Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Để thực hiện được mục đích nghiên cứu của đề tài, luận văn phải hoàn thành một số nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu và phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luậ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CHU THỊ THANH HƯƠNG
Kü N¡NG KHëI KIÖN Vô ¸N D¢N Sù
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CHU THỊ THANH HƯƠNG
Kü N¡NG KHëI KIÖN Vô ¸N D¢N Sù
Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số : 8380101.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Minh Hằng
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét
để cho tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn
NGƯỜI CAM ĐOAN
Chu Thị Thanh Hương
Trang 4vụ án dân sự
19
1.2.1 Các quy định của pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự 19 1.2.2 Năng lực tham gia tố tụng của người khởi kiện vụ án dân sự 20 1.2.3 Sự hỗ trợ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự đối với người khởi kiện vụ án dân sự
21
1.2.4 Năng lực đội ngũ cán bộ công chức của Tòa án, Viện kiểm sát 22
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC
HIỆN KỸ NĂNG KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ
26
2.1 Thực trạng pháp luật bảo đảm thực hiện kỹ năng khởi kiện 26
2.1.3 Các điều kiện khởi kiện vụ án dân sự 42
2.2 Kết quả đạt được từ thực trạng thực hiện kỹ năng khởi kiện 56
Trang 52.3 Hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong thực hiện kỹ năng
khởi kiện vụ án dân sự
58
2.3.1 Hạn chế trong thực tiễn thực hiện kỹ năng khởi kiện vụ án
dân sự
58
2.3.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn thực
hiện kỹ năng khởi kiện vụ án dân sự
3.1.2 Khắc phục những điểm bất cập của pháp luật hiện hành về khởi
kiện vụ án dân sự để nâng cao kỹ năng khởi kiện vụ án dân sự
73
3.1.3 Khắc phục những hạn chế phát sinh trong quá trình áp dụng
các quy định của pháp luật về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự
76
3.2 Giải pháp nâng cao kỹ năng khởi kiện vụ án dân sự 78 3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự 78 3.2.2 Các biện pháp nâng cao năng lực tham gia tố tụng của người
khởi kiện vụ án dân sự
81
3.2.3 Đảm bảo sự hỗ trợ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự đối với người khởi kiện vụ án dân sự
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
90
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật Dân sự BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao TTDS : Tố tụng dân sự
VADS : Vụ án dân sự XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với xu thế hội nhập quốc tế như hiện nay, bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề phát sinh cần giải quyết Một trong những vấn đề đó là các quan hệ dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình, cùng các tranh chấp liên quan các lĩnh vực này ngày càng gia tăng về số lượng và mức độ phức tạp Để giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp liên quan đến lĩnh vực trên, các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự đã phải lựa chọn giải pháp khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền yêu cầu giải quyết các tranh chấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Khởi kiện vụ án dân sự (VADS) được pháp luật ghi nhận là hoạt động
tố tụng đầu tiên bảo vệ quyền dân sự của chủ thể có quyền hay lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và các chủ thể được pháp luật trao quyền Đồng thời, đây
là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự (TTDS)
Ở Việt Nam, vấn đề khởi kiện VADS được quy định trong các văn bản pháp luật từ khá sớm và ngày càng được hoàn thiện Ngày 25/11/2015,
Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam thông qua và có hiệu lực thi hành kể
từ ngày 01/07/2016 Với BLTTDS năm 2015, nội dung khởi kiện VADS đã được quy định rõ ràng và đầy đủ hơn, khắc phục được một số hạn chế của các văn bản pháp luật trước đó Tuy nhiên, BLTTDS năm 2015 mới chỉ giải quyết được phần nào vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về khởi kiện VADS, vẫn còn có những quy định chưa minh bạch dẫn đến có nhiều cách hiểu và áp dụng không thống nhất
Việc tuân thủ các điều kiện khởi kiện để các tranh chấp dân sự có thể được thụ lý phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng của chủ thể khởi kiện Chỉ có xuất phát từ việc thực hiện tốt, đầy đủ các quy định của pháp luật về khởi kiện thì tranh chấp đó mới được thụ lý và giải quyết theo đúng quy định pháp luật
Trang 8Ngược lại, khi khởi kiện không thực hiện đúng các quy định thì bước cần thiết tiếp theo chính là thụ lý đơn khởi kiện khó có thể được chấp nhận Do vậy, kỹ năng khởi kiện luôn đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp dân sự
Quyền khởi kiện là vấn đề luôn được các nhà các nhà nghiên cứu về tố tụng, cơ quan lập pháp của nhiều nước trên thế giới và Việt Nam quan tâm Hiện nay các quy định trong pháp luật TTDS của Việt Nam về cơ bản đã phần nào thể hiện được vấn đề này Tuy nhiên, trên phương diện lý luận thì chưa có công trình nghiên cứu nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học đề cập đến kỹ năng khởi kiện Thực tiễn thực hiện một số quy định của pháp luật TTDS hiện hành chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của việc bảo đảm kỹ năng khởi kiện VADS có hiệu quả Bên cạnh đó, thực tiễn tố tụng tại Tòa án cũng phản ánh trong nhiều trường hợp, quyền khởi kiện của đương sự đã không được tôn trọng một cách đúng mức Một số quy định về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện được quy định trong BLTTDS còn chung chung, thiếu tính
cụ thể, dẫn tới các Tòa án còn lúng túng, các chủ thể khởi kiện chưa thực hiện được tốt kỹ năng khởi kiện của mình Đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho kỹ năng khởi kiện VADS không được bảo đảm thực hiện triệt
để trên thực tế Do vậy, cần nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc về kỹ năng khởi kiện VADS trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất những giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả bảo đảm thực thi kỹ năng khởi kiện VADS trong thực tiễn
Từ những thực trạng đó, việc nghiên cứu đề tài: "Kỹ năng khởi kiện
vụ án dân sự" có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến nội dung khởi kiện VADS đã có một số luận văn, đề tài khoa học, tiểu luận, bài viết trên tạp chí đã đề cập một cách trực tiếp hoặc lồng ghép vào những nội dung liên quan
Trang 9Trước khi BLTTDS năm 2015 và Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015
có hiệu lực thi hành, có thể kể đến một số các công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài sau:
- Nhóm các luận văn đã bảo vệ có liên quan đến đề tài: Luận văn thạc
sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2012, của Nguyễn
Thị Hương với nội dung "Khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2004"; Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà
Nội, năm 2012, của Trần Đức Thành về "Quyền khởi kiện và đảm bảo quyền
khởi kiện trong tố tụng dân sự Việt Nam"; Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa
Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2012, của Nguyễn Thu Hiền với nội dung
"Hoàn thiện chế định khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam"; Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội,
năm 2014, của Trần Thị Lượt với nội dung "Khởi kiện vụ án dân sự" Kết quả
nghiên cứu của các đề tài này đã đề cập đến chế định khởi kiện và thụ lý VADS, cũng như quyền khởi kiện của đương sự trong TTDS Việt Nam trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, nội dung các công trình nghiên cứu chủ yếu tiếp cận theo các quy định của BLTTDS năm 2004, sửa đổi bổ sung năm
2011 Mặt khác, toàn bộ nội dung về kỹ năng khởi kiện đều không được đề cập đến ở các công trình nghiên cứu này Mặc dù vậy, tổng quan của các công trình nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo hữu hiệu cho tác giả trong việc vận dụng cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng pháp luật khi so sánh chế định khởi kiện và thụ lý vụ án của BLTTDS năm 2015 so với pháp luật TTDS trước đây
