn chấp nhận một nỗi đau: Con chồng vợ cũ đồng
Trang 39sâu/ Lấy chồng lấy cả nỗi đau của chồng (Một mình khâu những lặng im) Và nỗi
đau ấy chỉ có thể giãi bày trong thơ: Em chịu khó đựng những tủi hờn vào túi áo/
Giấu nước mắt vào chiếc gối một/ Bước qua lời nguyền của con chồng/ Bước qua
gièm pha, thị phi/ để đến với anh (Cánh cửa).
Với tất cả chúng ta, hạnh phúc là điều không dễ dàng có được, và với HoàngViệt Hằng cũng vậy Dường như, cuộc đời và số phận khắc nghiệt dành cho chị sự thử
thách cùng một sự chịu đựng quá tải (NTTS) để đến với hạnh phúc:
Em leo dốc trơn trên đường mà người đời gọi là hạnh phúc Thiếu thốn và tật bệnh
Những vết thương chiến tranh trên người anh đã hé miệng
Em đã ngã sấp mặt trên dốc trơn
Tự bò dậy và đứng dậy Nhìn trăng non
Cúi mặt thấy trăng đẫm nước mắt
(Cánh cửa)
Hạnh phúc của người phụ nữ là được sống bên người mình yêu thương, được vềdưới cùng một mái nhà, cùng vun vén cho gia đình, được người chồng nâng đỡ vàche chở Nhưng với Hoàng Việt Hằng, lấy một người lính đầy vết thương do bom đạnchiến tranh nhưng không được cấp thẻ thương binh thì nỗi vất vả của cuộc sống mưu
sinh càng thêm gánh nặng: Vết thương thứ nhất như chiếc lá sém ở cánh tay anh/ Áo
quân phục dài tay che đi từng ngày/ Vết bom bi nổi lên sống lưng/ Anh sống chung với viên bi từ tết Mậu Thân năm 68/ Vết thương ổ bụng và vết ở chân…/ Bom dội xuống rừng xanh/ Anh chẳng còn gì làm chứng từ thương tật/ Hai mươi năm mỗi mùa gió trở/ Em đã biết bình tâm chịu đựng giúp anh/ Vượt qua cơn đau co cứng…
để viết…/ Chỉ có tóc em bạc trắng rất nhanh/ Những vết thương của người lính đi qua cuộc chiến/ Vẫn sưng tấy lên trong cuộc đời em/ Không chỉ riêng ngày tháng bẩy?
(Những vết thương không nhìn thấy).
Cuộc sống thường nhật cũng không phải như thơ, như mơ, cũng không tránhkhỏi những trách móc, giận hờn Lần thứ nhất giận nhau, lần thứ hai giận nhau, lần
Trang 40thứ ba giận nhau… Nhưng giận hờn sẽ qua đi, anh và em lại cùng nhau vun vén hạnh
phúc cho gia đình nhỏ vì cả hai người đều biết giá trị của hạnh phúc, biết và trân
trọng, gìn giữ: Anh gõ lại rồi anh sửa chữa/ Chỉ có anh biết cách sửa chữa/ Hai cánh
cửa nhà ta đóng mở/ Chỉ có bàn tay anh và bàn tay em/ Khép mở được thôi mà…
(Giận nhau).
Hạnh phúc đôi khi thật giản dị, và với người phụ nữ, hạnh phúc chỉ đơn giản làthấy chồng, thấy con được vui vẻ, được ăn một miếng ngon, vậy nên sau những phút
giận hờn là niềm vui, là ấm áp: Em bỏ đi chợ/ Những bông hồng nhung em không
mua nữa/ Mà mua hoa chuối về cắt nhỏ/ làm nộm với vừng/ Con trai bốc khen ngon/
Anh cũng khen rằng hoa chuối ngọt (Giận nhau).
Nhưng quãng thời gian hạnh phúc quá ngắn ngủi, sau những năm chung sốngcủa đôi vợ chồng nhà văn nhà thơ, cùng nhau chia sẻ những trang viết, những khátvọng sáng tạo văn chương, nhà văn Triệu Bôn, người chồng và là người đồng nghiệpcủa Hoàng Việt Hằng đã từ giã cõi đời Dường như cô đơn, luôn phải một mình đốimặt với chính mình từ thời thơ ấu đến hiện tại và luôn phải bươn trải mưu sinh đã
buộc chị phải vịn câu thơ mà đứng dậy Và chị tìm thấy chỗ dựa để tiếp tục sống, đó
chính là đứa con, là kết tinh tình yêu của hai người:
Lúc ốm đau
Em đã muốn bỏ cuộc
Nhưng thấy con tha thủi không đành.
(Dấu chấm than viết ngược)
Có thể nói, đứa con và văn chương là chỗ dựa tinh thần, là nguồn động lực tiếpsức cho nhà thơ đứng vững, vượt lên, đi tiếp, viết tiếp và cũng là gánh nặng tráchnhiệm của người phụ nữ ấy:
Một mai góc biển chân trời
Viết nuôi con lớn lên người mới xong
(Một mình khâu những lặng im)
Sau tất cả những thăng trầm của đời mình, sau những chuyến đi và trở về vớichính mình, Hoàng Việt Hằng đã đúc rút và viết những dòng thơ như những lời chiêmnghiệm sâu sắc về đời mình, đời người