1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

8db196ee-9514-4d75-b15a-00faab862473

87 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 695,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu của nhiều đề tài, chuyên đề khoa học trên nhiều lĩnh vực đã được đúc rút thành lý luận và vận dụng vào thực tiễn hoạt động, góp phần đảm bảo thực hiện ngày càng tốt hơ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ QUỐC HOÀ

THU HÚT NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀCÔNG NGHỆ CỦA VIỆN KHOA HỌC BHXH THÔNG QUA MÔ HÌNH CẤU TRÚC DỰ ÁN

LUẬN VĂN THẠC SĨ: KHOA HỌC QUẢN LÝ

Hà Nội: 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ QUỐC HOÀ

THU HÚT NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀCÔNG NGHỆ CỦA VIỆN KHOA HỌC BHXH THÔNG QUA MÔ HÌNH CẤU TRÚC DỰ ÁN

Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ

Mã số: 60 34 72 LUẬN VĂN THẠC SĨ: KHOA HỌC QUẢN LÝ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Huy Tiến

Hà Nội: 2010

Trang 3

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC - 1

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT - 4

MỞ ĐẦU - 5

1 Lý do chọn đề tài - 5

2 Lịch sử nghiên cứu - 7

3 Mục tiêu nghiên cứu - 7

4 Nhiệm vụ nghiên cứu - 7

5 Phạm vi nghiên cứu - 8

6 Vấn đề nghiên cứu - 8

7 Giả thuyết nghiên cứu - 8

8 Phương pháp nghiên cứu - 9

9 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài - 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC DỰ ÁN TRONG THU HÚT NHÂN LỰC KH&CN - 10

1.Khái niệm: Tổ chức, cấu trúc tổ chức - 10

2 Khái niệm dự án, Tổ chức dự án - 12

2.1 Khái niệm dự án - 12

2.2: Tổ chức dự án - 13

3 Nhân lực KH&CN - 14

3.1: Khái niệm nhân lực KH&CN - 14

3.2: Các nhóm nhân lực KH&CN trong dự án: - 17

4 Thu hút nhân lực KH&CN theo dự án - 18

4.1 Thu hút nhân lực KH&CN - 18

4.2 Thu hút nhân lực KH&CN theo dự án - 22

5 Khoa học BHXH: - 26

Trang 4

5.1 Khái niệm khoa học bảo hiểm xã hội - 26

5.2 Đặc điểm của khoa học bảo hiểm xã hội - 28

5.3 Nguồn Nhân lực KH&CN bảo hiểm xã hội - 30

Kết luận Chương 1: - 30

CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG THU HÚT NHÂN LỰC KH&CN CỦA VIỆN KHOA HỌC BẢO HIỂM XÃ HỘI - 32

1 Hiện trạng hoạt động KH&CN của Viện Khoa học bảo hiểm xã hội Việt Nam - 32

1.1 Chức năng nhiệm vụ của Viện khoa học bảo hiểm xã hội Việt Nam - 32

1.2 Cấu trúc của Viện Khoa học bảo hiểm xã hội Việt Nam - 33

1.2.1 Cơ cấu tổ chức của viện khoa học bảo hiểm xã hội Việt Nam - 33

1.2.2 Chế độ quản lý và điều hành của Viện Khoa học bảo hiểm xã hội - 36

1.3 Nhân lực KH&CN của Viện khoa học bảo hiểm xã hội Việt Nam - 36

1.4 Cơ sở hạ tầng của Viện khoa học bảo hiểm xã hội Việt Nam - 39

1.5 Hoạt động KH&CN của Viện khoa học bảo hiểm xã hội Việt Nam - 39

2 Hoạt động của Bảo hiểm xã hộiViệt Nam - 50

2.1 Hiện trạng hoạt động của Bảo hiểm xã hội Việt Nam - 50

2.2 Chiến lược phát triển của Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong giai đoạn từ 2010- 2020 - 52

2.3 Những vấn đề đặt ra cho công tác nghiên cứu khoa học của Ngành bảo hiểm xã hội - 58

3 Một số hoạt động thu hút nhân lực KH&CN để thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học của Viện khoa học bảo hiểm xã hội - 60

3.1 Chính sách thu hút nhân lực KH&CN - 60

3.2 Thu hút nhân lực KH&CN thông qua thực hiện các đề tài NC - 61

3.3 Nhận xét - 63

Kết luận chương 2 - 66

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP THU HÚT NHÂN LỰC KH&CN THÔNG QUA MÔ HÌNH CẤU TRÚC DỰ ÁN - 68

Trang 5

1/ Cơ sở hình thành các dự án nghiên cứu khoa học về bảo hiểm xã hội, bảo

hiểm y tế - 68

1.1 Những vấn đề cơ bản trong chiến lược phát triển của Bảo hiểm xã hội Việt Nam giai đoạn 2010- 2020 - 68

1.2 Yêu cầu phát triển của Viện khoa học bảo - 69

1.3 Thu hút nhân lực KH&CN của Viện Khoa học bảo hiểm xã hội - 70

1.4 Nhân lực KH&CN cần thu hút: - 71

1.4.1 Nhóm đối tượng thu hút - 71

1.4.2 Đặc điểm, vị trí nhân lực cần thu hút - 72

2/ Chuyển hoạt động của viện từ nặng về hành chính sang thực hiện các dự án làm tiền đề cho việc thu hút nhân lực KH&CN - 72

3/ Các giải pháp thu hút nhân lực KH&CN - 75

3.1 Đổi mới phương thức quản lý KHCN … - 75

3.2 Áp dụng cấu trúc ma trận trong dự án - 75

3.3 Tạo môi trường tự do sáng tạo - kích thích sáng tạo - 77

3.4 Tạo ra một tập thể nghiên cứu hoạt động ăn ý, hiệu quả - 78

3.5 Tính minh bạch trong quản lý sử dụng nhân lực - 78

3.6 Quan tâm đầu tư, trang bị cơ sở hạ tầng - 79

3.7 Tạo nên tính hấp dẫn của dự án - 80

3.8 Lợi ích từ thu hút nhân lực KH&CN khi thực hiện dự án - 80

Kết luận chương 3 - 81

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ - 82

4.1 Kết luận - 82

4.2 Khuyến nghị - 82

Tài liệu tham khảo - 84

Trang 6

DANH SÁCH NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

KH&CN Khoa học và công nghệ

TTNCKH Trung tâm nghiên cứu khoa học

BHXH Bảo hiểm xã hội

BHYT Bảo hiểm y tế

BHTN Bảo hiểm thất nghiệp

OECD Ogannization for Economic Cooperation and Development (Tổ chức hợp tác và Phát triển Kinh tế)

UNESCO United Nations Educational Scietific and Cultual

Ogannization (Tổ chức giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc )

R&D Reseach and Development (Nghiên cứu và triển khai)

Sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, với đường lối đúng đắn của Đảng;

sự quản lý thống nhất theo pháp luật của Nhà nước và sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và

Trang 7

toàn diện Kinh tế tăng trưởng khá nhanh; sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt

Với quan điểm phát triển kinh tế phải đi đôi với đảm bảo an sinh xã hội, trong những năm qua bên cạnh việc chú trọng phát triển kinh tế đất nước Đảng và Nhà nước cũng rất quan tâm đến việc giải quyết các vấn đề xã hội như xoá đói giảm nghèo, cứu trợ xã hội v.v

Là trụ cột trong hệ thống An sinh xã hội, thời gian qua chính sách BHXH, BHYT luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm thực hiện Hàng loạt các văn bản, chỉ thị nghị quyết của Đảng và Nhà nước được ban hành, pháp luật BHXH, BHYT ngày càng được củng cố và hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý quan trọng để đưa chính sách BHXH, BHYT đi vào cuộc sống góp phần ổn định tình hình kinh tế- chính trị- xã hội trên phạm vi cả nước

Để đảm bảo thực hiện hiệu quả chính sách BHXH, BHYT ngày 16/02/1995 BHXH Việt Nam được thành lập theo quyết định số 19/CP của Chính phủ Ngày 24/01/2002 Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 20/2002/ QĐ-TTG chuyển BHYT Việt Nam sang BHXH Việt Nam.Với chức năng thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT và quản lý Quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật, sau mười năm năm hoạt động ngành BHXH đã thu được những thành tựu rất đáng khích lệ Đối tượng tham gia chính sách BHXH, BHYT ngày càng phát triển và mở rộng cả về phạm vi đối tượng và chế độ chính sách; chỉ riêng năm 2009 số thu toàn ngành BHXH đạt trên 53.000 tỷ đồng vv Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát, tỷ lệ đối tượng tham gia BHXH, BHYT hiện nay so với thực tế vẫn còn rất thấp (Tỷ lệ tham gia BHXH chỉ đạt 30%, tỷ lệ tham gia BHYT là 50%) mà nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do sự bất cập về chế độ, chính sách BHXH, BHYT cũng như công tác tổ chức thực hiện

Với mục tiêu quốc gia, được thông qua trong văn kiện đại hội X của Đảng,

đến năm 2014: “Thực hiện BHXH cho mọi người lao động tiến tới BHYT toàn dân”

do đó, một trong những nhiệm vụ cấp bách hiện nay của BHXH Việt Nam là phải

Trang 8

xây dựng chiến lược phát triển ngành nhằm đủ năng lực thực hiện mục tiêu trên.Và trong quá trình phát triển đó, ngành BHXH sẽ phải giải quyết nhiều vấn đề có tính khoa học phát sinh trong thực tiễn vv

Viện Khoa học BHXH là đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam Viện có chức năng tổ chức, quản lý và triển khai các hoạt động khoa học về BHXH, BHYT, BHTN để ứng dụng vào hoạt động của ngành Với vai trò là đơn vị nòng cốt trong hoạt động nghiên cứu khoa học của hệ thống BHXH Việt Nam Trong những năm qua Viện khoa học BHXH mà tiền thân là Trung tâm Nghiên cứu khoa học BHXH

đã tiến hành nghiên cứu nhiều đề tài và chuyên đề khoa học vừa mang tính lý luận vừa mang tính ứng dụng Kết quả nghiên cứu của nhiều đề tài, chuyên đề khoa học trên nhiều lĩnh vực đã được đúc rút thành lý luận và vận dụng vào thực tiễn hoạt động, góp phần đảm bảo thực hiện ngày càng tốt hơn các chế độ, chính sách BHXH, BHYT đối với người lao động và nhân dân