- Nhóm các bài báo có liên quan đến đề tài: bài "Những quy định mới
về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Tố tụng dân sự", của Nguyễn Thị Hương, Tạp chí Tòa án, số 19/2011;
bài "Những vấn đề cơ bản lưu ý khi thụ lý đơn khởi kiện, khởi tố, đơn yêu cầu
trong giải quyết vụ án dân sự", của Duy Kiên, Tạp chí Kiểm sát, số 7/2012;
bài "Các điều kiện cần và đủ khi khởi kiện vụ án dân sự", của Tưởng Duy
Trang 10Lượng, Tạp chí Kiểm sát, số Tân Xuân/2012; bài "Đảm bảo quyền khởi kiện
vụ án dân sự theo quy định của Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự",
của Đặng Thanh Hoa, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2012; bài "Một số ý
kiến về thời hiệu khởi kiện theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004", của Lê Mạnh Hùng, Tạp chí Kiểm sát, số 10/2012;
bài "Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng", của Đặng Hoàng Quân, Tạp chí Tòa án nhân dân (TAND), số 23/2013; bài "Giải quyết việc
nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện trong vụ án dân sự nhiều nguyên đơn có đúng yêu cầu", của Bùi Thị Tố Nga, Tạp chí TAND, số 01/2014 Các bài tạp
chí này, tuy chưa đề cập sâu đến nội dung kỹ năng khởi kiện VADS nhưng đã giúp tác giả hiểu rõ hơn các nội dung liên quan đến khởi kiện VADS, là tài liệu tham khảo giúp cho nội dung luận văn thêm phong phú, sinh động
Sau khi BLTTDS năm 2015 và BLDS năm 2015 có hiệu lực thi hành,
có thể kể đến một số các công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài sau:
- Nhóm các luận văn đã bảo vệ có liên quan đến đề tài: Luận văn thạc
sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, của Phan Thanh Dương: "Khởi
kiện vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015"; Luận văn
thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, của Lê Thị Thu Thủy: "Quyền
khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện vụ án dân sự theo Bộ luật Tố tụng dân
sự 2015"; Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, của Nguyễn
Thị Hương, bảo vệ luận án năm 2019: "Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự -
Những vấn đề lý luận và thực tiễn"
- Nhóm các bài báo có liên quan đến đề tài: bài "Khởi kiện vụ án dân
sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015", của Bùi Thị Huyền, Tạp
chí Kiểm sát, số 12/2017; bài "Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự",
của Nguyễn Minh Hằng, Tạp chí Kiểm sát số 13/2017 và nhiều công trình khoa học, bài báo đăng tải tạp chí khác
Trang 11Trên cơ sở các tài liệu tham khảo, tác giả tổng hợp và kế thừa để nghiên cứu một cách có hệ thống, từ đó phân tích và đưa ra những nhận định, đánh giá của mình về các quy định pháp luật về khởi kiện VADS ở nước ta hiện nay, để từ đó là một trong những phương thức thực hiện tốt kỹ năng khởi kiện VADS của chủ thể khởi kiện
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài với mục đích đưa ra các luận cứ khoa học và thực tiễn nhằm nhận diện tốt được kỹ năng khởi kiện VADS của người khởi kiện, đảm bảo thực hiện có hiệu quả trên thực tế việc khởi kiện VADS, đồng thời đưa ra các phân tích, kiến nghị, nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật dân sự hiện hành về khởi kiện các VADS và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao kỹ năng khởi kiện VADS của chủ thể
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu của đề tài, luận văn phải hoàn thành một số nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu và phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về
kỹ năng khởi kiện các VADS;
- Tìm hiểu một cách đầy đủ và có hệ thống các quy định của pháp luật về khởi kiện VADS tiếp cận dưới góc độ của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành;
- Trình bày rõ thực trạng pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về khởi kiện VADS và thực tiễn thực hiện nhằm đánh giá đúng đắn, khách quan, toàn diện, chỉ ra những điểm bất cập, chưa hợp lý trong các quy định của pháp luật;
từ đó đưa ra giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện các quy định của BLTTDS năm 2015 về khởi kiện các VADS
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định như sau:
- Về nội dung, kỹ năng khởi kiện VADS là một vấn đề nghiên cứu tương
đối rộng, được hiểu dưới nhiều phương diện, góc độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn Đó là các kỹ năng về pháp lý, lý luận, về thực tiễn, về xã hội, về tâm
Trang 12sinh lý Trong phạm vi của luận văn thạc sĩ luật học, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về kỹ năng pháp lý trong khởi kiện VADS Thực trạng pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về khởi kiện VADS và thực tiễn thực hiện, định hướng hoàn thiện pháp luật và kiến nghị nâng cao kỹ năng khởi kiện VADS theo nghĩa hẹp
Về chủ thể, chủ thể của kỹ năng khởi kiện VADS bao gồm rất nhiều
chủ thể khác nhau: người khởi kiện (cá nhân, cơ quan, tổ chức ), người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, chủ thể khởi kiện vì lợi ích chung, nội dung luận văn tác giả chỉ tập trung phân tích về kỹ năng khởi kiện của chủ thể khởi kiện là các đương sự Việc đề cập đến chủ thể khởi kiện là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự với vai trò là người hỗ trợ giúp đương sự thực hiện kỹ năng khởi kiện
- Về thời gian, không gian, đề tài đánh giá, phân tích thực tiễn thực
hiện kỹ năng khởi kiện của đương sự thông qua các bản án, quyết định trong thời gian từ năm 2017 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu luận văn đã dựa trên cơ sở các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và
vì nhân dân Đề tài được hoàn thành với việc sử dụng tổng hợp các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, luật học, phân tích, tổng hợp, logic, lịch sử, so sánh, đối chiếu Đồng thời, tác giả còn sử dụng phương pháp khai thác, sử dụng các tư liệu thực tiễn để hoàn chỉnh luận văn
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được tác giả sử
dụng để phân tích và tổng hợp các cơ sở lý luận, việc áp dụng các quy định pháp luật về khởi kiện VADS trên thực tiễn Phương pháp này sẽ được sử dụng ở Chương 1 và Chương 2 của đề tài
Phương pháp lịch sử: Để tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển các
quy định của pháp luật về khởi kiện VADS Phương pháp này được sử dụng tại Chương 1 của đề tài
Trang 13Phương pháp so sánh: Dùng để so sánh quy định của BLDS năm 2015
về khởi kiện VADS với quy định của các văn bản ban hành trước đó, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam Phương pháp này được tác giả sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu
Phương pháp kế thừa: tác giả tiếp thu một cách có chọn lọc những kết
quả nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến khởi kiện VADS của các tác giả trước, sử dụng ở Chương 1 và Chương 2 của đề tài
Phương pháp nghiên cứu lý luận kết hợp với thực tiễn: dựa trên các
quy định của pháp luật, đối chiếu với thực tiễn áp dụng pháp luật về khởi kiện VADS tìm ra những điểm bất cập, hạn chế, thiếu sót Phương pháp này được tác giả sử dụng chủ yếu ở Chương 2 của đề tài
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp giải thích, bình luận để hoàn thành đề tài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả đạt được của luận văn góp phần bổ sung và hoàn thiện những vấn đề lý luận về kỹ năng khởi kiện các VADS tại Việt Nam Bên cạnh đó, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích không chỉ với đội ngũ luật sư, các nhà khoa học, giảng viên, sinh viên nghiên cứu về luật học mà còn có ý nghĩa đối với việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật, áp dụng pháp luật liên quan đến
kỹ năng khởi kiện các VADS
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về kỹ năng khởi kiện vụ án dân sự Chương 2 Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện kỹ năng khởi
kiện vụ án dân sự
Chương 3 Yêu cầu và giải pháp nâng cao kỹ năng khởi kiện vụ án
dân sự
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ KỸ NĂNG KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của kỹ năng khởi kiện vụ án dân sự
1.1.1 Khái niệm kỹ năng khởi kiện vụ án dân sự
