Nói một cách khác, việc thiếu các cuộc điều tra xã hội học trong quá trình chuẩn bị và triển khai việc thu hồi đất, tái định cư đã khiến cho các dự án không đáp ứng được nhu cầu thực tế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ HƯƠNG
HỆ QUẢ XÃ HỘI CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC
(Nghiên cứu trường hợp thị trấn Chờ, huyện Yên Phong
và xã Lãng Ngâm, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ HƯƠNG
HỆ QUẢ XÃ HỘI CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC
(Nghiên cứu trường hợp thị trấn Chờ, huyện Yên Phong
và xã Lãng Ngâm, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số : 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN TÂN
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các số liệu, trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng
Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, sự nghiêm túc khoa học
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác!
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hương
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 01
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU HỆ QUẢ XÃ HỘI CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG 16
1.1 Cơ sở lý luận liên quan đến phân tích hệ quả xã hội 16
1.2 Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đất, thu hồi đất 23
1.3 Các công trình cấp nước trong hệ thống các công trình hạ tầng công cộng 25
1.4 Tổng quan điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu từ thực tiễn của địa bàn nghiên cứu 36
1.5 Quá trình thực hiện dự án 41
CHƯƠNG 2: HỆ QUẢ XÃ HỘI CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 49
2.1 Những tác động tích cực 49
2.1.1 Điều kiện sống của người dân được nâng cao vì được sử dụng nguồn nước sạch từ dự án 49
2.1.2 Người dân tìm ra sinh kế mới mang lại giá trị kinh tế cao hơn so với sản xuất nông nghiệp 56
2.1.3 Người dân có một khoản tiền đền bù, vừa để chi tiêu, mua sắm, vừa đầu tư trang thiết bị sản xuất 64
2.1.4 Giá đất nông nghiệp trong khu vực tăng lên 68
2.2 Những tác động tiêu cực 70
2.2.1 Người dân không còn ruộng để sản xuất nông nghiệp, dẫn tới sinh kế bền vững bị ảnh hưởng 70
2.2.2 Sự bất bình đẳng trong hưởng lợi từ công trình cấp nước 76
2.3 Một số khuyến nghị và giải pháp 79
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 91
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU TRONG LUẬN VĂN
Trang
Bảng 1: Cơ cấu theo độ tuổi của những người được hỏi 10
Bảng 2: Cơ cấu theo trình độ học vấn của những người được hỏi 10
Bảng 3: Cơ cấu nghề nghiệp hiện nay của những người được hỏi 11
Bảng 2.1: Kết quả công trình thiết kế và thi công hệ thống cấp nước thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 52
Bảng 2.2: Diện tích đất bị thu hồi tại hai địa bàn nghiên cứu 60
Bảng 2.3: Thu nhập chính của người dân trước và sau khi đất bị thu hồi 62
Bảng 2.4: Tương quan giữa nghề nghiệp và thu nhập chính của các gia đình trên địa bàn nghiên cứu hiện nay 64
Bảng 2.5: Tổng kinh phí bồi thường thiệt hại người dân đã nhận tại tiểu dự án Bắc Ninh trong giai đoạn 2 66
Bảng 2.6: Mục đích sử dụng số tiền được đền bù của người dân địa phương 67
Bảng 2.7: Giá đất nông nghiệp năm 2010 tại tỉnh Bắc Ninh 69
Bảng 2.8: Giá đất nông nghiệp năm 2012 tại tỉnh Bắc Ninh 70
Bảng 2.9: Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến mức sống của người dân 73
Bảng 2.10: Số tiền hỗ trợ người dân được nhận sau dự án 75
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Sự thay đổi thu nhập chính của các hộ gia đình trước và sau khi bị thu hồi đất xây dựng công trình cấp nước 62
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu tỷ lệ đất nông nghiệp bị thu hồi tại địa phương 71
Trang 6BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
BTHT - TĐC Bồi thường hỗ trợ tái định cư
VUWSDP Dự án “Phát triển cấp nước đô thị Việt Nam”
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề nước sạch được coi là một phần trong chiến lược chống đói nghèo và dịch bệnh ở các quốc gia, là một trong những mục tiêu phát triển của thiên niên kỷ Mặc dù là một quốc gia giàu về tài nguyên nước nhưng nguồn tài nguyên nước ngọt của chúng ta đang chịu sức ép ngày càng lớn từ nhiều phía: Gia tăng dân số, đô thị hóa, phát triển kinh tế và biến đổi môi trường Điều này dẫn tới hệ quả là chúng ta không chỉ thiếu nguồn nước ngọt trong tương lai mà chất lượng nguồn nước ngọt cũng sẽ không được đảm bảo Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ rõ phải: “Cải thiện việc cấp thoát nước ở đô thị, thêm nguồn nước sạch cho vùng nông thôn” [7, tr.8]
Khu vực nông thôn Việt Nam chiếm 75% dân số cả nước và nông nghiệp là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân Ở những khu vực này, phần lớn người dân chưa có nước sạch để
sử dụng, đồng thời họ còn thiếu nhiều kiến thức về sử dụng nước sạch và vệ sinh môi trường, sử dụng nước không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh Hầu hết nguồn nước sinh hoạt mà người dân sử dụng được lấy từ nguồn nước tự nhiên, như nước mưa, giếng hay nước ao, sông hồ…chưa được xử lý bằng các biện pháp kỹ thuật Điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân, nhất là trong tình trạng môi trường sống của con người ngày càng ô nhiễm như hiện nay
Trong thời gian gần đây, nhiều dự án cấp nước sạch cho các vùng nông thôn đã được triển khai thực hiện Để thực hiện các dự án này, Nhà nước đã tiến hành thu hồi đất của người dân để xây dựng hệ thống các công trình hạ tầng Tuy có đền bù, hỗ trợ, nhưng việc thu hồi đất và tái định cư nói trên có thể có những ảnh hưởng nghiêm trọng đối với cuộc sống của người dân mà không thể ước tính được về mặt kinh tế Các mối quan hệ, sự gắn kết trong cộng đồng bị phá vỡ, những khó khăn trong việc tái đoàn kết ở những khu vực sau tái định cư là những rào cản đối với việc ổn định và phát triển cuộc sống của người dân Chính vì vậy, cần có một chính sách hỗ trợ phù hợp trong kế hoạch tái định cư và phải xem đó là một hợp phần trong tổng thể của các dự án phát triển chứ không nên coi đó là một hoạt động riêng biệt Một chính sách tái định cư phù hợp không chỉ giúp cộng đồng nơi thực hiện dự án ổn định cuộc sống, đảm bảo mức sống ít nhất là bằng hoặc hơn so với trước khi thực hiện dự án, mà còn thúc đẩy việc đảm bảo tính bền vững của các dự án phát triển
Cho đến nay, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều hướng dẫn trong việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đối với các dự án có thu hồi đất, như: Luật đất đai sửa đổi năm 2003, Nghị định 197/2004/NĐ-CP về bồi thường hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất…, cùng với đó là các quyết định của từng tỉnh thành nhằm hướng dẫn và cụ thể hóa việc triển khai thực hiện các chính sách nêu trên Tuy nhiên, do tính chất của mỗi dự án khác nhau, hoặc là thu hồi đất trong khu vực đô thị (tái định cư đô thị) hoặc là thu hồi đất theo tuyến (tái định cư
tuyến)… Sự khác nhau này còn phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện kinh tế xã hội riêng biệt của từng khu vực, từng địa phương nơi triển khai dự án Vì vậy, ngoài những chính sách, đường lối chung thì đối với mỗi dự án, mỗi khu vực cần có thêm những nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm kinh tế xã hội, tác động của thu hồi đất đối với cộng đồng và nhu cầu của người dân trong việc hỗ trợ phục hồi sau tái định cư
Trang 8Bên cạnh đó, trong các dự án phát triển hiện nay, công tác tái định cư nói chung đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, mà một trong những nguyên nhân chính là các dự án này chưa có được sự đồng thuận từ phía người dân Việc thiếu các cuộc điều tra xã hội học để khảo sát điều kiện kinh tế xã hội tại các địa phương, khảo sát nhu cầu phương án bồi thường và tái định cư, nhu cầu hỗ trợ sau tái định cư đã tạo ra một khoảng cách lớn giữa các chính sách với mong muốn của người dân Nói một cách khác, việc thiếu các cuộc điều tra xã hội học trong quá trình chuẩn
bị và triển khai việc thu hồi đất, tái định cư đã khiến cho các dự án không đáp ứng được nhu cầu thực tế của người dân và khả năng thành công không cao
Với những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn vấn đề “Hệ quả xã hội của việc thu hồi đất xây dựng công trình cấp nước” cho nghiên cứu của mình, nhằm làm rõ những hệ quả xã hội, những tác động tích cực và tiêu cực của việc thu hồi đất xây dựng các công trình cấp nước đến cuộc sống, sinh kế của người nông dân nơi diễn ra dự án Câu hỏi nghiên cứu mà luận văn đặt ra là: Việc xây dựng công trình cấp nước đã tạo ra những hệ quả xã hội nào đối với người dân thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, và xã Lãng Ngâm, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh?
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Khi thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi có rất nhiều thuận lợi trong việc tìm nguồn tham khảo, bởi liên quan đến vấn đề nghiên cứu, các học giả đi trước đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu khoa học nghiên cứu về sinh kế, cuộc sống của người dân trong một giai đoạn, quá trình nhất định Có thể kể đến một vài công trình tiêu biểu sau đây:
Cuốn sách chuyên khảo: “Tác động xã hội vùng của các khu công nghiệp ở Việt Nam” do
Nguyễn Bình Giang (Viện Kinh tế và Chính trị thế giới, Viện khoa học xã hội Việt Nam) làm chủ biên là một trong những tác phẩm phản ánh rõ tác động xã hội của một hoạt động xã hội đến cuộc sống của người dân trên địa bàn diễn ra dự án Tác phẩm nêu rõ, phát triển khu công nghiệp là một trong những hoạt động kinh tế làm nảy sinh những hệ quả xã hội cả tích cực lẫn tiêu cực Tác giả đã đi sâu phân tích những hệ quả ấy trên các khía cạnh: Việc làm, nghề nghiệp, thu nhập và mức sống; mặt nhân khẩu học; cơ hội tiêu dùng các dịch vụ công cộng; đô thị hóa cơ sở hạ tầng; trật tự an toàn xã hội và sức khỏe của người dân Tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị nhằm hạn chế tác động xã hội vùng tiêu cực của các khu công nghiệp ở Việt Nam
Tác giả Lê Du Phong – chủ biên cuốn sách “Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dưng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia” đã đề cập đến vấn đề hết sức mới mẻ,
liên quan trực tiếp đến đời sống, thu nhập và việc làm của một bộ phận dân cư nước ta Cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề trọng điểm như: Tình hình thu hồi đất và việc bồi thường cho người dân khi có thu hồi đất; thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi; thực trạng thu nhập và đời sống của người có đất bị thu hồi Một số khó khăn, tồn tại cũng được tác giả đề cập đến như: Một số người chưa nhận thức được những mặt đạt được của công tác thu hồi trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội; chưa có chiến lược quy hoạch và kế hoạch
rõ ràng; kế hoạch thu hồi chưa gắn với kế hoạch tái định cư…
Công trình khoa học cấp nhà nước KX 01 - 2005 của trường Đại học Kinh tế quốc dân về
“Việc làm, thu nhập cho lao động bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
đô thị hóa”, đã chỉ ra những bất cập khi nông dân không còn đất canh tác, do không được đào tạo
nên phần lớn không có việc làm và thu nhập Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, cần giải quyết các vấn
Trang 9đề đó bằng các chính sách như: Chính sách đền bù, tái định cư, hỗ trợ việc làm cũng như trách nhiệm của doanh nghiệp trong thu hồi đất
Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2010 của Học viện chính trị - hành chính khu vực I do Trần
Thị Ngọc Minh làm chủ nhiệm cũng nghiên cứu về “Giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ở ngoại thành Hà Nội” Các tác giả đã tổng kết 20 năm phát triển khu công nghiệp với việc