Tuy nhiên, cũng phải thấy rõ những hạn chế trong công tác nghiên cứu khoa học của Viện trong thời gian qua Một số đề tài, chuyên đề chưa đạt kết quả như mong muốn, chất lượng còn thấp: thậm chí có những chuyên đề, đề tài thể hiện như một bản báo cáo công tác, chưa mang phong cách nghiên cứu khoa học; tình trạng chậm tiến độ kế hoạch nghiên cứu vẫn còn nhiều Đặc biệt là sự thiếu hụt về lực lượng nghiên cứu khoa học, những cán bộ nghiên cứu có trình độ tiến sĩ ngày một giảm dần do về hưu hoặc chuyển công tác Mặt khác, lực lượng cán bộ nghiên cứu

có kinh nghiệm chưa được bổ sung kịp thời hoặc được bổ sung thì vẫn còn yếu về năng lực

Đứng trước nhu cầu phát triển của ngành BHXH, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học đặt ra đối với Viện khoa học BHXH ngày càng lớn Nhưng với cơ cấu tổ chức

và con người như hiện nay Viện khoa học BHXH sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện mục tiêu của mình Chính vì vậy vấn đề đặt ra là với cơ cấu tổ chức

và con người như hiện nay Viện khoa học BHXH sẽ phải áp dụng mô hình hoạt động như thế nào để thu hút hiệu quả nguồn nhân lực KH&CN phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học

Trang 9

Xuất phát từ lý do trên tôi lựa chọn đề tài “Thu hút nhân lực KH&CN của

Viện khoa học BHXH thông qua mô hình cấu trúc dự án "làm đề tài luận văn tốt

nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu:

Thu hút nhân lực KH&CN đóng một vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của các tổ chức nghiên cứu khoa học Do đó việc nghiên cứu vấn đề này

cũng đã thu hút nhiều tác giả như “Hiện trạng chính sách phát triển nhân lực

KH&CN ở Việt Nam” của tác giả Đinh Văn Thái; “Chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN trong lực lượng Công an nhân dân tỉnh Bình Dương” của tác giả

Nguyễn Thị Thu Hà; “ Đổi mới chính sách thu hút nhân lực KH&CN theo dự án”

của tác giả Đoàn Đức Vinh Các đề tài chủ yếu tập trung vào việc thu thập số liệu, đưa ra giải pháp hoặc đưa ra được những bất cập về chính sách thu hút nhân lực KH&CN của ngành, của địa phương Tuy nhiên, chưa có một đề tài nào nghiên cứu việc tái cấu trúc cơ cấu của Viện nghiên cứu khoa học (Viện Khoa học BHXH)

thông qua mô hình cấu trúc dự án Vì vậy, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài “Thu hút

nguồn nhân lực KH&CN của Viện Khoa học BHXH thông qua mô hình cấu trúc dự án” là cần thiết

3 Mục tiêu nghiên cứu:

Tìm giải pháp để thu hút nhân lực KH&CN của Viện Khoa học BHXH trong điều kiện hiện nay

4 Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

- Nghiên cứu những cơ sở lý luận liên quan đến thu hút nhân lực KH&CN

- Điều tra, khảo sát thực trạng thu hút nhân lực KH&CN của Viện Khoa học BHXH

- Đề xuất những giải pháp thu hút nhân lực KH&CN của Viện Khoa học BHXH trong điều kiện hiện nay

5 Phạm vi nghiên cứu:

- Địa điểm nghiên cứu: Viện Khoa học BHXH Việt Nam

Trang 10

- Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút nhân lực KH&CN theo dự án

- Khách thể nghiên cứu: Nguồn nhân lực KH&CN của Viện Khoa học BHXH

- Thời gian nghiên cứu: Giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm 2003 đến nay

- Thời gian tiến hành nghiên cứu: 11/2009- 10/2010

6 Vấn đề nghiên cứu:

- Thế nào là thu hút nhân lực KH&CN theo mô hình dự án?

- Điểm mạnh của thu hút nhân lực KH&CN theo mô hình dự án là gì?

- Giải pháp nào để thu hút nhân lực KH&CN của Viện Khoa học BHXH trong điều kiện hiện nay?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Sử dụng mô hình cấu trúc dự án để thu hút nhân lực KH&CN, mô hình dự

án (cấu trúc ma trận) làm cấu trúc chức năng được mềm dẻo hơn đảm bảo việc sử dụng nhân lực hiệu quả hơn phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa

- Đối với Viện Khoa học BHXH việc áp dụng hình thức thu hút nhân lực KH&CN thông qua mô hình dự án (cấu trúc ma trận) là phù hợp, vì nó không làm thay đổi cơ cấu tổ chức hiện nay của Viện nhưng vẫn đảm bảo thu hút được nhân lực KH&CN từ bên ngoài để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của Viện ngày một nặng nề hơn

- Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi về thi hút nhân lực KH&CN theo

mô hình cấu trúc dự án cho Viện khoa học bảo hiểm xã hội Việt Nam trong điều kiện hiện nay

8 Phương pháp nghiên cứu:

Các phương pháp cụ thể tiến hành nghiên cứu chủ yếu là:

- Nghiên cứu tài liệu

+ Nguồn Báo cáo của Viện Khoa học Bảo hiểm xã hội từ năm 2003 - 2009

Trang 11

+ Nguồn tài liệu sách, báo liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp phỏng vấn

+ Phỏng vấn các chuyên gia thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam

+ Phỏng vấn lãnh đạo, và cán bộ nghiên cứu của Viện Khoa học Bảo hiển xã hội

9 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài:

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề

lý luận tổ chức dự án, hoạt động thu hút nhân lực nói chung và nhân lực KH&CN nói riêng thông qua mô hình tổ chức dự án

Kết quả nghiên cứu lý luận của đề tài cũng góp phần làm rõ cơ sở khách quan, khoa học cho việc xây dựng cơ chế thu hút nhân lực KH&CN theo dự án tại các Viện nghiên cứu khoa học nói chung và Viện Khoa học BHXH nói riêng

Ý nghĩa thực tiễn:

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần mô tả thực trạng nhân lực KH&CN và cơ chế thu hút nhân lực KH&CN của Viện Khoa học BHXH, chỉ ra những tồn tại hạn chế trong cơ chế thu hút nhân lực KH&CN đồng thời phân tích làm rõ nguyên nhân của những hạn chế đó Từ đó đưa ra giải pháp thu hút nhân lực KH&CN tại các viện nghiên cứu khoa học nói chung và Viện khoa học BHXH nói riêng trong điều kiện hiện nay

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC

DỰ ÁN TRONG THU HÚT NHÂN LỰC KH&CN

1 Khái niệm tổ chức, cấu trúc tổ chức

- Tổ chức: Theo giáo trình “Tổ chức học đại cương” của PGS.TS Phạm Huy

Tiến “Tổ chức được xem như tập hợp của nhiều người, nhiều nhóm người nhằm

thực hiện một mục tiêu chung mà nếu chỉ một người hay một nhóm người không thực hiện được” 1

- Cấu trúc tổ chức: Là một kiểu mẫu được đặt ra để phối hợp hoạt động giữa các con người trong tổ chức

Có thể nói cấu trúc tổ chức là một thuộc tính đặc trưng của tổ chức, quy định

sự vận động của các thành phần trong tổ chức, cấu trúc của tổ chức được thể chế hoá thành những quy chế, quy định, những nguyên tắc nhằm điều chỉnh những hành

vi, hành động của con người trong tổ chức để mọi hoạt động đó đều hướng tới mục tiêu của tổ chức

Bất kỳ một tổ chức nào cũng đều có mục tiêu hoạt động, hay nói cách khác mục tiêu của tổ chức là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức

Về mặt vị trí, tổ chức luôn là một hệ thống nhỏ tồn tại trong một hệ thống lớn xã hội, đó chính là môi trường bên ngoài của tổ chức Do đó sự tồn tại và phát triển của

tổ chức luôn được xác định bởi mục tiêu của tổ chức có phù hợp hay không phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của môi trường tồn tại quanh nó Cho nên tổ chức không phải là

hệ cô lập, nó luôn có sự tương tác và chịu sự ảnh hưởng của môi trường bên ngoài Những biến động của môi trường bên ngoài có ảnh hưởng không nhỏ đến tổ chức Trong những trường hợp này muốn tồn tại và phát triển tổ chức phải có khả năng tự điều chỉnh nội bộ tổ chức, thậm chí cả mục tiêu tổ chức để tạo ra sản phẩm thích nghi và được môi trường bên ngoài chấp nhận Khi mục tiêu thay đổi dẫn đến những thay đổi quan trọng của cấu trúc tổ chức và phương thức vận hành, quản lý tổ chức Từ đó dẫn đến nhiều thay đổi như cần bố trí lại vai trò và cấu trúc chức năng hoặc cấu trúc dự án, có bộ phận đang là chính yếu trở nên thứ yếu Nhân lực cũng

1PGS.TS Phạm Huy Tiến, Đề cương bài giảng về tổ chức KH&CN 2007,trang1

Trang 13

phải bố trí lại, sự sắp xếp nhân lực gây ra nhiều thay đổi trong tổ chức Những điều chỉnh thường gặp trong tổ chức là điều chỉnh chức năng của bản thân tổ chức hay các bộ phận hợp thành từ đó dẫn đến điều chỉnh nhiệm vụ và sự phân bố nguồn lực Chính vì lẽ đó cấu trúc tổ chức luôn đóng vai trò cốt lõi đảm bảo cho tổ chức có thể điều chỉnh linh hoạt trước những biến động của môi trường bên ngoài Cho nên một

tổ chức hiệu quả tuỳ thuộc vào sự hình thành một tập hợp các quan hệ gắn bó trong thiết kế cơ cấu, lịch sử phát triển, quy mô và kỹ thuật đặc trưng của nó

Loại hình tổ chức quan liêu máy móc và chia nhỏ thành các bộ phận có xu hướng kém hiệu quả trừ khi các nhiệm vụ đơn giản và môi trường ổn định Các hệ thống kiểm tra tập trung hoá làm cho nó chậm chạp và vô hiệu quả khi phải đối mặt với sự biến động của môi trường

Cơ cấu quan liêu nghề nghiệp làm thay đổi các nguyên tắc chỉ đạo tập trung và dành cho con người quyền tự do hơn Nó tỏ ra thích hợp khi các điều kiện tương đối