Theo L.Đ.Lêvitôv, nhà tâm lý học Liên Xô cho rằng: "Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định" [21, tr 45 Theo ông, người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Ông còn nói thêm, con người có kỹ năng không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải vận dụng vào thực tế
Theo tác giả Vũ Dũng thì: "Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng" [7, tr 36] Mỗi kỹ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho hoạt động Điều đáng chú ý là sự thực hiện một kỹ năng luôn luôn được kiểm tra bằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất
kỳ một kỹ năng nào đều nhằm vào một mục đích nhất định
Từ sự phân tích trên ta có thể hiểu "kỹ năng" một cách khái quát nhất:
Kỹ năng là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để đạt được mục đích đề ra
Nói đến kỹ năng là nói đến việc thực hiện thuần thục, thành thạo một hoạt động, hành động nào đó Như vậy, chủ thể khởi kiện VADS cần có kiến thức, kinh nghiệm, năng lực để mục đích của mình đạt được hiệu quả cao nhất
Trang 15Để nhận diện được đặc thù của kỹ năng khởi kiện trong VADS, cần làm sáng tỏ các nội hàm khái niệm có liên quan như: quyền khởi kiện, VADS Trong xã hội ngày nay, khởi kiện là một trong những quyền của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Điều 8 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc ghi nhận về quyền khởi kiện một cách gián tiếp như sau: "Mọi người đều có quyền được các Tòa án quốc gia có thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháp hữu hiệu để chống lại hành vi vi phạm các quyền cơ bản của họ mà đã được Hiến pháp hay luật pháp quy định" Với quy định này, có thể thấy rằng quyền khởi kiện được thừa nhận là một trong những quyền cơ bản của con người và được pháp luật của mỗi quốc gia thừa nhận và bảo vệ Tuyên ngôn nhân quyền này được coi là cơ sở pháp lý để các quốc gia thành viên cam kết, tuân thủ trong quá trình bảo đảm quyền tự do cơ bản của con người, và được mỗi quốc gia thành viên nội luật hóa trong hệ thống pháp luật của mình Tuyên bố Viên và Chương trình hành động về quyền con người năm 1993 đã khẳng định:
Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan đến nhau Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo, (thì) các quốc gia, không phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, có nghĩa vụ đề cao và bảo vệ tất cả các quyền con người và các quyền tự do cơ bản [45] Qua tuyên bố này, có thể khẳng định rằng quyền khởi kiện cũng như các cơ chế pháp lý bảo đảm quyền khởi kiện được bảo vệ và thực thi hữu hiệu trên thực tế, chính là một đòi hỏi đối với mỗi quốc gia thành viên
Ở Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: "Con người là trung tâm của chiến lược phát triển Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân" [12], khẳng định này đã xác định cụ thể nhân dân là chủ thể của quyền và bảo đảm
Trang 16quyền con người là mục tiêu của nước XHCN Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 xác định:
Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người Quyền
và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện [14, tr 85] Chính vì vậy, quyền khởi kiện luôn được Nhà nước bảo đảm và được quy định cụ thể trong các văn bản pháp lý
Hiến pháp năm 2013 quy định: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp
và pháp Luật" [24] Theo đó, mọi công dân đều được quyền hành xử hoặc yêu
cầu người khác hành xử đối với mình theo đúng quy định pháp luật Trong quan hệ pháp luật dân sự, mối quan hệ giữa các chủ thể là mối quan hệ ngang hàng, bình đẳng tuyệt đối về mặt ý chí giữa các bên Tuy nhiên, để đảm bảo cho các quyền và lợi ích của các chủ thể này có thể được thực hiện một cách
có hiệu quả trên thực tế, thì Nhà nước cần phải trao cho họ phương tiện pháp
lý hữu hiệu để khi có tranh chấp phát sinh, họ có thể sử dụng phương tiện đó
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Quyền khởi kiện chính là quyền được pháp luật thừa nhận và bảo vệ để công dân, cơ quan, tổ chức có thể bảo vệ quyền lợi của mình một cách tối đa
Trước khi BLTTDS năm 2004 ra đời thì quyền khởi kiện được hiểu theo nghĩa rộng Theo đó, quyền khởi kiện được hiểu là khả năng Nhà nước cho phép công dân được yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi cho rằng quyền lợi hợp pháp đó bị xâm phạm hoặc yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý, các quyền dân sự, hôn nhân
Trang 17và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 về xác định thẩm quyền xét xử về dân sự của Tòa án sơ cấp, Sắc lệnh số 85 ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và tố tụng Thuật ngữ
vụ kiện dân sự được sử dụng để chỉ những tranh chấp dân sự có yêu cầu Tòa
án giải quyết Đến Hiến pháp năm 1959, thuật ngữ vụ kiện được thay thế bằng thuật ngữ vụ án Tiếp đó, theo quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các
VADS năm 1989, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động thì khi các đương sự có nhu cầu đưa các vụ việc dân sự, kinh tế, lao động để giải quyết theo thủ tục tố tụng thì không có sự phân biệt giữa thủ tục giải quyết các quan hệ pháp luật có tranh chấp và các quan hệ pháp luật không tranh chấp và chúng đều được gọi bằng cách gọi chung là vụ án Năm 2004, BLTTDS ra đời, khái niệm VADS đã có
sự thay đổi Theo BLTTDS năm 2004 và sau này là sự kế thừa của BLTTDS năm 2015, nếu các cá nhân, cơ quan, tổ chức có tranh chấp về quyền và nghĩa
vụ thì gọi là án dân sự; nếu cơ quan, tổ chức không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự thì là việc dân sự VADS bao gồm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động Như vậy, khởi kiện lúc này được hiểu theo nghĩa hẹp hơn Theo đó, khởi kiện là thực hiện quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hay tranh chấp trong VADS
Giáo trình Luật tố tụng dân sự năm 2018 của Trường Đại học Luật Hà Nội khẳng định: "Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng quan trọng của các chủ thể Nó cho phép cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác bảo vệ quyền là lợi ích hợp pháp của mình trước tòa án" [46, tr 241] Đồng tình với điều này, TS Phan Chí Hiếu cho rằng:
Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của cá nhân, pháp nhân, các tổ chức xã hội hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền, lợi
Trang 18ích hợp pháp của mình, của Nhà nước, tập thể hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc bị vi phạm [17, tr 246-247]
Theo đó, khởi kiện VADS là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp nhân
và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS, là cơ sở làm phát
sinh quan hệ pháp luật TTDS
Quyền khởi kiện được xem xét theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, cụ thể:
Theo nghĩa hẹp, quyền khởi kiện VADS được hiểu là quyền của các
chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động hoặc các chủ thể được pháp luật trao quyền trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Quyền khởi kiện của các chủ thể trên được hiểu đơn giản là việc một chủ thể yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của chủ thể khác thông qua hành vi đầu tiên là nộp đơn khởi kiện tại Tòa án để khởi động cho quá trình tố tụng tại Tòa án Việc nộp đơn khởi kiện chính là hành
vi thực tế thực thi quyền khởi kiện của người khởi kiện làm trực tiếp phát sinh quan hệ TTDS tại Tòa án Quyền khởi kiện có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tư cách của các đương sự trong VADS đã được người khởi kiện thực hiện việc khởi kiện tại Tòa án
Theo nghĩa rộng, quyền khởi kiện VADS được hiểu không những là
quyền của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động hoặc các chủ thể được pháp luật trao quyền trong việc yêu cầu Tòa
án bảo vệ quyền lợi khi có tranh chấp hoặc xâm phạm, mà còn bao gồm cả quyền đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn và quyền đưa ra yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Xuất phát từ quyền bình đẳng giữa các đương sự tham gia TTDS, từ địa vị pháp lý của các chủ thể trong pháp luật nội dung, pháp luật TTDS đã xây dựng nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS Theo đó, chủ thể đều bình đẳng thực hiện quyền tố tụng trước tòa nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Trang 19Trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ đề cập nội dung khởi kiện theo nghĩa hẹp, tức là khởi kiện của nguyên đơn Theo đó, khởi kiện VADS là việc
cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định pháp luật TTDS yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác, bảo vệ lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước trong trường hợp lợi ích đó đang bị xâm phạm hay có tranh chấp với các chủ thể khác Từ việc thực hiện khởi kiện này, kỹ năng khởi kiện VADS được xác định là:
Kỹ năng khởi kiện VADS là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác có thẩm quyền vận dụng quy định của pháp luật về khởi kiện VADS và những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác, bảo
vệ lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước trong trường hợp lợi ích đó đang bị xâm phạm hay có tranh chấp với các chủ thể khác
1.1.2 Đặc điểm của kỹ năng khởi kiện vụ án dân sự
Khởi kiện VADS được xem là công cụ hữu hiệu nhất trong toàn bộ các phương thức khác nhau mà xã hội và Nhà nước dùng để giải quyết các tranh chấp và mâu thuẫn lợi ích Việc hiểu và thực hiện được các kỹ năng khởi kiện VADS sẽ là phương thức để việc khởi kiện có thể đạt được kết quả tốt như mong muốn Kỹ năng khởi kiện VADS có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, về chủ thể thực hiện kỹ năng khởi kiện: chủ thể thực hiện kỹ
năng khởi kiện VADS bao gồm rất nhiều chủ thể khác nhau: người khởi kiện (cá nhân, cơ quan, tổ chức ), người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự, chủ thể khởi kiện vì lợi ích chung Đối tượng này có trình độ nhận thức pháp luật khác nhau, tâm sinh lý, tư tưởng, tình cảm, khả năng tài chính khác nhau nhưng họ đều có một đặc điểm chung là muốn được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của mình Do vậy, họ sẵn sàng vận dụng mọi năng lực của mình về kiến thức, vốn sống, trình độ chuyên môn, khả năng tài chính để thực
hiện kỹ năng khởi kiện VADS nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ
Trang 20Chủ thể thực hiện kỹ năng khởi kiện VADS là những chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm hoặc được pháp luật trao quyền thực hiện Xuất phát
từ nguyên tắc thỏa thuận, bình đẳng của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự nên khi một trong các bên của quan hệ xâm phạm đến quyền lợi ích của các chủ thể khác thì pháp luật trao cho họ các quyền năng để tự bảo vệ quyền lợi của mình Theo đó, chủ thể khởi kiện cần phải có năng lực pháp luật TTDS và năng lực hành vi TTDS Đối với người khởi kiện là cá nhân thì năng lực hành vi TTDS của họ được xác định trên cơ sở khả năng nhận thức
và khả năng điều khiển hành vi của mình trong việc tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS Tuy nhiên, đối với những đương sự có đủ năng lực hành vi TTDS
để thực hiện quyền khởi kiện vì những lý do khác nhau mà họ không thể thực hiện được quyền khởi kiện thì pháp luật cũng có thể bảo đảm điều kiện thuận lợi cho họ thực hiện quyền này thông qua cơ chế ủy quyền cho người khác đại diện thay mặt mình khởi kiện trước Tòa án Việc cho phép đương sự thực hiện quyền khởi kiện thông qua đại diện theo ủy quyền là phương tiện pháp lý cần thiết tạo điều kiện cho đương sự bằng nhiều hình thức khác nhau có thể thực hiện quyền khởi kiện một cách thuận lợi nhất để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Bên cạnh việc pháp luật quy định những chủ thể có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích trực tiếp của mình thì còn có những chủ thể được Nhà nước trao quyền để bảo vệ quyền và lợi ích dân sự của các chủ thể khác, lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng Như vậy, chủ thể thực hiện khởi kiện VADS có thể là một trong các bên tham gia quan hệ pháp luật dân
sự hoặc các chủ thể khác có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật
Thứ hai, đối tượng kỹ năng khởi kiện hướng tới: kỹ năng khởi kiện
VADS là một chuỗi các nhận thức, hành vi để tiến hành khởi kiện VADS Kỹ năng khởi kiện VADS giúp thực hiện hành vi khởi kiện của cá nhân, cơ quan,
tổ chức khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền và lợi ích dân sự của mình hoặc của người khác khi xảy ra xâm phạm
Trang 21hoặc tranh chấp Khởi kiện chính là một cơ chế đảm bảo được Nhà nước xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa luật nội dung và luật tố tụng Tất cả các quan
hệ về tài sản hoặc nhân thân là đối tượng được pháp luật dân sự bảo vệ, khi bị xâm phạm, thì các chủ thể trong quan hệ tranh chấp đều có quyền khởi kiện đến Tòa án để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Thứ ba, về nội dung và phạm vi khởi kiện: kỹ năng khởi kiện VADS
thể hiện ý chí tự nguyện của chủ thể, ý chí này được thể hiện trong nhận thức
và hành động, không bị ai ép buộc, các đương sự có quyền tự do định đoạt trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trong suốt quá trình tố tụng giải quyết VADS, quyền tự định đoạt của đương sự luôn được bảo đảm thực hiện và được đặt trong mối quan hệ tương quan với pháp luật nội dung Pháp luật TTDS được xây dựng dựa trên những bản chất cốt lõi nhất của pháp luật dân sự Theo đó, khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì một trong các bên tranh chấp được quyền định đoạt, lựa chọn những phương thức khác nhau để giải quyết tranh chấp và khởi kiện là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp đó Việc các bên tranh chấp lựa chọn khởi kiện đến Tòa án hoàn toàn xuất phát từ ý chí chủ quan của họ mà không ai có quyền quyết định hay hạn chế một cách tùy tiện kể cả nhà nước Trong giao lưu dân sự, khi có quyền và lợi ích bị coi là xâm phạm hoặc có tranh chấp, các chủ thể có quyền khởi kiện mà không bị bất kỳ một cá nhân, tổ chức hay cơ quan nhà nước nào được phép cản trở, chi phối hoặc hạn chế một cách tùy tiện Việc khởi động, thay đổi, chấm dứt quá trình TTDS tại Tòa án hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên trong quan hệ tranh chấp Đây cũng là một đặc điểm giúp phân biệt TTDS với tố tụng hình sự
Thứ tư, kỹ năng khởi kiện phải đáp ứng các điều kiện khởi kiện: Khi
tham gia quan hệ pháp luật dân sự, quyền và lợi ích của các chủ thể khác trong quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và các chủ thể được tự do thực hiện khởi kiện VADS khi quyền và
Trang 22lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc xảy ra tranh chấp nhưng khởi kiện cần phải tuân thủ các điều kiện khởi kiện theo luật định, xem xét đến các chuẩn mực xử sự đạo đức và lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, giảm thiểu sự lãng phí về công sức, tiền bạc, nhân lực của Tòa án cũng như của những người có liên quan đến việc khởi kiện vụ án Khởi kiện VADS tại Tòa
án chỉ thực sự có giá trị pháp lý khi các đương sự thực hiện đúng các yêu cầu
về điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật hiện hành
Thứ năm, về hình thức khởi kiện: việc cơ quan, tổ chức, cá nhân thực
hiện khởi kiện VADS phải làm đơn khởi kiện và nộp đơn khởi kiện kèm theo
hồ sơ khởi kiện Người khởi kiện có thể nộp đơn khởi kiện trực tiếp tại Tòa
án, theo đường dịch vụ bưu chính hoặc gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có) Hình thức đơn khởi kiện phải
rõ ràng, đầy đủ, nội dung trình bày được những vấn đề theo đúng quy định của pháp luật Trong trường hợp người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì đơn khởi kiện do người đại diện theo pháp luật của những người này ký tên hoặc điểm chỉ
1.1.3 Ý nghĩa của kỹ năng khởi kiện vụ án dân sự
Thứ nhất, kỹ năng khởi kiện là cách thức để việc khởi kiện được thực hiện trên thực tế có hiệu quả, bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Trên cơ sở quyền tự định đoạt của các chủ thể, đáp ứng yêu cầu
xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Có thể nói nhà nước pháp quyền là một yếu tố tất yếu để xây dựng một
xã hội dân chủ, công bằng và văn minh Theo A.I.Koovalenco, Nhà nước pháp quyền cần phải bảo đảm các dấu hiệu sau: dựa trên tính tối cao của pháp luật; phải có sự chấp hành và sự tuân thủ thường xuyên của pháp luật của tất