giải quyết việc làm cho lao động, trong đó chỉ rõ tác động của nó tới việc phát triển thị trường lao động Tuy nhiên, thu hồi đất xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị đã làm cho 2,5 triệu nông dân không có việc làm Khu vực ngoại thành Hà Nội đến năm 2009 đã có 24.400 ha đất bị thu hồi, số lao động mất việc từ đó khoảng 40.000 người Nhà nước cần có các chính sách tạo điều kiện để nông dân bị thu hồi đất có việc làm lâu dài, tạo việc làm tại chỗ cho các lao động trên 35 tuổi
Nhóm tác giả Lê Viết Thuận, Phan Thị Ngọc nghiên cứu về: “Những tác động của chính sách thu hồi đất nông nghiệp, chuyển đổi mục đích sử dụng đất đai tới việc làm và các quan hệ
xã hội” qua trường hợp thôn Gia Trung, xã Quang Minh, huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc (nay là địa
bàn Thành phố Hà Nội) Công trình đã phân tích những biến động xã hội của một địa phương ở huyện Mê Linh vào thời kỳ đầu thu hồi đất năm 2001 – 2004 Năm 2001, tại thôn Gia Trung đã thu hồi 90% diện tích đất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp và khu đô thị, làm 50% tổng
số lao động không có việc làm, các quan hệ xã hội bị thay đổi không như mong muốn
Tác giả Phạm Quang Tín, trường Đại học kinh tế - Đại học Đà Nẵng, có nghiên cứu về
“Thực trạng việc làm của người lao động trong các hộ dân diện thu hồi đất tỉnh Quảng Nam”
Tác giả đã chỉ ra rằng, quá trình thu hồi đất của tỉnh Quảng Nam vẫn còn nhiều vấn đề chưa thỏa đáng như giá đền bù thấp, chưa giải quyết tốt vấn đề hỗ trợ việc làm cho người dân, nên dẫn đến đời sống của người dân có rất nhiều thay đổi, nhiều hộ rơi vào tình trạng đời sống khó khăn (56,8% trong tổng số hộ bị thu hồi đất) Công trình đã phản ánh khá rõ và chính xác tình hình thực tế của các hộ dân trên địa bàn nghiên cứu
Tác giả Nguyễn Văn Sửu, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, nghiên cứu về
“Tác động của Công nghiệp hóa, Đô thị hóa đến sinh kế của người nông dân Việt Nam” (trường
hợp một làng ven đô Hà Nội), năm 2007, đã chỉ ra rằng: Việc thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa của Nhà nước đã tạo ra những tác động quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội đối với những người nông dân có đất bị thu hồi Để thích ứng với những chính sách của Nhà nước, nhiều hộ nông dân đã dựa vào đất ở để chuyển dịch sang nguồn sinh kế mới Mặt khác, tác giả cũng chỉ ra rằng, ở thời điểm hiện tại mặc dù có mức sống cao hơn, nhiều hộ nông dân vẫn thấy sinh kế của họ chưa bền vững bởi còn nhiều người trong độ tuổi lao động thiếu việc làm Đây là một nghiên cứu có giá trị cao cả về mặt ý nghĩa khoa học và ứng dụng thực tiễn
Tác giả Khúc Thị Thanh Vân trong luận văn nghiên cứu với đề tài: “Ảnh hưởng của chính sách tái định cư đến đời sống người dân sau tái định cư” (nghiên cứu trường hợp Thủy Điện Bản
Vẽ) đã đi sâu phân tích các vấn đề ngành điện, khung chính sách về đền bù, tái định cư của dự án Luận văn đưa ra những ảnh hưởng của chính sách tái định cư đến cuộc sống sau tái định cư của người dân phải di chuyển trong dự án phát triển, nhất là vấn đề khôi phục lại cuộc sống; những tác động đến khả năng hòa nhập cộng đồng hoặc giữ gìn bản sắc văn hóa của nhóm cộng đồng dân tộc thiểu số phải di chuyển với cộng đồng người tiếp nhận tái định cư Luận văn còn đề xuất những khuyến nghị cho việc lập chính sách và bổ khuyết các hoạt động trong quá trình thực hiện
Trang 10xây dựng phương án tái định cư, chương trình khôi phục lại cuộc sống trong dự án phát triển, nhất là xây dựng cộng đồng Đây được đánh giá là một nghiên cứu có chất lượng và phản ánh đúng thực tế vấn đề nghiên cứu
Tác giả Phạm Quang Tú, Phan Đình Nhã, Nguyễn Văn Sự có bài viết “Ổn định cuộc sống của người dân tái định cư và bảo vệ môi trường trong các dự án thủy điện” trên Tạp chí số
3/2011 của Viện nghiên cứu môi trường và phát triển bền vững Các tác giả khẳng định, giảm thiểu tác động bất lợi và ổn định cuộc sống cho người dân bị thu hồi đất và tái định cư là hợp phần quan trọng trong dự án xây dựng công trình thủy điện, theo đó phải đảm bảo cho người dân một cuộc sống vùng tốt hơn hoặc ít nhất là bằng nơi ở cũ
Trong luận văn thạc sĩ: “Tác động của việc tái định cư đến đời sống của người dân trong vùng dự án ADB cải thiện môi trường đô thị miền Trung Việt Nam”, tác giả Trần Thị Lê Tâm đã
đánh giá tác động của tái định cư trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh ở các mặt thu nhập và năng lực chi trả của người dân tái định cư, tác động duy trì các giá trị văn hóa và tiếp cận học đường của người dân tái định cư, tác động đến đời sống xã hội, đến môi trường khi dự án hoạt động Tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển thành công tái định cư và phát triển cộng đồng bền vững trong hiện tại và tương lai
Đó là những nghiên cứu có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn, là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu Kế thừa kết quả của những nghiên cứu đi trước, trong nghiên cứu này chúng tôi sẽ phân tích những hệ quả xã hội từ việc thu hồi đất để xây dựng công trình công cộng, cụ thể là công trình cấp nước sạch cho người dân thị trấn Chờ, huyện Yên Phong và xã Lãng Ngâm, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh Chúng tôi sẽ phân tích hệ quả này dưới hai khía cạnh: tích cực và tiêu cực, thông qua sự tác động qua lại của các yếu tố chủ quan và khách quan, thông qua các nguồn vốn, để thấy được tác động của việc thu hồi đất xây dựng công trình cấp nước tới cuộc sống của người dân trên địa bàn diễn ra dự án Đây cũng chính là điểm mới của đề tài
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài này thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu những hệ quả tác động đến cuộc sống của người dân Hệ quả đó xảy ra trên những phương diện gì khi người dân chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp của mình cho các công trình cấp nước? Qua đó, chúng tôi cũng đồng thời làm rõ tác động của các chính sách, dự án tới cuộc sống của người dân hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, chúng tôi đã đề ra hai nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Mô tả những thay đổi trong cuộc sống, trong sinh kế của người nông dân qua hai giai đoạn trước và sau khi có dự án cấp nước
Đánh giá được tác động / ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của việc thu hồi đất phục vụ cho các
dự án cấp nước đến cuộc sống, sinh kế của người nông dân ở hai địa bàn nghiên cứu
4 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
- Hệ quả xã hội của việc thu hồi đất xây dựng công trình cấp nước
4.2.Khách thể nghiên cứu
- Các hộ dân có đất bị thu hồi phục vụ dự án cấp nước sạch
Trang 11- Các cán bộ, chính quyền địa phương tại các địa bàn nghiên cứu
dựng công trình cấp nước theo dự án: “Phát triển cấp nước đô thị Việt Nam” của Chính phủ trên
địa bàn tỉnh Bắc Ninh năm 2013 mà chúng tôi là tư vấn viên của dự án đó
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
5.1 Ý nghĩa khoa học
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã vận dụng một số phương pháp xã hội học như phương pháp luận Mac xit, lý thuyết vốn xã hội, lý thuyết lựa chọn hợp lý của Coleman Thông qua nghiên cứu, đề tài góp phần làm sáng tỏ hệ thống các khái niệm, lý thuyết, phương pháp nghiên cứu xã hội học và vận dụng để làm sáng tỏ vấn đề biến đổi cuộc sống, sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất đồng thời chỉ ra những hệ quả xã hội của việc thu hồi đất xây dựng công trình cấp nước trên hai địa bàn nghiên cứu
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài chú trọng nghiên cứu những thay đổi trong cuộc sống, sinh kế của người dân khu vực
bị thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho các công trình công cộng, từ đó tìm ra giải pháp khắc phục những khó khăn, tìm kiếm các giải pháp hữu ích để giúp người dân nhanh chóng làm chủ cuộc sống, thích nghi với môi trường mới và tạo dựng sinh kế bền vững lâu dài cho nhân dân vùng bị ảnh hưởng
Đề tài cũng tìm hiểu những tâm tư nguyện vọng của người dân sau khi bị thu hồi đất, đồng thời làm rõ những tác động tích cực của chính sách đền bù đối với đời sống kinh tế, xã hội của người dân
Đề tài sẽ bổ sung và làm phong phú thêm hệ thống các báo cáo khoa học, làm nguồn tài liệu tham khảo cho các tác giả với những công trình liên quan đến giải phóng mặt bằng, thu hồi đất đai và tạo dựng sinh kế của người dân
1 6 Giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích
6.1 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu chúng tôi đặt ra là:
- Việc xây dựng các công trình cấp nước đã tác động đến cuộc sống của người dân trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực
- Những hình thức đền bù, hỗ trợ sau giải phóng mặt bằng chưa mang lại hiệu quả cao đặc biệt chưa tạo ra tính bền vững trong việc giúp người dân bị ảnh hưởng thay đổi và có một sinh kế
ổn định để đảm bảo cuộc sống mới
6.2 Khung phân tích
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, trên cơ sở giả thuyết nghiên cứu nêu ra, khung phân tích của đề tài được xây dựng như hình sau:
Trang 12
Khung phân tích thể hiện sơ đồ tương quan tác động như sau:
Trung tâm khung phân tích là hệ quả xã hội của việc thu hồi đất xây dựng công trình cấp nước được mô tả theo hai chiều hướng của vấn đề, đó là những tác động tích cực và những tác động tiêu cực đến cuộc sống, sinh kế của người dân Nhóm biến số độc lập giải thích nguyên nhân đưa đến những hệ quả xã hội cho người dân, bao gồm các yếu tố như dự án xây dựng công trình cấp nước của Chính phủ, chính sách thu hồi đất nông nghiệp, sự thích ứng của người dân trước những biến động trong cuộc sống Nhóm biến số can thiệp gồm điều kiện kinh tế chính trị
xã hội và chính sách phát triển các công trình công cộng của chính phủ
Các nhóm biến số:
1) Nhóm biến số phụ thuộc, bao gồm: Quy mô, tần suất, tính chất, mức độ, ảnh hưởng của
tác động Nó được cụ thể hóa trong các chỉ báo về tác động trực tiếp đến cuộc sống của người dân như: được sử dụng nguồn nước sạch thay vì sử dụng nguồn nước ao, giếng… như trước khi
dự án diễn ra; tìm ra được nguồn sinh kế mới cho thu nhập cao hơn thu nhập cũ; có nguồn thu nhập thêm từ tiền đền bù đất; và giá đất nông nghiệp của địa phương tăng lên Bên cạnh những chỉ báo theo hướng tích cực đó, chúng ta cũng cần quan tâm đến những chỉ báo theo hướng tiêu
bị ảnh hưởng
Giá đất nông nghiệp tăng
Có thêm thu nhập
từ đền bù đất
Bất bình đẳng trong hưởng lợi
Sự thích ứng của người dân trước biến đổi của đời sống
Điều kiện kinh tế, chính
trị, xã hội
Chính sách thu hồi đất
nông nghiệp
Dự án xây dựng công trình cấp nước đô thị
Trang 13cực là: Nguồn sinh kế bền vững của người nông dân bị ảnh hưởng và có sự bất bình đẳng trong việc hưởng lợi từ công trình cấp nước
2) Nhóm biến số độc lập:
- Chính sách thu hồi đất nông nghiệp của người dân để xây dựng công trình cấp nước: + Chính sách, pháp luật về đất đai, về đền bù đất qua các năm 2008, 2009, 2010, 2011,
2012
+ Các cấp, chính quyền thực thi chính sách về đền bù đất đai
Nhóm biến số này thể hiện ưu, nhược điểm của chính sách, pháp luật về thu hồi và đền bù đất đã ban hành và việc các cấp, chính quyền thực thi chúng
- Sự thích ứng của người dân trước những biến động trong cuộc sống với các chỉ báo về đặc điểm cá nhân bao gồm:
+ Giới tính, độ tuổi
+ Trình độ học vấn
+ Nghề nghiệp, việc làm
+ Dân tộc, tôn giáo
Nhóm biến số này quyết định trực tiếp đến hệ quả xã hội đối với cuộc sống của người dân, bởi việc người dân có thích ứng được với cuộc sống mới hay không phụ thuộc nhiều vào các lợi thế về giới tính, độ tuổi và trình độ học vấn thông qua sự nhận thức của họ về vai trò của dự án đối với cộng đồng Chính yếu tố này ảnh hưởng nhiều đến mức độ thành công của dự án
3) Nhóm biến số can thiệp:
- Điều kiện kinh tế xã hội của địa phương
- Dự án xây dựng công trình cấp nước của chính phủ