ổn định và các nhiệm vụ tương đối phức tạp Đó là cấu trúc tương đối phù hợp cho các trường đại học, các bệnh viện v ở những cơ quan này con người cần được quyền tự chủ, tự do lựa chọn để thực hiện nhiệm vụ của mình một cách thích hợp nhất Cơ cấu quan liêu nghề nghiệp có xu hướng phát triển theo chiều ngang vì ngôi thứ theo chiều dọc được thay thế bằng một hệ thống quyền lực phân tán Ở đây người ta đảm bảo sự tiêu chuẩn hoá và liên kết bằng cách đào tạo nghề nghiệp và chấp nhận các tiêu chuẩn hoạt động chủ chốt hơn là thực thi quyền lực một cách trực tiếp

Cấu trúc đơn giản và cấu trúc dự án tỏ ra hiệu quả lúc môi trường không ổn định Cấu trúc đơn giản hàm ý có một giám đốc thường là người sáng lập tổ chức có một nhóm cố vấn làm việc dưới quyền và đội ngũ những người thực thi những công việc chính Đây là tổ chức phi chính thức, rất linh hoạt mặc dù làm việc một cách tập trung dưới quyền giám đốc, là dạng thức lý tưởng khi cần thay đổi nhanh chúng Loại hình tổ chức này hoạt động tốt khi vấn đề mấu chốt cần ra quyết định nhanh chóng và khi nhiệm vụ không quá phức tạp Cơ cấu này phù hợp với các xí nghiệp trẻ và đổi mới, đặc biệt là các xí nghiệp công nghệ cao

Trang 14

Cấu trúc dự án chỉ các tổ chức được thiết kế tạm thời Nó hoàn toàn thích hợp với các nhiệm vụ phức tạp và bức bách, được thực hiện trong môi trường không ổn định Cơ cấu dự án thường sử dụng các ê kíp làm dự án, cơ cấu này kết thúc nhiệm

vụ khi không còn công việc, các thành viên lại tham gia vào các ê kíp khác để thực hiện dự án khác Cơ cấu này thường gặp trong các tổ chức làm việc theo dự án, các

đề tài khoa học vv Có thể loại hình tổ chức này xuất hiện dưới hình thức một bộ phận riêng trong một cơ quan lớn hơn Loại hình này thường sử dụng trong các cơ quan nghiên cứu triển khai

2 Khái niệm dự án, tổ chức dự án

2.1 Khái niệm dự án

Có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về dự án Theo K Johnson, đưa ra

định nghĩa “Dự án là một công việc dự kiến trước mắt nhằm đạt được những mục

tiêu đã xác định, trong một khoảng thời gian cụ thể và với một khoản kinh phí nhất định”2 hoặc dự án có thể hiểu là một chuỗi những hoạt động có liên quan đến nhau được lập ra nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu cụ thể với các nguồn lực nhất định trong một thời hạn cụ thể

Như vậy, mỗi dự án gồm các đặc điểm sau

Thứ nhất: Mỗi dự án phải có một hoặc một số mục tiêu rõ ràng Thông thường người ta cố gắng lượng hoá mục tiêu thành các chỉ tiêu cụ thể Mỗi dự án là một quá trình tạo ra một kết quả cụ thể Nếu chỉ có kết quả cuối cùng mà kết quả đó không phải là kết quả của một tiến trình thì kết quả đó không được gọi là dự án

Thứ hai: Mỗi dự án đều có một thời hạn nhất định, nghĩa là phải có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc Dự án được xem là một chuỗi các hoạt động nhất thời Tổ chức của dự án mang tính chất tạm thời, được tạo dựng lên trong một thời hạn nhất định để đạt được mục tiêu đề ra, sau đó tổ chức này sẽ giải tán hay thay đổi

cơ cấu tổ chức cho phù hợp với mục tiêu mới

Sự khác biệt giữa chương trình, dự án và nhiệm vụ

Chương trình (Program) là một kế hoạch dài hạn bao gồm nhiều dự án, đôi

khi về mặt thuật ngữ, chương trình được dùng đồng nghĩa với dự án

2

Management Tool for Development Assistance, 1984

Trang 15

Dự án (Project) là một quá trình gồm những công tác, nhiệm vụ có liên quan

với nhau, được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong điều kiện ràng buộc về thời gian, nguồn lực và ngân sách

Nhiệm vụ (Task) Theo Trung tâm công nghệ Châu Á tại Việt Nam nhiệm

vụ “Là nỗ lực ngắn hạn trong vài tuần hoặc vài tháng được thực hiện bởi một tổ chức nào đó, đồng thời tổ chức này có thể kết hợp với các nhiệm vụ khác để thực hiện dự án”3

Nhưng thực tế hiện nay, ở Việt Nam nhiệm vụ khoa học và công nghệ

là những vấn đề khoa học và công nghệ cần được giải quyết, được tổ chức thực hiện dưới hình thức đề tài, dự án, chương trình khoa học và công nghệ kéo dài trong nhiều năm, với sự tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân

Như vậy, Dự án (Project) khác chương trình (Program): Là một nhóm các dự

án hoặc các hoạt động được quản lý một cách phối hợp và nhằm đạt được một số mục tiêu chung (chương trình) đã định trước

2.2 Tổ chức dự án

Cũng như các tổ chức thông thường khác, tổ chức dự án được hình thành

nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu của dự án, bao gồm: “một nhóm người được xắp

xếp theo một trật tự nhất định để có thể cùng phối hợp hoạt động với nhau để đạt đến mục tiêu của dự án” “với cấu trúc là một kiểu mẫu được đặt ra để phối hợp giữa các con người trong dự án” Tuy nhiên so với các tổ chức khác, tổ chức dự án

có tính nhất thời và ngẫu nhiên, đều được hình thành do phải thực hiện một vấn đề nào đó Tổ chức dự án không phải là một tổ chức ổn định không đổi, bất kỳ tổ chức nào đều có giới hạn, tức là có quy trình phát triển và giải thể Tổ chức dự án có thời gian tồn tại khác nhau, có tính chất đơn giản hay phức tạp khác nhau, sau khi dự án hoàn thành thì tổ chức đó cũng giải thể Kết cấu của dự án tuy có được sự ổn định tương đối, không dễ dàng biến đổi nhưng vẫn phải có sự điều chỉnh nhất định theo

sự biến đổi của điều kiện bên trong và bên ngoài tổ chức Bất cứ một tổ chức nào trong đó có cả tổ chức dạng dự án đều thuộc vào một môi trường xã hội nhất định,

là một hệ thống con trong cả một hệ thống lớn của xã hội, đều phải có giao lưu thông tin với hệ thống lớn xã hội Vì vậy, tổ chức dự án là một hệ thống tổ chức mở

Trang 16

Có 3 mô hình tổ chức dự án

- Cấu trúc chức năng

Dự án được chia ra làm nhiều phần và được phân công tới các bộ phận chức năng hoặc các nhóm trong bộ phận chức năng thích hợp Dự án sẽ được tổng hợp bởi nhà quản lý chức năng cấp cao

- Cấu trúc dự án

Một nhà quản lý phải chịu trách nhiệm quản lý một nhóm, tổ gồm

những thành viên nòng cốt được chọn từ những bộ phận chức năng khác nhau trên

cơ sở làm việc toàn phần (Full-time) Các nhà quản lý chức năng không có sự tham gia chính thức

- Cấu trúc ma trận

Là loại hình tổ chức tích hợp cấu trúc chức năng và cấu trúc dự án Sự tích hợp đó thể hiện sự kết hợp hài hoà của tổ chức hình thức và phi hình thức, là bước phát triển cao của tổ chức hữu cơ Cấu trúc chức năng thường gặp trong các tổ chức máy móc như các vụ ở các bộ, các phòng nghiên cứu ở các viện, các phân xưởng trong nhà máy Còn cấu trúc dự án là loại tổ chức hữu cơ cũng có thể xem như tổ chức phi hình thức, cấu trúc này là tập hợp một số nhân lực thực hiện một dự án,

một chương trình, một công việc nằm ngoài khu vực chức năng

3 Nhân lực KH&CN

3.1 Khái niệm nhân lực KH&CN

Nguồn nhân lực KH&CN theo UNESCO, là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động khoa học và công nghệ trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên

Trang 17

- Đã tốt nghiệp trường đào tạo trình độ nhất định về một chuyên môn khoa học và công nghệ (từ công nhân có bằng cấp tay nghề trở lên hay còn gọi là trình độ

3 trong hệ giáo dục đào tạo)

- Không được đào tạo chính thức nhưng làm một nghề trong lĩnh vực KH&CN mà đòi hỏi trình độ trên Kỹ năng tay nghề ở đây được đào tạo tại nơi làm việc

Tổng hợp theo cả hai tiêu trí nói trên thì nhân lực KH&CN theo OECD bao gồm:

- Những người có bằng cấp, trình độ tay nghề trở lên và làm việc hoặc không làm việc trong lĩnh vực KH&CN, ví dụ, giáo sư đại học, tiến sĩ về kinh tế, bác sỹ nha khoa làm việc tại phòng khám, chuyên gia đang thất nghiệp, nữ vận động viên chuyên nghiệp và có bằng y học…vv

- Những người được coi là có trình độ tay nghề làm việc trong lĩnh vực KH&CN nhưng không có bằng cấp, như nhân viên lập trình máy tính hoặc cán bộ quản lý quầy hàng nhưng không có bằng cấp…vv

- Những người làm việc trong lĩnh vực R&D nhưng không đòi hỏi trình độ cao như: Thư ký của cơ quan nghiên cứu và phát triển, thủ thư trong các trường đại học vv

Như vậy, nguồn nhân lực KH&CN theo OECD được hiểu theo nghĩa rất rộng bao gồm cả những người tiềm tàng / tiềm năng chứ không chỉ là những người đang tham gia hoạt động KH&CN, để khi cần thiết có thể huy động những người tiềm tàng / tiềm năng này tham gia trực tiếp vào hoạt động KH&CN

Nhân lực KH&CN trong luận văn được hiểu theo định nghĩa của OECD đó

là “Tập hợp những nhóm người tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với các chức năng nghiên cứu sáng tạo, giảng dạy, quản lý, khai thác sử dụng và tác nghiệp, góp phần tạo ra tiến bộ của KH&CN, của sự phát triển sản xuất và xã hội” Theo định nghĩa trên, nhân lực KH&CN bao gồm:

- Lực lượng nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp

Trang 18

Nhân lực KH&CN với chức năng nghiên cứu sáng tạo gọi là nhà nghiên cứu hay nhà khoa học Các nhà nghiên cứu là những người có trình độ tương đối cao (Tốt nghiệp đại học trở lên) Họ khác nhau về trình độ, chức danh, chuyên môn và thường làm việc ở các tổ chức nghiên cứu khoa học

- Lực lượng giảng dạy được đào tạo bậc cao

Đây là lực lượng đông đảo gồm những người có trình độ từ đại học trở lên

Họ làm công tác giảng dạy ở các học viện, nhà trường (cao đẳng, đại học) Lực lượng này có nghề nghiệp chuyên môn là dạy học tức là nhà giáo chuyên nghiệp, các giáo sư, phó giáo sư, giảng viên đại học Tuy nhiên họ không chỉ giảng dạy thuần tuý mà còn tham gia nghiên cứu khoa học, hướng dẫn sinh viên, NCS tham gia nghiên cứu khoa học

- Lực lượng quản lý khoa học ở các loại hình cơ quan khoa học

Lực lượng này bao gồm các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu làm công tác quản lý, điều hành các hoạt động KH&CN ở các cơ quan quản lý từ các bộ, ban, ngành, sở, viện nghiên cứu, các phòng - ban khoa học ở trường, học viện, và các trung tâm dịch vụ KH&CN

Nhân lực KH&CN trong khuôn khổ đề tài này được giới hạn: lực lượng nghiên cứu chuyên nghiệp; lực lượng vừa nghiên cứu vừa tham gia giảng dạy - đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, các viện nghiên cứu có liên quan đến lĩnh vực BHXH, BHYT; lực lượng vừa nghiên cứu vừa quản lý từ các phòng ban thuộc các

bộ Lao động thương binh & xã hội, Bộ y tế, Bộ tài chính, Hệ thống BHXH Việt Nam có trình độ từ đại học trở lên

Đặc điểm cơ bản của nhân lực KH&CN

Nhân lực KH&CN chủ yếu làm lao động trí óc, do đó đặc điểm thường thấy

ở họ là:

Thứ nhất: Lao động của họ là lao động phức tạp có tính sáng tạo cao Mà lao động càng phức tạp bao nhiêu thì con người càng đòi hỏi cao về mức độ tự do và yêu cầu tư duy sáng tạo bấy nhiêu

Trang 19

Thứ hai: Lao động của họ thường là lao động sáng tạo của từng cá nhân (với bản sắc, cá tính, phong cách riêng, không thể trộn lẫn, không dễ hoà tan tuyệt đối vào cái chung) cho nên đối với họ không thể đồng nhất máy móc kỷ luật lao động

Dĩ nhiên, trong thực tế có nhiều loại lao động khoa học đòi hỏi rất nghiêm ngặt về

kỷ luật giờ giấc (giảng viên trong các nhà trường, bác sỹ trong ca trực )

Thứ ba: Đối với các nhà khoa học, đặc biệt đối với những chuyên gia đầu ngành, đầu đàn với lao động khoa học xem như một thiên chức xã hội cao quý thì lý tưởng nghề nghiệp rất được đề cao, coi trọng

3.2 Các nhóm nhân lực KH&CN trong dự án

* Nhân lực tham gia dự án

Nhân lực tham gia dự án gồm các thành viên của các chuyên môn khác nhau tập trung lại hình thành nên sức mạnh của đội ngũ Sự thành công của dự án được quyết định ở sức mạnh kết hợp giữa các thành viên và đội ngũ nhân lực lựa chọn với người lãnh đạo dự án và các nhân viên kỹ thuật chuyên ngành có năng lực và trình độ cao Điều này là nhân tố quyết định sự thành công của dự án

- Nhóm quản lý: Đối với chương trình, đề án gồm có ban chủ nhiện chương trình, giám đốc các dự án (ban điều hành)

- Nhóm chuyên môn: Gồm có chủ nhiệm đề tài, các bộ phận chuyên môn giúp việc

- Nhóm dịch vụ, phục vụ: Gồm có kế toán ban quản lý dự án, lái xe, tạp vụ, văn thư…

Việc lựu chọn các thành viên trong đội ngũ được thực hiện thông qua tuyển chọn từ các bộ phận chức năng, tuyển chọn từ bên ngoài cơ quan, trong, ngoài địa phương, ngoài nước vv

* Hình thức phối hợp chủ yếu trong đội ngũ dự án là hoạt động nhóm

Một nhóm người làm việc trong cùng một văn phòng hay thậm chí một dự án chung không phải lúc nào cũng tiến hành công việc của một nhóm làm việc Nếu nhóm đó được quản lý theo kiểu chuyên quyền độc đoán hoàn toàn, có lẽ sẽ không

có nhiều cơ hội cho sự tác động qua lại liên quan đến công việc giữa các thành viên

Trang 20

trong nhóm Nếu có bất kỳ tư tưởng bè phái nào trong nhóm, hoạt động của nhóm

sẽ không bao giờ tiến triển được Ngược lại, nhóm làm việc là phương thức có thể được tận dụng dù với những cá nhân ở những khoảng cách xa, làm việc ở những dự

án khác nhau

Nói một cách đơn giản, nhóm làm việc tạo ra một tinh thần hợp tác, phối hợp những thủ tục được hiểu biết chung và nhiều hơn nữa Nếu điều này diễn ra trong một nhóm người, hoạt động của họ sẽ được cải thiện bởi sự hỗ trợ chung (cả về thực tế lẫn lý thuyết)

4 Thu hút nhân lực KH&CN theo dự án

4.1 Thu hút nhân lực KH&CN

* Lý do cần thu hút

Trong xu thế hội nhập hiện nay cùng với sự vận động của nền kinh tế thị trường đã tạo điều kiện cho nhiều thành phần kinh tế tồn tại và phát triển đây là cơ hội lớn cho người lao động có quyền lựa chọn nghề nghiệp, người lao động được quyền tự do đến bất kỳ cơ quan, doanh nghiệp nào làm việc, miễn là công việc đó

có thể “tạo ra nguồn thu nhập và không bị pháp luật cấm” điều này đã dẫn tới hiện

tượng di chuyển lao động diễn ra mạnh mẽ giữa các thành phần kinh tế: một người lao động ngày hôm nay có thể làm việc trong tổ chức này, nhưng ngày mai anh ta

có thể chuyển sang làm việc cho một tổ chức khác nhằm tìm kiếm những cơ hội

mới Hiện tượng di chuyển này trong khoa học xã hội được gọi là hoạt động “di

động xã hội” Do vậy, để xây dựng chính sách thu hút nhân lực KH&CN cần nhận

diện một số loại hình DĐXH

- DĐXH không kèm di cư (hiện tượng đa vai trò - vị thế việc làm, nghề

nghiệp):

Trong xã hội hiện đại, thông thường mỗi cá nhân trong cộng đồng khoa học

có thể có một vài vị thế xã hội, trong đó vị thế nghề nghiệp là quan trọng nhất, là vị thế chủ đạo Một trong những vấn đề thực tế phổ biến hiện nay là hiện tượng đa vai trò - vị thế việc làm, nghề nghiệp, tức là một người làm đồng thời nhiều nghề, nhiều việc khác nhau Hiện tượng này cũng được ghi nhận ở một số quốc gia láng giềng

Trang 21

như Inđônêxia, Thái lan cộng đồng khoa học càng không đứng ngoài trào lưu đó Hình ảnh các cán bộ tranh thủ bớt xén thời gian ở cơ quan về nhà làm thêm ngoài giờ cuối những năm 80 của thế kỷ XX đã nhường chỗ cho một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao hơn trước, công khai hơn trong các hoạt động làm thêm của mình Song dù dưới hình thức nào, tất cả đều nhằm mục đích nâng cao thu nhập, phục vụ cho nhiều lợi ích, trong đó có lợi ích cá nhân Nhiều cán bộ KH&CN sẵn sàng chuyển sang làm việc theo hợp đồng thuê khoán chuyên môn của các công ty tư nhân, các tổ chức phi chính phủ; không ít trường hợp liên tục chuyển

đi nhiều cơ quan, làm nhiều vị trí và công việc khác nhau chỉ trong một khoảng thời gian ngắn Nguyên nhân của hiện tượng này là do chưa phát huy được năng lực chuyên môn, trả công không tương xứng và chưa có sự khuyến khích, đãi ngộ phù hợp với năng lực của cá nhân Hiện tượng đa vị thế, nghề nghiệp có xu hướng đi ngược lại quá trình chuyên môn hoá theo hướng chuyên sâu mặc dù khuyến khích người lao động làm việc nhiều hơn Đây là một xu hướng khá phổ biến hiện nay trong cộng đồng khoa học ở nhiều lĩnh vực

Bên cạnh những tác động tích cực như: Bù đắp sự thiếu hụt về nhân lực khoa học trong các cơ quan khoa học; cung cấp thêm những luận cứ thực tiễn cho bài giảng, lĩnh vực chuyên môn nghiên cứu; tích luỹ và bổ sung kinh nghiệm nghiên cứu, giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn của đội ngũ cán bộ khoa học; hiện tượng đa vị thế, đa vai trò còn có những tác động tiêu cực, gây nên sự thiếu hụt và chảy máu chất xám của các cơ quan chủ quản lao động Đa vai trò, đa

vị thế khi làm việc đòi hỏi mỗi cá nhân phải rất linh hoạt và nhạy bén khi sắp xếp các công việc của mình, phải điều hoà được các mối quan hệ xã hội riêng rẽ của từng vai khi mình nhập vai Nếu không sẽ rất rễ xảy ra hiện tượng xung đột vai trò Nhiều trường hợp cán bộ đi làm thêm mà lơ là, không tập trung nhiều vào công việc

ở cơ quan chính của mình, đến cơ quan theo lịch, đến cơ quan vào những dịp lĩnh lương hay có một cuộc họp nào đó Đây chính là biểu hiện cụ thể nhất của hiện tượng xung đột vai trò xét trên phương diện cá nhân và hiện tượng chảy máu chất xám tại chỗ xét trên phương diện tổ chức Trong điều kiện công nghệ thông tin ngày

Trang 22

càng phát triển, hiện tượng chảy chất xám tại chỗ lại càng dễ xảy ra với nhiều hình thái và rất khó kiểm soát Một cá nhân không nhất thiết phải báo cáo cơ quan là đang hợp tác với một cơ quan khác, hay phải vắng mặt ở cơ quan để đi làm thêm bên ngoài, mà trái lại cá nhân đó vẫn có thể đến cơ quan theo đúng quy định tám giờ hành chính Tuy nhiên, sự có mặt ở cơ quan không đồng nghĩa với việc cá nhân