Trang 23cả các công dân, những người có chức vụ, các cơ quan và tổ chức; quy định trách nhiệm tương hỗ của công dân và Nhà nước trong phạm vi pháp luật hiện hành; bảo đảm các quyền và tự do của công dân [6, tr 33 Muốn xây dựng được nhà nước pháp quyền thì các hoạt động của đời sống xã hội cần có quy định của pháp luật điều chỉnh Thực hiện các kỹ năng khởi kiện VADS là một biểu hiện của việc xây dựng nhà nước pháp quyền Kỹ năng khởi kiện VADS chính là việc thực hiện quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình khi bị xâm phạm, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng quyền
và lợi ích của các bên khi xác lập giao dịch dân sự Từ đó, có thể kịp thời bảo
vệ được các quyền lợi của con người cũng như góp phần duy trì sự ổn định, cân bằng của xã hội
Thứ hai, kỹ năng khởi kiện VADS là sự hiện thực hóa việc thực hiện quyền con người, quyền công dân trong TTDS góp phần bảo đảm công bằng
xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án trong nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế
độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Bảo vệ quyền con người bằng Tòa án là một trong những cơ
chế hữu hiệu Thông qua việc thực hành kỹ năng khởi kiện VADS, Tòa án sẽ kịp thời bảo vệ, khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, đáp ứng được nguyện vọng, củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án, vào chế độ, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước
Thứ ba, kỹ năng khởi kiện VADS là việc thực hiện dân chủ trong TTDS
Trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước, phát huy dân chủ XHCN luôn là mục tiêu, động lực mà Đảng và Nhà nước hướng đến Bởi vậy, việc thực hiện dân chủ được diễn ra trên mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội Trong TTDS, khởi kiện VADS là một cơ chế pháp lý Nhà nước đưa ra để tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự tự do định đoạt, thực hiện quyền tố tụng của mình Theo đó, đương sự có toàn quyền khởi động
Trang 24VADS thông qua hành vi khởi kiện, đồng thời khi tham gia vào quá trình giải quyết VADS, đương sự có toàn quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu khởi kiện của mình hoặc thỏa thuận với các đương sự khác về việc giải quyết VADS một cách tự nguyện mà không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội
Thứ tư, kỹ năng khởi kiện VADS góp phần nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng các quyền lợi ích dân sự hợp pháp của nhân dân, tạo điều kiện cho việc củng cố an ninh trật tự xã hội và pháp chế XHCN Để kỹ
năng khởi kiện VADS được thực hiện tốt, đòi hỏi chủ thể khởi kiện phải hiểu biết pháp luật, nhận thức rõ hơn về việc tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như tôn trọng quyền của người khác Kỹ năng khởi kiện VADS còn góp phần bảo đảm sự công bằng, bình đẳng đối với các đương sự khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự, bởi dù họ là ai, dù có địa vị xã hội như thế nào thì họ đều phải tôn trọng quyền lợi của người khác và phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận và quy định pháp luật Ngoài ra, thông qua thực hiện kỹ năng khởi kiện VADS, pháp luật còn thể hiện được tính giáo dục, phòng ngừa và ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân
Thứ năm, kỹ năng khởi kiện VADS góp phần bảo vệ các lợi ích hợp pháp trong quan hệ pháp luật dân sự và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
Trong quá trình con người trao đổi lợi ích với nhau, việc xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn là một yếu tố khách quan mang tính quy luật Tuy nhiên, khi tranh chấp xảy ra, các bên đương sự sẽ có nhiều phương thức "xử sự" khác nhau để giải quyết vấn đề Việc Nhà nước quy định các vấn đề về khởi kiện VADS một mặt trao quyền định đoạt cho đương sự, mặt khác hướng các chủ thể đó
về một chuẩn mực xử sự chuẩn mực hơn Qua đó, xây dựng được thói quen
sử dụng pháp luật để giải quyết các mâu thuẫn xã hội, chống lại các hành vi tiêu cực trong xã hội, bảo đảm được pháp chế XHCN
Trang 251.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện kỹ năng khởi kiện
vụ án dân sự
1.2.1 Các quy định của pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự
Pháp luật TTDS là phương tiện pháp lý để các chủ thể bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình Theo đó, pháp luật về khởi kiện VADS là cơ sở pháp lý cho Tòa án tiến hành các hoạt động thụ lý, giải quyết VADS để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức, bảo vệ lợi ích Nhà nước và lợi ích công cộng Vì vậy, pháp luật về khởi kiện VADS có vai trò vô cùng quan trọng đối với tính hiệu quả của khởi kiện VADS:
- Pháp luật TTDS về khởi kiện VADS đầy đủ, công khai, minh bạch là
cơ sở để các chủ thể có đầy đủ các phương tiện pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể và đảm bảo quyền khởi kiện của các chủ thể này được thực hiện
- Pháp luật TTDS về khởi kiện VADS đáp ứng tính khả thi, phù hợp
sẽ làm cho các quy định này không chỉ có ý nghĩa trên văn bản mà sẽ phát huy hiệu lực, hiệu quả trên thực tế đảm bảo quyền khởi kiện của các chủ thể được thực hiện
- Pháp luật TTDS về khởi kiện VADS đáp ứng tính thống nhất, đồng
bộ cũng như quy định cụ thể, rõ ràng, có cơ sở khoa học và không mẫu thuẫn nhau thì Tòa án sẽ dễ dàng trong việc xem xét thụ lý để giải quyết VADS cũng như các chủ thể có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, thuận lợi trong việc tiếp cận công lý
Một trong những yêu cầu trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, chính là sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật Để thực hiện tốt
kỹ năng khởi kiện trước hết phải có những bảo đảm về mặt pháp lý Vì vậy, nếu hệ thống pháp luật là hành lang pháp lý trong giải quyết tranh chấp dân sự nói chung và bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự nói riêng không hoàn thiện, thì chất lượng thực hành kỹ năng khởi kiện sẽ không cao, thậm chí
Trang 26không thực hiện được Vì vậy, sự đảm bảo về pháp lý, bao gồm sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thực định; sự hoàn thiện của cơ chế thực hiện và áp dụng pháp luật; ý thức pháp luật, văn hóa pháp lý của cán bộ, công chức ngành Tòa
án và nhân dân là vô cùng cần thiết
Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thực định, nhất là các quy định của pháp luật TTDS, pháp luật dân sự và luật chuyên ngành có liên quan như như Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Ngân hàng, Luật Kinh doanh bảo hiểm… được thể hiện ở những tiêu chuẩn như tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, tính hiệu lực, hiệu quả và trình độ kỹ thuật pháp lý của hệ thống pháp luật Sự hoàn thiện của cơ chế thực hiện và áp dụng pháp luật biểu hiện thông qua các vấn đề cơ bản như các văn bản pháp luật có liên quan tới chức năng nhiệm vụ của TAND, các văn bản pháp luật về TTDS, việc ban hành các văn bản chi tiết hướng dẫn thi hành pháp luật Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong xã hội; công tác tổ chức và chất lượng hoạt động của cơ quan áp dụng pháp luật; năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp tham gia áp dụng pháp luật; chất lượng của các văn bản áp dụng pháp luật… Ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý của cán bộ, công chức
và các tầng lớp nhân dân phụ thuộc không nhỏ vào công tác phổ biến, tuyên truyền và giáo dục pháp luật cũng như chất lượng của pháp luật; chất lượng của hoạt động thực hiện, áp dụng pháp luật Điều này cho thấy có sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thì việc thực hiện kỹ năng khởi kiện mới có hiệu quả
1.2.2 Năng lực tham gia tố tụng của người khởi kiện vụ án dân sự
Năng lực của mỗi người trong xã hội là khác nhau, nhận thức và xử sự của mỗi người cũng khác nhau Khi bị gây thiệt hại, không phải chủ thế nào cũng nhận thức được quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm, cũng không phải chủ thể nào cũng nhận thức được quyền khởi kiện của mình Dù có nhận thức được quyền khởi kiện của mình thì không phải chủ thể nào cũng biết thực hiện quyền khởi kiện như thế nào có hiệu quả nhất Khi khởi kiện VADS
Trang 27tại Tòa án, sự thiếu hiểu biết pháp luật TTDS về khởi kiện VADS sẽ gây khó khăn cho chính cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án Các chủ thể sẽ không biết bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình như thế nào
