Việc nghiên cứu các điều luật trong Quốc triều hình luật để hiểu được tư tưởng xây dựng, tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê sơ, hiểu được những vấn đề về việc xây dựng, củng cố và hoàn th
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ LUÂN
TƯ TƯỞNG XÂY DỰNG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC
THỜI LÊ SƠ (QUA QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60.22.03.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thanh Bình
Hà Nội - 2014
Trang 33
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 7
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 12
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 12
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
6 Đóng góp của luận văn 13
7 Kết cấu của luận văn 13
NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TƯ TƯỞNG XÂY DỰNG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC THỜI LÊ SƠVÀ QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT 14
1.1 Cơ sở lý luận 14
1.1.1 Nho giáo 14
1.1.2 Phật giáo 18
1.1.3 Pháp gia 20
1.1.4 Giá trị truyền thống của dân tộc 25
1.2 Cơ sở thực tiễn và vai trò của Lê Thánh Tông 29
1.2.1 Bối cảnh Việt Nam thế kỷ XV 29
1.2.2 Những thành tựu và hạn chế trong việc xây dựng bộ máy nhà nước phong kiến trước thời Lê sơ 34
1.2.3 Tính tất yếu của việc xây dựng bộ máy nhà nước dưới triều đại Lê Thánh Tông 41
1.2.4 Vai trò chủ quan của Lê Thánh Tông 45
1.3 Kết cấu và nội dung khái quát của Quốc triều hình luật 49
CHƯƠNG 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG XÂY DỰNG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC THỜI LÊ SƠQUA QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT 54
Trang 44
2.1 Quan niệm về vị trí, vai trò của nhà vua trong bộ máy nhà nước 54
2.2 Trách nhiệm và phẩm chất của đội ngũ quan lại trong bộ máy nhà nước 61
2.2.1 Trách nhiệm của đội ngũ quan lại 62
2.2.2 Những phẩm chất đạo đức của đội ngũ quan lại 71
2.3 Phương thức chủ yếu xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước 74
2.3.1 Kết hợp đức trị và pháp trị 74
2.3.2 Phòng, chống tham ô, tham nhũng trong bộ máy nhà nước 87
2.3.3 Cơ chế kiểm tra, giám sát quyền lực 91
2.4 Những giá trị và hạn chế của tư tưởng xây dựng bộ máy nhà nước thời Lê sơ qua Quốc triều hình luật 96
2.4.1 Những giá trị của tư tưởng xây dựng bộ máy nhà nước thời Lê sơ qua Quốc triều hình luật 97
2.4.2 Những hạn chế của tư tưởng xây dựng bộ máy nhà nước thời Lê sơ qua Quốc triều hình luật 103
Tiểu kết chương 2 106
KẾT LUẬN 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 5Ở Việt Nam, nhà nước phong kiến tồn tại nhiều thế kỷ với các vương triều khác nhau Trong lịch sử hình thành và phát triển chế độ phong kiến Việt Nam nói chung cũng như trong công cuộc kiến tạo, phát triển chế độ phong kiến nói riêng, có thể nói, triều đại thịnh trị nhất của lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam là triều đại Lê sơ, đặc biệt dưới thời trị vì của vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) Đây được coi là triều đại thịnh trị nhất vì nó thỏa mãn ba yếu tố: có một vị vua minh quân, hệ thống quan lại có tài có đức và có một hệ thống pháp luật nghiêm minh trong việc cai trị và quản lý xã hội
Gắn liền với nhà nước là pháp luật Pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, cầm quyền Nhà nước và pháp luật là những bộ phận của kiến trúc thượng tầng có quan hệ mật thiết, không tách rời nhau Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự, do nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận), bảo đảm thực hiện và thể hiện ý chí, quyền lực của giai cấp thống trị Nó là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, có vai trò quan trọng trong việc điều hành và quản
lý xã hội
Nhằm triển khai hoạt động của bộ máy nhà nước, giai cấp thống trị cầm quyền rất chú trọng tới việc xây dựng và thực thi pháp luật, duy trì trật tự, kỷ cương và sự ổn định của xã hội bằng sự nghiêm minh của pháp luật kết hợp với những chuẩn mực, quy phạm đạo đức Nhiều bộ luật lớn đã ra đời và đóng
Trang 66
vai trò quan trọng trong việc trị quốc, an dân Những bộ luật ấy không chỉ có
ý nghĩa đương thời mà còn có giá trị to lớn trong thời đại ngày nay
Một trong những bộ luật có nhiều giá trị nhất thời kì phong kiến Việt
Nam phải kể đến Quốc triều hình luật (hay còn gọi là Luật hình triều Lê, Luật
Hồng Đức) Đây là bộ luật chính thống và quan trọng nhất của triều đại nhà
Lê ở nước ta (1428 - 1527) Bộ luật thể hiện sự sáng tạo, tự chủ và ý thức dân tộc; kế thừa tính chất thân dân trong pháp luật thời Lý - Trần, thể hiện bản sắc
và tinh thần dân tộc Việt
Quốc triều hình luật đã trở thành đối tượng quan tâm của nhiều nhà
khoa học ở nhiều lĩnh vực với nhiều mục đích khác nhau Bộ luật hội tụ nhiều đặc điểm, phương diện của một cơ chế nhà nước tương đối hoàn bị và tiến bộ,
nó đã trở thành đề tài được nhiều học giả nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh, nhưng chủ yếu dựa trên mặt lập pháp; còn dưới góc độ tư tưởng thì bộ luật
chưa được nghiên cứu nhiều Việc nghiên cứu các điều luật trong Quốc triều
hình luật để hiểu được tư tưởng xây dựng, tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê
sơ, hiểu được những vấn đề về việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện hệ thống quan lại trong bộ máy nhà nước phong kiến thời Lê sơ, từ đó rút ra được những điểm tiến bộ, ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước ta hiện nay… là vấn đề vô cùng cần thiết
Sau gần 30 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đất nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể trong nhiều lĩnh vực, nhiều mặt của đời sống xã hội Tuy nhiên, việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước còn nhiều bất cập, đó là sự quản lý lỏng lẻo, thiếu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, bộ máy nhà nước còn cồng kềnh thiếu khoa học, sự suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ nhà nước, tình trạng lợi dụng chức quyền… gây nhiều bức xúc trong xã hội ta hiện nay Điều đó đặt ra yêu cầu
Trang 77
đối với hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước phải kiện toàn hơn nữa về cơ chế
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
Hiện nay, chúng ta đang xây dựng nhà nước ta là nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhà nước của dân, do dân, vì dân Đó là nhà nước hoạt động trên tinh thần pháp luật, đề cao pháp luật, quyền lực của nhân dân được thể chế hóa thành pháp luật và pháp luật trở thành công cụ để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Trước yêu cầu đó, một trong những vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn là phải tiếp thu và kế thừa nhiều bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng, chỉ đạo hoạt động của bộ máy nhà nước cũng như trong việc xây dựng và thực thi pháp luật của cha ông ta trong lịch sử,
đặc biệt là phải kế thừa những giá trị to lớn của Quốc triều hình luật trong
việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Việc nghiên cứu tư tưởng xây dựng bộ máy nhà nước thời Lê sơ qua Quốc
triều hình luật không chỉ cho ta thấy tư tưởng và cách thức tổ chức bộ máy
nhà nước thời phong kiến mà còn cho ta thấy giá trị của nó đối với việc xây dựng bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay Xuất phát từ những lý do trên,
chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tư tưởng xây dựng bộ máy nhà nước thời Lê sơ
(qua Quốc triều hình luật)” để thực hiện luận văn thạc sĩ triết học của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu tư tưởng và thực tiễn xây dựng, hoàn thiện bộ máy nhà nước phong kiến Việt Nam thời Lê sơ cũng như nghiên cứu
Quốc triều hình luật được nhiều học giả quan tâm và nghiên cứu dưới nhiều
góc độ và mục đích khác nhau Liên quan đến đề tài của luận văn, chúng ta có thể phân ra thành các phương diện với những công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây:
Thứ nhất, những nghiên cứu về bộ máy nhà nước phong kiến thời Lê sơ
Trang 88
Cuốn sách Mười cuộc cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam
của tác giả Văn Tạo đã dành 40 trang viết về cuộc cải cách hành chính thời Lê Thánh Tông, trong đó có đề cập đến vấn đề xây dựng nhà nước phong kiến thịnh trị thời Lê Thánh Tông Về vấn đề này, tác giả đã trình bày khá chi tiết yêu cầu lịch sử, các hoạt động cải cách cụ thể của Lê Thánh Tông như: phân cấp quản lý đất đai, xây dựng cơ cấu tổ chức hành chính, xây dựng đội ngũ quan lại, định rõ quy tắc vận hành của bộ máy hành chính, ban hành hình luật,…
Năm 2002, trong cuốn Tìm hiểu tư tưởng chính trị Nho giáo Việt Nam
từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh của Nguyễn Hoài Văn, tác giả đã đi sâu
phân tích những đóng góp của Lê Thánh Tông trong việc vận dụng, phát triển Nho giáo thành hệ tư tưởng chính trị chính thống, sử dụng nó trong việc cai trị đất nước, đào tạo và xây dựng đội ngũ quan lại đáp ứng yêu cầu của sự phát triển đất nước nửa cuối thế kỷ XV
Hội thảo kỷ niệm 500 năm ngày mất của Lê Thánh Tông: Lê Thánh
Tông (1442 - 1497): con người và sự nghiêp do trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) tổ chức năm 1997, đã có nhiều tác giả bàn về đường lối trị nước và các chính sách của nhà nước phong kiến Việt Nam dưới thời Lê Thánh Tông trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và an ninh - quốc phòng Trong đó có một số chuyên đề đáng chú ý như:
Về đường lối trị nước của Lê Thánh Tông của PGS Nguyễn Thừa Hỷ,
tác giả khẳng định, nét nổi bật trong đường lối trị nước của vua Lê Thánh Tông là sự tăng cường vai trò toàn năng của nhà vua trong việc điều hành một nhà nước mạnh cực quyền toàn trị Để tăng cường quyền lực của nhà vua và nhà nước, Lê Thánh Tông đã kết hợp sử dụng lễ giáo với hình pháp nghiêm khắc để cai trị đất nước
Trang 99
Cùng nằm trong chủ đề xây dựng vương triều, GS Nguyễn Tài Thư có
bài Tư tưởng Lê Thánh Tông và triều đại thịnh trị của ông Bài viết nhấn
mạnh, nguyên nhân chủ quan làm nên thành công của Lê Thánh Tông là ý thức phấn đấu cho sự giàu mạnh của đất nước, niềm tin vào sức mạnh con người, tin tưởng vào sự hưng thịnh của triều đại mình dựa trên đường lối trị nước đúng đắn
Các bài viết đã giúp ta hiểu phần nào về đường lối trị nước, tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến thời Lê sơ
Bên cạnh đó, trong bài viết đăng trong Tạp chí Triết học: Vấn đề xây
dựng bộ máy nhà nước pháp quyền ở Việt Nam thời Lê sơ qua Quốc triều hình luật của tác giả Nguyễn Thanh Bình, tác giả đã lý giải về việc xây dựng,
hoàn thiện đội ngũ quan lại, người có chức có quyền, về mối quan hệ giữa nhà nước với dân, trách nhiệm của nhà nước đối với dân được thể hiện trong bộ
Quốc triều hình luật
Nghiên cứu về triều đại Lê Thánh Tông, bên cạnh các tác phẩm trong nước, chúng ta còn thấy nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Nhà sử học Whitmove (Mỹ), F.Riichiro (Nhật Bản) P.Langlet (Pháp), E.O.Berzin (Nga) đã lấy cơ cấu tổ chức nhà nước Lê sơ làm đề tài nghiên cứu Khi tìm hiểu bộ máy nhà nước dưới thời Lê Thánh Tông, nhà sử học E.O.Berzin đánh giá đây là bộ máy nhà nước “có trình độ chuyên môn cao hơn hẳn so với các nước khác ở khu vực Đông Nam Á và thậm chí ngay cả ở phương Tây thời trung cổ cũng không biết tới một chính quyền với các cơ quan chức năng hoàn chỉnh đến như vậy” [55, tr 205]
Qua các công trình, bài viết có liên quan về tư tưởng xây dựng bộ máy nhà nước thời Lê sơ, có thể thấy, tư tưởng về nhà nước, bộ máy nhà nước là vấn đề được nhiều người nghiên cứu, tìm hiểu Nhưng đi sâu nghiên cứu về tư
tưởng xây dựng bộ máy nhà nước thời Lê sơ thì chưa có nhiều
Trang 1010
Thứ hai, nghiên cứu về Hoàng đế Lê Thánh Tông
Triều đại Lê sơ, nhất là dưới thời Lê Thánh Tông trị vì, là giai đoạn tiêu biểu trong lịch sử phong kiến Việt Nam truyền thống Lê Thánh Tông là một trong những vị vua anh minh, có nhiều đóng góp về mặt tư tưởng chính trị
cũng như trong thực tiễn cai trị đất nước Trong cuốn Lịch sử tư tưởng Việt
Nam, (Tập I) do GS.TS Nguyễn Tài Thư chủ biên, các tác giả đã dành chương
XIV để bàn về thế giới quan, tư tưởng chính trị - xã hội và đường lối trị nước của Lê Thánh Tông
Cuốn Hoàng đế Lê Thánh Tông nhà chính trị tài năng, nhà văn hóa lỗi
lạc, nhà thơ lớn của Nguyễn Huệ Chi đã có những nghiên cứu, đánh giá về
công lao to lớn của vua Lê Thánh Tông trong nhiều lĩnh vực khác nhau, tiêu biểu về chính trị, văn hóa và thơ văn
Tác giả Lê Đức Tiết trong cuốn Lê Thánh Tông vị vua anh minh,
nhà canh tân xuất sắc đã đánh giá vai trò và công lao của Lê Thánh Tông
trong thời gian ông trị vì đất nước (1460 - 1497), nhất là công cuộc cải cách hành chính, pháp luật, xây dựng pháp quyền dựa vào sức dân của Đại Việt Tác giả nhận định, với sự sáng suốt, anh minh của mình, Lê Thánh Tông đã tạo nên thời kỳ hoàng kim của đất nước và được các triều thần tôn là “đại minh quân”
Ngoài ra còn có các bài viết như: Lê Thánh Tông: nhà chính trị tài
năng, nhà văn hóa lớn của Nguyễn Duy Quý; Hệ tư tưởng thời Lê và vai trò của nó trong quản lý xã hội của tác giả Nguyễn Thị Tuyết… đều nói về vai
trò của Lê Thánh Tông trong các vấn đề cụ thể
Thứ ba, những nghiên cứu về Quốc triều hình luật
Trước hết là công trình Sơ thảo lịch sử Nhà nước và pháp quyền Việt
Nam của tác giả Đinh Gia Trinh Tại chương II, phần II, tác giả đã đề cập đến
hoạt động lập pháp của triều đại Lê sơ, trong đó có Quốc triều hình luật
Trang 1111
Thông qua việc đánh giá toàn diện về lịch sử nhà nước và pháp quyền Việt Nam thế kỷ XV, công trình nghiên cứu này đã phân tích và làm sáng tỏ một
số nội dung cơ bản và tiến bộ của Quốc triều hình luật
Năm 2004, công trình chuyên khảo Quốc triều hình luật, lịch sử hình
thành, nội dung và giá trị do Lê Thị Sơn chủ trì thực hiện đã được công bố
Đây là chuyên khảo với 16 bài nghiên cứu của nhiều tác giả bàn về nội dung
và hình thức của Quốc triều hình luật Đặc biệt công trình đã phân tích sâu những giá trị lịch sử của Quốc triều hình luật
Bên cạnh đó, có các công trình nghiên cứu như cuốn Giáo trình lịch sử
nhà nước và pháp luật Việt Nam của tác giả Vũ Thị Phụng, Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII của tác giả Insun Yun… Những tài liệu đó đã
đưa ra một cái nhìn tổng quát về diện mạo tư tưởng và pháp luật thời đại Lê
sơ Các tác giả đã làm nổi bật được các giá trị của bộ luật thời Lê trên nhiều khía cạnh, đặc biệt là phương diện lập pháp
Ngoài ra còn một số bài đăng ở một số Tạp chí khoa học khác như:
Những giá trị tích cực của Nho giáo trong Bộ luật Hồng Đức của tác giả
Nguyễn Minh Tuấn; Một số nội dung và giá trị cơ bản về quyền con người
trong Quốc triều hình luật và Vấn đề phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều hình luật của tác giả Nguyễn Thanh Bình; Khía cạnh quyền con người, quyền công dân và quản lý nhà nước trong bộ Quốc triều hình luật của tác giả
Cao Quốc Hoàng; Về một đặc điểm của Nho giáo thời Lê thông qua quan
niệm trung, hiếu trong Quốc triều hình luật của Trần Thị Thúy Ngọc… Các
bài viết này không những đề cập đến nhiều khía cạnh trong Quốc triều hình
luật mà còn chỉ ra những đóng góp to lớn của bộ luật trên một số vấn đề về
quyền con người, về quản lý nhà nước, ổn định xã hội… Đồng thời, các bài viết cũng đã chỉ ra ý nghĩa và giá trị đương đại của bộ luật
Nhìn chung, liên quan đến hướng nghiên cứu về xây dựng bộ máy nhà
nước thời Lê sơ, về vị vua anh minh Lê Thánh Tông và Quốc triều hình luật
Trang 1212
có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau với nội dung phong phú từ nhiều khía cạnh, từ lĩnh vực về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, đến lĩnh vực pháp luật… Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về tư tưởng
xây dựng bộ máy nhà nước qua Quốc triều hình luật, chưa chỉ ra được những
giá trị to lớn và hạn chế chủ yếu của tư tưởng này trong việc xây dựng, hoàn thiện bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích: Làm rõ tư tưởng xây dựng bộ máy nhà nước thời Lê sơ qua Quốc triều hình luật, từ đó đưa ra những giá trị nổi bật và hạn chế chủ yếu
của tư tưởng này
* Nhiệm vụ:
- Phân tích cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của tư tưởng xây dựng bộ
máy nhà nước thời Lê sơ và Quốc triều hình luật
- Phân tích làm sáng tỏ những nội dung cơ bản trong tư tưởng xây
dựng bộ máy nhà nước thời Lê sơ qua Quốc triều hình luật
- Chỉ ra những giá trị nổi bật và hạn chế chủ yếu của tư tưởng xây
dựng bộ máy nhà nước thời Lê sơ qua Quốc triều hình luật
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: phương pháp logic - lịch
sử, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu…
Trang 1313
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tư tưởng xây dựng bộ máy nhà nước thời Lê sơ qua Quốc triều hình luật
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là bộ Quốc triều hình luật (hay
Luật Hồng Đức) và bối cảnh lịch sử tác động đến sự ra đời của bộ luật
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách hệ thống về tư tưởng xây
dựng bộ máy nhà nước phong kiến thời Lê sơ thể hiện trong Quốc triều hình
luật và bước đầu chỉ ra những giá trị và hạn chế của tư tưởng này
Luận văn có thể làm tài liệu học tập, nghiên cứu về Nho giáo Việt Nam, lịch sử tư tưởng Việt Nam và lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phần Nội dung của luận văn bao gồm 2 chương 7 tiết
Trang 1414
NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA
TƯ TƯỞNG XÂY DỰNG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC THỜI LÊ SƠ
VÀ QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT
1.1 Cơ sở lý luận
Tư tưởng xây dựng bộ máy nhà nước thời Lê sơ và Quốc triều hình luật
được hình thành xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn nhất định Cơ sở lí luận của tư tưởng ấy là sự kế thừa tư tưởng của nhiều học thuyết triết học, trong
đó, nổi bật là Nho giáo, Phật giáo, Pháp gia và các giá trị truyền thống của dân tộc
1.1.1 Nho giáo
Nho giáo là học thuyết chính trị - xã hội của Trung Quốc, du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và ảnh hưởng khá lớn đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và con người, đặc biệt dưới thời trị vì của vua Lê Thánh Tông, khi Nho giáo chiếm vị trí độc tôn Những tư tưởng của Nho giáo có ảnh hưởng trực tiếp tới việc hình thành tư tưởng xây dựng bộ máy nhà nước thời
Lê sơ và Quốc triều hình luật, biểu hiện cụ thể ở một số nội dung:
Thứ nhất, tư tưởng tôn quân quyền và bảo vệ hoàng tộc
Nho giáo đặc biệt đề cao địa vị và uy quyền của nhà vua, như Khổng
Tử nói: “Phàm người ta đã quần tụ với nhau thành xã hội thì tất phải có quyền tối cao để giữ kỷ cương cho đoàn thể Cái quyền ấy gọi là quân quyền, tức là quyền chủ tể cả một nước” [29, tr 155] Theo tư tưởng của Nho giáo, quân quyền phải để một người giữ cho rõ cái mối thống nhất (thường được gọi là vua) Vua phải lo việc trị nước, tức là chăm lo đời sống vật chất, dạy dỗ và
mở mang cho dân Vua còn được coi là thiên tử, là con trời Vua thay trời hành đạo, được trời trao cho cái quyền tối cao ấy nhưng mệnh trời chỉ trao
Trang 1515
cho những ai làm điều lành, tránh điều ác, vì vậy người làm vua không được lạm dụng uy quyền và thế lực ấy mà làm điều tàn bạo Liên quan đến đặc quyền đối với vua là đặc quyền đối với họ hàng, hoàng tộc của vua, họ được hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi thuộc giới hoàng thân quốc thích, được học tập, thi cử rồi làm quan dưới triều vua trị vì… Có thể nói, tư tưởng Nho giáo
đề cao quyền lợi của giai cấp quý tộc, người quân tử đối lập với kẻ tiểu nhân, bần hàn
Thứ hai, học thuyết về đạo đức của Nho giáo
Đạo đức Nho giáo thể hiện tập trung trong những mối quan hệ cơ bản (Tam cương) với 5 đức chủ yếu (Ngũ thường) Nho giáo đưa ra các phạm trù Tam cương, Ngũ thường, Tam tòng, Tứ đức làm chuẩn mực cho mọi hành động của con người trong xã hội Tam cương và Ngũ thường là lẽ đạo đức mà mọi người phải theo Tam tòng và Tứ đức là lẽ đạo đức mà người phụ nữ phải theo Những tiêu chuẩn đạo đức của Nho giáo nhằm đánh giá về một con người, hướng đến mẫu người lý tưởng, mẫu mực về mọi mặt để “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”
Thứ ba, những tiêu chuẩn về mặt đạo đức của nhà vua, người cầm quyền
Vua là người có uy quyền cao nhất, giúp việc cho nhà vua là hệ thống quan lại Quan là những người có đức có tài được lựa chọn ra để giúp vua trị nước, trị dân Một nước trị hay loạn là do ở vua và quan giỏi hay bất tài, bất đức Bởi vậy mà người cầm quyền phải là người có trách nhiệm và những tiêu chuẩn đạo đức nhất định
Trước hết là đạo quân thần, quan lại phải là người trung với vua, phục
vụ tận tụy vì đất nước, vì nhân dân Theo Nho giáo, những người làm chính trị, cả vua và bề tôi đều được coi là người cầm quyền, họ phải là những người đạt được cả nhân đạo và thiên đạo Khổng Tử cho rằng, người làm chính trị
Trang 16tu thân của dân thường
Bên cạnh đó, người làm quan phải có những phẩm chất đạo đức nhất định, Nho giáo đưa ra những phẩm chất đối với người làm quan, đó là: chính, kính, tín, lễ, nhân Chính là sự ngay thẳng, chính trực trong khi làm việc Kính
là sự cung kính đối với nhà vua, với dân và trong việc trị dân Tín là giữ lời hứa với dân để cho dân tin mình, tín đi liền với hành động Người làm quan phải biết trọng lễ hơn ai hết, biết giữ lễ để duy trì trật tự xã hội Nhân là đức quan trọng nhất đối với người cầm quyền, Khổng Tử cho rằng, lễ chỉ là ngọn, nhân mới là gốc Nhà cầm quyền mà không có đức nhân thì càng không trọng
lễ, càng thủ cựu, càng dễ hóa ra độc tài Nếu cai trị mà chỉ dùng lễ thì chính sách sẽ là lễ trị, không khác gì pháp trị, nhưng có nhân thì sẽ là đức trị hay nhân trị: trị dân bằng đức nhân, trọng tư cách, tài đức của người trị dân hơn là pháp điển, chế độ
Một nội dung khác của Nho giáo có ảnh hưởng sâu sắc đối với tư
tưởng xây dựng bộ máy nhà nước Lê sơ và Quốc triều hình luật là quan niệm
về dân, vai trò của dân, là thái độ trách nhiệm của nhà vua, đội ngũ quan lại đối với dân Nho giáo coi dân là gốc của nước, không có dân thì không có
nước, không có vua Dân không chỉ là lực lượng nuôi dưỡng, phụng dưỡng
Trang 17họ, gia đình họ và cả tầng lớp cai trị Dân đồng thời là gốc nước, là nền tảng của nền chính trị, không có họ thì không có vua, không có nước Dân là người không chỉ nuôi dưỡng, phụng dưỡng mà còn là lực lượng bảo vệ nhà vua, người cai trị
Thêm nữa, coi trọng dân, vua, quan phải luôn coi việc nuôi dưỡng dân
là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Nhiệm vụ cơ bản của chính sách dưỡng dân
là phải chăm lo đời sống vật chất của dân để dân không bị chết rét, chết đói Nhà vua còn phải giúp dân làm giàu, giúp dân có tài sản riêng, phải “quy định điền sản cho dân, dạy dân biết trồng trọt, chăn nuôi, hướng dẫn vợ con, khiến
họ phụng dưỡng những người già trong gia đình” [22, tr 1308] Nho giáo còn yêu cầu nhà vua, người cầm quyền phải là người bảo hộ dân, không ham giết người, giết dân, phải giảm hình phạt cho dân nếu dân phạm tội Có như vậy, dân sẽ quy phục nhà vua mà không có uy lực nào cản được
Muốn cai trị đất nước, trị dân và hợp lòng dân, ngoài dưỡng dân, Nho giáo còn yêu cầu nhà vua, người cầm quyền phải chú trọng giáo hóa dân Theo Nho giáo, dạy dân là một cách yêu dân, dân được giáo hóa thì dễ sai bảo, dễ trị, nếu kết quả của sự giáo hóa cực tốt thì nhà cầm quyền chẳng phải làm gì mà nước trị
Bên cạnh đó, Nho giáo cũng chỉ rõ thái độ, trách nhiệm của vua, quan đối với dân Vua thì phải dạy dỗ, lo cho dân “có hằng sản thì mới có hằng tâm”, cùng no đói, vui buồn với dân Người làm quan phải biết sai khiến dân
Trang 1818
cho hợp lẽ, ban ân huệ và trông nom đời sống của dân, thấy dân đói khổ thì hết lòng cứu vớt, vậy mới được dân tin yêu; khi gặp tai biến dân mới liều chết
mà tiếp cứu cho mình
Ngoài ra, tư tưởng về giáo dục, đề cao giáo dục để tuyển chọn người
tài của Nho giáo cũng có ảnh hưởng tới sâu sắc tới tư tưởng xây dựng bộ máy
nhà nước thời Lê sơ Để xây dựng nên một chính quyền vững mạnh cần có
những người tài giỏi Nho giáo đặc biệt đề cao giáo dục nhằm tìm kiếm nhân tài để xây dựng nên một chính quyền vững mạnh, một đất nước cường thịnh
Như vậy, Nho giáo với những nội dung tư tưởng trên có ảnh hưởng trực tiếp tới việc hình thành tư tưởng xây dựng bộ máy nhà nước thời Lê sơ và
Quốc triều hình luật Đặc biệt là tư tưởng đề cao, coi trọng đạo đức, trách
nhiệm và thái độ của nhà vua, người cầm quyền đối với nhân dân
1.1.2 Phật giáo
Đạo Phật truyền vào nước ta khoảng thế kỉ thứ II trước công nguyên Với những đóng góp to lớn, nó đã trở thành một trong những hệ tư tưởng - tôn giáo có sức sống lâu dài, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần con người Việt Nam
Phật giáo du nhập vào nước ta chủ yếu là Phật giáo Đại thừa, với cả 3 tông phái: Thiền tông, Mật tông, Tịnh độ tông Trong đó, nổi hơn cả, hấp dẫn hơn cả là Tịnh độ tông Tịnh độ tông với chủ trương niệm phật A-di-đà, sự tôn thờ Phật quan thế âm và quan niệm sống từ bi hỉ xả, khi chết sẽ được lên cõi niết bàn, thoát khỏi cảnh trầm luân, khổ ải ở kiếp sau đã phản ánh và thể hiện nhu cầu thoát khổ, thoát nạn của con người trần gian, nên đã có sức lôi cuốn đặc biệt
Đạo Phật thường được gọi là đạo từ bi, đạo cứu khổ Phương châm tu tập của Phật giáo là từ, bi, hỷ, xả hay triết lý khoan dung Chính những tư tưởng nhân văn sâu sắc trong đạo Phật là cơ sở lý luận ảnh hưởng đến cách
Trang 1919
thức tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến, trong đó chú trọng đến quyền cơ bản của con người Điều đó được thể hiện ở tư tưởng Tứ Vô Lượng Tâm (Từ,
Bi, Hỷ, Xả) của đức Phật
Từ là lòng thương yêu, giúp đỡ, đem niềm vui cho tất cả mọi người
Tâm từ là mong ước cho tất cả mọi người đều được an lành, vui vẻ Ngược lại với tâm từ là lòng “sân hận” Khi tâm từ xuất hiện thì lòng sân hận, ác ý, thù oán không thể phát sinh Đức Phật chỉ ra rằng, mình có giác ngộ và giải thoát rồi sau đó đi giúp người khác mới hữu hiệu được Đây được coi là đức tính cao quý cần có đối với con người, nhất là đối với những người cầm quyền, những người có địa vị trong xã hội để cùng nhau xây dựng một xã hội an lạc, thái bình
Bi là lòng thương xót, diệt trừ đau khổ cho con người Bi là động lực
làm cho tâm rung động trước sự đau khổ của người khác, muốn giúp người khác thoát khỏi cảnh khổ Đối tượng của tâm bi là những người nghèo đói,
ốm đau, cô đơn và cả những người có đời sống buông lung, phóng đãng, tội lỗi Kẻ thù gián tiếp của tâm bi là “âu sầu, phiền não” Tâm từ và tâm bi thường đi chung với nhau Trước hết phải dùng tâm bi để diệt trừ đau khổ, rồi sau dùng tâm từ mang cho con người niềm vui Vậy “bi” là nhân mà “từ” là quả Người sống có tâm từ bi, có tình thương thì mọi hận thù trên thế gian này
sẽ tiêu tan
Hỷ là lòng vui, cùng vui với người khác Trái với hỷ là ưu phiền, đau
khổ Hỷ không phải là trạng thái thỏa thích suông, cũng không phải là cảm tình riêng đối với một người nào Hỷ là cùng vui với người khác khi họ hạnh phúc hay thành công Lòng “ganh tị” là kẻ thù trực tiếp của hỷ
Xả là lòng buông xả mọi vật của mình cho tất cả mọi người không phân
biệt kẻ oán người thân Xả là bố thí, bỏ đi, không giữ trong lòng Xả là nhận thấy đúng đắn, chân chính, suy luận vô tư, tức là không ghét bỏ cũng không
Trang 2020
luyến ái, không ưa thích cũng không bất mãn Trái với tâm xả là “cố chấp”
Người có tâm xả đối xử đồng đều giữa kẻ tội lỗi và bậc thánh nhân Hỷ và Xả
có tương quan mật thiết, làm nhân quả cho nhau Xả làm nhân cho hỷ, nghĩa
là muốn làm cho người khác vui và cùng vui với họ thì trước tiên mình phải
xả bỏ những điều ngang trái, thiệt thòi Xả phải đi đôi với hỷ; phải xả với vẻ mặt hân hoan, vui mừng
Phật giáo đề ra tư tưởng từ bi, bác ái, chủ trương cứu khổ cứu nạn gây xúc động lòng người và đã trở thành một trong những nguồn gốc của lòng thương người, của chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo Tuy ở đó có nội dung báo ứng, có tư tưởng nhẫn nhục, chịu đựng và không phân biệt bạn thù, song do
sự tác động của tư tưởng trên biểu hiện một sự quan tâm đến con người, cứu vớt con người trong xã hội đầy bất công và rủi ro, đầy tính ích kỷ và khổ đau như xã hội phong kiến [72, tr 34]
Tóm lại, đạo đức Phật giáo thấm nhuần tư tưởng nhân văn, đức từ bi của đạo Phật hướng đến những giá trị nhân cách cao quý ở con người Muốn xây dựng một xã hội vững mạnh, thịnh trị thì mỗi cá nhân, phần tử của xã hội phải hướng tới những giá trị tốt đẹp, con người sống trong thế giới hoan lạc, hòa bình Tứ Vô Lượng Tâm là cơ sở lý luận để người cầm quyền hướng tới nhằm xây dựng một bộ máy nhà nước “nhân từ”, với những giá trị tốt đẹp nhất nhằm phục vụ đông đảo nhân dân Đây chính là yếu tố mà thời Lê sơ dù không trọng dụng Phật giáo như Nho giáo nhưng đạo đức Phật giáo đã trở thành một trong những căn cứ để hình thành tư tưởng xây dựng bộ máy nhà nước và chỉ đạo hoạt động của bộ máy nhà nước này
1.1.3 Pháp gia
Tư tưởng pháp trị của phái Pháp gia là cơ sở lý luận của nhà nước phong kiến thời Lê sơ trong việc hình thành tư tưởng xây dựng bộ máy nhà
Trang 21Hàn Phi Tử đã chỉ rõ ba mặt Pháp, Thuật và Thế phải kết hợp làm một
và phải lấy Pháp làm trung tâm Theo ông, cần phải dùng pháp lệnh để thống nhất trong việc trị quốc “Pháp” là chỗ dựa căn bản của vua chúa để cai trị đất nước, thần dân, “Thuật” là thủ đoạn chủ yếu để vua chúa điều khiển bề tôi
“Thế” là quyền thế, quyền lực, uy quyền tối cao và tuyệt đối mà vua chúa là người nắm giữ Trong ba mặt thì “Pháp” được coi là hạt nhân, là cái chi phối,
“Thuật” là cách thức cơ bản đảm bảo cho “Pháp” và “Thế” được thi hành thuận lợi, “Thế” là tiền đề, điều kiện tất yếu để vận dụng “Pháp” và “Thuật”
Ba mặt này có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó với nhau và không tách rời
Trước hết, quan niệm về “Pháp”
Trong thiên Định pháp, sách Hàn Phi Tử, ông định nghĩa Pháp như
sau: “Pháp là hiến lệnh công bố ở các công sở, thưởng hay phạt đều được dân tin chắc là thi hành, thưởng người cẩn thận giữ pháp luật, phạt người phạm
pháp, như vậy bề tôi sẽ theo pháp” [32, tr 273] Trong thiên Hữu độ, sách
Hàn Phi Tử, ông ví pháp luật như cái dây mực, cái thủy chuẩn, cái quy, cái
củ, tức những đồ dùng làm tiêu chuẩn Pháp luật tức là tiêu chuẩn để biết đâu
là chính, tà, để khen đúng người, trách đúng kẻ
Hàn Phi Tử đã xác định rõ đối tượng của pháp luật là tất cả mọi người trong xã hội chứ không chỉ một nhóm người nào cả Theo ông, trị quốc, an
Trang 2222
dân không có gì hiệu quả bằng thi hành pháp luật, song “pháp luật không thể
a dua người sáng cũng như dây mực không thể uốn theo gỗ cong… (cho nên) trị tội thì không chừa các quan lớn, thưởng công thì không bỏ sót dân thường” [32, tr 265] Bên cạnh đó, Hàn Phi Tử cũng chỉ rõ, vua là đại diện cho quốc gia, do đó vua là người nắm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Khi xây dựng pháp luật phải theo các nguyên tắc chung sau:
Một là, pháp luật phải hợp thời, bởi lịch sử luôn thay đổi Trong thiên
Tân Độ, sách Hàn Phi Tử viết: “Pháp luật cùng với thời mà thay đổi thì nước
trị, trị dân mà hợp với đời thì có kết quả…Thời thay đổi mà pháp luật không thay đổi thì nước loạn, thời đã thay đổi mà cấm lệnh không biến thì nước bị chia cắt Cho nên thánh nhân trị dân thì pháp luật theo thời mà đổi, cấm lệnh cùng với đời mà biến” [32, tr 276] Như vậy, theo quan niệm của Hàn Phi Tử, pháp luật trước hết phải hợp thời, tức là phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước trong thời gian đó Khi điều kiện, hoàn cảnh thay đổi thì pháp luật cũng phải có sự biến đổi cho phù hợp, có như vậy đất nước mới phát triển được
Hai là, pháp luật phải soạn sao cho dân dễ hiểu, dễ biết, dễ thi hành
Pháp luật phải quy định cho mọi người trong cả nước làm theo chứ nếu mỗi người, mỗi miền một luật lệ thì khi người từ miền này đi tới miền khác tưởng pháp luật giống nhau mà vô tình phạm pháp Khi đã ban hành pháp luật mới thì phải xóa bỏ luật cũ, nếu không kẻ gian sẽ lợi dụng điều đó để làm điều xấu Pháp luật để cho toàn dân theo nên phải tường tận để người không có học cũng có thể hiểu được và dễ thi hành Đặc biệt pháp luật phải soạn ra sao cho minh bạch, mọi người đều hiểu như nhau, tránh tình trạng mỗi người hiểu theo một cách
Ba là, Pháp luật phải công bằng Hàn Phi Tử viết: “Bậc thánh nhân coi
sự thực của sự phải quấy, xét tình hình trong sự trị loạn, cho nên trị nước thì
Trang 2323
mình định pháp luật, đặt ra hình phạt nghiêm khác để cứu loạn cho quần chúng, trừ họa cho thiên hạ, khiến cho kẻ mạnh không lấn kẻ yếu, đám đông không hiếp đáp số ít, người già được hưởng hết tuổi trời, bọn trẻ côi được nuôi lớn, biên giới không bị xâm phạm, vua tôi thân nhau, cha con bảo vệ nhau… ” [32, tr 279]
Bốn là, Pháp luật phải có tính phổ biến Tức là pháp luật phải được
công bố rộng rãi, tránh tình trạng có người viện cớ không biết khi phạm pháp
Thứ hai, quan niệm về “Thuật”
Thuật theo Hàn Phi Tử là cách thức, phương pháp, mưu lược, thủ đoạn trong việc dùng người, tuyển người, giao việc, xét đoán sự vật, sự việc Nhờ
có Thuật mà pháp luật được thực hiện và nhà vua có thể trị quốc, bình thiên
hạ “Thuật” của Hàn Phi Tử khác với “Thuật” của Thân Bất Bại “Thuật” của Thân Bất Bại là thuật ngoại giao, mưu tính việc nước để làm cho nước Hàn của ông mạnh lên, song nước Ngụy bên cạnh thì suy yếu “Thuật” của Hàn Phi Tử là thuật trị quan lại và thuật thưởng phạt mà ông gọi là hai cái cán của đạo trị nước
Thuật thứ nhất là thuật trị quan lại, bởi công việc của vua trước hết phải được giao cho quần thần, quan lại Quan lại tốt thì dân không loạn, quan lại xấu thì dân nổi loạn Hơn thế nữa, giữa vua và tôi có cái lợi khác nhau mà bản tính con người lại ưa tư lợi nên thường bề tôi nào cũng có ý phản vua, do vậy, bậc minh chủ trước hết phải trị quan lại
Thuật thứ hai là thuật thưởng phạt Theo ông, thưởng phải hậu, phạt phải nặng Bởi vì thưởng hậu thì dân thấy vậy mà ham, phạt nặng thì dân thấy vậy mà tránh Đồng thời sự thưởng phạt phải theo đúng phép nước, phải chí công vô tư
Theo Hàn Phi Tử, đúng pháp luật mà thưởng phạt thì kẻ bị trừng phạt không oán bề trên, kẻ được thưởng cũng không mang ơn bề trên vì không coi sự
Trang 24đủ, để thực hiện được pháp, thuật ấy phải có “Thế”
Thứ ba, quan niệm về “Thế”
Theo Hàn Phi Tử, “Thế” trước hết là “địa vị”, “thế lực”, “quyền uy” của người cầm đầu chính thể, đó là nhà vua Địa vị, uy quyền này là độc tôn,
là cái mà mọi người phải tuân thủ Hàn Phi Tử rất coi trọng Thế, ông đặt địa
vị quyền thế lên trên tài đức Theo ông, người có tài mà đức tuy ở mức trung bình, nếu có quyền thế là có thể trị nước Từ đây ông cho rằng, vua không cần phải tài cao đức trọng, không cần làm gương cho cả nước soi vào Để cai trị thì vua cần có Thế (uy quyền để áp đặt) và có Pháp (để chỉ cho dân điều nên làm và không nên làm, thưởng phạt công minh) Đồng thời, ông vua ấy phải
có thuật trị nước để thông qua nó xây dựng và vận hành bộ máy chính quyền
Như vậy, để thực hiện việc trị quốc, an dân, thi hành pháp luật thì nhất thiết phải có thế và phải biết sử dụng thế Muốn giữ được thế của mình thì phải dùng thuật, cho nên ba yếu tố Pháp - Thuật - Thế liên quan chặt chẽ, không tách rời nhau Thế như cái khung, còn Pháp và Thuật như hai cái giá đỡ của bộ khung
đó, có Thế mới thi hành được Pháp và Thuật, có Pháp và Thuật mới giữ được Thế Thiếu một trong ba cái thì không thể cai trị đất nước
Tư tưởng của phái Pháp gia mà chủ yếu là của Hàn Phi Tử về Pháp - Thế
- Thuật đã được nhà Lê sơ vận dụng để hình thành tư tưởng xây dựng bộ máy
Trang 2525
nhà nước, nhất là trên lĩnh vực pháp luật - công cụ cai trị đất nước Sự tiếp thu,
kế thừa này thể hiện rõ nhất, tập trung nhất trong bộ Quốc triều hình luật
1.1.4 Giá trị truyền thống của dân tộc
Cùng với Nho giáo, Phật giáo và Pháp gia thì những giá trị truyền thống của dân tộc là yếu tố quan trọng, có tính chất nền tảng, là cơ sở lý luận cho việc hình thành tư tưởng xây dựng bộ máy nhà nước thời Lê sơ cũng như
sự thể hiện trong các điều khoản của Quốc triều hình luật Đó là sự kế thừa
một số giá trị truyền thống cơ bản của dân tộc
Một là, truyền thống yêu nước
Ngay từ buổi đầu dựng nước, nhân dân ta đã nêu cao tinh thần yêu nước, cùng nhau đoàn kết xây dựng đất nước Đây đã trở thành truyền thống
vô cùng quý báu của dân tộc Xuất phát từ truyền thống yêu nước đã có biết bao cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta chống lại quân xâm lược trong một nghìn năm Bắc thuộc Từ Hai Bà Trưng, Bà Triệu, đến Bố Cái Ðại Vương Phùng Hưng, Mai Hắc Ðế, tới Ngô Vương Quyền, tất cả các cuộc khởi nghĩa đều phát sinh từ lòng yêu nước Dưới các triều đại phong kiến, yêu nước luôn
là tinh thần cố hữu trong ý thức, hành động của mỗi người Cũng vì yêu nước nên tất cả toàn dân, từ đồng bằng cho đến thượng du đã hăng hái tham gia cuộc kháng chiến chống quân Nguyên do vua quan nhà Trần lãnh đạo Đến cuộc khởi nghĩa của Bình Ðịnh Vương Lê Lợi, thành lập ra triều Lê sơ cũng xuất phát từ truyền thống ấy mà nên
Truyền thống yêu nước của dân tộc ta gắn liền với tinh thần bất khuất Bất khuất nghĩa là “không gì có thể khuất phục nổi” Tinh thần ấy được thể hiện rõ trong hành động, tư tưởng của các nhà cầm quyền, những người cầm quân đi trước, câu nói của Bà Triệu đã thể hiện rõ điều đó: “Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chém cá tràng kình ở bể đông, quét sạch cõi bờ, cứu muôn dân ra khỏi cơn đắm đuối, chớ không bắt chước người đời, cúi đầu
Trang 2626
khom lưng làm tì thiếp người ta” Rồi qua lời thề “Không giết được giặc không trở về” của quân dân nhà Trần khi đi qua sông Hóa Ngay cả khi nằm trong tay giặc và cận kề cái chết, Trần Bình Trọng bị bắt đã mắng vào kẻ dụ hàng: “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc” Đến
vị vua đầu triều Lê sơ là Lê Thái Tổ, ông cũng đã tuyên bố: “Làm trai sinh ở trên đời, cứu nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn đời, chớ sao chịu bo
bo làm đầy tớ người”…
Truyền thống yêu nước còn là tinh thần tự chủ của dân tộc Tự chủ là tự dân tộc mình làm chủ đất nước của mình Tinh thần đó được thể hiện qua bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt đời nhà Lý Đến triều Lê, Nguyễn Trãi viết
Bình Ngô Đại Cáo để khẳng định quyền vẻ vang ấy Trải qua quá trình của
lịch sử dân tộc, truyền thống yêu nước trở thành tinh thần, lối sống, nó thấm sâu vào trong mỗi tâm hồn người dân đất Việt Dù dưới triều đại nào, tinh thần ấy vẫn tồn tại và phát triển, nó là biểu hiện cụ thể của chuẩn mực đạo đức "trung" đối với vua, với đất nước của hệ thống quan lại, của nhân dân
Hai là, truyền thống nh n ái, sống có tình có nghĩa
Lòng nhân ái là đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, dân ta đã ý thức một cách sâu sắc rằng, “muốn thương mình thì phải thương người”, thương những người cùng chịu đau khổ giống mình, cùng là nhân dân lao động lầm lũi,
họ sống có tình nghĩa với nhau Lòng nhân ái còn là cơ sở của lòng thiết tha yêu chuộng hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc của nhân dân ta
Ba là, truyền thống đoàn ết
Đây là truyền thống lâu đời của dân tộc, xuất phát từ điều kiện kinh tế -
xã hội, tinh thần đoàn kết là sức mạnh của dân tộc Nhờ đó, nhân dân ta có được sức mạnh vô cùng to lớn trước mọi khó khăn, nguy hiểm, đấu tranh chống lại thiên tai, cũng như giặc ngoại xâm bảo vệ mùa màng và toàn vẹn lãnh thổ Ngay từ thời Hùng Vương dựng nước, vua với nhân dân đã đồng
Trang 27Lịch sử dân tộc ta chứng minh, muốn làm nên sự nghiệp lớn, đánh thắng giặc ngoại xâm chỉ dựa vào quân đông, tướng giỏi thì không thể thắng được mà cần phải biết khơi dậy và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân Thất bại của nhà Hồ thế kỷ XIV là một điển hình Do không đoàn kết và thống nhất được lòng dân, nên dù có nỗ lực chuẩn bị cho cuộc chiến chống giặc Minh xâm lược, nhà Hồ vẫn phải chịu thất bại
Một trong những giá trị tư tưởng của dân tộc ảnh hưởng đến đường lối
trị nước của vua Lê Thánh Tông là tư tưởng “nh n nghĩa” của Nguyễn Trãi
Theo Nguyễn Trãi, Nhân nghĩa gắn chặt với tư tưởng vì dân, an dân Ông nói:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, nhân nghĩa chính là yêu nước, thương dân,
là đánh giặc cứu nước, cứu dân Nguyễn Trãi coi “an dân” là mục đích của nhân nghĩa và “trừ bạo” là đối tượng và phương tiện của nhân nghĩa Vì vậy, người nhân nghĩa phải lo trừ bạo, tức là lo diệt quân cướp nước Người nhân nghĩa phải đấu tranh sao cho “hợp trời, thuận người” nên có thể “lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều”; “lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân
để thay cường bạo” n dân còn là đảm bảo cho nhân dân có được cuộc sống
Trang 2828
bình yên Nguyễn Trãi rất coi trọng dân, vì vậy ông đã kêu gọi toàn dân tham gia vào nghĩa quân Lam Sơn đứng lên đánh giặc và đã thắng lợi lừng lẫy Sau khi chiến tranh kết thúc, đất nước giành được độc lập bước vào xây dựng cuộc sống mới nhưng ông vẫn rất đề cao nhân dân Ông viết: “ăn lộc đền ơn
kẻ cấy cày” Ông nhận thấy sức mạnh to lớn của nhân dân: “có lật thuyền mới biết sức dân như nước” Đồng thời, ông đã lên án tội ác của bọn xâm lược với một thái độ rất phẫn nộ; ông xót xa cho những cảnh lầm than, cơ cực và chú ý chăm lo cho đời sống vật chất của nhân dân
Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi còn thể hiện ở lòng thương người, sự khoan dung, độ lượng thậm chí với cả kẻ thù Khi quân giặc thua trận, ông không những không giết mà đã mở cho chúng một con đường sống, cung cấp chiến thuyền cho chúng trở về nước Tư tưởng ấy còn tiến xa hơn một bước, đó là lý tưởng xây dựng một đất nước thái bình, nhân dân no đủ, bên trên vua thánh tôi hiền, bên dưới không còn tiếng hờn giận, oán sầu Theo Nguyễn Trãi, một đất nước thái bình sẽ có cuộc sống phồn vinh, tươi đẹp, đồng thời, có sự thuận hòa, yên vui với các nước khác Để đất nước ngày càng phát triển, ông chủ trương cầu hiền tài giúp dân, giúp nước Ông cho rằng:
“người tài ở đời vốn không ít” nên triều đình phải cầu hiền tài bằng nhiều cách khác nhau, thu hút họ tham gia vào công việc triều đình, xây dựng nước nhà, có như vậy đất nước mới nhanh chóng phát triển thịnh vượng được Những tư tưởng trên của Nguyễn Trãi đã ảnh hưởng không nhỏ đến tính cách
và tư tưởng của Lê Thánh Tông sau này, trong việc lựa chọn cách thức cai trị đất nước của ông
Tóm lại, những tư tưởng triết học Trung Quốc như Nho gia, Pháp gia
cùng với tư tưởng của Phật giáo và những giá trị truyền thống của dân tộc là những tiền đề lý luận mà triều đại Lê sơ dưới thời vua Lê Thánh Tông trị vì
Trang 2929
kế thừa và hình thành nên tư tưởng xây dựng bộ máy nhà nước Lê sơ, được
thể hiện rõ trong bộ Quốc triều hình luật
1.2 Cơ sở thực tiễn và vai trò của Lê Thánh Tông
Đi liền với cơ sở lý luận là cơ sở thực tiễn của việc hình thành tư tưởng
xây dựng bộ máy nhà nước Lê sơ cũng như sự ra đời của Quốc triều hình
luật Đó là bối cảnh xã hội Việt Nam thế kỷ XV
1.2.1 Bối cảnh Việt Nam thế kỷ XV
Qua 20 năm thống trị của phong kiến nhà Minh là 20 năm nhân dân ta đấu tranh không ngừng Tất cả những cuộc khởi nghĩa, đấu tranh trong giai đoạn này đều nhằm mục đích cao nhất là giải phóng đất nước, khôi phục lại nền độc lập Những cuộc đấu tranh ấy đã khơi dậy và nêu cao tinh thần yêu nước, bất khuất của nhân dân, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng đất nước Cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi là cuộc đấu tranh cuối cùng và cao nhất của toàn bộ cuộc đấu tranh trường kỳ ấy Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa đã
mở ra cho đất nước một: “Giang sơn từ đây mở mặt, xã tắc từ đây vững bền Nhật nguyệt hối mà lại minh, càn khôn bĩ mà lại thái Nền vạn thế xây nên chăn chắn, thẹn nghìn thu rửa sạch làu” [30, tr 253]
* Tình hình kinh tế
Nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế, đặc biệt là nông nghiệp trở thành nhiệm vụ lịch sử cấp thiết của toàn xã hội Sau chiến tranh, nền kinh tế nước nhà bị tàn phá nặng nề, đình trệ và tiêu điều Trong khi phần đông người lao động không có ruộng để sản xuất thì tình trạng đồng ruộng bị bỏ hoang lại diễn ra khá phổ biến Nhằm khắc phục tình trạng trên, ngay từ năm 1427, Lê Lợi đã bắt nhân dân phiêu tán phải trở về nguyên quán nhận ruộng để cấy cày, nếu bỏ hoang bị tội nặng
Dưới thời Lê sơ, công việc đắp đê ngăn nước lụt và xây dựng các công trình thủy lợi là yêu cầu cấp thiết của nông nghiệp được nhân dân và nhà nước
Trang 3030
chú trọng Nhà nước đặt ra các chức quan chuyên trách việc đê điều và khuyến khích sản xuất nông nghiệp (Hà đê, Khuyến nông) Bên cạnh đó, nhằm tập trung sức lao động, hạn chế số người thoát li sản xuất, nhà nước đã tích cực thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” Sau khi cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi, Lê Lợi giảm số quân thường trực từ 35 vạn xuống 10 vạn, cho 25 vạn về làm ruộng Mười vạn quân ở lại được chia thành 5 phiên,
cứ lần lượt thay nhau một phiên lưu ban và bốn phiên về làm ruộng Sự lao động cần cù, sáng tạo của người nông dân cùng những biện pháp tích cực, hiệu quả của nhà nước đã làm cho nền sản xuất nông nghiệp giai đoạn đầu Lê
sơ dần được phục hồi và phát triển
Song song với nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế, nhà nước Lê
sơ đứng trước yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng cơ sở kinh tế cho chế độ phong kiến, xác lập quyền sở hữu ruộng đất công của nhà nước Lê Thái Tổ
đã cho thi hành chế độ lộc điền, quân điền; tuy nhiên vẫn còn nhiều thiếu sót, những biện pháp quản lý ruộng đất thời Lê Thái Tổ chỉ dừng lại ở một số tỉnh chứ chưa được thực hiện trên phạm vi cả nước Đến thời vua Lê Thái Tông,
Lê Nhân Tông, không thấy sử chép đến việc chia cấp ruộng đất, làm sổ điền
Có thể thấy, đến đời vua Lê Nhân Tông, quyền sở hữu tối cao của Nhà nước
về ruộng đất vẫn chưa được hoàn toàn xác lập Quan hệ sản xuất địa chủ - nông dân vẫn chưa trở thành quan hệ kinh tế chủ đạo thống trị trong xã hội
Do đó, chế độ quân chủ tập quyền chưa có cơ sở vững chắc để xác lập
Vào những năm đầu thế kỉ XV, thủ công nghiệp chia thành hai bộ phận là thủ công nghiệp của nhân dân và thủ công nghiệp của nhà nước Ở thời này, xuất hiện nhiều làng nghề thủ công truyền thống ở cả thành thị và nông thôn, có những làng nghề sản xuất sản phẩm nhất định như ở vùng Nghệ An có nghề làm
áo nhung phục, dệt vải thưa; ở vùng Quảng Nam có nghề làm tơ gai, lụa màu huyền; vùng Lạng Sơn, châu Yên bác có nghề làm gấm thêu, lĩnh, là, các chất
Trang 31So với giai đoạn trước, nền kinh tế Đại Việt thời Lê sơ đã có bước tiến dài đáng kể trên tất cả các lĩnh vực nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp Trong thời kì này, đời sống nhân dân được cải thiện nhiều, vì vậy mà
* Văn hóa - xã hội
Về văn hóa: Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, ba hệ thống tư tưởng đã từng chiếm địa vị chi phối, làm nòng cốt cho ý thức hệ phong kiến là Nho, Đạo và Phật Chúng tuy có lúc mâu thuẫn, chống đối nhau nhưng mặt khác có sự tương trợ, bổ sung cho nhau tạo thành “tam giáo đồng nguyên” và
là công cụ thống trị về mặt tư tưởng, tinh thần của giai cấp phong kiến
Nếu như dưới triều Lý - Trần, Phật giáo thịnh hành nhất, trở thành tư tưởng được vua quan thời Trần tôn sùng thì đến thời Lê sơ, Nho giáo chiếm vị trí quan trọng và trở thành tư tưởng độc tôn dưới triều vua Lê Thánh Tông Nho giáo thời kì này chủ yếu là Tống Nho do Chu Hy (1130 -1200) đứng đầu Học thuyết Tống Nho là một hình thức đổi mới của Nho giáo nhằm thích ứng với yêu cầu phát triển của chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế Nho giáo
Trang 32cử được quy định rõ ràng, chi tiết hơn
Mạng lưới trường học được nhà Lê sơ thiết lập từ trung ương tới địa phương Quốc Tử Giám không còn độc tôn cho con em quan lại, quý tộc cao cấp đến học mà mở rộng cho cả con em bình dân Ở trường học, nội dung
giáo dục chủ yếu là Nho giáo qua các sách Tứ thư, Ngũ inh, Bắc sử…
Về xã hội: Những biến động về kinh tế, chính trị, văn hóa đầu thế kỉ
XV tất yếu dẫn đến sự biến động về mặt xã hội Tầng lớp quý tộc không còn giữ địa vị như trước Thành phần xã hội chủ yếu gồm vua - quan và tứ dân:
Vua - quan: Vua là người đứng đầu, có quyền lực cao nhất, dưới vua là
hệ thống quan lại từ trung ương đến địa phương Đội ngũ này chính là giai cấp địa chủ trong xã hội mà ông vua là một địa chủ lớn nhất Các quan văn võ
có nguồn gốc từ nhiều tầng lớp xuất thân nhưng chủ yếu từ giai cấp địa chủ qua thi cử, bảo cử hoặc tiến cử… Do hoàn cảnh lịch sử chi phối, buổi đầu quyền lực còn nằm trong tay đội ngũ quan lại có tài năng đức độ trong trận mạc nhưng hạn chế về tri thức, kinh nghiệm xây dựng, quản lý đất nước vào thời bình Nội bộ quan lại còn mâu thuẫn, nhiều người tha hóa, biến chất
Tứ dân: gồm 4 tầng lớp chính là sĩ, nông, thợ thủ công và binh
Trang 3333
Sĩ: là những người học hành đỗ đạt, xuất thân từ nhiều tầng lớp trong
xã hội, là đối tượng chủ yếu được đào tạo, chọn lọc vào đội ngũ quan lại Tầng lớp này luôn được xã hội trọng vọng
Nông: chiếm đại đa số trong xã hội, là lực lượng sản xuất chủ yếu, sáng tạo của cải xã hội, là nguồn cung cấp binh lính, lao dịch cho đất nước Nông dân thời kì này có sự phân hóa mạnh, gồm nhiều thứ hạng phụ thuộc vào việc
sở hữu ruộng đất ít nhiều khác nhau Sau nông dân là nô tỳ với số lượng không nhiều, có nguồn gốc từ tù binh chiến tranh, tội nhân trong nước Nô tì gồm hai loại là quan nô (nô tỳ của nhà nước) và tư nô (nô tỳ của tư nhân)
Thợ thủ công và thương nhân: lực lượng này bị hạn chế về mặt số lượng và chất lượng Do đó, họ không có tác động mạnh mẽ, chi phối tiến trình vận động, phát triển của xã hội
Binh: bộ phận giữ vai trò quan trọng trong xã hội Họ thực chất là những người nông dân mặc áo lính Khi làm nghĩa vụ binh dịch, cuộc đời họ gắn liền với
bộ máy nhà nước, là công cụ bạo lực của nhà nước, chịu sự điều động của nhà nước Giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội luôn tồn tại mâu thuẫn nhưng chưa đến mức gay gắt, vẫn trong giới hạn điều hòa được Nhận thức được chân lý “khoan thư sức dân”, chăm lo cuộc sống của nhân dân kết hợp với sự khéo léo trong việc trị nước đã giúp nhà Lê không phải đối mặt với những cuộc khởi nghĩa lớn của nông dân, đất nước được ổn định trong một thời gian dài
Như vậy, trước khi Lê Thánh Tông lên ngôi, đất nước đã sạch bóng giặc ngoại xâm, nhân dân sống trong cảnh thái bình Ruộng đất của bọn xâm lược, kẻ làm tay sai cho giặc, của quý tộc Trần để hoang hóa đều được chia cho người có công với kháng chiến, nhờ đó nhiều người lao động đã có ruộng Người lao động có đất đã kích thích họ hăng hái sản xuất, tạo ra nhiều của cải cho gia đình, xã hội Thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng có bước phát triển mới
Trang 3434
Bên cạnh thành tựu kinh tế, chế độ phong kiến cũng được củng cố thêm một bước Dưới thời Trần, chế độ phong kiến với quyền lực phân tán cho các vương hầu ở địa phương làm cho chính quyền trung ương không mạnh, bộ máy thống trị nặng nề, kém hiệu lực; đến giai đoạn này, quyền lực đã được tập trung vào tay vua Do đó, triều đình điều hành bộ máy nhà nước dễ hơn, chính sách ban ra được thực hiện tốt hơn Thời Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông đã tạo được những kinh nghiệm cần thiết cho việc củng cố triều đại, đất nước trên cơ sở tập quyền từng bước có sự phát triển Đây là những điều kiện thuận lợi để vua Lê Thánh Tông đề ra và thực hiện có hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế, xã hội, mở mang văn hóa, giáo dục…
Trên cơ sở phân tích những điều kiện kinh tế, xã hội giai đoạn đầu Lê
sơ, Lê Thánh Tông đưa ra những chính sách, biện pháp để xây dựng, phát triển xã hội và chế độ phong kiến về mọi mặt; qua đó, thể hiện tư tưởng xây dựng bộ máy nhà nước phong kiến chuyên chế, biểu hiển sâu sắc nhất trong
Quốc triều hình luật
1.2.2 Những thành tựu và hạn chế trong việc xây dựng bộ máy nhà nước phong kiến trước thời Lê sơ
1.2.2.1 Thời kỳ: Ngô - Đinh - Tiền Lê
Sau khi đánh bại quân Nam Hán, Ngô Quyền xưng Vương (năm 939), đóng đô ở Cổ Loa, như lời sử cũ, để tỏ ý tiếp nối quốc thống xưa của An Dương Vương và xây dựng một chính quyền trung ương độc lập, tự chủ Qua các tài liệu lịch sử về giai đoạn đầu của thời kì tự chủ, có thể khái quát về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước do các vua Ngô, Đinh, Tiền Lê điều khiển như sau:
Trong giai đoạn đầu tiên của lịch sử nhà nước phong kiến Việt Nam, khi cuộc đấu tranh giữa các lực lượng cát cứ với nhau và giữa chính quyền trung ương với các lực lượng cát cứ địa phương diễn ra mạnh mẽ, thì tổ chức
Trang 3535
bộ máy nhà nước do triều đình trung ương điều khiển có tính chất thiên về quân sự Lực lượng quân đội đã được các vua Ngô, Đinh, Tiền Lê đặc biệt quan tâm xây dựng Quân đội hùng mạnh không những cần thiết cho việc đấu tranh nội bộ chống các hào trưởng cát cứ, mà còn cần thiết để đối phó với nạn ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập quốc gia mới giành được
Đinh Tiên Hoàng bắt đầu thực hiện chương trình tổ chức quân đội thành đạo, quân, lữ, tốt, ngũ, chia nước thành khu quân sự Tổng chỉ huy quân đội là Thập đạo tướng quân Dưới triều Tiền Lê, Lê Hoàn và các vua tiếp sau củng cố và tăng cường thêm quân đội thường trực, đặt ngạch thân binh, tuyển lính túc vệ đóng ở kinh thành Các chức quan cao cấp chỉ huy quân đội được đặt ra như thái úy, khu mật sứ… Thủy quân đời Lê đã có những chiếc thuyền lớn đi biển Ngoài quân đội của nhà vua còn có quân đội do các vương hầu, quý tộc chiêu mộ và điều khiển ở điền trang, thái ấp mà vua có thể điều động khi cần đến
Về tổ chức hành chính, quan chế, nghi tiết, các vua trong buổi đầu thời
tự chủ về cơ bản là phỏng theo các triều đại phong kiến Trung Quốc Đường, Tống Dưới triều Ngô, kinh đô đặt ở Cổ Loa, đến thời Đinh thì dời đô về Hoa
Lư (Ninh Bình) Đinh Tiên Hoàng chia nước ra thành đạo Năm 1002, dưới thời Tiền Lê, đơn vị đạo bị xóa bỏ và đất nước được chia ra làm lộ, phủ, châu Thời nhà Đinh, nhà nước phong kiến lấy đạo Phật làm quốc giáo, định phẩm tước cho sư tăng và cử ra một số sư tăng làm quan, tham gia việc hành chính gọi là tăng quan Dưới triều Tiền Lê, sư tăng cũng rất được trọng dụng, một
số được giao trách nhiệm lớn về ngoại giao của nhà nước (Lạc Thuận, Ngô Chân Lưu)
Tóm lại, từ khi Ngô Quyền xưng vương, nước Việt Nam giành được độc lập thực sự về chính trị Nhà Ngô có ý chí xây dựng chính quyền Nhà nước trung ương tập quyền, nhưng đã thất bại do cuộc nổi dậy cát cứ ở các lực lượng hào
Trang 3636
trưởng địa phương Đinh Bộ Lĩnh dẹp được các sứ quân, thống nhất đất nước, lại
ra sức xây dựng chính quyền tập trung, và nhà Tiền Lê tiếp tục những cố gắng
đó Về cơ bản, cuộc đấu tranh giữa các yếu tố tập trung và phân tán về chính trị cuối cùng đã kết thúc với sự thắng lợi của xu hướng tập quyền Nền độc lập quốc gia được bảo vệ và củng cố thêm một bước, là điều kiện để các triều đại sau phát triển hơn nữa chế độ quân chủ trung ương tập quyền
Bên cạnh đó, nhà nước phong kiến dưới các thời Ngô - Đinh - Tiền Lê còn có những hạn chế nhất định, thể hiện ở chỗ: Chính quyền trung ương tập quyền còn ở thời kì phôi thai, chưa có cơ sở kinh tế - xã hội vững chắc, cuộc đấu tranh giữa các nhân tố tập trung và phân tán vẫn tiếp diễn Vì vậy, chính sách cai trị còn dựa nhiều vào thế lực quân sự, tổ chức bộ máy nhà nước còn thô sơ Tổ chức nhà nước nhìn chung còn đơn giản, các hoạt động của nhà nước chưa được thể chế hóa, việc lựa chọn quan lại chưa có chế độ rõ ràng
Từ mô hình tổ chức bộ máy nhà nước đến các biện pháp quản lý xã hội thời kỳ này còn mang đậm tính chất quân sự Pháp luật thời kỳ này chưa được thể hiện rõ Qua các tài liệu liên quan đến tình hình trừng trị tội phạm cho thấy, hình phạt áp dụng dưới thời các thời Đinh, Tiền Lê rất tàn ác Sử chép, người ta giết kẻ phạm tội nặng bằng cách ném phạm nhân vào vạc dầu sôi, vào cũi hổ, và vạc dầu được đặt ở ngay trên sân triều của vua Đinh Lê Hoàn cũng giết dễ dàng những quần thần có lỗi, theo Tống sử thì ông đã đặt hình phạt roi vọt để áp dụng phổ biến cho các tội phạm nhẹ (từ 30 - 200 roi),
Lê Long Đĩnh dùng những hình phạt giết người dã man và tàn bạo như thiêu người, xẻo thịt cho chết dần, giam người vào nhà tù dưới nước (thuỷ lao) để nước triều dâng lên làm ngập chết, bắt chèo cây rồi đẵn cây cho đổ, róc mía trên đầu sư…
1.2.2.2 Thời Lý - Trần - Hồ
Thời Lý - Trần, yếu tố phân tán về kinh tế, chính trị vẫn còn tồn tại do chế độ phân phong ruộng đất đã tạo nên những thái ấp và những “lãnh chúa”
Trang 3737
quý tộc đứng đầu thái ấp đó Sức phát triển của nền kinh tế xã hội đã phá vỡ kinh tế thái ấp tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cao hơn của nền thống trị trung ương tập quyền của thế kỉ sau
Theo thời gian, nhà nước phong kiến tập quyền đã dần dần được tổ chức có quy củ, dựa trên chế độ chính quy hóa Những đặc điểm chính của nó là: tính chất tập trung quan liêu của bộ máy nhà nước được tăng cường, hoạt động của các cơ quan chính quyền trung ương được mở rộng và tác động trên
cả nước, tới các thôn xã; quan hệ giữa người dân và nhà vua được củng cố, thay thế hoặc bao trùm lên các quan hệ khác, lực lượng quân sự được tăng cường và tổ chức thống nhất, hoạt động lập pháp của nhà nước bước đầu phát triển
Về mặt phân chia khu vực hành chính có bước phát triển hơn hẳn so với trước, nhà Lý đã đổi Đạo (với tính chất là đơn vị quân sự) thành Lộ (với tính chất là đơn vị hành chính - lãnh thổ) Sự thay đổi đó không đơn thuần là việc đổi tên mà nó còn thể hiện sự thay đổi cơ bản trong tư duy, trong cách thức quản lý đất nước Ở trung ương, bộ máy thống trị quan liêu do vua đứng đầu được tổ chức theo chế độ chính quy từ thời Càn Đức (vua Lý Nhân Tông)
ở cuối thế kỉ XI Nhà Lý xây dựng quan chế trong Hội điển, nhà Trần trong Thông chế Những chức quan cao cấp nhất ở triều đình chia ra ngạch văn, ngạch võ Ở các đơn vị hành chính lớn ở địa phương cũng vậy, ở xã vẫn có xã quan như trước Sang thời nhà Trần, bộ máy quan liêu ở trung ương được tăng cường hơn nữa Nhiều cơ quan được đặt ra thành những hệ thống riêng gọi là quán, các, sảnh, cục, đài, viện Đáng chú ý trong giai đoạn này là việc thành lập các cơ quan phụ trách tư pháp trong triều đình, dưới thời Trần các
cơ quan đó là Thẩm hình viện, Tam ty viện, do các quan lại chuyên môn phụ trách Ở địa phương có an phủ chánh, phó sứ cai trị các lộ; tại các phủ, huyện
có tri phủ, tri huyện, ở châu có tào vận sứ Tri phủ, tri huyện là tên chung của
Trang 38Một đặc điểm quan trọng so với thời kì trước là việc bước đầu tăng cường hoạt động lập pháp của nhà nước và ban hành những bộ luật đầu tiên trong lịch sử nước ta Năm 1042, Lý Thái Tông sai quan trung thư “sửa định luật lệ, châm chước cho thích dụng với thời thế, chia ra môn loại, biên thành
điều khoản, làm thành sách Hình thư của một triều đại, để cho người xem dễ
hiểu Sách làm xong, xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện” [10, tr 331]
Sang thời Trần, hoạt động pháp chế lại được tăng cường hơn nữa Năm
1230, nhà vua “định thể lệ làm ra các sách chép về việc hình”, cho khảo định
đời trước để soạn Quốc triều hình luật Năm 1244, “định hình luật” và năm
1341 Trần Dụ Tông trao cho Nguyễn Trung Ngạn và Trương Hán Siêu cùng
soạn ra Hình thư gồm một quyển
Các bộ luật thời Lý, Trần đều bị quân xâm lược nhà Minh cướp đoạt
mất, chỉ có thể hiểu qua Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú
Pháp luật thời kỳ này rất khắc nghiệt và tàn ác, phù hợp với tinh thần chung của pháp luật hình sự phong kiến mang nặng tính chất man rợ Ví như triều
Lý xử tội với hình phạt cực kỳ dã man như “lên ngựa gỗ” (tội nhân bị đóng lên một tấm ván, đem bêu chợ rồi mới đem ra pháp trường tùng xẻo), các hình phạt “chặt chân tay”… Mặc dù có những hạn chế nhưng đó là những bộ luật
có giá trị sâu sắc trong xã hội đương thời Nó chứng tỏ bộ máy nhà nước trung ương tập quyền đã có tính chất tương đối ổn định và được xây dựng với thiết chế tương đối hoàn bị
Trang 3939
Mặt hạn chế dưới thời Lý, Trần biểu hiện trong việc lựa chọn quan lại cho
bộ máy nhà nước phong kiến dựa trên nguyên tắc: “người có quan tước, con cháu được thừa ấm mới được vào làm quan Người giàu, khỏe mạnh mà không
có quan tước thì sung quân, đời đời làm lính” [30, tr 128] Nhà nước có nhiều điểm phỏng theo quan chế nhà Tống Hệ thống pháp luật thời kì này đặc biệt đề cao những người có chức, có quyền, hoàng tộc, tầng lớp trên trong xã hội, do đó
mà tầng lớp dân đinh, nông dân vẫn bị bóc lột, trừng trị với những hình phạt dã man, tàn bạo Như Phan Huy Chú nhận xét về triều đại Lý, Trần: “Hình pháp các đời Lý Trần, không thể biết rõ từng điều tỉ mỉ, kĩ càng Buổi đầu định ra luật cách tưởng cũng là dung theo chế độ của các đời Đường Tống, song trong khoảng rộng nghiêm, nhiều lúc có châm chước” [7, tr 291] và “hình của nhà Lý lỗi ở khoan rộng, hình của nhà Trần thì lỗi ở nghiêm khắc, nhẹ nặng không đúng mức, đều chưa gọi là phép hay được” [7, tr 290]
Bước sang thời nhà Hồ, Hồ Quý Ly đã thực hiện một số cải cách táo bạo về kinh tế và chính trị Trong đó có một số cải cách về mặt tổ chức bộ máy nhà nước nhằm tăng cường uy lực của nhà nước tập quyền chuyên chế:
Quyền lực tập trung hơn nữa về trung ương: Các đơn vị hành chính được điều chỉnh lại: nâng một số châu lên thành lộ, các lộ xa đổi làm trấn Ở các lộ thì thống nhất việc chỉ huy về quân sự và hành chính trong tay những chức quan gọi là đô hộ, đô thống, thái thú Ở các trấn, việc cai trị nặng về tính chất quân sự Ở mỗi lộ có đặt chức Liêm phóng sự - một chức quan chuyên coi bộ máy mật thám, dò xét tình hình về những hoạt động lật đổ để báo cáo
về trung ương
Lực lượng quân sự được tăng cường về mặt tổ chức và quân số: Hồ Quý Ly tiến hành việc tuyển binh ráo riết, bắt cả tu sĩ cũng phải làm binh dịch, mở thêm xưởng đóng chiến thuyền, binh khí Hồ Quý Ly có ý định xây dựng một quân đội hùng mạnh, nhằm mục đích một mặt đàn áp các cuộc
Trang 4040
chống đối của bọn quý tộc, quan lại trung thành với nhà Trần và nhằm đối phó với nguy cơ xâm lược của quân nhà Minh, mặt khác để trấn áp các cuộc khởi nghĩa của nông dân ngày càng nhiều và tiến hành chiến tranh với người Chiêm Thành ở phía nam
Thời nhà Hồ nắm chính quyền, đáng chú ý nhất là việc ban hành một số pháp luật về kinh tế và xã hội: Chính sách hạn điền (1397), hạn nô (1401) được ban hành dưới hình thức pháp luật Để bảo vệ tiền giấy lưu hành, Hồ Quý Ly đã ban hành những luật lệ trừng trị tội làm giả giấy bạc, tàng trữ tiền đồng và bắt buộc dân đổi tiền đồng lấy tiền giấy Hoạt động lập pháp, đặc biệt dưới thời nhà
Hồ không có nhiều vì họ Hồ chỉ thống trị trong một thời gian ngắn
Với những đặc điểm trên, nhà nước phong kiến thời Hồ Quý Ly mang tính chất cảnh sát và quân sự rõ rệt Đó là sự phản ứng của một bộ phận trong nội bộ giai cấp thống trị vào cuối thế kỉ XIV bị nhân dân chống lại dữ dội Những biện pháp của Hồ Quý Ly đưa ra nhằm cứu vãn vận mệnh của nhà nước phong kiến đang đứng trước nguy cơ bị sụp đổ đã không có kết quả và sau ít năm thì chính quyền họ Hồ bị quân xâm lược nước ngoài thủ tiêu
Mặt hạn chế dưới thời nhà Hồ biểu hiện ở chỗ, do Hồ Quý Ly cướp ngôi vua, không nhận được sự ủng hộ của dân, nên mọi cải cách của ông đối với nhân dân dù được thực hiện cũng mang tính chất miễn cưỡng Vua đứng đầu bộ máy nhà nước lại không được lòng dân, nhà nước nhanh chóng suy tàn
Tóm lại, qua các triều đại từ Ngô - Đinh - Tiền Lê, Lý - Trần, Hồ, việc xây dựng bộ máy nhà nước mỗi thời kì có những tiến bộ nhất định, củng cố hơn nữa cho bộ máy trung ương tập quyền phong kiến Bên cạnh đó, nó cũng bộc lộ những hạn chế, đây được coi là những bài học kinh nghiệm đối với triều Lê sơ sau này trong việc hoàn thiện bộ máy nhà nước quân chủ chuyên chế đạt đến đỉnh cao