đó làm các công việc của cơ quan mình mà họ lại làm các công việc của cơ quan khác mà họ đang cộng tác, trong khi cơ quan chủ quản vẫn tưởng rằng kiểm soát được nguồn nhân lực chất xám của mình Theo quan điểm của chúng tôi hiện tượng nào cũng có các tác động riêng của nó Có thể đó là tác động dương tính đối với cơ quan, tổ chức hay cá nhân này, nhưng lại là tác động âm tính đối với cơ quan, tổ chức hay cá nhân khác Hiện tượng chảy máu chất xám tại chỗ gây hậu quả xấu đối với cơ quan bị chảy chất xám nhưng lại đem tác động tích cực đối với cơ quan, tổ chức hay cá nhân hướng được nguồn chất xám chảy đến

- DĐXH kèm di cư:

Trong những năm gần đây, trên thế giới đã xuất hiện hiện tượng di chuyển lực lượng khoa học một cách mạnh mẽ theo dòng chảy ngược: Từ các nước kém phát triển sang các nước công nghiệp phát triển; từ nông thôn ra đô thị; từ những nơi có điều kiện lao động, hoạt động khoa học thấp đến nơi có điều kiện lao động hoạt động khoa học cao Trong phạm vi nước ta, hiện tượng này cũng tương tự, đội ngũ khoa học từ các địa phương kém phát triển di truyển mạnh về các trung tâm kinh tế - khoa học ở hai đầu đất nước là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

- Động cơ của di động xã hội:

Nghiên cứu động cơ thúc đẩy đối với hành vi di động nhân lực KH&CN là vấn đề hết sức cần thiết trong việc đề xuất các chính sách thu hút nhân lực KH&CN (tạo sự di động nhân lực KH&CN có định hướng) Động cơ là những nguyên nhân của hành vi Chúng thức tỉnh và duy trì hành động, định hướng hành vi chung của

cá nhân Thực chất các động cơ hoặc nhu cầu là những yếu tố chính của hành động

Ở đây chúng ta dùng hai thuật ngữ động cơ và nhu cầu để thay thế cho nhau4 Thuật ngữ nhu cầu cũng có nghĩa như một cái gì đó trong một cá nhân thúc đẩy cá nhân

4Đào Thanh Trường( luận văn Thạc sỹ xã hội học), 2004

Trang 23

hành động Mỗi cá nhân đều có rất nhiều nhu cầu, hành vi cá nhân tại một thời điểm nào đó thường được quyết định bởi nhu cầu mạnh nhất của họ Bởi vậy các nhà quản lý, hoạch định chính sách phải nắm bắt được các nhu cầu của đối tượng, nhóm đối tượng cần quản lý, cần thu hút Nghiên cứu về nhu cầu của con người, Abraham Maslow đưa ra hệ thống phân cấp các nhu cầu của con người bao gồm 5 nhóm nhu cầu sau:

- Nhu cầu sinh lý

- Nhu cầu an toàn

- Nhu cầu xã hội

- Nhu cầu được tôn trọng

- Nhu cầu tự khẳng định mình

Con người sinh ra đầu tiên là các nhu cầu sinh lý Nhu cầu sinh lý là những nhu cầu cơ bản của con người như ăn, mặc, ở Cho tới khi các nhu cầu này chưa được đáp ứng đủ đến mức cần thiết cho cơ thể con người hoạt động, thì phần lớn các hoạt động của con người có lẽ sẽ ở mức này và các động cơ khác sẽ ít có động

cơ thúc đẩy

Khi các nhu cầu sinh lý được đáp ứng, các nhu cầu an toàn trở nên trội hơn Những nhu cầu này chủ yếu là nhu cầu không bị đe dọa thân thể và bị tước mất các nhu cầu sinh lý cơ bản Nếu an toàn của một cá nhân bị đe dọa thì những điều kiện khác dường như không quan trọng

Tương tự như vậy, khi các nhu cầu sinh lý và an toàn đã được thoả mãn khá tốt thì nhu cầu xã hội sẽ xuất hiện nổi trội hơn trong cấu trúc nhu cầu Sau khi các

cá nhân thoả mãm nhu cầu xã hội, được hội nhập, liên kết, giao tiếp, thì khi đó họ

có nhu cầu được tôn trọng Hầu hết mọi người có nhu cầu thường đánh giá cao dựa trên cơ sở thực tế, sự nhận biết và tôn trọng từ phía những người khác Khi các nhu cầu được tôn trọng bắt đầu được thoả mãn đầy đủ, thì nhu cầu tự khẳng định mình trở nên mạnh hơn Tự khẳng định mình là nhu cầu để tăng tới mức tối đa tiềm năng của một con người Tự khẳng định mình là một mong muốn làm cái điều mà người

ta có thể đạt được Cá nhân thoả mãn nhu cầu này theo các cách khác nhau Ở người

Trang 24

này nó được thể hiện dưới dạng mong muốn trở thành một nhà khoa học có tên tuổi,

ở người khác lại được thể hiện là người quản lý tài ba vv

Tuy nhiên, một con người hành động để thoả mãn các nhu cầu không nhất thiết phải theo tuần tự như trên, cũng có rất nhiều ngoại lệ đối với xu hướng chung này Trên cơ sở lý thuyết về nhu cầu của Maslow, nghiên cứu nhu cầu của các nhóm đối tượng nhân lực KH&CN để có chính sách thu hút nhân lực KH&CN theo dự án cho phù hợp thực tế Ví dụ đối với nhóm đối tượng nhân lực KH&CN có chức năng tác nghiệp thì cần quan tâm đến nhu cầu cơ bản nhiều hơn nên cần có các chính sách về tiền lương và thu nhập cho phù hợp, đối với nhóm nhân lực KH&CN nghiên cứu triển khai thì có thể quan tâm đến các nhu cầu được biết đến, nhu cầu tự khẳng định mình nhiều hơn nên cần có chính sách khuyến khích tinh thần nhiều hơn như tặng thưởng các danh hiệu cao quý, ghi danh vv

* Thu hút nhân lực KH&CN

Thu hút nhân lực KH&CN là sự di chuyển nhân lực KH&CN có định hướng

từ các nguồn cung cấp nhân lực KH&CN đến nơi cần thu hút phụ vụ mục tiêu phát triển, được thực hiện bởi cơ chế chính sách của chủ thể quản lý

Vậy ta có thể hiểu thực chất của thu hút nhân lực KH&CN đó là sự tác động

của chủ thể nhằm tạo ra một hiệu ứng thu hút tâm trí, hướng các hoạt động của nhân lực KH&CN phục vụ cho việc phát triển của lĩnh vực xã hội nào đó dẫn đến sự di chuyển nhân lực KH&CN từ mọi nơi về phục vụ cho mục đích phát triển đó Tóm

lại bản chất của hoạt động thu hút nhân lực KH&CN chính là huy động chất xám

vốn có trong xã hội mà cụ thể hơn đó là chất xám của nhân lực KH&CN trong xã hội nhằm phục vụ cho sự phát triển của xã hội nói chung và của các ngành, lĩnh vực nói riêng

4.2 Thu hút nhân lực KH&CN theo dự án

Trang 25

được giải quyết, được tổ chức thực hiện dưới hình thức đề tài, dự án, chương trình khoa học và công nghệ

Đề tài nghiên cứu khoa học: Là một nhiệm vụ khoa học và công nghệ nhằm phát hiện quy luật, mô tả, giải thích nguyên nhân vận động của sự vật, hiện tượng hoặc sáng tạo nguyên lý, những giải pháp, bí quyết, sáng chế… được thể hiện dưới các hình thức: Đề tài nghiên cứu cơ bản, đề tài nghiên cứu ứng dụng, đề tài triển khai thực nghiệm hoặc kết hợp cả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm

Dự án sản xuất thử (dự án SXTN): Là một nhiệm vụ khoa học và công nghệ nhằm ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm để thử nghiệm các giải pháp, phương pháp, mô hình quản lý kinh tế - xã hội hoặc sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống

Dự án khoa học và công nghệ (dự án KHCN): Là nhiệm vụ khoa học và công nghệ, bao gồm một số đề tài nghiên cứu khoa học hoặc một số dự án sản xuất thử nghiệm gắn kết hữu cơ, đồng bộ được tiến hành trong một thời gian nhất định nhằm giải quyết các vấn đề khoa học và công nghệ chủ yếu phục vụ cho việc sản xuất một sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm trọng điểm, chủ lực có tác động nâng cao trình độ công nghệ của một ngành, một lĩnh vực và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh

Chuyên đề khoa học được phân thành hai loại dưới đây:

- Loại 1: Chuyên đề nghiên cứu lý thuyết bao gồm các hoạt động thu thập và

sử lý các thông tin, tư liệu đã có, các luận điểm khoa học đã được chứng minh là

Trang 26

đúng, được khai thác từ các tài liệu, sách báo, công trình khoa học của những người

đi trước, hoạt động nghiên cứu - thí nghiệm trong phòng thí nghiệm từ đó đưa ra những luận cứ cần thiết để chứng minh luận điểm khoa học

- Loại 2: Chuyên đề nghiên cứu lý thuyết kết hợp triển khai thực nghiệm, ngoài các hoạt động như chuyên đề loại 1 nêu trên còn bao gồm các hoạt động điều tra, phỏng vấn, khảo cứu, khảo nghiệm, thực nghiệm trong thực tế, so sánh, phân tích, đánh giá để chứng minh luận điểm khoa học

Theo luật Khoa học và Công nghệ khái niệm Dự án KHCN: “Là nhiệm vụ khoa học và công nghệ, bao gồm một số đề tài nghiên cứu khoa học hoặc một số dự

án sản xuất thử nghiệm (sau đây viết tắt là các nhiệm vụ thuộc dự án KHCN) có sự gắn kết hữu cơ, đồng bộ tiến hành trong một thời gian nhất định, nhằm giải quyết những vấn đề khoa học và công nghệ chủ yếu phục vụ cho việc sản xuất một sản phẩm, nhóm sản phẩm trọng điểm, có tác động nâng cao trình độ công nghệ của một ngành, lĩnh vực và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước”

Trong khuôn khổ đề tài này, dự án KHCN được giới hạn phạm vi là: Các nhiệm vụ KH&CN đã được Tổng giám đốc BHXH Việt Nam phê duyệt tại kế hoạch khoa học và công nghệ và các nhiệm vụ KH&CN cấp thiết phát sinh