1.2.3 Sự hỗ trợ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đối với người khởi kiện vụ án dân sự
Khởi kiện VADS là hoạt động đầu tiên của quá trình giải quyết VADS, người khởi kiện có toàn quyền định đoạt về việc khởi kiện của mình Nhưng không phải người nào khởi kiện cũng có đủ kiến thức pháp luật, kinh nghiệm để quyết định vấn đề này, đặc biệt trong những vụ tranh chấp có giá trị lớn liên quan đến uy tín, danh tiếng, hình ảnh, bí mật cá nhân Trong những trường hợp này, sự tham gia của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là hết sức cần thiết Với vai trò là người hỗ trợ, giúp đỡ,
có nền tảng kiến thức pháp lý, kỹ năng nghề nghiệp và kinh nghiệm tố tụng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ giúp người khởi kiện
có những quyết định, hướng đi đúng đắn, phù hợp với giai đoạn đầu tiên này
Sự tham gia của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thể hiện trong những nội dung sau:
Thứ nhất, tư vấn cho người khởi kiện về việc nên hay không nên quyết định khởi kiện Trong giai đoạn đầu, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự chưa có tư cách tố tụng chính thức trong giai đoạn này nhưng người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ trao đổi và thu thập thông tin từ khách hàng, sau đó phân tích để làm sáng tỏ những vấn đề pháp
lý như: điều kiện khởi kiện của chủ thể, phạm vi khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, quan hệ pháp luật để khởi kiện, ; xác định căn cứ đối với yêu cầu khởi kiện để tư vấn cho người khởi kiện quyết định khởi kiện hay không khởi kiện
Thứ hai, soạn thảo đơn khởi kiện và chuẩn bị hồ sơ khởi kiện Người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong giai đoạn này có vai trò
Trang 28hỗ trợ, giúp đỡ tư vấn cho khách hàng, quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc
về người khởi kiện Sự tham gia của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong giai đoạn khởi kiện được thể hiện rõ nhất qua việc hỗ trợ người khởi kiện soạn thảo đơn khởi kiện và chuẩn bị hồ sơ khởi kiện là các tài liệu, chứng cứ kèm theo
Thứ ba, nộp đơn khởi kiện Sau khi đơn khởi kiện đã được soạn thảo,
hồ sơ khởi kiện đã đầy đủ và được sắp xếp theo thứ tự phù hợp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ trao đổi với người khởi kiện lần cuối trước khi gửi đơn cho Tòa án có thẩm quyền Bên cạnh thủ tục nộp đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng cần hướng dẫn để người khởi kiện biết được những quyền và nghĩa vụ của mình
1.2.4 Năng lực đội ngũ cán bộ công chức của Tòa án, Viện kiểm sát
Thực tế chứng minh, hiệu quả của việc thực hiện kỹ năng khởi kiện phụ thuộc vào nhiều điều kiện, yếu tố, những nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp Một trong những yếu tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thực hiện kỹ năng khởi kiện là chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ngành Tòa án, Viện kiểm sát mà trước hết là trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức, năng lực, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân… là những người trực tiếp được giao nhiệm vụ xét xử, nhân danh Nhà nước để bảo vệ pháp luật Ở họ cần phải có những tố chất nghề nghiệp nhất định, họ vừa là người thay mặt cho quyền lực nhà nước thông qua hoạt động xét xử, vừa phải là công dân gương mẫu trong cuộc sống hằng ngày Với vị trí và trách nhiệm xã hội đặc biệt của mình, đòi hỏi họ phải có những tiêu chuẩn nhất định về trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, đạo đức nghề nghiệp
Chất lượng đội ngũ cán bộ tham gia xét xử là sự tổng hợp chất lượng của từng Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân… tham gia xét xử được đánh giá
Trang 29thông qua các tiêu chuẩn về chuyên môn, phẩm chất chính trị, đạo đức; khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao theo qui định của pháp luật và theo qui định của ngành Là người giữ vị trí quan trọng trong hoạt động xét xử tại Tòa
án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải là những người am hiểu pháp luật, có trình độ chuyên môn và kỹ năng xét xử Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án Xét xử là một công việc phức tạp, đòi hỏi người tham gia phải có trình độ am hiểu về pháp luật, có tinh thần trách nhiệm, có kỹ năng sống, có khả năng nắm bắt được diễn biến phức tạp của vấn đề Vì vậy, ngoài những tiêu chuẩn "cứng" về điều kiện trở thành Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã được pháp luật qui định thì họ còn phải có những năng lực "đặc biệt" được hình thành thông qua quá trình giao tiếp xã hội, qua học tập có thể kể đến một số kỹ năng cơ bản như:
- Áp dụng được các quy định pháp luật thuộc lĩnh vực được phân công đảm nhiệm một cách chuyên sâu; thu nhận và xử lý thông tin để phục vụ việc thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao
- Có khả năng phân tích, đánh giá một cách chính xác, toàn diện những tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ cho việc thụ lý, xây dựng hồ sơ vụ án
và ra các quyết định, bản án phù hợp với thực tiễn
- Có khả năng lập luận, tranh luận, thu thập chứng cứ; kịp thời xử lý các tình huống phát sinh tại phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật
- Ngoài các điều kiện về chuyên môn, họ còn phải có trình độ lý luận chính trị, phải thường xuyên trau dồi đạo đức nghề nghiệp, coi đây là một yếu
tố quan trọng, có tác động trực tiếp đến quá trình xét xử của TAND Mặt khác, đây cũng là cơ sở quan trọng, mang tính pháp lý cho việc tuyển dụng, bổ nhiệm và đào tạo cán bộ Đạo đức nghề nghiệp đối với cán bộ tư pháp là tiêu chuẩn tối quan trọng, bởi vì hoạt động nghề nghiệp của họ mang tính đặc thù,
có tác động trực tiếp đến đến danh dự, quyền tự do, tài sản,… của con người
Trang 30Trong hoạt động nghề nghiệp, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên và các cán bộ tư pháp khác phải đảm bảo được yếu tố khách quan, công bằng, vô tư, không vụ lợi cá nhân, có lý, có tình Sự công bằng, vô tư và khách quan là hiện thân những giá trị của một nền tư pháp dân chủ Trong quá trình xét xử họ phải cương quyết tôn trọng nguyên tắc này, vượt qua những tác động khách quan để đưa ra quyết định, bản án đảm bảo tính khách quan, công bằng, vô tư, đúng pháp luật Trong quá trình xét xử đòi hỏi họ phải có lương tâm, sẵn sàng nhận và sửa chữa những sai sót gặp phải, có tinh thần trách nhiệm trong xét xử, luôn đặt niềm tin vào công lý
Sự lãnh đạo của Đảng, sự tham gia giám sát của Hội đồng nhân dân, của Mặt trận Tổ quốc và nhân dân, sự kiểm sát xét xử dân sự của Viện kiểm sát trong hoạt động xét xử của Tòa án là một trong những yếu tố tác động tới chất lượng thực hiện kỹ năng khởi kiện Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Tòa án, đối với công tác cán bộ của ngành Tòa án, Kiểm sát nhân dân, xây dựng hệ thống chính trị ngày càng được củng cố, phát triển,
là những nhân tố hậu thuẫn tích cực, đảm bảo hiệu quả cao cho việc thực hiện
kỹ năng khởi kiện VADS
Kết luận Chương 1
Chương 1 của luận văn đã phân tích, luận giải để làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về kỹ năng khởi kiện VADS Theo đó, khởi kiện VADS là việc các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền và lợi ích bị xâm phạm, yêu cầu Tòa
án chấp nhận đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu của người khởi kiện khi đã thỏa mãn các điều kiện khởi kiện Hiểu rõ được các nội dung này, người khởi kiện được trang bị đầy đủ các kỹ năng để có thể thực hiện tốt quyền khởi kiện trên thực tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Trên cơ sở phân tích đặc điểm, ý nghĩa của kỹ năng khởi kiện VADS, nội dung nghiên cứu, tác giả khái quát hóa được các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng khởi kiện VADS Khởi kiện VADS xuất phát từ các cơ sở lý luận