Nhóm biến số này điều chỉnh hành vi của các nhóm xã hội khi tham gia vào việc giải phóng mặt bằng và đền bù đất nông nghiệp
7 Phương pháp thu thập thông tin
Trong quá trình thu thập thông tin cho đề tài, chúng tôi đã sử dụng 04 phương pháp chủ yếu sau:
7.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Trước khi tiến hành nghiên cứu, việc nghiên cứu và tham khảo các tài liệu liên quan một cách kỹ lưỡng là sự trợ giúp đắc lực cho chúng tôi xây dựng những ý tưởng và đề cương chính cho đề tài Những tài liệu được tham khảo bao gồm các văn bản luật, nghị định của chính phủ, các quyết định của các tỉnh, thành phố, các hướng dẫn về việc thu hồi và đền bù đất, tái định cư
của các nhà tài trợ và các tài liệu, các nghiên cứu trước có liên quan
Mục tiêu của phương pháp này nhằm xác định tổng quan vấn đề nghiên cứu, trên cơ sở đó giúp cho việc chọn mẫu được khách quan, khoa học, đồng thời khám phá, tìm kiếm những vấn đề
mà các nghiên cứu trước chưa đề cập
7.2.Phương pháp thảo luận nhóm
Phương pháp thảo luận nhóm được áp dụng nhằm thu thập thêm các thông tin định tính với mục đích tìm hiểu thêm nguyên nhân của vấn đề, cụ thể là xem xét đến nguyên nhân sâu xa của quá trình xây dựng công trình cấp nước dẫn đến các hệ quả xã hội tại địa bàn nghiên cứu Trong
Trang 14quá trình thực hiện nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành thực hiện thảo luận với 06 nhóm Mỗi nhóm thảo luận bao gồm từ 08 đến 12 người Đây là các đối tượng nằm trong số những người chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thu hồi đất, trong đó chúng tôi đặc biệt quan tâm đến các trường hợp ảnh hưởng nặng, các nhóm dễ bị tổn thương (phụ nữ, trẻ em, người tàn tật)
7.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Số liệu định lượng từ phỏng vấn bằng bảng hỏi vẫn còn nhiều vấn đề chưa được làm rõ Vì vậy, đối với đề tài này, chúng tôi sử dụng thêm phương pháp phỏng vấn sâu trực tiếp, đảm bảo tính khuyết danh Thông qua phương pháp phỏng vấn sâu, chúng tôi thấy được vấn đề một cách
rõ ràng và sâu sắc hơn, tập trung vào những khía cạnh còn chưa có đầy đủ thông tin hoặc cần khai thác kỹ hơn về mảng thông tin nào đó, bổ sung cho các vấn đề nghiên cứu đã vạch ra trong
đề tài Qua phỏng vấn sâu, chúng tôi cũng có khả năng khẳng định hoặc đánh giá về thông tin, thông qua việc quan sát thái độ và cách trả lời của đối tượng được hỏi
Ở đề tài này, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu các đối tượng sau:
+ Cán bộ phụ trách chung dự án thu hồi đất: 06 người
+ Cán bộ xã/ phường phụ trách việc thu hồi đất ở hai địa bàn: 12 người
1.1.1 + Người dân chịu ảnh hưởng trực tiếp của việc bị thu hồi đất phục vụ công trình cấp nước trên hai địa bàn: 30 người
Như vậy, tổng số mẫu thực hiện phỏng vấn sâu là 48 mẫu (trong đó 18 mẫu là cán bộ dự án
và 30 mẫu là người dân có đất nông nghiệp bị ảnh hưởng)
1.2 7.4 Phương pháp thu thập thông tin bằng bảng hỏi
Thông tin được tập hợp và thu thập theo mẫu phiếu điều tra được thiết kế sẵn Mẫu được chọn là tất cả các hộ gia đình có đất bị thu hồi để xây dựng công trình cấp nước trên hai địa bàn nghiên cứu Mẫu được thiết kế phù hợp với việc thu thập thông tin của từng địa phương Phiếu điều tra được áp dụng để thu thập một số thông tin cần thiết và cụ thể bao gồm:
+ Điều kiện kinh tế các hộ dân trong khu vực dự án, bao gồm các vấn đề về nhân khẩu, nghề nghiệp
+ Thực trạng bị thu hồi đất của từng hộ gia đình và phương thức triển khai ở từng điạ phương, các chính sách, biện pháp bồi thường thiệt hại…
+ Sự thay đổi sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất, những mong muốn, nguyện vọng của họ đối với dự án
+ Cuộc sống của người dân thay đổi như thế nào sau khi nhận đền bù và những góp ý của người dân cho việc thực hiện dự án trong các giai đoạn tiếp theo
- Mô tả cách chọn mẫu
Cơ cấu mẫu thực hiện với 222 mẫu định lượng Mẫu nghiên cứu này được xác định là những gia đình có đất bị thu hồi trên hai địa bàn thị trấn Chờ, huyện Yên Phong và xã Lãng Ngâm, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh theo dự án cấp nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh năm 2013
Số lượng mẫu cụ thể của từng địa bàn như sau:
Thị trấn Chờ: 180 mẫu
Xã Lãng Ngâm: 42 mẫu
Cơ cấu theo giới tính: Nam: 96 mẫu ( 43%)
Nữ: 126 mẫu ( 57%)
Trang 15Cơ cấu theo độ tuổi, học vấn và nghề nghiệp (Bảng 1, bảng 2 và bảng 3):
Bảng 1: Cơ cấu theo độ tuổi của những người được hỏi
Bảng 3: Cơ cấu nghề nghiệp hiện nay của những người được hỏi
Trang 16Trong nghiên cứu này, chúng tôi trực tiếp khai thác số liệu thu thập được từ bảng hỏi, bao gồm: Phần 1: Những thông tin chung về hộ bị ảnh hưởng, từ câu 1 đến câu 7; Phần 5: Khôi phục
và cải thiện cuộc sống: Câu 23, 24, 25
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung luận văn bao gồm 02 chương, 08 tiết
2 CHƯƠNG 1
3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU HỆ QUẢ XÃ HỘI
4 CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG 1.1 Cơ sở lý luận liên quan đến phân tích hệ quả xã hội
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến hệ quả xã hội
* Tác động xã hội
Có nhiều khái niệm khác nhau để định nghĩa về tác động xã hội Trong nghiên cứu này,
chúng tôi sử dụng khái niệm của hai nhà xã hội học người Pháp Pierre Ansarb và Andre Akwoun:
“Tác động là một kết quả đo được của một hành động đối với môi trường xã hội” [1, tr.272] Thuật ngữ “tác động” chỉ kết quả, hệ quả của một hành động, một quyết định, một thông điệp, một chính sách, một đường lối, một chương trình… đối với cá nhân, môi trường tự nhiên, môi trường xã hội Trong xã hội học, thuật ngữ này dùng để đo những hệ quả, phức hợp do con người cảm nhận trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt hay lâu dài của một hành động Như vậy, việc thu hồi đất xây dựng công trình cấp nước cũng là một hành động mang tính chất tác động đến các đối tượng và chủ thể khác, mà ở đây chính là cuộc sống của người dân địa phương Thuật ngữ này được sử dụng để đo những những cảm nhận và biến đổi của người dân trước và sau khi thu hồi đất có tổ chức Ở đây, hệ quả của việc thu hồi đất xây dựng công trình cấp nước được đánh
Trang 17giá và đo ở cả hai khía cạnh: tích cực và tiêu cực đến cuộc sống, môi trường sống của người dân
nông thôn
* Biến đổi xã hội
Khái niệm biến đổi xã hội thường được dùng với nghĩa tương tự như các khái niệm gần nghĩa và cũng dẫn đến những nhầm lẫn như: biến chuyển xã hội, thay đổi xã hội, tiến bộ xã hội, tiến hóa xã hội, hiện đại hóa…
Trong Từ điển xã hội học, Nguyễn Khắc Viện dùng khái niệm “thay đổi xã hội” Theo đó,
thay đổi xã hội “chỉ trạng thái vận động xã hội khác nhau: tiến bộ hoặc thoái bộ, tiến hóa hoặc cách mạng, bộ phận hoặc toàn bộ, v.v ” (1994: 284) Với cách tiếp cận này, thay đổi xã hội ở tầm
xã hội vĩ mô khi xã hội có sự vận động trong tồn tại xã hội, ý thức xã hội hoặc kết hợp cả hai Như vậy, “thay đổi xã hội” là một khái niệm mang tính chất là một phạm trù triết học để chỉ sự vận động từ một giai đoạn xã hội (hình thái kinh tế - xã hội) này sang một giai đoạn khác
Một quan điểm khác cũng xem biến đổi xã hội ở khía cạnh tương tự: “Biến chuyển xã hội là những sự thay đổi diễn ra trong khuôn mẫu tổ chức xã hội, cấu trúc, thiết chế và đời sống văn hóa
xã hội” (theo Nguyễn Minh Hòa, 1999: 192) Trong khái niệm này, biến chuyển xã hội được hiểu theo bình diện rất rộng với nhiều cấp độ: biến chuyển các khuôn mẫu trong tổ chức, trong các thiết chế và diễn ra trên quy mô xã hội tổng thể
Trong Từ điển xã hội học Oxford xem biến đổi xã hội dưới góc nhìn xã hội học bao gồm rất
nhiều nhiều phương diện Từ biến đổi ngắn hạn đến những biến đổi dài hạn, những biến đổi quy
mô lớn đến quy mô nhỏ, từ cấp độ toàn cầu tới cấp độ gia đình Biến đổi xã hội không chỉ thể hiện trên phương diện cấu trúc chính trị và cơ cấu xã hội rộng lớn mà còn thể hiện trong chuẩn mực, giá trị, khuôn mẫu hành vi, các mối quan hệ
“Biến chuyển xã hội là sự thay đổi có tính cơ cấu trong những tổ chức, trong những lối suy nghĩ qua thời gian” (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2003: 200) Quan điểm này nhìn nhận biến đổi xã hội diễn ra không chỉ trong cấu trúc của xã hội tổng thể mà còn diễn ra trong những nhận thức và suy nghĩ
Một khái niệm về biến đổi xã hội thường được dùng trong các nghiên cứu xã hội học là khái niệm của hai tác giả Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng: “Biến đổi xã hội là một quá trình qua đó những khuôn mẫu của các hành vi, các quan hệ, các thiết xã hội và các hệ thống phân tầng được thay đổi qua thời gian” [5, tr.280]
Qua đó, các tác giả đưa ra hai loại hình biến đổi xã hội như sau:
- Biến đổi vĩ mô, nó diễn ra trên một phạm vi rộng lớn, diễn ra trong một thời gian dài
- Biến đổi vi mô, liên quan đến những biến đổi nhỏ, diễn ra nhanh hơn
Trên cơ sở các định nghĩa đó, chúng tôi nhận thấy biến chuyển xã hội có một số đặc trưng như:
1) Diễn ra trong những môi trường, các không gian xã hội khác nhau;
2) Tốc độ và tính chất khác nhau;
3) Biến đổi xã hội cũng diễn ra trên nhiều phương diện khác nhau;
4) Vừa có tính tự giác, nhưng cũng mang tính phi kế hoạch, có những biến đổi người ta lường trước, nhưng có những thay đổi con người không thể lường được;
5) Biến đổi xã hội vừa mang kết quả tốt, nhưng cũng mang lại nhiều hậu quả xấu;
Trang 186) Có những biến đổi diễn ra trong thời gian ngắn, nhưng cũng có những biến đổi xã hội diễn ra trong thời gian rất dài
Như vậy, mỗi một khái niệm được đưa ra đều có một ý nghĩa nhất định và phù hợp với từng nghiên cứu Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm “Biến đổi xã hội” theo quan điểm của hai nhà xã hội học Phạm Tất Dong và Lê Ngọc Hùng
* Hành vi lệch chuẩn
“Hành vi lệch chuẩn” hay còn gọi là “sai lệch xã hội” được đề cập đến nhiều trong các lý thuyết xã hội học, cụ thể như trong trường phái Cấu trúc - chức năng mà nổi bật là Emily
Durkheim, hay lý thuyết xung đột của Robert Merton
“Lệch” có nghĩa là sự không phù hợp với sự mong đợi của xã hội hoặc của một nhóm xã hội
Theo Merton: “Hành động sai lệch như một dấu hiệu của sự tách rời giữa những mục tiêu văn hóa đã định trước với những biện pháp mang cấu trúc xã hội nhằm thực hiện mục tiêu
này”[6, tr.279]
Khi nói về sai lệch xã hội hay sự lệch chuẩn là nói đến khía cạnh hành vi không chuẩn, không phù hợp với quy tắc giá trị, chuẩn mực của xã hội, của nhóm hoặc của cộng đồng Tùy theo văn hóa, theo các đặc điểm nhóm hay những cộng đồng xã hội khác nhau và ở những thời điểm lịch sử khác nhau mà hành vi lệch chuẩn có sự thay đổi Nói như vậy có nghĩa là: Một hành
vi nào đó không phải luôn luôn lệch chuẩn, ở thời điểm này nó có thể lệch chuẩn nhưng ở một thời điểm khác nó không còn là hành vi lệch chuẩn và ngược lại
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, hành động sử dụng sai mục đích các khoản hỗ trợ đền
bù bằng tiền mặt thay cho các hình thức hỗ trợ khác của người dân tại thị trấn Chờ và xã Lãng Ngâm là một hành vi lệch chuẩn Hành động ấy lệch chuẩn khi người dân nhận tiền đền bù nhưng lại không đầu tư vào việc nâng cao tay nghề kỹ thuật, đầu tư vào sản xuất mà dùng số tiền đó mua sắm các trang thiết bị trong gia đình, thậm chí có người còn sử dụng vào các mục đích không chính đáng như đánh bạc, nghiện hút… dẫn tới các tệ nạn xã hội Chính hành động đó đã làm mất đi ý nghĩa của việc hỗ trợ, đền bù thiệt hại khi thu hồi đất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn sinh kế bền vững của người dân
1.1.2 Một số lý thuyết cơ bản
* Lý thuyết Biến đổi xã hội
Mọi xã hội đều có những biến đổi mỗi ngày theo những cách thức, mức độ, thời điểm và nhịp độ khác nhau Những biến đổi đều ít nhiều có sự kế thừa từ quá khứ của nó và theo một mẫu hình hay một dự định mới được cụ thể rõ ràng Vậy những trường hợp nào được coi là biến đổi
xã hội?
Thứ nhất, biến đổi xã hội tất yếu là một hiện tượng tập thể, tức là nó phải bao hàm một tập
thể hay một khu vực được đánh giá như một tập thể; nó phải tác động đến những điều kiện hay những lối sống hay thậm chí đến thế giới tinh thần không chỉ của một vài cá nhân
Thứ hai, một biến đổi xã hội phải là một biến đổi cấu trúc, tức là người ta phải quan sát
được sự thay đổi trong tổng thể hay trong một vài bộ phận của tổ chức xã hội Thực tế, để nói về
sự biến đổi xã hội, chủ yếu là người ta có thể chỉ ra được sự thay đổi về những thành phần cấu trúc hay văn hóa của tổ chức xã hội và có thể mô tả một cách đầy đủ và chính xác nhất về những thay đổi đó
Trang 19Thứ ba, giả định rằng trước kia người ta có thể xác định được sự thay đổi cấu trúc Nói cách
khác người ta có thể mô tả được tổng thể những chuyển đổi hay sự tiếp nối của những chuyển đổi
đó giữa hai hay nhiều thời điểm từ trước đó Thực tế người ta chỉ có thể đánh giá và đo lường sự biến đổi xã hội đối với một thời điểm tham khảo trong quá khứ Từ thời điểm tham khảo này, người ta có thể nói rằng có sự biến đổi, có cái đã biến đổi và trong phạm vi nào đó đã có sự biến đổi
Thứ tư, để thực sự là một biến đối cấu trúc thì mọi biến đổi phải có tính liên tục, tức là
những chuyển đổi quan sát được không phải là những chuyển đổi bề ngoài và trong chốc lát, tác động đến cấu trúc và chức năng của tổ chức xã hội của một tập thể nào đó và thay đổi tiến trình lịch sử của tập thể đó
Các nhà xã hội học theo trường phái chức năng quan niệm rằng: “Biến đổi xã hội là biến đổi các chức năng tương ứng với các thiết chế xã hội” [7,tr.68]
Trên cơ sở của lý thuyết biến đổi xã hội, phần nào chúng ta có thể hiểu được rằng: Quá trình đô thị hóa và chỉnh trang đô thị là một xu thế khách quan, tất yếu trong tiến trình phát triển của đất nước theo định hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa Bản chất của đô thị hóa là sự phát triển của các khu dân cư và quá trình quy hoạch đô thị để bảo đảm sự phát triển bền vững, đồng thời quá trình này cũng tạo ra sự biến đổi mạnh mẽ về cơ cấu lao động, cách thức lao động và tổ chức dân cư
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, biến đổi xã hội được xác định như là sự biến đổi đời sống của người nông dân trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực thông qua sự biến đổi điều kiện tự nhiên, điều kiện sinh sống, lao động sản xuất và sự biến đổi về nguồn nhân lực của các hộ dân trong địa bàn nghiên cứu Nghiên cứu sẽ xác định và nêu ra những khuynh hướng cho sự biến đổi đó thông qua các chỉ báo cụ thể như biến đổi cơ cấu lao động, việc làm, thu nhập của người dân, đồng thời đánh giá những tác động cơ bản của việc thu hồi đất phục vụ cho công trình cấp nước Đây chính là một trong các yếu tố thể hiện rõ nhất sự biến đổi xã hội trong một địa phương cụ thể
4.1 *Lý thuyết Vốn xã hội
Khái niệm vốn xã hội được L J Hanifan đưa ra lần đầu tiên năm 1916 như những thứ
“được tính nhiều nhất trong cuộc sống thường nhật của con người: Cụ thể là thiện ý, tình bằng hữu, sự đồng cảm, và giao thiệp xã hội giữa những cá nhân và gia đình tạo thành một đơn vị xã hội… Nếu [một cá nhân] giao tiếp với các láng giềng của mình, và họ với láng giềng của họ, thì
sẽ có sự tích tụ vốn xã hội, cái có thể thoả mãn ngay các nhu cầu xã hội của anh ta và có thể có một tiềm năng xã hội đủ để cải thiện đáng kể điều kiện sống của cả cộng đồng” [trích theo M Woolcock, D Narayan] Sau đó khái niệm này thực sự bị lãng quên, chỉ lác đác được một số học giả đề cập đến trong các năm 1950, 1960 và 1970 Khái niệm này chỉ thực sự được nhiều người quan tâm và bàn luận sau các công trình nổi tiếng của Coleman (cuối những năm 1980 đầu 1990)
và Putnam (1993, 1995) Từ đó đến nay vốn xã hội trở thành một đề tài nghiên cứu nóng và đã đi đến nhiều đồng thuận, tuy vẫn còn nhiều bất đồng và nhiều vấn đề cần nghiên cứu tiếp
Khái niệm vốn xã hội thường gắn với sự tham gia xã hội và công dân, với các mạng hợp tác
và đoàn kết, gắn với sự cố kết xã hội, sự tin cậy, sự có đi có lại và tính hiệu quả thể chế Hiện nay chúng ta có ba cách tiếp cận về vốn xã hội:
Trang 20- Cách tiếp cận vi mô nhấn mạnh đến bản chất và các hình thức của ứng xử hợp tác (giá trị của hành động tập thể, vốn xã hội được coi là 1) sản phẩm của các động cơ của các tác nhân để tạo ra một hiệp hội; 2) ứng xử của họ; và 3) cảm nhận của họ về các vấn đề tập thể Ngân hàng Thế giới nhắc đến loại này như “vốn xã hội nhận thức” (cognitive social capital)
- Cách tiếp cận vĩ mô nhấn mạnh đến các điều kiện (thuận lợi và bất lợi) cho hợp tác, đến giá trị của hội nhập và cố kết xã hội; nó nhấn mạnh đến môi trường xã hội, các thể chế, cấu trúc
xã hội và chính trị truyền đạt các giá trị và các chuẩn mực tạo điều kiện cho người dân tham gia hoạt động xã hội và công dân; coi vốn xã hội như sản phẩm của các cấu trúc đó Kết quả là, các cấu trúc này càng củng cố sự tin cậy và sự có đi có lại thì càng nhiều người tham gia vào đời sống công dân, và sẽ càng có nhiều vốn xã hội
- Cách tiếp cận trung gian (meso) nhấn mạnh các kết cấu cho phép hợp tác xảy ra Nó nhấn mạnh đến giá trị phương tiện của vốn xã hội, gắn với tiềm năng của các mạng xã hội Ngân hàng Thế giới nhắc đến nó như “vốn xã hội cấu trúc” (structural social capital)
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu như Trần Hữu Dũng (2006), Trần Hữu Quang (2006), Nguyễn Quý Thanh, Cao Thị Hải Bắc (2012)… đã đi sâu nghiên cứu về vốn xã hội trên cả hai bình diện lý thuyết và thực nghiệm Tuy nhiên, trên thực tế người Việt Nam, nhất là người nông thôn, đã biết tạo dựng, khai thác và sử dụng vốn xã hội rất lâu đời [9, tr.39] Chính vì vậy, vận dụng vốn xã hội vào phân tích sự thay đổi sinh kế của người dân sau khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất không chỉ thấy rõ được những bản chất của sự thay đổi đó là gì, hướng phát triển ra sao
mà còn đứng trên lập trường của người dân để thấy được tâm tư, nguyện vọng của người dân trong việc thực hiện những công trình công cộng Đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu vốn xã hội trong sự tác động tương quan với vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn vật chất và vốn con người để thấy được sự thay đổi cuộc sống, thay đổi nguồn sinh kế bền vững của người nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn
* Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý
Lý thuyết lựa chọn hợp lý phát sinh từ kinh tế học cổ điển Nó được phát triển lên thành lý thuyết xã hội học nhờ công lao của James S Coleman Theo Coleman, lý thuyết lựa chọn hợp lý (hay ông còn gọi là mô hình của hành động hợp lý) là lý thuyết duy nhất có khả năng tạo ra mô hình hòa hợp Coleman lý luận rằng cách tiếp cận này vận hành từ một nền tảng trong phương pháp luận của chủ nghĩa cá nhân và sử dụng thuyết lựa chọn hợp lý như là cơ sở cấp độ vi mô để
lý giải những hiện tượng vĩ mô [6, tr.235]
Hai thành tố chủ chốt trong lý thuyết lựa chọn hợp lý là các tác nhân và các tiềm năng Coleman cho rằng các chủ thể hành động khi hành động đều hướng tới mục tiêu được định hình bởi các giá trị hoặc các sở thích Chủ thể hành động sẽ tối đa hóa các lợi ích hay sự thỏa mãn các nhu cầu, mong muốn của mình Theo ông, mỗi chủ thể hành động có các tiềm năng và cách thức
sử dụng những tiềm năng là khác nhau Điều đó ảnh hưởng đáng kể đến việc đạt được mục đích các hoạt động của họ Ngoài các tiềm năng, chủ thể còn ảnh hưởng của các thiết chế xã hội Tất
Trang 21cả các nhân tố đó đều quy định những hành vi của các cá nhân, quy định sự lựa chọn những hành
vi của họ
Vận dụng lý thuyết lựa chọn hợp lý vào nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy, người dân nông thôn được coi là các chủ thể hành động Trong quá trình thu hồi đất, người dân được quyền lựa chọn các hình thức đền bù và hỗ trợ đền bù thích hợp với hoàn cảnh địa phương và hoàn cảnh gia đình mình Việc lựa chọn của họ là hoàn toàn tự nguyện và không có sự can thiệp của chủ đầu
tư hay ban quản lý dự án (QLDA) Thay vì nhận hình thức hỗ trợ đào tạo nghề, hỗ trợ ổn định cuộc sống, người dân địa phương nơi diễn ra dự án đã nhận hình thức hỗ trợ đền bù bằng tiền mặt Hành động này của họ đã kéo theo hàng loạt hệ quả mà có lẽ chỉ ngay sau khi nhận tiền đền
bù người dân cũng có thể nhận ra Đó chính là tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp vì không có trình độ tay nghề cao để làm việc và nguồn sinh kế bền vững bị ảnh hưởng nghiêm trọng Vì vậy, lựa chọn một phương thức đền bù và hỗ trợ đền bù phù hợp là một yếu tố quan trọng giúp người dân ổn định và phát triển cuộc sống sau khi bị thu hồi đất và tái định cư
4.2 1.2 Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đất, thu hồi đất
4.2.1 1.2.1 Khái niệm đất nông nghiệp
Theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam, đất nông nghiệp thường được hiểu là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu như ngô, khoai, sắn và những loại cây được coi là cây lương thực Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng đất nông nghiệp tương đối phong phú, không chỉ đơn thuần là để trồng lúa, hoa màu mà còn dùng vào mục đích chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản hay để trồng cây lâu năm
Trước đây Luật đất đai năm 1993 quy định về đất nông nghiệp tại Điều 42 như sau: “Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp”
Với quy định của Luật đất đai năm 1993, đất đai của Việt Nam chia làm sáu loại:
Để khắc phục những hạn chế đó, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất thực hiện các quyền của mình trong việc sử dụng đất Luật đất đai năm 2003 đã chia đất đai làm
ba loại, với tiêu chí phân loại duy nhất đó là căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu Trên cơ sở
đó, đất đai được chia theo ba phân nhóm :
- Nhóm đất nông nghiệp;
- Nhóm đất phi nông nghiệp;
- Nhóm đất chưa sử dụng;
Trang 22Như vậy, chúng ta đã mở rộng khái niệm đất nông nghiệp với tên gọi “Nhóm đất nông
nghiệp” thay cho “ Đất nông nghiệp” trước đây Theo quy định của Luật đất đai năm 2003, có thể hiểu nhóm đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất có đặc tính sử dụng giống nhau, với tư cách
là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, khoanh nuôi tu bổ bảo vệ rừng, nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp
4.2.2 1.2.2 Thu hồi đất
Điều 4 Luật đất đai 2003 quy định:
Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này
4.2.3 1.2.3 Bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất
Bồi thường khi thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới
1.2.4 Chính sách bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi
Điều 42 Luật đất đai 2003 quy định:
1, Nhà nước thu hồi đất của người sử dụng đất mà người bị thu hồi đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định thì được bồi thường
2, Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi
3, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lập và thực hiện các dự án tái định cư trước khi thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở Khu tái định cư phải được quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn
và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ
Trường hợp không có khu tái định cư thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền
và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước đối với khu vực đô thị; bồi thường bằng đất đối với khu vực nông thôn, trường hợp giá trị quyền sử dụng đất bị thu hồi lớn hơn giá trị đất được bồi thường thì người thu hồi đất được bồi thường bằng tiền đối với phần chênh lệch
đó
4.3 1.3 Các công trình cấp nước trong hệ thống các công trình hạ tầng xã hội công cộng
1.3.1 Khái niệm hệ thống các công trình hạ tầng xã hội công cộng
Theo Điều 3 Luật xây dựng: Hệ thống công trình hạ tầng xã hội bao gồm các công trình y
tế, văn hóa, giáo dục, thể thao, thương mại, dịch vụ công cộng, cây xanh, công viên, mặt nước và các công trình khác
Phân loại công trình hạ tầng công cộng:
Trang 23Tiêu chuẩn xây dựng 276: 2003 quy định về việc phân loại các công trình hạ tầng công cộng như sau:
Công trình y tế: Bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa từ Trung ương đến địa phương; Phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa khu vực; Nhà hộ sinh; Nhà điều dưỡng, nhà nghỉ, nhà dưỡng lão; Cơ quan phòng chống dịch bệnh; Trạm y tế; Trung tâm phục hồi chức năng Công trình thể thao: Sân vận động, sân thể thao có mái che và không có mái che; Nhà luyện tập và thi đấu thể thao; Bể bơi có mái và không có mái che
Công trình giáo dục: Trường mầm non; Trường tiểu học, Trường phổ thông cơ sở, phổ thông trung học; Trường đại học và cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp; Trường dạy nghề; Trường nghiệp vụ
Công trình văn hóa: Thư viện; Bảo tàng; Triển lãm; Nhà hát, rạp chiếu phim; Nhà văn hóa, câu lạc bộ; Trung tâm biên tập phát thanh, vô tuyến truyền hình; Trung tâm biểu diễn nghệ thuật
Cơ quan hành chính các cấp: Trụ sở Ủy ban hành chính các cấp; Trụ sở các cơ quan và tổ chức quản lý nhà nước; Nhà làm việc, văn phòng; Tòa án, viện kiểm sát
Công trình dịch vụ công cộng: Khách sạn, nhà khách; Ngân hàng; Trạm chữa cháy; Trung tâm dịch vụ công cộng (giặt, là, tắm, các trạm sửa chữa, may vá, cắt tóc )
Công trình thương mại: Chợ; Cửa hàng, trung tâm thương mại, siêu thị; Cửa hàng ăn uống, giải khát
Công trình thông tin liên lạc: Trung tâm bưu điện; Điện tín, điện thoại, tổng đài; Trung tâm phát thanh và vô tuyến truyền hình
Công trình giao thông: Các ga xe lửa, các trạm kiểm tra đường giao thông; Bến xe ô tô; Ga hàng không dân dụng; Bến cảng vận chuyển hành khách
1.3.2 Một số thuật ngữ, khái niệm về công trình cấp nước
1.3.2.1 Hệ thống cấp nước
Theo giáo trình “Cấp thoát nước” của Nguyễn Thống “Hệ thống cấp nước là tổ hợp các công trình có chức năng thu, xử lý vận chuyển và điều hòa phân phối nước” [2, tr.18]
Tùy từng mục đích sử dụng mà người ta có nhiều cách phân loại hệ thống cấp nước
+ Theo đối tượng phục vụ: Hệ thống cấp nước đô thị, hệ thống cấp nước nông thôn… + Theo chức năng phục vụ: Hệ thống cấp nước sinh hoạt, hệ thống cấp nước sản xuất… + Theo phương pháp sử dụng nước: Hệ thống cấp nước trực tiếp, hệ thống cấp nước gián tiếp…
+ Theo nguồn nước: Hệ thống nước ngầm, hệ thống nước mặt
+ Theo phạm vi cung cấp: Hệ thống cấp nước thành phố, hệ thống cấp nước tiểu khu… Như vậy, hệ thống cấp nước là một hệ thống sản xuất, truyền tải và phân phối nước sạch tới các hộ gia đình có nhu cầu sử dụng nước Việc sử dụng khái niệm này nhằm mục đích phân biệt
rõ với khái niệm /thuật ngữ thường được sử dụng theo cách “quen miệng” đó là khái niệm “Cấp thoát nước” Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng khái niệm “Cấp nước” là một khái niệm chủ đạo để nghiên cứu vấn đề được đặt ra
1.3.2.2 Mạng lưới cấp nước
Trang 24Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2003): Mạng lưới cấp nước là một bộ phận của hệ thống dẫn nước, là tập hợp các đường ống với các kích cỡ khác nhau, làm nhiệm vụ vận chuyển và phân phối nước đến các điểm dùng nước trong phạm vi thiết kế
Mạng lưới cấp nước phải thỏa mãn các điều kiện sau:
+ Mạng lưới cấp nước phải đảm bảo cung cấp đủ lưu lượng tới mọi đối tượng dùng nước dưới áp lực yêu cầu và chất lượng tốt
+ Mạng lưới cấp nước phải đảm bảo cung cấp thường xuyên, liên tục, chắc chắn đến mọi đối tượng dùng nước trong phạm vi thiết kế
+ Mạng lưới cấp nước phải thiết kế sao cho chi phí xây dựng và quản lý mạng lưới cũng như mọi công trình liên quan tới nó là rẻ nhất
Chúng tôi sử dụng khái niệm này trong bài nghiên cứu của mình nhằm giúp hiểu rõ hơn về một bộ phận của hệ thống cấp nước Theo quá trình khảo sát và nghiên cứu, tại thị trấn Chờ có một hệ thống cấp nước hoàn chỉnh được xây dựng và sử dụng để cung cấp nước sạch cho người dân nhưng tại xã Lãng Ngâm chỉ có hệ thống đường ống dẫn nước được đặt tại đây Việc sử dụng khái niệm này sẽ giúp phân định rõ ràng đâu là hệ thống cấp nước, đâu là mạng lưới cấp nước và ảnh hưởng của nó như thế nào đến tiến độ dự án, đến cuộc sống của người dân nhằm đưa ra những biện pháp, những cách thức bồi thường thiệt hại hợp lý cho người dân trên địa bàn nghiên cứu
1.3.2.3 Khái niệm nước sạch
Ngày 11/3/2005, Bộ Y tế đã có quyết định cho số 09/ 2005/ QĐ – BYT về ban hành tiêu chuẩn ngành, tiêu chuẩn về vệ sinh nước sạch, áp dụng đối với các hình thức cấp nước sạch hộ gia đình, các trạm cấp nước tập trung phục vụ tối đa 500 người và các hình thức cấp nước sạch khác
Theo đó, nước sạch quy định trong tiêu chuẩn nói trên là nước dùng trong các mục đích sinh hoạt cá nhân và gia đình, không sử dụng làm nước ăn uống trực tiếp Nếu dùng cho ăn uống trực tiếp phải xử lý để đạt tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống ban hành kèm theo quyết định số 1329/ QĐ – BYT từ 18/4/2002 của Bộ Y tế với nhiều chỉ tiêu lý hóa được kiểm tra trước khi đưa vào sử dụng
Với người dân thì nước sạch dựa trên cảm nhận thông thường về lý hóa đảm bảo cho ăn uống sinh hoạt như nước trong, không có mùi, vị lạ, không màu, váng, không có cặn lắng, không
có vi sinh vật, không đổi màu khi đun nấu, không gây các bệnh ngoài da
4.3.1 1.3.3 Thực trạng về tình hình cấp nước tại các đô thị Việt Nam
Trong thời gian qua, hệ thống cấp nước các đô thị Việt Nam đã được Đảng, Chính phủ quan tâm ưu tiên đầu tư cải tạo và xây dựng, nhờ vậy tình hình cấp nước đã được cải thiện một cách đáng kể Nhiều dự án với vốn đầu tư trong nước, vốn tài trợ của các chính phủ, các tổ chức quốc
tế đã và đang được triển khai
Hiện nay toàn bộ 64 tỉnh lỵ, thành phố, thị xã trong cả nước đã có các dự án cấp nước ở các mức độ khác nhau Tổng công suất thiết kế đạt 3,42 triệu m3/ngày đêm Nhiều nhà máy được xây dựng trong thời gian gần đây có dây truyền công nghệ xử lý và thiết bị khá hiện đại Trong 670
đô thị vừa và nhỏ (loại IV và loại V) đã có khoảng 200 thị xã, thị tứ có hệ thống cấp nước tập trung quy mô từ 500 đến 2000, 3000 m3/ngày đêm, được xây dựng từ nhiều nguồn vốn và do nhiều cơ quan, doanh nghiệp quản lý [10, tr.04]
Trang 25Tuy nhiên tình hình cấp nước đô thị còn nhiều bất cập:
Tỷ lệ cấp nước còn rất thấp: trung bình đạt 45% tổng dân số đô thị được cấp nước, trong
đó đô thị loại I và loại II đạt tỷ lệ 67%, các đô thị loại IV và loại V chỉ đạt 10-15%
Công suất thiết kế của một số nơi chưa phù hợp với thực tế: Nhiều nơi thiếu nước, nhưng
cũng có đô thị thừa nước, không khai thác hết công suất, cá biệt tại một số thị xã chỉ khai thác khoảng 15-20% công suất thiết kế
Tỷ lệ thất thoát thất thu nước còn cao: Sau Hội nghị cấp nước toàn quốc lần thứ III, các
công ty cấp nước địa phương đã có nhiều cố gắng giảm tỷ lệ thất thoát thất thu nước đã được Bộ Xây dựng đề ra Nhiều địa phương như Hải Phòng, Huế, Đà Lạt, Vũng Tàu, Tiền Giang, đạt được kết quả tốt, nhưng tại nhiều đô thị tỷ lệ thất thoát thất thu vẫn còn cao như Thái Nguyên, Hà Nội, Nam Định, Hà Tĩnh, Vinh…
Tỷ lệ thất thu cao không chỉ chứng tỏ sự yếu kém về mặt năng lực quản lý (cả tài chính và
kỹ thuật) mà nó còn thể hiện kết quả của quá trình đầu tư không đồng bộ giữa việc tăng công suất với công tác phát triển mạng lưới đường ống Bộ Xây dựng đã đề ra chỉ tiêu đến năm 2005: Đối với các đô thị có hệ thống cấp nước cũ tỷ lệ thất thoát thất thu dưới 40%, các đô thị có hệ thống cấp nước mới là nhỏ hơn 30%
Về chất lượng nước: Tại nhiều nhà máy chưa đạt tiêu chuẩn quy định, tình trạng nguồn
nước ngầm, nước mặt bị ô nhiễm nặng nề, ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân dân Theo số liệu thống kê, tổng công suất khai thác hiện nay là 2,9 triệu m3/ngày đêm (trong đó 66% là nước mặt, 34% là nước ngầm) Công tác khảo sát và quản lý nguồn nước nói chung do Bộ Tài nguyên - Môi trường và địa phương quản lý Việc chất lượng nguồn nước có những biến động trong quá trình khai thác do nhiều nguyên nhân:
Tình hình khí tượng thuỷ văn trong những năm gần đây có nhiều biến động phức tạp, tình hình hạn hán, lũ lụt ngày càng nghiêm trọng do hậu quả của hiện tượng phá rừng kết hợp với ENNINO Do ảnh hưởng của thuỷ triều, nhiều nguồn nước của các đô thị duyên hải (Đà Nẵng, Nha Trang, Huế, Mỹ Tho, Cà Mau, Kiên Giang…) bị nhiễm mặn với thời gian kéo dài cả trên diện rộng và chiều sâu trên đất liền
Công tác khảo sát nguồn nước chưa sát với tình hình thực tế, chưa dự báo được những biến động về mặt trữ lượng cũng như về mặt thuỷ địa hoá
Công nghệ xử lý nước tại một số nhà máy nước chưa đồng bộ và hoàn chỉnh Một số dự án công nghệ do tư vấn nước ngoài thiết kế chưa phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam Vấn đề ô nhiễm nguồn nước do tác động của con người đang diễn ra ngày càng trầm trọng Tình hình xả nước thải không qua xử lý ra sông hồ, nơi cũng là nguồn cung cấp nước, không được kiểm soát Tại nhiều địa phương, hàng ngàn, hàng vạn lỗ khoan mạch nông đang là nguồn gây ô nhiễm cho tầng chứa nước đang khai thác
Công tác quản lý khai thác nguồn nước mặt và nước ngầm chưa được các cấp, các ngành quan tâm thích đáng Tư duy “nước trời cho” đã dẫn đến tình trạng buông lỏng quản lý, tác động xấu đến chất lượng nguồn nước mặt và nước ngầm
Trang 26phù hợp với khả năng chi trả của khách hàng và trả nợ vốn vay” Hiện nay giá nước sinh hoạt tại
các địa phương còn nhiều bất cập, gây ra sự thiếu hợp lý, không công bằng giữa người dân ở các
đô thị lớn (Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh) và người dân ở các đô thị nhỏ kinh tế khó khăn nhưng lại thiếu nước trầm trọng Điều quan trọng nhất phải đề cập đến là: Giá nước sinh hoạt ở các đô thị hiện nay không thể hiện được nguyên tắc "nước cần được xem là hàng hoá kinh tế" Các công ty cấp nước chưa thực sự chuyển đổi từ loại hình doanh nghiệp công ích sang hoạt động kinh doanh
Theo các chuyên gia cấp nước, nếu mức bình quân của giá nước sinh hoạt trên toàn quốc hiện nay là 2.100 đ/m3 thì chi phí này mới chiếm 1,4% thu nhập thực tế của người dân, trong khi
đó tại các nước ở khu vực phát triển tỷ lệ này là 3%
Nguyên nhân của tình trạng trên là do: Nhận thức của lãnh đạo địa phương còn hạn chế, tư duy "nước trời cho", nước là dịch vụ công ích, Chính phủ phải có trách nhiệm đầu tư và cung cấp nước "miễn phí" cho dân vẫn còn tồn tại phổ biến
Cơ chế, chính sách tài chính trong cấp nước đô thị vẫn còn thiếu hoàn chỉnh và không đồng
bộ Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định là vấn đề khó khăn lớn nhất trong quá trình tính giá thành Một
số doanh nghiệp còn rất lúng túng không biết tính khấu hao như thế nào vì chưa có hướng dẫn cụ thể
Nhiều dự án vay của nước ngoài phải trả nợ theo lộ trình tăng giá nước nhưng điều kiện trả
nợ lại không khả thi và khó thực hiện
Mô hình tổ chức: quản lý vận hành, đào tạo, nâng cao năng lực ngành nước cũng còn nhiều
vấn đề cần phải giải quyết Nhằm thực hiện Nghị quyết Trung ương III và Quyết định số 58/2002 ngày 26/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ, các công ty cấp nước sẽ chuyển sang hoạt động kinh doanh Nhưng nước sạch là sản phẩm tiêu dùng phục vụ sản xuất và dân sinh, vì vậy đòi hỏi khách quan về cơ chế, chính sách đối với kinh doanh nước sạch cũng cần có những thay đổi phù hợp, nhằm đảm bảo hoạt động sản xuất ổn định và phát triển lâu dài Để khắc phục tình trạng trên, tháng 11 năm 2004, Bộ Xây dựng đã trình Thủ tướng Chính phủ Đề án cải tiến mô hình tổ chức Ngành nước Việt Nam
4.3.2 1.3.4 Chủ trương, định hướng của Nhà nước về phát triển cấp nước đô thị
Hệ thống cấp, thoát nước đô thị có vai trò quan trọng trong đời sống và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của đô thị Năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 63/1998 QĐ/TTg “Phê duyệt định hướng phát triển cấp nước đô thị quốc gia đến năm 2020” Thực hiện định hướng phát triển này, ngành nước được sự ưu tiên và đầu tư của Chính phủ từ nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước (Viện trợ ODA, viện trợ của các tổ chức quốc tế, đầu tư của các hãng tư nhân, đặc biệt là từ nguồn vốn vay ưu đãi của Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Châu Âu) Ngày 11/7/2007, Chính phủ đã ra nghị định 117/2007 NĐ – CP về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch, đây là văn bản hết sức quan trọng để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cấp nước tự chủ về mọi nguồn tài chính Ngày 02/01/2008, Bộ Xây dựng đã ra thông tư hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 117/2007/NĐ - CP ngày 11/07/2007 về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch Đến nay, lĩnh vực cấp nước đô thị đã được ưu tiên đầu tư Kết quả, đã nâng công suất tiêu thụ từ 1,8 triệu m3/ ngày (năm 1996) lên hơn 5 triệu m3/ ngày (năm 2009) Độ bao phủ dịch vụ cấp nước đô thị đến nay đã gần đạt 80 %
Trang 27Để khắc phục tình trạng chênh lệch giá nước, Thủ tướng Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành liên quan và các Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung và ban hành định mức kinh tế- kỹ thuật sản xuất nước sạch Ngày 19/05/2009, Bộ tài chính, Bộ xây dựng và Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn đã có Thông
tư liên tịch số 95/2009/TTLT - BTC – BXD - BNN xác định giá tiêu thụ nước sạch Ngày
20/5/2009, Bộ Tài chính đã có thông tư số 100/2009/TT – BTC ban hành khung giá tiêu thụ nước sạch sinh hoạt
Điều đặc biệt quan trọng là ngày 20/11/2009, Thủ tướng Chính phủ có quyết định 1929/ QĐ – TTg phê duyệt định hướng phát triển cấp nước đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm
2025 và tầm nhìn đến năm 2050
Theo quan điểm của định hướng phát triển cấp nước đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050, hoạt động cấp nước được coi là hoạt động kinh doanh chịu sự quản lý của nhà nước, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đơn vị cấp nước
và khách hàng sử dụng nước, trong đó có xét đến việc hỗ trợ cấp nước cho người nghèo; vùng đặc biệt khó khăn; phát triển cấp nước đô thị bền vững; khai thác, sản xuất và cung cấp nước sạch không phụ thuộc vào địa giới hành chính; khuyến khích sử dụng nước sạch an toàn; tiết kiệm; ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ; xã hội hóa ngành cấp nước
Mục tiêu cụ thể đến năm 2025, tỷ lệ bao phủ dịch vụ cấp nước sạch tại các đô thị đạt 100%; với tiêu chuẩn cấp nước đạt 120 lít/ người/ ngày đêm, chất lượng nước đạt quy chuẩn quy định;
tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch tại các đô thị đạt dưới 15%, dịch vụ cấp nước ổn định, liên tục đạt 24h/ ngày, áp lực nước trên toàn mạng đạt quy chuẩn quy định Tầm nhìn đến năm 2050, tất
cả các khu đô thị, khu công nghiệp được đáp ứng đầy đủ nhu cầu cấp nước trên cơ sở cấp nước
ổn định, chất lượng đảm bảo, dịch vụ tốt và kinh tế
Trên cơ sở của định hướng phát triển cấp nước đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050, các công ty cấp nước sẽ chuyển sang hoạt động kinh doanh thực sự khi thực hiện tính giá tiêu thụ theo nguyên tắc tính đúng, tính đủ mọi chi phí Doanh nghiệp cấp nước có điều kiện tự chủ về tài chính và đó là điều kiện tiên quyết để hoạt động cấp nước phát triển bền vững
4.3.3 1.3.5 Mục tiêu của việc xây dựng công trình cấp nước
Dự án cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng được Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) thuộc Ngân hàng Thế giới tài trợ thông qua Trung tâm Quốc gia nước sạch
và vệ sinh nông thôn thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Dự án được triển khai theo
2 giai đoạn, giai đoạn 1 (2005 – 2010) tại 4 địa phương, gồm: Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định
và Thái Bình; giai đoạn 2 (2008 – 2013) tại 8 địa phương, gồm: Quảng Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam và Thanh Hóa
Mục tiêu của dự án là đáp ứng nhu cầu dùng nước sạch của cộng đồng một cách đầy đủ, bền vững; nâng cao nhận thức của người dân về sử dụng nước sạch, chấp nhận và thực hành các hành vi vệ sinh để cải thiện sức khỏe gia đình và sự nuôi dưỡng trẻ em Đồng thời, nâng cao năng lực của xã và thôn trong việc lập kế hoạch và quản lý các công trình hạ tầng cơ sở và năng lực của chính quyền địa phương trong việc tạo thuận lợi và hỗ trợ cho các sáng kiến của cộng đồng
Trang 28Mục tiêu quốc gia đặt ra đến năm 2020, tất cả dân cư nông thôn sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc gia với số lượng tối thiểu 60 lít nước/ngày và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh và thực hiện tốt vệ sinh cá nhân, giữ sạch vệ sinh, môi trường làng xã [31, tr.03]
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, người dân theo thói quen sinh hoạt cũ vẫn sử dụng nguồn nước ao, hồ, bể chứa nước mưa và nước ngầm từ giếng khơi, giếng khoan Những nguồn nước này hầu hết không bảo đảm vệ sinh Do đó, vai trò của nguồn nước sạch ở các vùng nông thôn luôn quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết Từ nhiều nguồn vốn khác nhau, hàng chục nghìn hộ dân ở Bắc Ninh đã tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi để xây dựng các công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Theo chương trình cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng được Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt, tỉnh Bắc Ninh được phân bổ nguồn vốn vay trị giá gần 70 tỷ đồng Trong đó, mục tiêu của chương trình là cải thiện điều kiện cấp nước như xây dựng mới, nâng cấp 14 dự án xử lý, cung cấp nước quy mô xã, cụm xã, trong đó 7 dự án khởi công mới trong năm 2013 Ngoài ra, có 7 dự án chuẩn bị đầu tư ở
7 huyện, thị xã trong tỉnh Bắc Ninh
Những năm qua, từ nhiều nguồn vốn khác nhau, Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch
và vệ sinh môi trường nông thôn ở Bắc Ninh được triển khai mạnh mẽ và đạt được những kết quả khả quan Từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, năm 2010, xã Tân Chi, huyện Tiên Du đã khởi công xây dựng hệ thống cung cấp nước sinh hoạt tập trung với tổng kinh phí đầu tư xấp xỉ 20 tỷ đồng
Công trình có công suất thiết kế 1.600m³/ngày đêm, bảo đảm cung cấp nước sạch phục vụ sinh hoạt của hơn 2.000 hộ dân Sau hơn 3 năm triển khai, toàn bộ các hạng mục thuộc khu đầu mối, tuyến đường ống dẫn nước đến từng thôn, lắp đặt đồng hồ đo nước, đấu nối đến bể chứa của từng hộ gia đình đã cơ bản hoàn thành, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch cho hơn 1.500 hộ dân trên địa bàn
Đến đầu năm 2014, tỉnh Bắc Ninh có 30 công trình cung cấp nước sạch tập trung ở khu vực nông thôn đang hoạt động, cung cấp nước cho khoảng 120.000 người, chiếm gần 15% dân cư nông thôn, trong đó: nhiều công trình cấp nước sạch tập trung, như xã Trí Quả, An Bình, Song
Hồ, huyện Thuận Thành; xã Tân Lãng, Trung Kênh, An Thịnh, huyện Lương Tài; thị trấn Chờ, huyện Yên Phong; xã Tân Chi, Cảnh Hưng, huyện Tiên Du, Xã Lãng Ngâm, huyện Gia Bình… giúp 70 - 90% số hộ trên địa bàn được sử dụng nước sạch Theo đánh giá của Trung tâm Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Bắc Ninh, tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh trên địa bàn tỉnh đã đạt 94,9 [13, tr.08]
Như vây, thực tế đặt ra là, việc xây dựng công trình cấp nước sạch đã mang lại những hiệu quả to lớn về mặt sức khỏe và vệ sinh môi trường cho người dân trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Tuy nhiên, việc thu hồi đất để xây dựng công trình cấp nước đã phá vỡ tính ổn định được coi là bền chặt trong cuộc sống, trong sinh kế của người dân nông thôn, đòi hỏi người dân phải thích ứng nhanh để ổn định và phát triển cuộc sống mới
Trang 294.4 1.4 Tổng quan điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu từ thực tiễn của địa bàn nghiên cứu
4.4.1 1.4.1 Tổng quan điều kiện kinh tế - xã hội thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
- Vị trí địa lý
Thị trấn Chờ nằm ở khu vực trung tâm huyện Yên Phong Phía Bắc thị trấn giáp với xã Tam Giang và xã Đông Tiến Phía Nam giáp xã Đông Thọ, Văn Môn Phía Đông giáp xã Trung Nghĩa Và phía Tây giáp xã Yên Phụ và xã Hòa Tiến
Thị trấn Chờ có tổng diện tích tự nhiên 884,83 ha Sau nhiều lần thay đổi địa bàn hành chính, tính đến ngày 09/01/1998, thị trấn Chờ có 5 thôn (Phú Mẫm, Trung Bạn, Ngân Cầu, Trác Bút, Nghiêm Xá) và 2 khu phố (Phố Mới và Phố Chờ) Địa bàn thị trấn nằm trên trục đường giao thông tương đối thuận lợi để phát triển kinh tế, đặc biệt là về công nghiệp, dịch vụ và du lịch Dân số năm 2012 của thị trấn khoảng 13.530 người, mật độ dân số 1.602 người/km2, tỷ lệ sinh 15,9%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 8.1% [22, tr.06]
Thị trấn Chờ có tổng diện tích tự nhiên 884,83 ha, trong đó:
- Diện tích đất nông nghiệp 566,20 ha, bao gồm:
+ Đất trồng cây hàng năm 525,33 ha
+ Đất nuôi trồng thủy sản 40,87 ha
- Diện tích đất phi nông nghiệp 277,48 ha, bao gồm :
- Văn hóa – xã hội
Năm 2012, toàn thị trấn có 6/7 thôn, khu phố đạt danh hiệu văn hóa; trên 90% số hộ đăng
ký đạt gia đình văn hóa Phát huy tinh thần đoàn kết, dân chủ, việc xây dựng hệ thống cơ sở vật chất như: nhà văn hóa, đường giao thông nông thôn… được đem ra bàn bạc công khai, lấy ý kiến đóng góp và nhận được sự đồng thuận cao của nhân dân Hiện cả 5 thôn, 2 khu phố trên địa bàn đều có nhà văn hóa và thư viện khang trang; trường học, trạm y tế được xây dựng kiên cố; đường
giao thông liên thôn, xã được trải nhựa, bê tông sạch sẽ
Là nơi tập trung nhiều di tích lịch sử, di sản văn hóa truyền thống, thị trấn Chờ luôn xác định gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống là nhiệm vụ nòng cốt Các thôn, khu phố trong thị trấn đều thành lập Ban Quản lý di tích để tuyên truyền, vận động nhân dân đóng góp công sức bảo vệ, tu bổ các điểm di tích lịch sử văn hóa phục vụ hoạt động tín ngưỡng của nhân dân Các loại hình nghệ thuật truyền thống như: chèo Ngân Cầu, tuồng Phú Mẫn, tuồng Ngô Nội được gìn giữ, phát huy tốt Toàn thị trấn có 07 câu lạc bộ Quan họ thuộc các lứa tuổi duy trì
Trang 30sinh hoạt đều đặn; các câu lạc bộ thể dục thể thao như bóng chuyền hơi, bóng bàn, dưỡng sinh, cầu lông… sinh hoạt sôi nổi, góp phần rèn luyện thể chất, làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người dân
Việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội có nhiều chuyển biến tích cực Các đám cưới được tổ chức trang trọng, tiết kiệm (chỉ tổ chức từ 1 đến 1,5 ngày, không thách cưới, không làm cỗ lại mặt) Các đám tang không còn hủ tục lạc hậu, không làm cỗ mời khách, không để người chết trong nhà quá 36 giờ… Thị trấn hỗ trợ 1,5 triệu đồng cho các gia đình có đám tang tổ chức hoả táng, điện táng người chết Công tác quản lý lễ hội diễn ra nghiêm túc, chặt chẽ, việc tổ chức lễ hội được thực hiện nghiêm túc theo quy định, gắn với giáo dục truyền thống lịch sử văn hóa, bảo đảm an toàn cho du khách và nhân dân địa phương
4.4.2 1.4.2 Tổng quan điều kiện kinh tế - xã hội xã Lãng Ngâm, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
Điều kiện tự nhiên
Xã Lãng Ngâm là một xã thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh Phía Bắc giáp với xã Song Giang, xã Giang Sơn, phía Nam giáp xã Đại Bái, phía Đông giáp xã Đông Cửu và phía Tây giáp
xã Mão Điền
Lãng Ngâm có tổng diện tích đất tự nhiên là 634 ha với địa bàn gồm 5 thôn (Môn Quảng, Ngọc Tỉnh, Ngăm Lương, Ngăm Mạc, An Quang) Địa bàn thôn nằm trên vị trí địa lý khá thuận lợi, giao thông trọng điểm của huyện và phát triển các nghề thủ công truyền thống như may mặc, thủ công , mỹ nghệ…
Tính đến năm 2012, dân số toàn xã khoảng 11.463 người, mật độ dân số 1.580 người/km2
,
tỷ lệ sinh 15,4 %, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 8,2 % [23,tr.4]
Hiện nay tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 634 ha trong đó:
- Diện tích đất nông nghiệp là 421 ha
- Đất phi nông nghiệp là 212,1 ha
- Đất chưa sử dụng gần 1 ha
Văn hóa xã hội
Năm 2011, Lãng Ngâm xây dựng thành công xã văn hoá, 5/5 thôn và 95,4% số hộ gia đình đạt chuẩn văn hoá, có 2 thôn được huyện xây tặng cổng làng, hiện nay đang đề nghị huyện xây tặng cổng làng cho thôn Ngăm Mạc 5 năm liên tục đạt văn hoá Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân liên tục đạt danh hiệu: trong sạch, vững mạnh
Xã có 5/5 thôn có đường bê tông trong làng cũng như đường bê tông ra đồng sản xuất 100% các thôn có hệ thống điện đường chiếu sáng Công tác giáo dục y tế được tăng cường, Trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia, trường Tiểu học và THCS đạt chuẩn, không có trẻ em mắc tệ nạn xã hội, 100% trẻ em trong độ tuổi được đến trường Xã, thôn và nhiều dòng họ có quỹ
khuyến học, khuyến tài 5/5 thôn có tổ vệ sinh môi trường và bãi rác thải tập trung
Trang 31 Về kinh tế:
Hoàn thành tốt chỉ tiêu 70% cơ cấu cấy lúa lai, lúa hàng hoá, đảm bảo an ninh lương thực,
hệ số sử dụng đất 2,4 lần Toàn xã có 46,28 ha ao hồ ruộng trũng nuôi trồng thuỷ sản, trong đó có
24 ha sản xuất theo mô hình kinh tế trang trại cho hiệu quả cao Lãng Ngâm thực sự chuyển dịch kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, ai giỏi nghề gì làm nghề ấy, phát triển kinh tế bằng nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân, với nhiều giải pháp để phát triển kinh tế đa nghề năng động như: nghề khâu nón, may công nghiệp, nghề làm trống, xây dựng, vận tải cũng như việc di dân nội địa, vào thành phố Hồ Chí Minh lập làng mới, phát triển nghề may Hiện tại Lãng Ngâm có 90% hộ gia đình có nghề phụ, đảm bảo thu nhập 1,5-3 triệu đồng/người/tháng Vì vậy 80% hộ có đời sống khá, hộ đói không còn, hộ nghèo giảm xuống còn dưới 10% theo chuẩn mới
4.4.3 1.4.3 Nhu cầu cần nguồn nước sạch từ điều kiện thực tiễn của địa bàn nghiên cứu
Với điều kiện kinh tế - xã hội và dân số ngày càng phát triển như hiện nay, nhu cầu được sử dụng nguồn nước sạch, vệ sinh là một nhu cầu vô cùng cấp thiết trên địa bàn nghiên cứu
Qua quá trình khảo sát tình hình sử dụng nước sinh hoạt của người dân trong địa bàn thị trấn Chờ cho thấy, người dân sử dụng nguồn nước mưa để phục vụ cho nhu cầu ăn, uống, nguồn nước ngầm lấy lên từ các giếng khoan và giếng khơi để tắm, giặt và phục vụ cho các sinh hoạt thường ngày khác Đối với nước mưa, sự phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn thị trấn đã kéo theo lượng khí thải thoát ra từ các nhà máy tăng lên nhanh chóng Khi mưa, những chất thải độc hại theo nước mưa rơi xuống bể chứa nước của người dân Người dân trực tiếp sử dụng nguồn nước này dễ mắc bệnh Đối với các nguồn nước ngầm, không phải ở đâu nước lấy lên từ giếng khoan và giếng khơi cũng đạt tiêu chuẩn vệ sinh Nhiều nơi, hàm lượng sắt trong nước là rất lớn, chính vì vậy nếu sử dụng nguồn nước này sẽ gây
ra những hậu quả không tốt cho sức khỏe mai sau Để hạn chế lượng sắt có trong nước, người dân
đã thực hiện loại bỏ bằng cách xây bể lọc nước, nhưng với phương pháp và trình độ kỹ thuật hạn chế, những giải pháp mà người dân đang thực hiện hiệu quả không cao Lượng nước ngầm giờ đây ngày càng bị ô nhiễm do lượng chất thải và nước thải trong sinh hoạt, đặc biệt nguồn nước thải công nghiệp từ các nhà máy, xí nghiệp ngày càng tăng
Tại thị trấn Gia Bình, nhiều nơi nước sinh hoạt của người dân vẫn chủ yếu là nguồn nước tự nhiên từ hồ, ao, sông Hiện nay, nguồn nước này cũng đã khan cạn và nhiều vùng còn bị ô nhiễm nặng Xã Lãng Ngâm có 05 thôn thì hai thôn Ngăm Lương và Ngọc Tỉnh có nghề may, in, nhuộm vải Đi đôi với phát triển kinh tế thì ô nhiễm môi trường đang là vấn đề bức xúc ở đây Nước thải sinh hoạt, nước thải phẩm hóa chất dùng để in, nhuộm đều xả ra ao, hồ Ở Ngăm Lương có
khoảng 80% số hộ làm nghề may và in họa tiết quần áo các loại, điều đó cũng có nghĩa là mỗi ngày địa phương xả ra môi trường một lượng lớn nước thải chứa nhiều hóa chất độc hại Và một thực tế đáng báo động là do thiếu nước sạch, người dân lại lấy chính nguồn nước thải đó qua một
hệ thống lọc thô sơ để tái sử dụng trong cuộc sống hàng ngày
Thôn Ngăm Lương có hơn 600 hộ, trước kia đa phần các hộ dùng giếng khoan nhưng do nước giếng khoan ô nhiễm trầm trọng, có nhiều chất asen ăn mòn, làm hỏng máy bơm và máy giặt nên hiện nay hơn 70% gia đình buộc chuyển sang bơm nước từ ao tù, mương rãnh về lọc để
Trang 32sử dụng cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày Ngay tại chiếc giếng làng rộng khoảng 60m2, nguồn nước được bơm từ sông Đuống vào mương, sau đó chảy vào hệ thống cống nước thải sinh hoạt của làng rồi chảy vào giếng cũng được dùng để phục vụ cho nhiều hộ gia đình sống quanh giếng Trong 4 năm trở lại đây, hai thôn Ngọc Tỉnh và Ngăm Lương có khoảng hơn 30 người đã chết vì bệnh ung thư vòm họng, gan…do nguồn nước ô nhiễm, trong đó, đa phần còn trẻ khoẻ, đang trong độ tuổi lao động Từ đầu làng đến cuối xóm, các ao, giếng làng, mương, rãnh chằng chịt các ống dẫn hút nước lên bể lọc bằng cát sơ sài để người dân lọc lấy nước sinh hoạt Và một thực
tế đang báo động là do thiếu nguồn nước sạch, người dân lại lấy chính nguồn nước thải đó qua một hệ thống lọc thô sơ để tái sử dụng trong cuộc sống hàng ngày Các hộ còn lại thì đành sử dụng giếng khoan, mặc dù biết nguồn nước ngầm bị ô nhiễm nghiêm trọng, nhưng không có cách nào khác Vì vậy, người dân ngày đêm mong ngóng những công trình nước sạch
1.5 Quá trình thực hiện dự án
1.5.1 Lập kế hoạch
Thực hiện chủ trương của Nhà nước, ngày 25/11/2009, Chủ tịch UBND (Uỷ ban nhân dân) tỉnh đã quyết định phê duyệt bổ sung dự án đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước đô thị thị trấn Chờ (Yên Phong) và thị trấn Gia Bình (Gia Bình) Theo quyết định phê duyệt, dự án có tổng mức đầu tư hơn 88,289 tỷ đồng, trong đó thị trấn Chờ 42,936 tỷ đồng, thị trấn Gia Bình 25,823 tỷ đồng từ nguồn vốn hỗ trợ của Ngân hàng thế giới và đối ứng trong nước Hệ thống cấp nước thị trấn Chờ rộng 18.035 m2, công suất giai đoạn I là 3000m3/ngày đêm, sử dụng nguồn nước mặt sông Cầu tại xã Tam Giang Ngoài các công trình nguồn, xử lý nước, nhà hành chính, hạng mục phụ trợ, còn có hệ thống đường ống truyền dẫn và phân phối dài hơn 27.000 m phục vụ nước sạch cho 3.913 hộ dân Tương tự, hệ thống nước sạch thị trấn Gia Bình rộng 8.680 m2, sử dụng nguồn nước mặt sông Đuống tại xã Lãng Ngâm, giai đoạn I, công suất 1.200m3 /ngày đêm Hệ thống đường truyền dẫn và phân phối dài hơn 30.000 m đáp ứng nước sạch cho 1.897 hộ dân Thực hiện các bước triển khai dự án, cuối tháng 2/2010, chủ đầu tư đã phê duyệt kết quả đấu thầu lựa chọn được các nhà thầu cho gói thầu thiết kế và thi công hệ thống cấp nước thị trấn Chờ Đơn vị trúng thầu tại thị trấn Gia Bình là Liên doanh: Công ty cổ phần xây lắp 3 Hải
Dương, Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) tư vấn khảo sát địa chất và xây dựng Hải Dương Song song với việc lựa chọn nhà thầu, chủ đầu tư còn phối hợp với các địa phương tiến hành trích đo bản đồ địa chính để thực hiện công tác giải phóng mặt bằng Phần lớn đất thu hồi thuộc diện tích đất nông nghiệp, hơn nữa, đây là dự án mang tính cộng đồng cao nên nhận được sự đồng thuận cao của người dân Ngay từ đầu, công ty đã gửi cho các địa phương thông tin dự án
và xin ý kiến khảo sát địa điểm Công việc khảo sát địa điểm và nhu cầu sử dụng nước sạch được đại diện Ngân hàng Thế giới phối hợp tư vấn thực hiện Dự án chỉ được thực hiện khi có hơn 60% số hộ dân địa phương có nhu cầu sử dụng nước sạch Điều này hoàn toàn công khai và do chính nhà tài trợ thực hiện Xét tiêu chí trên, thị trấn Chờ hoàn toàn thuận lợi, riêng thị trấn Gia Bình có đôi chút khó khăn vì số dân ít hơn nên tư vấn thiết kế đã dành (tính cả) nhu cầu sử dụng cho một số hộ dân thuộc các thôn có đường ống nước sạch chạy qua ở xã Lãng Ngâm Theo hợp đồng, công trình được thực hiện trong 21 tháng và đến cuối năm 2012 đã đưa vào sử dụng, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nhân dân địa phương
1.5.2 Các bước thực hiện
* Chính sách bồi thường, hỗ trợ khôi phục cuộc sống đối với các hộ bị ảnh hưởng
Trang 33Tùy thuộc vào hoàn cảnh thực tế và mức độ ảnh hưởng của các hộ bị ảnh hưởng bởi dự án, Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (BTHT – TĐC) đã vận dụng các chính sách về vấn đề này của tỉnh được ban hành hàng năm để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho các
hộ bị ảnh hưởng (BAH) Tỉnh Bắc Ninh đã áp giá bồi thường, hỗ trợ thiệt hại cho các hộ BAH được tính theo các điều quy định trong các quyết định của tỉnh năm 2007, 2008 và 2009, gồm các văn bản sau:
- Quyết định số 155/2011/QĐ-UBND ngày 22/12/2011 quy định về giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh năm 2012
- Quyết định số 171/2009/QĐ-UBND ngày 28/12/ 2009 UBND tỉnh quy định một số nội dung thực hiện các nghị định của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh;
- Quyết định số 172/2009/QĐ-UBND ngày 28/12/2009 của UBND tỉnh quy định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh;
- Quyết định số 1132/2008/QĐ-UBND ngày 28/8/2008 của UBND tỉnh Ban hành đơn giá nhà cửa, vật kiến trúc áp dụng cho công tác bồi thường giải phóng mặt bằng (GPMB) trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh;
- Quyết định số 26/2007/QĐ-UBND ngày 14/5/2007 của UBND tỉnh ban hành đơn giá bồi thường cây cối, hoa màu gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và Quyết định số 07/2008/QĐ-UBND ngày 21/01/2008 của UBND tỉnh sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định số 26/2007/QĐ-UBND ngày 14/5/2007 của UBND tỉnh ban hành đơn giá bồi thường cây cối, hoa màu gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Phổ biến thông tin và tham vấn cộng đồng
Ban quản lý dự án (QLDA) đã tổ chức các cuộc họp phổ biến thông tin tuyên truyền cho người dân về quy mô dự án, lợi ích của dự án, các tác động dự kiến cũng như các biện pháp bồi thường, hỗ trợ theo chính sách đền bù của nhà nước và của tỉnh Đại diện Ban QLDA đã xuống từng thị trấn kết hợp với cán bộ địa phương để trực tiếp phổ biến thông tin cho người dân Tại mỗi thị trấn, Ban QLDA đã tổ chức được 04 cuộc họp tham vấn người dân Ngoài ra, trong một số trường hợp, Ban QLDA đã mời riêng người BAH lên họp để giải thích khi họ có những thắc mắc chưa hiểu Việc phổ biến thông tin
về dự án cũng được quán triệt thực hiện tuyên truyền trong các cuộc họp ở địa phương
Trang 34Theo kết quả điều tra, phần lớn (95%) người dân đều khẳng định là đã dự họp và nghe phổ biến các thông tin về dự án như quy mô dự án, thu hồi đất, chính sách đền bù, các biện pháp khôi phục kinh tế… Điều này đã thể hiện được sự quan tâm của người dân đến
dự án
Thông tin được truyền tải đến với người dân chủ yếu thông qua chính quyền địa phương, tổ dân phố và bản tin Các hình thức thông tin khác cũng được sử dụng để phổ biến đến người dân như loa đài, phát tờ rơi
Các cuộc họp đối với người bị BAH đã được ban QLDA và Hội đồng BTHT – TĐC trực tiếp phổ biến thông tin về các ảnh hưởng cũng như các biện pháp bồi thường hỗ trợ Qua làm việc với Ban QLDA, Hội đồng BTHT-TĐC và người dân, chúng tôi nhận thấy 100% người dân BAH đều có mặt trong các cuộc họp này Tuy nhiên việc phổ biến thông tin chủ yếu được thực hiện một chiều, người BAH không có nhiều cơ hội để trao đổi, đối thoại với chủ đầu tư và các cấp chính quyền liên quan Vì vậy, việc tiếp cận thông tin còn
bị hạn chế, hoặc chưa được đầy đủ nên ảnh hưởng ít nhiều đến người dân
Các thông tin về bồi thường, hỗ trợ, khung chính sách đền bù tái định cư của dự án VUWSDP (Phát triển cấp nước đô thị Việt Nam), cũng như chi tiết các quy định của tỉnh không được chuẩn bị dưới dạng tờ rơi để phát cho người BAH, mà chủ yếu chỉ được phổ biến bằng miệng trong các cuộc họp khiến nhiều người không nhớ các thông tin chi tiết, đặc biệt là người dân tộc thiểu số có trình độ học vấn thấp
Do đó, việc thực hiện phổ biến thông tin cần thực hiện thường xuyên trong suốt quá trình thực hiện dự án Các cuộc họp phổ biến thông tin cần có thời gian và tạo điều kiện
để người BAH được trao đổi, thảo luận về những vấn đề mà họ quan tâm, nhất là về đơn giá đền bù và các biện pháp hỗ trợ, khôi phục sinh kế Việc này cũng chính là đảm bảo quyền lợi cho người BAH, hơn nữa sẽ tránh được các thắc mắc, khiếu kiện không đáng có đối với các cơ quan thực hiện liên quan
Hoạt động kiểm đếm tài sản BAH
Tại các thị trấn, việc tham gia thực hiện kiểm đếm tài sản BAH bao gồm các thành phần: đại diện ban QLDA, cán bộ Hội đồng BTHT-TĐC, đại diện chính quyền địa phương, cán bộ địa chính thị trấn và đại diện tổ dân phố Các hộ BAH được thông báo
Trang 35trước và mời cùng tham gia đo đạc đất, kiểm đếm cây cối, tài sản BAH Nhóm kiểm đếm thiệt hại đã tiến hành đo đếm và lập biên bản kiểm đếm đối với từng tài sản của hộ dân BAH Kết quả kiểm đếm được lập thành biên bản với đầy đủ chữ ký của chủ hộ và các bên tham gia Biên bản kiểm đếm được phô tô gửi cho các hộ BAH để lưu giữ, làm căn
cứ đối chiếu khi được chi trả Việc làm này đã tạo được tính minh bạch trong đo đạc, kiểm đếm
Lập, thẩm định và phê duyệt phương án đền bù
Việc thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng (GPMB) chủ yếu do Hội đồng TĐC huyện hoặc Trung tâm phát triển quỹ đất phối hợp với Ban QLDA và chính quyền địa phương và cán bộ địa chính trực tiếp thực hiện, việc thẩm định phương án bồi thường GPMB đều do Hội đồng thẩm định huyện thực hiện Sau khi có kết quả thẩm định, Phòng Tài nguyên môi trường huyện làm tờ trình, trình UBND huyện ra quyết định phê duyệt phương án bồi thường GPMB
BTHT-Hoạt động thẩm định đã được thực hiện khá tốt, việc áp giá đền bù được Hội đồng thẩm định rà soát kỹ lưỡng và có những chỉnh sửa phù hợp, theo đúng các quy định mới nhất được ban hành về giá đất, hoa màu và vật kiến trúc của tỉnh và huyện dự án
Hoạt động lập, thẩm định được thực hiện theo đúng quy định đề ra của dự án Các bước thực hiện tuần tự Sau khi có phương đền bù, Hội đồng BTHT-TĐC thực hiện niêm yết công khai tại văn phòng của UBND thị trấn và khu dân cư để người BAH được tham khảo, đối chiếu với các quy định về đơn giá, về hỗ trợ…Sau 20 ngày nếu không có ý kiến thắc mắc gì, phương án sẽ được trình UBND huyện phê duyệt
Như vậy, các bước thực hiện lập, thẩm định và phê duyệt đã được thực hiện theo đúng các quy định ban hành và thể hiện được tính công khai, minh bạch
Ngoài ra, khi có thay đổi thiết kế hoặc quy định mới được ban hành, Hội đồng BTHT-TĐC cũng đã kịp thời kiểm kê, đo đạc, lập phương án bổ sung, các bước cũng được lập theo đúng trình tự quy định Kết quả tham vấn với người BAH được biết, hầu hết mọi người đều được tham vấn phương án BTHT-TĐC, việc này đã thể hiện được tính
công khai, minh bạch và tạo được sự đồng thuận của người dân
Trang 36 Tái định cƣ và giải phóng mặt bằng
trình chủ yếu được đặt tại vị trí đất công hoặc đất nông nghiệp Mạng tuyến ống thường được lắp đặt dọc theo hành lang đường và vỉa hè nên ít ảnh hưởng tới chiếm dụng đất đai, vật kiến trúc và cây cối hoa màu
nhiều Phần lớn các vị trí của công trình cấp nước chỉ phải đền bù đất đai, vật kiến
trúc và cây trồng trên đất Không có hộ BAH nặng phải di dời
Thắc mắc, khiếu nại và giải quyết thắc mắc, khiếu nại
Trong quá trình giám sát, nhóm tư vấn cũng đã ghi nhận được một số ý kiến thắc mắc của các hộ BAH trong các cuộc tham vấn cộng đồng và tiếp xúc với người dân BAH, tuy rằng những khiếu nại này không có đơn thư gửi tới các cấp chính quyền địa phương Các thắc mắc chủ yếu là liên quan tới việc tính giá đền bù tài sản thiệt hại như đất và một
số công trình kiến trúc thấp, một số trường hợp đã được giải quyết Những thắc mắc này tập trung ở một số tiểu dự án sau đây:
Trường hợp một hộ dân tại thôn Trác Bút, thị trấn Chờ, bị thu hồi 47,4m2
đất trồng lúa Phương án đền bù đã được lập từ năm 2011 và theo đơn giá cũ là 2.370.000 đồng Tuy nhiên bà Thuần đã không chịu nhận tiền và đề nghị phải theo giá năm 2012 Cán bộ Ban BTHT-TĐC cũng như các bên liên quan đã giải thích nhưng bà vẫn không chịu chấp nhận, đến nay vẫn chưa nhận tiền Trao đổi với cán bộ Hội đồng BTHT-TĐC, được biết, đây là trường hợp cá biệt vì tất cả đã được thực hiện theo đúng quy định, nên cũng không thể có ngoại lệ, vì như thế sẽ tạo tiền lệ không tốt cho những hộ BAH khác
Tại thị trấn Gia Bình, nhiều ý kiến cho rằng họ không kiểm chứng được giá đất khi đến tay các hộ BAH có đúng với giá cấp trên đưa xuống không Nhóm chúng tôi cho rằng Hội đồng BTHT-TĐC cần phải thông tin đầy đủ cụ thể hơn cho người dân để tránh
sự nghi ngờ không cần thiết từ phía người dân Thông tin về các quy định cần được nêu tóm tắt, cụ thể bằng tờ rơi để người BAH có thể tiếp cận được
Có nhiều ý kiến phàn nàn về việc thi công ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân của Nhà thầu, như đào mương chôn ống xong không san lấp hoàn trả mặt bằng cho người dân, làm ảnh hưởng đến giao thông nội thôn và sinh hoạt của người dân, nhất là thời gian thu hoạch vụ lúa, việc vận chuyển và phơi rơm rạ bị ảnh hưởng rất nhiều
Trang 371.5.3 Đánh giá về những mặt tích cực và hạn chế của địa phương trong quá trình thực hiện dự án
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã ghi nhận được các ý kiến phản hồi từ chính quyền địa phương, các ý kiến của người dân đều đồng tình với với chủ trương xây dựng hệ thống cấp nước sạch, có thái độ tích cực trong việc ủng hộ dự án Chính vì vậy
mà người BAH sẵn sàng tham gia vào công tác kiểm đếm, ký vào các biên bản có liên quan, nhận tiền đền bù và bàn giao mặt bằng cho dự án Qua đó có thể thấy rằng người BAH có ý thức chấp hành chủ trương của Nhà nước và của tỉnh về xây dựng các hệ thống cấp nước trong tình trạng thiếu nước sạch như hiện nay, họ sẵn sàng chấp thuận phương
án BTHT-TĐC
Tuy nhiên, theo như kết quả khảo sát với phiếu điều tra tại tỉnh, đa số (82%) người BAH không hài lòng với giá bồi thường, họ thường cho rằng giá bồi thường của nhà nước thấp hơn so với giá thị trường Ngoài ra một số người BAH không hài lòng với một số nhà thầu thi công chưa thực hiện hoàn trả mặt bằng sau thi công, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất của người dân Một số hạn chế của dự án mà chúng tôi thấy được như sau:
Tính đến thời điểm tháng 6/2012, tất cả các dự án đã hoàn thành công tác bồi thường GPMB, tuy nhiên ở một số tiểu dự án vẫn còn những tồn tại như sau:
Hoạt động phổ biến thông tin cho người dân tuy đã được thực hiện tốt, song vẫn còn chưa đầy đủ, các thông tin về bồi thường hỗ trợ phổ biến cho người dân còn chưa được cụ thể bằng văn bản hoặc tờ rơi để người BAH hiểu rõ hơn về chính sách bồi thường
hỗ trợ của dự án Cụ thể, có một số hạn chế trong trong hoạt động tuyên truyền phổ biến thông tin:
+ Việc phổ biến thông tin chủ yếu được thực hiện một chiều, người BAH không có nhiều cơ hội để trao đổi, đối thoại với chủ đầu tư và các cấp chính quyền Vì vậy, việc tiếp nhận thông tin của người BAH có phần bị hạn chế
+ Các thông tin và chính sách bồi thường hỗ trợ không được chuẩn bị dưới dạng tờ rơi để phát cho người BAH mà chỉ phổ biến bằng miệng trong các cuộc họp nên nhiều người không nhớ các thông tin chi tiết về chính sách bồi thường hỗ trợ một cách chính xác
Trang 38Cán bộ Hội đồng BTHT-TĐC của dự án chưa thực sự hiểu rõ được các quy định trong RAP (Kế hoạch tái định cư và tái định cư) đã được UBND tỉnh phê duyệt Các thủ tục về BTHT chủ yếu được thực hiện theo các quy định, quyết định của tỉnh ban hành Ban QLDA không lập báo cáo nội bộ về hoạt động BTHT nên các thông tin chi tiết
về hoạt động này không thường xuyên được trình lên Ban QLDA và Ngân hàng Thế giới Theo đó, hoạt động, chỉ đạo của cấp trên đối với vấn hoạt động BTHT chưa được kịp thời và chủ động
Việc tham vấn cộng đồng trước khi thực hiện chọn vị trí xây dựng chưa được thực hiện tốt nên đã không chọn được phương án tối ưu, khiến phải thay đổi thiết kế, gây chậm tiến độ (Tại thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, Bắc Ninh)
14 HỆ QUẢ XÃ HỘI CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT
15 XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC TẠI ĐỊA BÀN NGHIÊN