Khác với cách triển khai các chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước với nhiều mục tiêu và kết quả đa dạng, Dự án KH&CN có một mục tiêu nhất định

và kết quả đạt được là một nhóm sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ, tạo nên một sản phẩm có quy mô lớn hoặc một cụm thiết bị, một dây truyền đồng bộ Các nhiệm

vụ thuộc dự án KHCN (gồm các đề tài nghiên cứu, các dự án sản xuất thử nghiệm) vừa có tính độc lập tương đối để giải quyết từng nội dung được phân giao, vừa có tính liên kết, bổ trợ lẫn nhau để đảm bảo sự thống nhất giữa các nội dung của toàn

bộ dự án, nhằm đạt được mục tiêu chung Mặt khác cơ bản nữa là Dự án KHCN được hình thành trên cơ sở một đề án kinh tế – xã hội có vốn đầu tư và địa chỉ áp dụng cụ thể Vì vậy, các kết quả tạo ra đều là những sản phẩm vật chất, là công nghệ, thiết bị, dây truyền sản xuất Được ứng dụng ngay vào thực tiễn Dự án

Trang 27

KHCN không có ban chủ nhiệm để điều hành chung mà thông qua bộ máy quản lý hành chính của Viện khoa học BHXH hoặc các ban nghiệp vụ BHXH Việt Nam hoặc BHXH các tỉnh, thành phố, thậm chí là cả các bộ ngành có liên quan đến lĩnh vực BHXH, BHYT Nhờ vậy mà việc giải ngân được chuyên môn hoá, sâu sát và thuận tiện Khác với cách triển khai các đề tài, dự án sản xuát thử nghiệm độc lập cấp nhà nước thường chỉ giới hạn thực hiện trong phạm vi một bộ ngành hay một đơn vị làm chủ trì, dự án KHCN tập hợp được nhiều chuyên gia giỏi, khai thác được thế mạnh của nhiều đơn vị trong hệ thống BHXH Việt Nam cũng như các bộ ngành

có liên quan, kể cả từ nước ngoài để có đủ năng lực thực hiện các nội dung của dự

án Sản phẩm của dự án KHCN cũng có tính trọng điểm và quy mô hơn so với các

đề tài, dự án độc lập

* Các hình thức thu hút nhân lực KH&CN theo dự án

Các nhân lực được thu hút qua dự án: Nhân lực quản lý dự án (Ban chủ nhiệm chương trình, Ban điều hành dự án ); nhân lực làm chuyên môn (các chuyên gia, các kỹ thuật viên, lao động phổ thông); nhân viên phục vụ (văn thư, nhân viên hành chính,…)

Thu hút nhân lực KH&CN theo dự án diễn ra đa dạng dưới nhiều hình thức như:

- Ký hợp đồng theo công việc và trả thù lao theo quy định nhà nước hoặc quốc tế đối với chuyên gia, tư vấn Chẳng hạn như nhân viên trong các phòng thí nghiệm, chuyên gia có trình độ cao thực hiện từng công đoạn, tính chất công việc của dự án và nhận thù lao theo giờ

- Thuê theo thời vụ: Được áp dụng cho ban chỉ đạo dự án, bộ phận quản lý trả tiền thuê theo tháng; theo tính chất dự án nghiên cứu về nông nghiệp, giáo dục đào tạo, y tế vv

- Thuê theo thời gian: Đối với người làm hành chính, lái xe, kế toán…thì chủ nhiệm dự án ký hợp đồng dài hạn, với mức lương quy định của nhà nước Đối với các dự án nước ngoài trả theo quy định chung của thế giới

Trang 28

* Những mặt mạnh của thu hút nhân lực KH&CN theo dự án

Điểm mạnh của thu hút nhân lực theo dự án gồm những mặt chính sau đây:

Dễ tuyển dụng được những người đúng năng lực cần cho dự án, cho phép người chủ dự án tuyển chọn nhân lực chủ động, quyền hạn cao; lựa chọn rộng rãi tuỳ theo tiêu chuẩn của người chủ dự án đề ra, không phụ thuộc nhiều vào quy trình hành chính

Tính linh hoạt, Chủ nhiệm dự án KHCN căn cứ vào mục tiêu dự án để xây dựng đội ngũ phù hợp và có thể mời các chuyên gia tham gia dự án theo nhu cầu

Tính cạnh tranh cao, việc mời ai tham gia dự án là thuộc quyền của chủ nhiệm dự án (có thể lựa chọn rộng rãi và sẵn sàng thôi không ký hợp đồng trả thù lao nếu không đảm bảo chất lượng và tiến độ, việc trả thù lao trên cơ sở thoả thuận),

do vậy các chuyên gia phải ngày càng nâng cao trình độ, uy tín của bản thân, mức đáp ứng công việc để có thể được tham gia tiếp các dự án khác

Tính hỗ trợ, hoạt động chính của các thành viên dự án là thông qua hoạt động nhóm và làm việc theo nhóm đã trở thành một trong những phương thức làm việc đem lại hiệu quả cao Làm việc theo nhóm sẽ tập trung những mặt mạnh của từng người và bổ sung cho nhau, mọi người có thể làm được nhiều thứ tốt hơn cho nhau

Không có hành chính hoá, cơ chế tổ chức gồm có Ban chủ nhiệm dự án và các thành viên tham gia dự án chủ yếu là kiêm nhiệm do vậy hình thức quản lý do Ban chủ nhiệm dự án điều hành Tuy nhiên đối với các dự án KHCN ở Việt Nam còn hạn chế, một số dự án giao cho cơ quan hành chính thực hiện do vậy, còn mang tính hành chính trong hoạt động dự án

5 Khoa học BHXH

5.1 Khái niệm khoa học BHXH

BHXH đã có mầm mống từ rất sớm, tuy nhiên trước đó hoạt động BHXH mới chỉ dừng lại ở mức tự phát do các tổ chức xã hội, cá nhân tự nguyện quyên góp

và đưa ra các hình thức phân bổ các khoản đóng góp đó để giúp đỡ những người gặp phải những hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống Thời kỳ này chưa có sự can

Trang 29

thiệp của Nhà nước BHXH chỉ thực sự ra đời khi cuộc cách mạng công nghiệp được tiến hành rộng khắp ở các nước Châu âu Cùng với quá trình công nghiệp hoá

là sự phân hoá sâu sắc về giai cấp cũng như những người lao động làm thuê với nhau do đó sự liên kết giữa các thành viên trong tổ chức lơi lỏng dần Những người

bị loại ra khỏi đời sống lao động xã hội do ốm đau, thương tật hoặc già cả thì không còn trông chờ vào sự giúp đỡ của các tổ chức nghiệp đoàn, họ thường bị rơi vào cảnh nghèo đói Nhiều người lao động từ nông thôn tràn ra thành phố tìm kiếm việc làm Hậu quả này dẫn tới sự hủng hoảng xã hội xâu sắc, đòi hỏi phải có sự can thiệp kịp thời của Nhà nước thông qua Hệ thống An sinh xã hội trong đó chính sách

BHXH đóng vai trò nòng cốt Thực chất BHXH là: Sự bảo đảm thay thế hoặc bù

đắp một phần thu nhập cho người lao động và gia đình họ khi bản thân họ gặp phải những rủi ro, biến cố trong cuộc sống làm mất hoặc bị suy giảm một phần sức sức lao động thông qua việc quản lý và sử dụng một quỹ tài chính tập trung được hình thành từ sự đóng góp của người lao động, người chủ sử dụng lao động, và Nhà nước Có thể khẳng định rằng phương thức hoạt động của BHXH đã trải qua một

giai đoạn lịch sử lâu dài mới đạt được sự hoàn thiện như ngày hôm nay Tương tự như vậy khoa học BHXH trên thế giới cũng được tiến hành nghiên cứu từ lâu Khoa học BHXH trước hết nó thuộc một phạm trù của kinh tế quốc dân Học thuyết kinh

tế quốc dân được chia làm 3 nội dung: Lý thuyết kinh tế quốc dân; chính sách kinh

tế quốc dân; và khoa học tài chính Do vậy, khái niệm về khoa học BHXH được trình bày như là lý luận của chính sách xã hội, nó thuộc về khoa học tài chính Trong khuôn khổ của khoa học tài chính, người ta sẽ tìm kiếm sự can thiệp của nhà nước vào quá trình kinh tế hay các chu kỳ kinh tế

Từ phân tích nêu trên có thể khái niệm Khoa học BHXH như sau: Khoa học

BHXH là một bộ phận của khoa học xã hội, nó có nhiệm vụ nghiên cứu các giải pháp của Nhà nước được coi là con đường đầu tiên nhằm bảo đảm thu nhập của người lao động và các thành viên trong gia đình họ khi bị ốm đau, mất khả năng nghề nghiệp và sức khỏe sớm do tai nạn, khi tuổi già, khi người trực tiếp nuôi dưỡng chết hoặc bị thất nghiệp Đó là sự bảo đảm tồn tại của xã hội đối với người

Trang 30

lao động khi họ thiếu hụt điều kiện và khả năng lao động để có đủ thu nhập từ lao

động

5.2 Đặc điểm của khoa học BHXH

Khoa học BHXH là một dạng khoa học tổng hợp, nó nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học của nhiều lĩnh vực như: kinh tế, xã hội và các chuyên ngành khác

Khoa học BHXH nghiên cứu về kinh tế y tế nhưng nó nghiên cứu đến nội dung liên quan đến những yếu tố tác động đến quyền lợi của người tham gia BHYT như: hình thái lựa chọn ngược trong BHYT, các phương thức quản lý kinh tế đối với bệnh viện, đơn vị cung cấp các dịch vụ y tế, thuốc và các vật tư y tế và các hình thức thanh toán giữa quỹ BHYT với các đối tác đó Tương tự như vậy khoa học BHXH sẽ nghiên cứu việc sử dụng công cụ điều tiết của thị trường y tế nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ chủng loại, với chất lượng cao và giá cả hợp lý các dịch vụ y

tế, thuốc, vật tư y tế cho người tham gia BHYT

Khoa học BHXH nghiên cứu về bảo hiểm và kinh tế bảo hiểm, nhưng nó không đi sâu vào nhiều nội dung đa dạng của bảo hiểm và thị trường bảo hiểm như tính toán rủi ro, cung về bảo hiểm, hoạt động kinh doanh bảo hiểm…mà chỉ sử dụng các phương thức bảo hiểm, các kỹ thuật tính toán bảo hiểm, xác định rủi ro và vận dụng nó trên các nguyên tắc của BHXH để tiến hành các hoạt động bảo hiểm xã hội

Khoa học BHXH nghiên cứu về thị trường lao động nhưng nó không đi sâu vào nghiên cứu lý luận về thị trường lao động và nạn thất nghiệp, không nghiên cứu

về cung và cầu thị trường lao động, về tiền lương và thu nhập, về việc làm, về các nguyên nhân gây nên nạn thất nghiệp và hệ thống các chính sách việc làm và chính sách thị trường lao động mà xem xét các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến BHXH như: việc làm, thất nghiệp, tiền lương và thu nhập, tuồi lao động, tuổi nghỉ hưu…

để dựa vào đó tiến hành các chính sách BHXH và trực tiếp là chính sách bảo hiểm thất nghiệp

Trang 31

Khoa học BHXH nghiên cứu về kinh tế bảo hiểm nhưng nó chỉ nghiên cứu

về những nguyên tắc sử dụng trong hoạt động BHXH như: phải tuân thủ nguyên tắc

có đóng góp thì mới được hưởng thụ từ quỹ BHXH, nguyên tắc đoàn kết chia sẻ rủi

ro trong chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN và không tính đến sự tương quan thuần tuý giữa mức đóng và mức hưởng hoặc nguyên tắc tương quan không đầy đủ giữa mức đóng và mức hưởng trong chế độ hưu trí, tử tuất…nó cũng nghiên cứu về những rủi ro, xác suất rủi ro và tổn thất rủi ro đối với người lao động trong quá trình lao động nhưng trên phạm vi của một quốc gia và gắn kết trách nhiệm của Nhà nước

Khoa học BHXH nghiên cứu về dân số nhưng nó không nghiên cứu về các yếu tố tăng, giảm dân số mà nó dựa vào khoa học dân số để xem xét đến các yếu tố tác động đến BHXH Ví dụ một mô hình dân số trẻ (tháp dân số có hình tam giác nhọn- mô hình dân số ở các nước kém phát triển hoặc đang phát triển) sẽ hứa hẹn khả năng đông đảo người tham gia đóng góp BHXH, nhiều người lao động khoẻ, trẻ

ít bị ốm đau Nhưng ngược lại mô hình dân số già (mô hình tam giác ngược- mô hình này hiện đang phổ biến tại các nước công nghiệp phát triển) sẽ cảnh báo gánh nặng đóng góp BHXH của thế hệ đang làm việc phải đóng góp mức cao hơn để nuôi dưỡng và chăm sóc sức khoẻ cho các thế hệ trước đó Điều đó lại càng đáng lo ngại hơn đối với những nước sử dụng phương thức tài chính: chi đến đâu- thu đến

đó hay tọa thu tọa chi trong chế độ hưu trí và tử tuất Tương tự như vậy tuổi thọ của con người ngày càng cao, người ta phải xem xét nâng cao tuổi hưu trí cũng như nâng cao mức đóng góp nhất là đối với các nước thực hiện phương thức lập quỹ dài hạn đối với chế độ hưu trí và tử tuất

Khoa học BHXH nghiên cứu về tài chính thông qua hoạt động thu- chi và cân đối quỹ Tuy nhiên trong phạm vi cân đối quỹ, người ta không chỉ tính toán thuần tuý nghiệp vụ cân đối thuần tuý mà phải xem xét mức đóng góp cũng như mức chi trả theo mô hình của sự tăng trưởng nền kinh tế quốc dân và mức sống xã hội từng thời kỳ cũng như vai trò can thiệp kịp thời của Nhà nước khi nguồn quỹ mất cân đối điều đó được thể hiện thông qua sự điều tiết giữa các quỹ BHXH thành

Trang 32

phần khi một nguồn quỹ thành phần nào đó bị thâm hụt và thậm trí Nhà nước là người cuối cùng đứng ra chịu trách nhiệm chi trả các quyền lợi BHXH khi các nguồn quỹ lâm vào tình trạng cạn kiệt

Khoa học BHXH đương nhiên phải gắn liền với khoa học pháp luật bởi lẽ những kết quả nghiên cứu khoa học của BHXH khi đủ điều kiện ứng dụng trong thực tế phải được cụ thể hoá bằng các quy định và được thể chế hoá bằng pháp luật mới có sức mạnh thực hiện trong phạm vi cả nước Và cũng phải bằng các quy phạm pháp luật mới gắn kết trách nhiệm xã hội giữa các thế hệ với nhau trong một thể chế xã hội bền vững và liên tục phát triển

5.3 Nguồn Nhân lực KH&CN BHXH

Như đã trình bày ở trên đặc điểm của khoa học BHXH đó là một ngành khoa học tổng hợp nó vừa nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khác nhau cả về kinh tế, xã hội và các chuyên ngành khác Chính vì vậy hiện nay chưa có chuyên ngành cụ thể nào đào tạo chuyên sâu về BHXH Do đó nguồn nhân lực KH&CN phục vụ ngành BHXH chủ yếu là: Các sinh viên đã tốt nghiệp, những người đang công tác, giảng dạy tại các trường đại học, các viện nghiên cứu gần gũi với lĩnh vực BHXH gồm có:

- Sinh viên đã tốt nghiệp tại các trường đại học theo chuyên ngành kinh tế, chuyên ngành chăm sóc sức khoẻ, chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn, lao động xã hội thậm trí cả các chuyên ngành liên quan đến luật, quản lý hành chính…vv

- Các giảng viên hiện đang công tác giảng dạy tại các trường đại học theo các chuyên ngành nêu trên

- Những người đang làm việc, nghiên cứu tại các vụ, viện có liên quan đến BHXH chẳng hạn như : Viện nghiên cứu thuộc Bộ lao động thương binh & xã hội,

Bộ y tế, tổng cục thống kê, Bộ tài chính…vv

Kết luận Chương 1

Có thể khẳng định rằng các tổ chức xã hội nói chung, và các tổ chức nghiên cứu khoa học nói riêng chỉ thực hiện tốt được sứ mệnh của mình khi các tổ chức

Trang 33

này thành công trong việc thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn lực con người Qua nghiên cứu khái niệm tổ chức, cấu trúc tổ chức, tổ chức theo dự án, chúng tôi nhận thấy, tổ chức dự án theo cấu trúc ma trận có tính khả thi cao trong điều kiện nền kinh tế thị trường, phù hợp với đặc điểm nhân lực KH&CN, thuận lợi cho việc thu hút các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia có trình độ cao tham gia vào các dự án nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu lý thuyết di động xã hội không kèm theo di cư và di động kèm theo di cư thì giải pháp thu hút nhân lực KH&CN thông qua dự án phù hợp với lý thuyết di động xã hội, khắc phục được sự cứng nhắc, thiếu mềm dẻo của các tổ chức nghiên cứu khoa học vận hành theo cơ chế quan liêu đồng thời giải quyết được sự thiếu hụt về nhân lực KH&CN trong các tổ chức nghiên cứu khoa học hiện nay

Trang 34

CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG THU HÚT NHÂN LỰC KH&CN

CỦA VIỆN KHOA HỌC BHXH

1 Hiện trạng hoạt động KH&CN của Viện Khoa học BHXH Việt Nam

1.1 Chức Năng nhiệm vụ của Viện khoa học BHXH Việt Nam

Viện Khoa học BHXH (sau đây gọi tắt là Viện) là đơn vị sự nghiệp trực thuộc BHXH Việt Nam, có chức năng giúp Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam (sau đây gọi tắt là Tổng giám đốc) tổ chức, quản lý và triển khai các hoạt động khoa học về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp (sau đây gọi chung là bảo hiểm xã hội) để ứng dụng vào hoạt động của Bảo hiểm xã hội Việt nam, Viện có nhiệm vụ sau5:

- Thực hiện nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược phát triển Bảo hiểm

xã hội Việt Nam và nghiên cứu ứng dụng về bảo hiểm xã hội

- Xây dựng chương trình, kế hoạch nghiên cứu khoa học ngắn hạn, dài hạn nhằm đáp ứng yêu cầu, mục tiêu và phương hướng phát triển của Bảo hiểm xã hội Việt Nam; tổ chức triển khai thực hiện chương trình, kế hoạch được phê duyệt

- Tổ chức triển khai, đánh giá việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học và những tiến bộ khoa học, công nghệ vào các hoạt động bảo hiểm xã hội trên phạm vi toàn quốc

- Quản lý, hướng dẫn các hoạt động nghiên cứu khoa học trong toàn ngành;

- Tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học; thực hiện nhiệm vụ thường trực Hội đồng khoa học Bảo hiểm xã hội Việt Nam

- Tổ chức triển khai các dự án đầu tư nghiên cứu khoa học; tổ chức đấu thầu các đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước

- Tổ chức thu thập dữ liệu, điều tra thống kê, phân tích dự báo tình hình hoạt động của ngành; phối hợp với các đơn vị có liên quan thực hiện tính toán dự báo cân đối quỹ bảo hiểm xã hội

5 Quyết định 5118/QĐ-BHXH ngày 8 tháng 12 năm 200 của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam, ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của Viện khoa học BHXH

Trang 35

- Hợp tác, liên kết hoạt động khoa học về lĩnh vực bảo hiểm xã hội với các

cơ quan, tổ chức trong nước và ngoài nước theo quy định của Tổng giám đốc; Biên dịch tài liệu khoa học phục vụ hoạt động của ngành

- Liên kết đào tạo trình độ

sau đại học thuộc chuyên ngành bảo hiểm xã hội sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt; tham gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam

- Thực hiện công tác thông tin khoa học và xuất bản các ấn phẩm khoa học theo quy định của pháp luật

1.2 Cấu trúc của Viện Khoa học BHXH

1.2.1 Cơ cấu tổ chức của viện khoa học BHXH

Cơ cấu tổ chức của Viện khoa học BHXH gồm Ban lãnh đạo và 03 phòng chức năng

Phòng quản lý và thông tin khoa học:

Phòng quản lý và thông tin khoa học là đơn vị trực thuộc Viện, có chức năng giúp Viện trưởng quản lý các hoạt động khoa học của ngành, của Viện; tổ chức công tác tư liệu thư viện, thông tin và phát hành các ấn phẩm khoa học

- Xây dựng định hướng nghiên cứu khoa học hàng năm của toàn ngành gửi các đơn vị trong ngành làm cơ sở lựa chọn đề tài nghiên cứu

- Lập dự toán kinh phí hoạt động khoa học hàng năm; phân bổ và kiểm tra, giám sát kinh phí sau khi đã được duyệt Phối hợp với phòng hành chính tổng hợp tiến hành cấp kinh phí nghiên cứu cho các chủ nhiệm, chủ biên các đề tài, chuyên

đề nghiên cứu khoa học theo chế độ quy định

- Tổ chức thẩm định đề cương đề tài; thẩm định kết quả nghiên cứu của từng

đề tài; giải quyết các thủ tục để thanh lý đề tài theo đúng quy định của Nhà nước

- Hướng dẫn nội dung, phương pháp nghiên cứu khoa học cho cán bộ, công chức, viên chức trong ngành; giúp Viện trưởng tổ chức và chuẩn bị tài liệu các cuộc họp Hội đồng khoa học và Hội đồng nghiệm thu đánh giá kết quả nghiên cứu của các đề tài, chuyên đề

Trang 36

- Tổ chức, đôn đốc, theo dõi tình hình thực hiện chương trình, kế hoạch nghiên cứu khoa học đã được phê duyệt

- Tổ chức các cuộc hội thảo đề cương chi tiết và hội thảo kết quả báo cáo tổng hợp của các đề tài nghiên cứu khoa học trước khi có hội nghị nghiệm thu chính thức

- Soạn thảo các văn bản thuộc nhiệm vụ quản lý khoa học của Viện để Viện trưởng ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Tổng giám đốc ban hành

- Cập nhật, khai thác, lưu trữ thông tin về bảo hiểm xã hội và tổ chức thông tin các vấn đề về bảo hiểm xã hội trong nước và nước ngoài phục vụ cho công tác nghiên cứu

- Tổ chức lưu trữ các đề tài nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu và trực tiếp quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học để phục vụ công tác nghiên cứu khoa học

- Thực hiện biên dịch hoặc chuẩn bị cho Viện trưởng ký kết hợp đồng dịch thuật các tài liệu về an sinh xã hội từ tiếng nước ngoài ra tiếng việt

- Biên tập và xuất bản thông tin nghiên cứu khoa học trên cơ sở các kết quả nghiên cứu và phát hành các ấn phẩm khoa học có liên quan

Phòng Nghiên cứu dự báo:

Phòng nghiên cứu- dự báo là đơn vị trực thuộc viện, có chức năng giúp Viện trưởng nghiên cứu, dự báo khoa học các hoạt động của Bảo hiểm xã hội Việt Nam

- Nghiên cứu xây dựng chương trình, kế hoạch nghiên cứu khoa học, ngắn hạn và dài hạn, bao gồm: Chương trình hoạt động khoa học của ngành; các đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, cấp bộ, cấp cơ sở; chương trình nghiên cứu thường xuyên; các hoạt động thông tin khoa học, hợp tác khoa học

- Xây dựng kế hoạch, nội dung và chủ trì tổ chức hội thảo khoa học theo các chuyên đề thuộc lĩnh vực hoạt động của bảo hiểm xã hội

- Xây dựng các kế hoạch và tổ chức hợp tác, liên kết các hoạt động khoa học

về lĩnh vực bảo hiểm xã hội với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong nước và

Trang 37

ngoài nước; tập hợp và liên kết cán bộ khoa học trong và ngoài ngành nhằm tiến hành các hoạt động khoa học trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội

- Triển khai nghiên cứu chiến lược phát triển bảo hiểm xã hội ở nước ta theo từng thời kỳ phù hợp với tình hình phát triển kinh tế- xã hội

- Tham gia nghiên cứu và triển khai thực hiện các chuyên đề, đề tài, dự án khoa học thuộc lĩnh vực bảo hiểm xã hội; phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng nội dung chương trình nghiên cứu, học tập kinh nghiệm thực hiện bảo hiểm xã hội ở nước ngoài

- Thu thập số liệu thống kê của các ngành, lĩnh vực liên quan trong và ngoài nước phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, dự báo

- Chủ trì phối hợp với các đơn vị trong và ngoài ngành thực hiện việc tính toán quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp của ngành

- Tham gia, liên kết đào tạo trình độ sau đại học thuộc Chuyên ngành bảo hiểm xã hội

- Tổ chức triển khai, đánh giá việc ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội trên phạm vi toàn quốc

Phòng hành chính - tổng hợp::

Phòng hành chính - tổng hợp là đơn vị trực thuộc Viện, có chức năng giúp Viện trưởng quản lý công tác tổ chức, hành chính, quản trị, tài chính và phục vụ các hoạt động khoa học của ngành

- Giúp Viện trưởng xây dựng chương trình, kế hoạch công tác của Viện và đôn đốc thực hiện chương trình, kế hoạch được phê duyệt

- Tham mưu đề xuất với Viện trưởng về công tác tổ chức, cán bộ của Viện, tuyển dụng, sử dụng, phân công nhiệm vụ cho công chức, viên chức và thực hiện các chế độ, chính sách của Nhà nước, của Bảo hiểm xã hội Việt Nam đối với cán

bộ, công chức, viên chức trong Viện theo phân cấp

- Thực hiện chế độ báo cáo thường kỳ, kiểm kê tài sản, tiếp nhận, phân phối

và quản lý công văn, quản lý và sử dụng con dấu của Viện theo quy định

Trang 38

- Tổ chức mua sắm, sửa chữa, quản lý, sử dụng và bảo vệ tài sản thuộc quyền quản lý của Viện

- Thực hiện các nghiệp vụ kế toán, thống kê và báo cáo quyết toán đối với các hoạt động tài chính củaViện

- Thực hiện thanh toán các khoản chi quản lý bộ máy của Viện và kinh phí nghiên cứu khoa học cho các chủ nhiệm đề tài, chuyên đề khoa học theo đúng chế

độ kế toán hiện hành sau khi được phê duyệt

- Quản lý tài chính của Viện theo quy định của Nhà nước

- Tổng hợp, soạn thảo văn bản thuộc chức năng nhiệm vụ của Viện để Viện trưởng ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Tổng giám đốc ban hành

1.2.2 Chế độ quản lý và điều hành của Viện Khoa học BHXH

Viện do Viện trưởng quản lý và điều hành theo chế độ thủ trưởng Viện trưởng chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về toàn bộ hoạt động của Viện

Viện trưởng ban hành quy định về việc phân công nhiệm vụ, mối quan hệ công tác và lề lối làm việc của Viện; đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện quy định đó

Phòng do Trưởng phòng quản lý, điều hành theo chế độ thủ trưởng Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về toàn bộ hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của phòng

Trưởng phòng trực tiếp quản lý và phân công nhiệm vụ đối với công chức, viên chức của phòng; đôn đốc, kiểm tra công chức, viên chức thực hiện quy chế làm việc của Viện

Công chức, viên chức của các phòng chịu trách nhiệm trước trưởng phòng,Viện trưởng về nhiệm vụ được giao theo chức danh

1.3 Nhân lực KH&CN của Viện khoa học BHXH

Tổng số: Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ của Viện khoa học BHXH hiện nay (năm 2009) là: 14 người ( tại thời điểm năm 2005 tổng số cán bộ cả biên chế và hợp đồng của Viện là 25 người trong đó có 4 tiến sỹ; 2 thạc sỹ; 8 cử nhân vv.)

Trang 39

Phân theo trình độ đào tạo:

Số người có trình độ tiến sỹ là: 2 người chiếm 14,28% tổng số

Số người có trình độ thạc sỹ là: 6 người chiếm 42,86 % tổng số

Số người có trình độ đại học là: 5 người chiếm 35,71% tổng số

Số người có trình độ cao đẳng là: 01 người chiếm 7,1% tổng số

Phân theo độ tuổi:

Độ tuổi dưới 25 có 0 người, bằng 0 % tổng số

Độ tuổi từ 25 - 29 có 01 người bằng 7,1 % tổng số

Độ tuổi dưới 30 - 34 tuổi có 02 người, bằng 14,8 % tổng số

Độ tuổi từ 35 - 39 tuổi có 04 người bằng 28,6 %

Độ tuổi từ 40 - 44 tuổi có 03 người, bằng 21,4 % tổng số

Độ tuổi từ 45 đến 49 có 01 người, bằng 7,1%

Độ tuổi từ 50 – 54 tuổi có 01 người, bằng 7,1% tổng số

Độ tuổi từ 55 - 59 tuổi có 02 người, bằng 14,8 % tổng số

Qua số liệu cho thấy độ tuổi cán bộ nghiên cứu trẻ còn rất hạn chế so với nhóm tuổi còn lại Qua đó chứng tỏ việc thu hút đội ngũ cán bộ nghiên cứu trẻ của Viện đang gặp nhiều khó khăn

Phân theo giới tính

Trong tổng số 14 nhân lực KHCN của Viện hiện nay, trong đó nam có 05 người chiếm 35,7 % tổng số, nữ là 09 người chiếm 64,3% tổng số được phân ra như sau6:

- Trình độ tiến sỹ có 02 người, trong đó nam là 02 người chiếm 100%; nữ 0 người 0 % tổng số tiến sỹ

- Trình độ thạc sỹ có 06 người, trong đó nam là 02 người chiếm 33%, nữ là

Trang 40

Qua số liệu cho thấy cán bộ nữ của Viện chiếm tỷ lệ cao cả về mặt số lượng

và trình độ đào tạo (chiếm 64,3%) trong tổng số, tập trung chủ yếu ở trình độ đại học (100%) và trình độ thạc sỹ (67%) Điều đó chứng tỏ đội nghũ cán bộ nghiên cứu có trình độ là nam giới của viện có xu hướng giảm dần

Phân theo chuyên ngành đào tạo và giới tính

Trong số 14 nhân lực KH&CN của Viện Khoa học BHXH được phân bổ theo các ngành đào tạo Trong các chuyên ngành học thì trình độ đại học và thạc sỹ chiếm ưu thế, còn trình độ tiến sỹ chiếm tỷ lệ còn thấp Trong đó chuyên ngành đào tạo kinh tế và quản lý chiếm số lượng nhiều nhất, tỷ lệ cán bộ nữ trong ngành này cũng chiếm tỷ trọng cao Còn các ngành như Khoa học xã hội & Nhân văn; sức khoẻ, chăm sóc gia đình và xã hội chiếm tỷ lệ rất nhỏ Số liệu cụ thể như sau:

Cơ cấu (%)

Cơ cấu (%)

Cơ cấu (%)

Cơ cấu (%)

Cơ cấu (%)

0

0

7.1 7,1

0

0

7,1 7,1

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:35

w