Trang 31(nguyên tắc đảm bảo quyền con người trong TTDS, nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự ) và cơ sở thực tiễn Sau nhiều giai đoạn lịch sử, khởi kiện VADS đã thể hiện những ý nghĩa vô cùng quan trọng Đây không chỉ là cơ sở pháp lý để Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng, giải quyết VADS, cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo, mà còn góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thực tế của con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Các nội dung của Chương 1 chính là cơ sở lý luận định hướng để tác giả nghiên cứu, đánh giá
về thực tiễn thực hiện kỹ năng khởi kiện tại chương 2 của luận văn
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
KỸ NĂNG KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ
2.1 Thực trạng pháp luật bảo đảm thực hiện kỹ năng khởi kiện
2.1.1 Chủ thể khởi kiện
Việc xác định ai là người có thể thực hiện quyền khởi kiện, có thể khởi kiện ai và khởi kiện về vấn đề gì trong quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, có tranh chấp là một vấn
đề không đơn giản trên phương diện học thuật cũng như trong quá trình xây dựng BLTTDS Về nguyên tắc thì từ việc xác định đối tượng khởi kiện để có thể xác định ai có thể thực hiện quyền khởi kiện và việc khởi kiện đó được thực hiện đối với những chủ thể nào Có nghĩa là dựa trên chính quan hệ pháp luật có tranh chấp và tính chất của vụ kiện để xác định chủ thể có quyền khởi kiện và chủ thể có thể bị khởi kiện
* Quy định về điều kiện chủ thể có quyền khởi kiện vụ án dân sự Thứ nhất, chủ thể khởi kiện VADS bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Theo Điều 14 Hiến pháp năm 2013: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật" Trong đó, quyền dân sự có ý nghĩa rất quan trọng Khi quyền và lợi ích của chủ thể bị xâm phạm hay tranh chấp thì chủ thể đó có quyền thực hiện những phương pháp mà pháp luật cho phép và một trong những phương pháp đó chính là khởi kiện VADS
Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, theo quy định tại Điều 186 BLTTDS năm 2015 thì "Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là
Trang 33người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình" Khi quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, chủ thể có quyền và lợi ích bị xâm phạm có quyền tự định đoạt khởi kiện hoặc không khởi kiện đến Tòa án yêu cầu bảo vệ và việc khởi kiện này phải tuân thủ quy định pháp luật về năng lực chủ thể, thẩm quyền của Tòa án
Điều 187 BLTTDS năm 2015 mở rộng quyền khởi kiện đối với một số chủ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng
và lợi ích của Nhà nước đó là cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động; Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình; Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình
để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình
Bộ luật TTDS năm 2015 đã quy định đầy đủ hơn các chủ thể có quyền khởi kiện VADS so với quy định tại BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) Việc mở rộng này đã đáp ứng được quyền tiếp cận công lý của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự, bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013 Việc bổ sung các chủ thể
có quyền khởi kiện trong BLTTDS năm 2015 đã tạo nên sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật với nhau Điều này phù hợp với sự phát triển của xã hội cũng như hướng đến sự ổn định về mặt pháp lý để các chủ thể có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình và của người khác thông qua cơ chế khởi kiện tại các hệ thống cơ quan Tòa án
Như vậy, chủ thể của quyền khởi kiện được thừa nhận trong pháp luật TTDS Việt Nam có thể phân chia thành các nhóm chủ thể sau:
Nhóm chủ thể thứ nhất: các chủ thể có quyền khởi kiện do quyền lợi
của họ bị tranh chấp hoặc vi phạm
Trang 34Nhóm chủ thể thứ hai: các chủ thể có quyền khởi kiện nhưng họ
không có quyền lợi trong vụ kiện (nhóm chủ thể có quyền khởi kiện vì lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc khởi kiện vì quyền, lợi ích hợp pháp của người khác)
Việc phân chia thành hai nhóm chủ thể như trên là hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt của đương sự trong TTDS, theo đó về nguyên tắc chủ thể có quyền khởi kiện phải là chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm hay tranh chấp, các chủ thể khác chỉ có quyền khởi kiện trong những trường hợp
mà nhà lập pháp ấn định
Đối với người khởi kiện là cá nhân thì phải là người cụ thể, không phân biệt là người nước ngoài hay người Việt Nam, không phân biệt là nam hay nữ Khi thấy rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm, họ có quyền khởi kiện và việc khởi kiện VADS tại Tòa án chính là thực hiện quyền khởi kiện Khi họ có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì họ có thể tự mình thực hiện quyền khởi kiện Nếu cá nhân là người mất năng lực hành vi dân sự thì việc thực hiện quyền khởi kiện thông qua người đại diện hợp pháp của họ
Đối với cơ quan, tổ chức, khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc tranh chấp thì cũng có quyền khởi kiện ra Tòa để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Muốn thực hiện quyền khởi kiện thì trước hết cơ quan, tổ chức đó phải có tư cách pháp nhân
Cơ quan, tổ chức muốn khởi kiện phải thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân hoặc người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền cho người khác Cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì phải chứng minh quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm, tranh chấp thông qua các giấy tờ, văn bản, tài liệu liên quan
Ngoài các chủ thể được quy định trên thì hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân cũng có quyền khởi kiện VADS Theo Điều 101 BLDS năm 2015, trường hợp tổ hợp tác, hộ gia đình, tổ chức khác
Trang 35không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên tổ hợp tác, hộ gia đình, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự Tuy nhiên, về vấn đề này cũng chưa được quy định rõ xem phải do tất cả các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân khởi kiện hay một trong số các thành viên đó hoặc người đại diện ủy quyền có quyền khởi kiện [20, tr 31-36]
Thứ hai, chủ thể khởi kiện VADS bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước
Bên cạnh chủ thể khởi kiện là người có quyền và lợi ích hợp pháp trực tiếp bị xâm phạm, khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì pháp luật còn quy định một số chủ thể có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể khác Đó là chủ thể khởi kiện với tư cách là người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền của đương sự Trong một số trường hợp để bảo đảm quyền khởi kiện của nhóm chủ thể yếu thế, BLTTDS năm 2015 đã quy định một số chủ thể được đề cập ở Điều 187 Bộ luật này có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Cụ thể:
+ Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện trong trường hợp cần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của những người quy định tại khoản 5 Điều 84, Khoản 2 Điều 86, Khoản 3 Điều 102, Khoản 2 Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Đó là trường hợp thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên; xác định con cho cha mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự và trường hợp buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó Trong trường hợp này, người được các
cơ quan, tổ chức trên khởi kiện để bảo vệ quyền lợi là nguyên đơn trong VADS So với quy định của BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)
Trang 36thì BLTTDS năm 2015 có sự thay đổi về mặt tên gọi của chủ thể khởi kiện trong
quy định này từ "cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em" nhằm thống nhất với
Luật Hôn nhân, gia đình và các văn bản pháp luật chuyên ngành liên quan
+ Tổ chức đại diện tập thể người lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền So với BLTTDS năm
2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) thì BLTTDS năm 2015 có sự thay đổi về
mặt tên gọi của chủ thể khởi kiện trong quy định này từ "Công đoàn cấp trên
của công đoàn cơ sở" thành "Tổ chức đại diện tập thể lao động" và bổ sung
thêm trường hợp khi được người lao động ủy quyền thì Tổ chức đại diện tập thể lao động cũng có quyền khởi kiện vụ án lao động nhằm thống nhất với Bộ luật Lao động và các văn bản pháp luật chuyên ngành liên quan
+ Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc
tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 Đây là một chủ thể có quyền khởi kiện mới được bổ sung vào BLTTDS năm 2015 nhằm phù hợp với quy định của Luật Bảo vệ người tiêu dùng cũng như điều kiện thực tế khi nhu cầu tiêu dùng của con người ngày càng gia tăng, sự biến động phức tạp của thị trường cung cầu trong và ngoài nước dẫn đến quyền lợi của người tiêu dùng có thể bị ảnh hưởng và cần được bảo vệ một cách nhanh chóng, kịp thời Trên thực tế, đa
số các cá nhân tham gia quan hệ mua bán sản phẩm, hàng hóa trên thị trường
là với tư cách người tiêu dùng Tuy nhiên, nếu với tư cách là người tiêu dùng thì ngoài việc tự mình khởi kiện, cá nhân, tổ chức còn được tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khởi kiện thay Chính vì vậy, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) cần đưa ra nghị quyết nhằm hướng dẫn rõ trường hợp nào là khởi kiện với tư cách là người tiêu dùng, trường hợp nào là khởi kiện với tư cách cá nhân thông thường
Trang 37Để trở thành tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì cần đáp ứng được các tiêu chí quy định tại Điều 27 Luật Bảo vệ người tiêu dùng Cụ thể là cần có hai điều kiện: (1) Được thành lập theo quy định của pháp luật và hoạt động theo điều lệ được tham gia hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; (2) Hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của tổ chức
xã hội phải tuân theo quy định của pháp luật hiện hành Hiện nay, theo thống
kê của Bộ Công thương thì ngoài Hội tiêu chuẩn và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (VINASTAS) đã có 41 Hội tiêu chuẩn và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở 41 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương [51]
+ Bên cạnh việc quy định các chủ thể khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, BLTTDS năm 2015 kế thừa các quy định của BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) ghi nhận quyền khởi kiện của cơ quan tổ chức vì lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước Theo đó, các cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quyền khởi kiện VADS để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật Trong trường hợp này, các cơ quan, tổ chức khởi kiện sẽ được xác định là nguyên đơn trong VADS mặc dù không có quyền lợi bị xâm phạm hoặc tranh chấp
Qua những phân tích trên, ta nhận thấy BLTTDS năm 2015 đã mở rộng hay quy định đầy đủ hơn các chủ thể có quyền khởi kiện VADS so với quy định tại BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) Việc mở rộng này đã đáp ứng được quyền tiếp cận công lý của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự nói chung và các chủ thể tham gia các quan hệ xã hội nói riêng, bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và đặc biệt là bảo đảm quyền lợi cho nhóm các chủ thể yếu thế trong xã hội Ngoài ra, việc bổ sung các chủ thể có quyền khởi kiện mới trong BLTTDS năm 2015 đã tạo nên sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật với nhau, đặc biệt là Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Lao động, Luật Bảo vệ
Trang 38người tiêu dùng phù hợp với sự phát triển của xã hội cũng như hướng đến
sự ổn định về mặt pháp lý để các chủ thể có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình và của người khác thông qua cơ chế khởi kiện tại các hệ thống cơ quan Tòa án
* Quy định về điều kiện để chủ thể thực hiện quyền khởi kiện VADS
Khi một chủ thể cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm, theo quy định của pháp luật, chủ thể đó có quyền nộp đơn khởi kiện đến Tòa
án yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình Tuy nhiên, để yêu cầu của họ được Tòa án thụ lý giải quyết thì chủ thể khởi kiện ngoài việc có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật còn cần phải có đủ khả năng tự mình thực hiện quyền khởi kiện Chủ thể có quyền khởi kiện muốn tự mình khởi kiện thì cần phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi TTDS Năng lực pháp luật dân
sự là khả năng pháp luật quy định cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có các quyền
và nghĩa vụ trong TTDS Năng lực pháp luật TTDS là điều kiện cần thì năng lực hành vi TTDS là điều kiện đủ để một chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS Theo đó, năng lực hành vi TTDS là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ TTDS hoặc ủy quyền cho người khác đại diện tham gia TTDS
Thứ nhất, cá nhân khởi kiện với tư cách là nguyên đơn để bảo vệ quyền lợi của mình hoặc khởi kiện với tư cách là người đại diện để bảo vệ quyền lợi của người khác
+ Những người có đầy đủ năng lực hành vi TTDS là những người từ
đủ 18 tuổi trở lên và không mắc một số bệnh làm mất khả năng làm chủ hành
vi Trong trường hợp này, họ có thể tự thực hiện quyền khởi kiện hoặc ủy quyền khởi kiện vụ án cho một chủ thể khác Tuy nhiên, thực tiễn xét xử hiện nay đang không có sự thống nhất trong nhận thức về một số quy định của pháp luật, trong đó có việc ủy quyền khởi kiện VADS
Theo đó, Điều 186 BLTTDS năm 2015 về quyền khởi kiện quy định:
"Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện
Trang 39hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án
có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình"
Khoản 2 Điều 189 BLTTDS năm 2015 về việc làm đơn khởi kiện của
cá nhân tại các điểm a và b quy định:
a) Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi
họ tên, địa chỉ nơi cư trú của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, cá nhân
đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;
b) Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ [25]
Với quy định này, hiện có những quan điểm khác nhau như sau:
Quan điểm thứ nhất, Điều 186 BLTTDS năm 2015 quy định về quyền
khởi kiện, theo đó cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án và người đại diện hợp pháp ở đây bao gồm người đại diện theo ủy quyền và người đại diện theo pháp luật Do
đó, người đại diện theo ủy quyền có thể trực tiếp ký đơn hoặc điểm chỉ vào đơn khởi kiện Tức là, người có quyền và lợi ích bị xâm hại có thể ủy quyền cho người khác khởi kiện và tham gia tố tụng từ giai đoạn làm đơn khởi kiện
để nộp Tòa án [50]
Quan điểm thứ hai cho rằng, quy định tại Điều 189 BLTTDS năm
2015 đã xác định đối với cá nhân có quyền, lợi ích bị xâm hại là người có đầy
đủ năng lực hành vi dân sự thì phải trực tiếp ký hoặc điểm chỉ vào đơn khởi
Trang 40kiện và cho rằng đây là quyền nhân thân của người khởi kiện, không thể chuyển giao cho người khác Chỉ trường hợp người khởi kiện là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ mới ký hoặc điểm chỉ đơn khởi kiện vụ án Nói cách khác, người có quyền, lợi ích bị xâm hại phải trực tiếp ký, điểm chỉ vào đơn khởi kiện và việc ủy quyền tham gia tố tụng giải quyết vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích của họ chỉ được thực hiện sau khi khởi kiện và Tòa án đã thụ lý vụ án [50]
Quan điểm thứ hai này dẫn đến trong thực tiễn giải quyết các vụ án, khi người khởi kiện là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền nộp đơn khởi kiện đến Tòa án thì một số Tòa án đã không nhận đơn khởi kiện để thụ lý và yêu cầu bắt buộc người có quyền, lợi ích bị xâm hại phải trực tiếp ký hoặc điểm chỉ vào đơn khởi kiện chứ không phải thông qua người đại diện theo ủy quyền
Theo tác giả, quy định tại Điều 186 và Điều 189 của BLTTDS năm
2015 nêu trên là tương thích với các quy định của BLDS năm 2015 Tác giả cũng đồng tình với quan điểm thứ nhất và cho rằng quan điểm thứ hai là không đúng và không phù hợp với pháp luật dân sự về người đại diện và không đúng với tinh thần Hiến pháp năm 2013 Quan điểm thứ hai đã hạn chế quyền tự do định đoạt của người có quyền, lợi ích bị xâm hại vì họ có thể ủy quyền cho người khác thực hiện việc khởi kiện Bởi lẽ:
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 thì quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật, trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, Khoản 2 Điều 2 BLDS năm 2015 quy định: "Quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý
do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng"