1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Characters’ discourse in noted American and Vietnamese short stories

131 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 2,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- PHẠM THỊ OANH THỰC TRẠNG BẠO HÀNH VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TRONG CÁC GIA ĐÌNH ĐÔ THỊ HIỆN NAY Nghiên cứu tại thành ph

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ OANH

THỰC TRẠNG BẠO HÀNH VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TRONG CÁC

GIA ĐÌNH ĐÔ THỊ HIỆN NAY

(Nghiên cứu tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội – 12.2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ OANH

THỰC TRẠNG BẠO HÀNH VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TRONG CÁC

GIA ĐÌNH ĐÔ THỊ HIỆN NAY

(Nghiên cứu tại phường Hưng Dũng và phường Bến Thủy, thành phố Vinh,

tỉnh Nghệ An)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

Mã số:60 90 01 01 Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thế Huệ

Hà Nội-12.2014

Trang 3

Để hoàn thành được khoá luận tốt nghiệp tôi xin được gửi lời cảm ơn tới ban chủ nhiệm và các thầy cô giáo trong Khoa Xã hội học– trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã cung cấp cho tôi những kiến thức và kỹ năng trong suốt quá trình học tập tại trường

Đặc biệt tôi xin cảm ơn TS Nguyễn Thế Huệ– Người đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp tôi hoàn thành khoá luận

Tôi xin được gửi lời cảm ơn Hội người cao tuổi tỉnh Nghệ An, Hội người cao tuổi phường Hưng Dũng và phường Bến Thủy, Uỷ ban nhân dân phường Hưng Dũng và phường Bến Thủy đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ để tôi hoàn thành quá trình điều tra tại quý cơ quan

Do hạn chế về mặt thời gian và trình độ nên khóa luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo và quý bạn đọc quan tâm tới vấn đề này để tôi có thể rút kinh nghiệm và hoàn thiện hơn trong quá trình công tác và làm việc sau này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng12, năm 2014 Học viên

Phạm Thị Oanh

Trang 4

1

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TƯ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU 7

MỞ ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 11

2.1 Trên thế giới 11

2.2 Trong nước 12

3 Ý nghĩa của nghiên cứu 14

3.1 Ý nghĩa khoa học 14

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 15

4 Câu hỏi nghiên cứu 15

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 15

5.1 Mục đích nghiên cứu 15

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 16

6 Giả thuyết nghiên cứu 16

7 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 16

7.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 16

7.2 Phạm vi nghiên cứu 17

8 Phương pháp nghiên cứu 18

8.1 Phương pháp luận nghiên cứu 18

8.2 Các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 19

8.2.1 Phương pháp phỏng vấn sâu 19

8.2.2 Phương pháp thảo luận nhóm 19

8.2.3 Phương pháp trưng cầu ý kiến 20

8.2.4 Phương pháp phân tích tài liệu 21

Trang 5

2

8.2.5 Phương pháp đặc thù của Công tác xã hội 21

9 Cấu trúc của khóa luận 22

PHẦN NỘI DUNG 24

Chương 1 24

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 24

1.1 Các khái niệm công cụ 24

1.1.1 Người cao tuổi 24

1.1.2 Khái niệm bạo hành 24

1.1.3 Khái niệm bạo hành người cao tuổi 25

1.1.4 Khái niệm bạo lực gia đình 26

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 27

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu 27

1.2.2 Lý thuyết nhận thức hành vi 30

1.2.3 Lý thuyết hệ thống 31

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33

1.3.1 Vị trí địa lý và đặc điểm dân cư 33

1.3.2 Tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Vinh 34

1.3.3 Tình hình kinh tế - xã hội của phường Bến Thủy và phường Hưng Dũng 36

Chương 2 38

THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA VẤN ĐỀ BẠO HÀNH VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TRONG CÁC GIA ĐÌNH ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN 38

2.1 Thực trạng bạo hành đối với người cao tuổi trong các gia đình đô thị tại đại bàn nghiên cứu 38

2.1.1 Thực trang bạo hành đối với người cao tuổi chung và ở Nghệ An 38

2.1.2 Thực trạng bạo hành người cao tuổi tại địa bàn thành phố Vinh 41

Trang 6

3

2.1.3 Thực trạng bạo hành người cao tuổi tại địa bàn phường Bến Thủy và

phường Hưng Dũng thành phố Vinh 43

2.2 Nguyên nhân của thực trạng bạo hành với người cao tuổi trong gia đình đô thị tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 67

2.2.1 Nguyên nhân chủ quan từ bản thân người cao tuổi 67

2.2.2 Nguyên nhân khách quan 71

2.3 Hậu quả của vấn đề bạo hành với người cao tuổi trong gia đình đô thị tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 76

2.3.1 Đối với người cao tuổi 76

2.3.2 Đối với gia đình 79

2.3.3 Đối với xã hội 81

Tiểu kết chương 2 83

Chương 3 84

NÂNG CAO KHẢ SỰ HỖ TRỢ VÀ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI CÁC VẤN ĐỀ BẠO HÀNH CHO NGƯỜI CAO TUỔI TRONG CÁC GIA ĐÌNH ĐÔ THỊ Ở THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỂ AN 84

3.1 Những can thiệp từ chính quyền địa phương và hiệu quả của những can thiệp đó 84

3.2 Nâng cao sự hỗ trợ và khả năng ứng phó đối với các vấn đề bạo hành cho NCT và gia đình tại thành phố Vinh 88

3.2.1 Các mô hình hỗ trợ người cao tuổi và gia đình trong phòng và chống bạo hành với người cao tuổi 88

3.2.2 Làm CTXH trực tiếp với vấn đề bạo hành NCT trong các gia đình đô thị ở thành phố Vinh 93

Tiểu kết chương 3 101

PHẦN KẾT LUẬN 102

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 102

Trang 7

4

1 Kết luận 102

2 Khuyến nghị 109

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

Phụ lục 1: Ảnh 115

Phụ lục 2: Bảng khảo sát 117

A – THÔNG TIN CÁ NHÂN 118

B - PHẦN NỘI DUNG 119

Phụ lục 3: KHUNG HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM 125

Phụ lục 4: KHUNG HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU 128

Mục lục sửa theo bên trong tài liệu, nhớ các mục phải đúng theo số trang của tài liệu Phần nội dung, thầy có gạch dưới nhiều chỗ, em xem sửa, người cao tuổi đã viết tắt thì trong nội dung viết tắt hết nhé

Trang 9

6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 2.1: Các nhóm nạn nhân của bạo hành gia đình trên cả nước 38

2 Biểu đồ 2.2: Tình trạng bạo hành với NCT theo giới tính và nhóm

3 Biểu đồ 2.3: Bạo hành tinh thần của NCT phân theo nhóm tuổi 56

4 Biểu đồ 2.4: Sự tổn thương của NCT khi là nạn nhân của bạo hành

5 Biểu đồ 2.5: Thái độ của người dân khi có bạo hành với NCT 70

6 Biểu đồ 2.6: NCT không muốn công khai chuyện bạo hành của mình 87

Sửa tên Hình trong nội dung theo tên biểu đồ thầy đã sửa ở đây

Nội dung bảng trong tài liệu sửa theo bảng sửa dưới nhé

Trang 10

3 Bảng 2.3: Người biết về hành vi bạo hành về thể chất đối với NCT tại

4 Bảng 2.4: Các các hành vi bạo hành về tinh thần với NCT tại phườn

5 Bảng 2.5: Sự khác nhau về giới qua các hình thức bạo hành 57

6 Bảng 2.6: Mức độ nguy hiểm của hành vi bạo hành đối với NCT tại

7 Bảng 2.7: Mức độ bạo hành với NCT tại phường Bến Thủy và phường

8 Bảng 2.8: Các nguyên nhân dẫn đến bạo hành với NCT tại thành phố

9 Bảng 2.9: Các mối nguy cơ về sức khỏe khi NCT bị bạo hành thể chất 76

10 Bảng 2.10: Các trạng thái cảm xúc NCT gặp phải khi bị bạo hành 77

Trang 11

8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội Gia đình mang lại sự êm ấm, hạnh phúc cho mỗi

cá nhân và bình yên cho xã hội Trong suy nghĩ của mỗi người, gia đình là một tổ ấm

để nuôi dưỡng, che chở cho họ trước những biến cố xảy ra trong cuộc sống nhất là đối với người già và trẻ em Gia đình đảm nhiệm nhiều chức năng quan trọng như: chức năng tái sản xuất con người, chức năng giáo dục trẻ em, chức năng kinh tế, chức năng tâm lý tình cảm và chức năng bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ…

Sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta trong những năm qua một mặt tạo ra những điều kiện để gia đình làm tốt chức năng của mình, nhưng mặt khác chính những mặt trái của nền kinh tế thị trường và những biến đổi theo chiều hướng tiêu cực của các giá trị xã hội đang tác động tiêu cực lên sự tồn tại và phát triển của gia đình Trong tác phẩm “Bạo lực gia đình - sự sai lệch giá trị” Tác giả Đặng Cảnh Khanh có viết “Gia đình với vai trò là một tổ ấm đang bị tấn công từ nhiều phía Chức năng của gia đình ở những thời điểm nhất định đang dần bị phá vỡ từng mảng, các chức năng đó đang có những biến đổi, có những chức năng được tăng lên nhưng cũng có những chức năng bị hạ thấp Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình bị biến đổi theo hướng coi trọng các giá trị vật chất hơn các giá trị về tinh thần” [22,tr 8] Tình cảm gia đình - chỗ dựa tinh thần cho mỗi cá nhân đang bị giảm sút Lời nói của những người cao tuổi (NCT) trong gia đình không còn như trước nữa mà thay vào đó là ai nắm kinh tế người

ấy có “quyền lực” nhất gia đình Đây là một yếu tố tạo điều kiện cho bạo hành gia đình phát triển

Bạo hành gia đình xuất hiện từ rất sớm và tồn tại cho đến ngày nay cùng với sự tồn tại của gia đình Bạo hành gia đình đã và đang xảy ra ở khắp nơi trên thế giới với

Trang 12

9

nhiều dạng thức khác nhau không phân biệt nước giàu, nước nghèo, dân tộc, tôn giáo, màu da, tầng lớp, lứa tuổi hay trình độ văn hoá và địa vị xã hội Nó làm tổn thương đến

thể xác và tinh thần của những nạn nhân mà đặc biệt là phụ nữ, người già và trẻ em

Nó liên quan chặt chẽ đến thân phận, vị trí, vai trò của họ trong hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội

Ở Việt Nam, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và các văn bản liên quan đã đưa ra những quy định chặt chẽ về các vấn đề phòng và chống bạo lực gia đình Mặt khác, pháp luật nước ta có quy định quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, thân thể, danh dự, uy tín, nhân phẩm của công dân, chống mọi hành vi bạo lực gia đình Điều này thể hiện rõ trong hiến pháp (năm 1946, 1959, 1980, 1992…); trong Bộ luật Hình

sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bảo vệ bà mẹ và chăm sóc trẻ em, Luật Chăm sóc

và giáo dục trẻ em song bạo hành trong gia đình vẫn đang diễn ra khắp các vùng miền

cả nước: nông thôn, thành thị, đồng bằng, trung du, miền núi, miền biển…

Trước đây, khi nghe đến bạo hành người ta thường hình dung nạn nhân “quen

thuộc” đó là phụ nữ, thì nay nhóm nạn nhân của nạn bạo hành gia đình đã có tính đa

dạng hơn bao gồm cả bốn nhóm: phụ nữ, trẻ em, đàn ông và người già mà đặc biệt trong những năm gần đây nạn nhân là những người già đang có chiều hướng gia tăng Điều này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của NCT

Mặt khác, Việt Nam hiện là nước đang bắt đầu già hóa dân số, điều này cũng đồng nghĩa với việc số lượng NCT sẽ tăng cao trong tương lai Đảng và Nhà nước ta đã

và đang có nhiều chủ trương để nâng cao hơn nữa chất lượng cuộc sống của NCT nhằm đảm bảo cân bằng với sự biến đổi của tình hình dân số Việt Nam Và một trong những vấn đề luận văn quan tâm là làm sao để phòng chống bạo hành cho NCT, giúp

họ có một cuộc sống tốt hơn bên con cháu

Khi nghiên cứu về đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng: Giai đoan tuổi già là một trong những giai đoạn đầy bão tố cạnh tranh nhất của

Trang 13

10

cuộc đời mỗi con người bởi đây là giai đoạn mà sự lão hóa và sự thay đổi về mặt sinh

lý và thể chất Những thay đổi đó đã tạo nên những khó khăn cho họ và khi đã là nạn nhân của bạo hành gia đình thì những khó khăn đó lại tăng lên gấp nhiều lần Bạo hành NCT không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân NCT mà nó còn làm cho các giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình bị xuống cấp, làm băng hoại giá trị đạo đức của cá nhân và của xã hội, phá vỡ môi trường giáo dục của trẻ em, nó làm cho lối sống của một số cá nhân bị biến dạng

Tuy nhiên, thực tế cho thấy bạo hành với NCT vốn là một vấn đề tế nhị và khó can thiệp Không phải NCT nào khi bị bạo hành cũng có thể đứng lên đấu tranh để chống lại và tự bảo vệ mình Đặc biệt với những trường hợp bị bạo lực về tinh thần thì càng khó khăn hơn, đây là những trường hợp không dễ để cho những nạn nhân có thể chống lại những người gây ra bạo lực với mình hoặc mong chờ sự trợ giúp từ bên ngoài Hơn nữa, với những NCT khi họ hiểu được hoàn cảnh, sức khỏe của mình và việc mình phải bảo vệ “gia phong” của gia đình mình trước cộng đồng và xã hội

Trong khi đó, biện pháp hỗ trợ cho những NCT là nạn nhân của bạo lực gia đình đang còn hạn chế và chưa đồng bộ ở các địa phương trong cả nước, đặc biệt là ở các

gia đình ở đô thị khi mỗi người đều nghĩ rằng “đèn nhà ai nhà nấy rạng” Đây cũng là

một khó khăn trong công tác phòng và chống bạo hành và bảo vệ người cao tuổi

Vinh là thành phố cấp 2, là một đô thị lớn của Tỉnh Nghệ An, tại đây số lượng NCT lên tới 2.014 người trong tổng số 60.215 NCT toàn tỉnh [12,tr 2] Bên cạnh đó, vấn đề bạo hành gia đình nói chung và bạo hành NCT nói riêng vẫn còn chiếm tỷ lệ cao Theo thống kê của Hội Người cao tuổi tỉnh Nghệ An, chỉ tính trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến đầu năm 2014 trên địa bàn thành phố xảy ra 423 vụ bạo hành gia đình trong đó có 73 vụ liên quan đến bạo hành đối với NCT [12,tr 4] Điều này không chỉ ảnh hưởng tới tất cả các thành viên trong gia đình, đến bản thân của chính NCT mà

nó còn ảnh hưởng đến sự phát triển của gia đình và xã hội trong toàn tỉnh

Trang 14

11

Thêm vào đó, việc nghiên cứu về bạo hành gia đình và bạo hành đối với NCT trên khắp cả nước nói chung và tại Nghệ An nói riêng thì đã nhiều, tuy nhiên những nghiên cứu sâu về bạo hành đối với NCT trong các gia đình đô thị thì chưa nhiều, đặc biệt là những đánh giá bạo hành ở gia đình đô thị tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An còn rất hạn chế

Từ những thực tế trên nên tác giả chọn đề tài “Thực trạng bạo hành với người cao tuổi trong các gia đình đô thị hiện nay (nghiên cứu tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An) làm đề tài cho luận văn cao học với mong muốn làm rõ thực trạng bạo hành

NCT trong các gia đình đô thị tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An Đồng thời luận văn sẽ đưa ra một số nguyên nhân, mô hình công tác xã hội nhằm nâng cao sự hỗ trợ và khả năng ứng phó của NCT trước thực trạng bạo hành trong gia đình với họ trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Trong những năm qua, bạo hành gia đình nói chung và bạo hành NCT nói riêng

là một vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước Tuy nhiên, phần lớn các đề tài viết về vấn đề bạo hành gia đình đều tập trung nhiều vào nhóm nạn nhân quen thuộc là phụ nữ

2.1 Một số nghiên cứu về Bạo hành NCT trên thế giới

Tác phẩm “Tự do từ bạo lực - Chiến lược toàn cầu của phụ nữ” (Freedom from

Violence – Women’s Strategies from Aroud the World ) của tác giả Margaret Schule đã

cung cấp cách nhìn tổng thể về vấn đề bạo lực gia đình (BLGĐ) và chiến lược liên quan đến BLGĐ Tác phẩm đã phản ánh tình trạng bạo lực chống lại phụ nữ từ nước

Mỹ đến các nước đang phát triển ở Châu Á, Châu Phi và Mỹ La Tinh Tính đa dạng của hoàn cảnh, văn hoá dẫn tới những nguyên nhân, các hình thức diễn ra BLGĐ như: nơi làm việc, đường phố và gia đình Đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh vai trò của

Trang 15

12

truyền thông, giáo dục nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức và làm thay đổi hành vi của các cá nhân trong việc phòng và chống BLGĐ cũng như các biện pháp cải cách pháp luật và hành động chống lại BLGĐ

Tác phẩm – “Tình yêu đến sự sống sót - Sự bạo lực tình dục của đàn ông và

cuộc sống của phụ nữ” (Loving to survive – Sexual men’s violence and women’s live) -

của tác giả Dee.L Rgraham và đồng nghiệp đã trình bày những ảnh hưởng của bạo lực của nam giới đối với phụ nữ và tâm lý của họ Bà đưa ra lăng kính của nữ quyền để chữa trị cho họ trong mối quan hệ nam nữ

Tác phẩm “Bạo lực - sự im lặng và sự giận giữ - các bài viết của phụ nữ như là

một tội lỗi” (Violence, silence and Anger – Women’s writing as transgression) – của

nhiều tác giả do Deirdre Lashgari chủ biên Tác phẩm là cơ sở cho các nhà nữ quyền trình bày về sự im lặng, sự tức giận và nhu cầu nói lên tiếng nói chống lại bạo lực Nhiều hình thức bạo lực như áp bức tình dục, sự đối kháng giữa mẹ và con gái, các chủ

đề về giới với chủng tộc và giai cấp mà tác phẩm đã đề cập đến

Tác phẩm có tựa đề “Bạo lực gia đình ở Việt Nam” (Domestic violence in

Vietnam) do tổ chức Diễn đàn Châu Á Thái Bình Dương về phát triển, pháp luật và

phụ nữ (Asia Pacific Forum on Women, Law and Development viết tắt là APWLD), xuất bản năm 2000 Tác phẩm là kết quả của cuộc khảo sát xã hội học về BLGĐ tại Hà Nội Các tác giả đã khẳng định “BLGĐ đã để lại di chứng nặng nề lên đời sống, tinh thần tình cảm, nhận thức của nạn nhân, là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tan vỡ gia đình BLGĐ không chỉ xảy ra trong mối quan hệ gia đình giữa chồng với vợ mà còn giữa cha mẹ đối với con cái, giữa con cái đối với cha mẹ”

2.2 Các nghiên cứu về Bạo hành NCT trong nước

Các bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Thế Huệ - Một trong những chuyên gia nghiên cứu về NCT và bạo hành NCT ở Việt Nam Một trong những tác phẩm tiêu biểu của

ông mang tên: “Người cao tuổi và bạo lực gia đình” – Nhà xuất bản Tư pháp, năm

Trang 16

13

2007 Tác phẩm là sự phối hợp của ông và Viện nghiên cứu Người cao tuổi Việt Nam nghiên cứu về vấn đề bạo hành NCT Trong tác phẩm đã chỉ rõ về thực trạng, nguyên nhân của bạo lực gia đình NCT và vai trò của NCT trong việc tham gia phòng chống bạo lực gia đình tại ba tỉnh của khu vực Miền Trung và Tây Nguyên Đồng thời tác phẩm cũng nêu lên được các chủ trương, chính sách của Trung ương Hội người cao tuổi về phòng và chống bạọ hành đối với NCT

Đã có các bài viết của tác giả Lê Thị Quý - Một trong những chuyên gia nghiên cứu về giới và gia đình đã đăng tải các công trình đầu tiên về bạo lực gia đình mang

tên: “Bạo lực gia đình ở Việt Nam” đăng trên tạp chí Khoa học và phụ nữ (năm 1994)

Bài viết xác định năm nguyên nhân chính của BLGĐ đó là: nguyên nhân kinh tế, nguyên nhân nhận thức, nguyên nhân văn hoá xã hội, nguyên nhân về sức khoẻ và nguyên nhân thuộc về nữ giới

Trong tác phẩm “Nỗi đau của thời đại” tác giả Lê Thị Quý nói về vấn đề BLGĐ

ở 2 dạng đó là bạo lực nhìn thấy được và bạo lực không nhìn thấy được Với tư cách là sai lệch xã hội, hai dạng bạo lực này thể hiện mối quan hệ khăng khít ở nơi này nhưng

ở nơi khác nó lại thể hiện sự độc lập, tách biệt lẫn nhau Dạng bạo lực không nhìn thấy được xuất phát từ sự phân công lao động bất hợp lý giữa nam và nữ trong gia đình núp dưới các khái niệm “thiên chức”, “hi sinh” của phụ nữ

Nghiên cứu của tác giả Vũ Mạnh Lợi và Vũ Tuấn Huy với tiêu đề "Bạo lực trên

cơ sở giới” với kết quả nghiên cứu ở ba thành phố là Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí

Minh đã đi sâu xem xét thái độ của cộng đồng và các thể chế xã hội về bạo lực trên cơ

sở giới, cũng như các phản ứng của các cá nhân, pháp luật và các thể chế đối với nạn BLGĐ Nghiên cứu cũng đưa ra nhận xét về tình trạng bạo lực có chiều hướng gia tăng đặc biệt trong những gia đình mà ở đó người phụ nữ đang thực hiện và khẳng định vai trò kinh tế hộ Nghiên cứu đưa ra tám nguyên nhân dẫn tới BLGĐ và bảy kiến nghị nhằm hạn chế ngăn chặn tình trạng BLGĐ

Trang 17

14

Đề tài: “Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam” của Hội liên hiệp phụ nữ

(HLHPN) Việt Nam năm 2001 đã tìm hiểu nhận thức của người dân và các cán bộ thi hành pháp luật của các tổ chức đoàn thể xã hội trong việc phòng chống BLGĐ Ngoài

ra, đề tài còn chỉ ra hậu quả nghiêm trọng của nạn BLGĐ đối với các nạn nhân và phản ứng của những họ đối với hành vi bạo lực

Tác phẩm “Bạo lực gia đình - Sự sai của một giá trị” của hai tác giả Lê Thi Quý

và Đặng Cảnh Khanh xuất bản năm 2007 đã nói lên được vai trò của các hình thức can thiệp trong đó có truyền thông đối với vấn đề phòng và chống BLGĐ Thông qua kết quả nghiên cứu của dự án tác giả đã nói lên được tầm quan trọng của các hình thúc can thiệp nhằm nâng cao nhận thức cho người dân về phòng chống BLGĐ

Trong bài viết có tựa đề: “Phổ biến tài liệu hướng dẫn tư vấn chống bạo hành

cho các cộng đồng ở nông thôn” của tác giả Lê Thị Mai đã đưa ra một số nhận định về

nguyên nhân của BLGĐ, cách phân chia BLGĐ thành các loại khác nhau Cùng với việc nêu ra những hậu quả nghiêm trọng của nạn bạo hành trong gia đình Báo cáo còn

đo lường nhận thức của người dân, cán bộ HLHPN, cán bộ tổ hoà giải tại các địa bàn nghiên cứu Nghiên cứu đưa ra một yêu cầu là cần có biện pháp can thiệp bằng việc tiếp cận tâm lý ngay tại cộng đồng

Ngoài ra, còn rất nhiều tác phẩm, các nghiên cứu và các bài viết về BLGĐ được đăng trên các tạp chí, các trang báo và các hình thức khác Tuy nhiên, các nghiên cứu

về vai trò của truyền thông trong phòng và chống BLGĐ đặc biệt là ở Việt Nam còn chưa nhiều

3 Ý nghĩa của nghiên cứu

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần đưa ra cái nhìn đầy đủ và một số lý luận về vấn

đề liên quan đến bạo hành đối với NCT; cung cấp cho các nhà nghiên cứu những cách

Trang 18

15

nhìn mới trong việc giải thích những vấn đề xảy ra đối với NCT Đồng thời đề tài đã vận dụng nhuần nhuyễn các lý thuyết vào quá trình nghiên cứu kết quả, gắn lý thuyết với thực tiễn, góp phần để xây dựng và phát triển các lý thuyết sau này

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Qua nghiên cứu thực tiễn, luận văn sẽ cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách và nhân dân thấy rõ thực trạng bạo hành trong gia đình NCT trong các gia đình đô thị đang xảy ra tại hai phường của Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An Từ đó, luận văn sẽ đưa ra những hướng hỗ trợ giúp bản thân NCT phòng và tránh được vấn nạn bạo hành, đồng thời đề tài còn giúp các cấp chính quyền địa phương sớm có những can thiệp phù hợp và kịp thời để ngăn chặn tình trạng bạo hành, để NCT được sống quãng đời còn lại trong bầu không khí đầm ấm của gia đình

Mặt khác, kết quả nghiên cứu còn mong muốn nâng cao hơn nhận thức của những người dân để từ đó họ có cách nhìn nhận và ứng xử hợp lý hơn đối với NCT và giữ được bản sắc “kính già nhường trẻ” - một trong những nét truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Bạo hành với NCT trong các gia đình tại thành phố Vinh, Nghệ An đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng như thế nào, nguyên nhân từ đâu?

- Nâng cao sự hỗ trợ và khả năng ứng phó cho NCT góp phần giúp họ phòng, chống tình trạng bạo hành trong gia đình NCT tại các gia đình của thành phố Vinh, Nghệ An?

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ thực trạng bạo hành với NCT tại các gia đình của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Trang 19

16

- Chỉ ra những nguyên nhân, nâng cao sự hỗ trợ và khả năng ứng phó của NCT

để giúp họ phòng chống bạo hành gia đình và kiến nghị được đưa ra nhằm đẩy lùi đi đến ngăn chặn tình trạng bạo hành trên

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan về bạo hành với NCT trong các gia đình đô thị ở tỉnh Nghệ An

- Thực trạng nạn bạo hành của các gia đình tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An với NCT

- Nguyên nhân, hậu quả, nâng cao sự hỗ trợ và khả năng ứng phó của NCT để giúp họ phòng chống bạo hành gia đình và kiến nghị cho vấn đề bạo hành với NCT tại các gia đình của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

6 Giả thuyết nghiên cứu

- Bạo hành với NCT trong các gia đình tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã và đang điễn ra trên các Phường, có nhiều nguyên nhân dẫn tới vấn đề này

- Vấn đề bạo hành với NCT trong các gia đình tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

đã để lại rất nhiều hậu quả nghiêm trọng cho NCT, gia đình và xã hội

- Nâng cao sự hỗ trợ và khả năng ứng phó cho người cao tuổi sẽ giúp NCT phòng, chống được vấn đề bạo hành, góp phần ngăn chặn và đẩy lùi được thực trạng bạo hành với NCT trong các gia đình tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

7 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

7.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Ứng dụng CTXH để hỗ trợ cho NCT là nạn nhân của

bạo hành trong các gia đình đô thị tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An hiện nay

Trang 20

17

* Khách thể nghiên cứu: Khách thể nghiên cứu là những NCT bị bạo hành và

những người gây bạo hành với NCT, người thân của những NCT trong các gia đình tại

đô thị, chính quyền địa phương và những người dân tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

7.2 Phạm vi nghiên cứu

* Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Do thời gian và khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, đề tài tập trung nghiên cứu thực địa và hoàn thiện luận văn từ tháng 12/2012 đến tháng 10 năm 2014 Nghiên cứu về vấn đề bạo hành NCT được xem xét trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2013

* Phạm vi về địa bàn nghiên cứu: Do giới hạn về mặt thời gian và kinh nghiệm

nên đề tài được triển khai nghiên cứu tại Phường Bến Thủy và Phường Hưng Dũng của bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

* Giới hạn về nội dung: Do thời gian không nhiều và khả năng của học viên có hạn nên luận văn này chỉ tập trung làm rõ một số vấn đề cơ bản: Thực trạng bạo hành với NCT trong các gia đình đô thị, nguyên nhân, nâng cao sự hỗ trợ và khả năng ứng phó của NCT để giúp họ phòng chống bạo hành gia đình và kiến nghị thông qua công tác xã hội nhằm ngăn chặn bạo hành NCT trong các gia đình ở 2 phường Hưng Dũng

và Bến Thủy của thành phố Vinh, Nghệ An Nghiên cứu những NCT trong độ tuổi từ

60 tuổi đến 85 tuổi và được chia thành 3 nhóm:

Nhóm thứ nhất gồm những người từ 60 đến 69 tuổi

Nhóm thứ 2 gồm những người từ 70 đến 89 tuổi

Nhóm thứ 3 gồm những người trên 80 tuổi

Trang 21

18

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Nghiên cứu này được tiến hành dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Theo chủ nghĩa duy vật lịch sử tất cả các hiện tượng nảy sinh trong xã hội đều có quá trình phát sinh, tồn tại và phát triển Trong các thời kì khác nhau, các hình thái kinh tế xã hội khác nhau sẽ có sự biến đổi khác nhau Việc sử dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử là đặt các hiện tượng xã hội, các quá trình xã hội trong hoàn cảnh lịch sử của đời sống xã hội Dựa trên quan điểm đó

có thể thấy việc nghiên cứu về NCT bị bạo hành hành trong gia đình ở đô thị cần phải đặt nó trong điều kiện cụ thể về tình hình kinh tế, xã hội, văn hoá của địa phương cũng như trong điều kiện chung của cả nước Trong mỗi điều kiện này thì vấn đề bạo hành đối với NCT sẽ có những biến đổi khác nhau với những hình thức khác nhau Trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể của xã hội sẽ có những yếu tố tác động khác nhau lên vấn đề bạo hành đối với NCT Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng đòi hỏi phải xem xét sự kiện xã hội này trong mối liên hệ với sự kiện xã hội khác Không tách riêng việc thực hiện quyền của NCT ra khỏi sự vận hành của đời sống xã hội, mà phải đặt nó trong mối quan hệ biện chứng với kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội và đặc biệt là với các vấn đề xã hội như bình đẳng giới, tệ nạn rượu chè, giá trị văn hóa truyền thống và chức năng gia đình biến đổi, những tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường lên gia đình…

Bên cạnh đó, hệ thống các khái niệm, các lý thuyết Công tác xã hội và lý thuyết

Xã hội học đã trở thành cơ sở để giải thích cho những vấn đề và những hiện tượng xảy ra xung quanh vấn đề trực trạng, nguyên nhân và giải pháp trong phòng và chống bạo hành đối với NCT Những lý thuyết này còn trang bị cho chúng ta cách nhìn nhận

và lý giải vấn đề từ nhiều góc cạnh khác nhau về bạo hành

Trang 22

Trong đề tài đã có 30 cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện, trong đó:15 người là nạn nhân của nạn của bạo hành, 5 người là những người thân trong gia đình NCT bị bạo hành, 7 người là những người dân sống gần nhà NCT bị bạo hành và 3 người là cán bộ chính chình trực tiếp phụ trách địa bàn Quá trình phỏng vấn sâu cho phép tác giả thu thập những thông tin liên quan đến đời sống tâm lý của các cụ, diễn tiến của hành vi bạo lực trong khuôn khổ đời sống của những con người cụ thể Những thông tin đi sâu khám phá tác động của vấn đề bạo hành với việc làm tổn thương đến tâm lý của những nạn nhân, tác động của những người xung quanh và chính quyền địa phương đối với việc can thiệp và ngăn chăn vấn đề bạo hành đối với NCT mà các phương pháp khác không khai thác hoặc khó khai thác được

Như đã biết bạo hành gia đình nói chung và bạo hành NCT nói riêng vốn là một vấn đề tế nhị, nhạy cảm và rất khó để thống kê chính xác, chính vì vậy mà cần đảm bảo tính khuyết danh của người được phỏng vấn nhằm làm cho vấn đề được nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan hơn

8.2.2 Phương pháp thảo luận nhóm

Thảo luận nhóm tập trung được sử dụng để thu thập thông tin về vấn đề bạo hành NCT trong các gia đình đô thị và các giải pháp trong tương lai nhằm phòng và chống bạo hành đối với NCT Có 4 cuộc thảo luận đã được tổ chức tại địa bàn nghiên

Trang 23

20

cứu: Cuộc thảo luận thứ nhất và thứ hai gồm hai nhóm: nhóm các cụ trong Hội Người cao tuổi phường Bến Thủy và nhóm các cụ trong Hội Người cao tuổi tại phường Hưng Dũng, trong cả hai nhóm đó có những NCT là nạn nhân của vấn đề bạo hành Cuộc thảo luận thứ 3 gồm những người trong gia đình NCT trong đó có cả người gây nên bạo hành bạo lực Cuộc thảo luận thứ 4 gồm những cán bộ trực tiếp tham gia công tác truyền thông về phòng và chống bạo lực gia đình tại địa phương

Nhóm thứ nhất và nhóm thứ hai mỗi nhóm có 9 người với nội dung chính về các vấn đề xoay quanh tình trạng bạo hành đối với NCT như: thực trạng, nguyên nhân, hậu quả của nạn bạo hành đối với NCT, cách phản ứng của NCT khi bạo hành xảy ra

Nhóm thứ 2 có 8 người với nội dung là: nhìn nhận, ứng xử và hiểu biết của anh chị với người cao tuổi và với bạo hành xảy ra đối với NCT

Nhóm thứ 3 có 7 người thảo luận với nội dung: Vai trò của bản thân anh (chị) trong việc phòng ngừa và ngăn chặn nạn bạo hành đối với NCT

8.2.3 Phương pháp trưng cầu ý kiến

Đây là phương pháp mà người được hỏi, trả lời với hình thức tự viết vào bảng hỏi đã đưa cho người trả lời dưới dạng Ankét (bảng hỏi) Sự tác động qua lại giữa người hỏi và trả lời theo cách trực tiếp, như dạng phỏng vấn trực tiếp Bảng hỏi đóng vai trò là người đi phỏng vấn Chính nội dung của bảng hỏi, lời chỉ dẫn, lời giải thích là phương tiện duy nhất để hướng dẫn hành động người trả lời, tạo nên sự quan tâm, hứng thú của người trả lời Trong quá trình nghiên cứu tôi tiến hành phát ra 200 phiếu điều tra cho các mẫu nghiên cứu được lựa chọn là người dân tại địa bàn phường Hưng Dũng

và phường Bến Thủy (trong đó phường Bến Thủy 100 mẫu, phường Hưng Dũng 100 mẫu) Đối tượng mẫu gồm có: người dân từ 18 tuổi trở lên Tỷ lệ mẫu là 51 nữ và 49 nam

Trang 24

21

8.2.4 Phương pháp phân tích tài liệu

Phân tích tài liệu chính là quá trình phân tích, phân chia, dữ liệu thành từng cụm, từng lĩnh vực, từng chi tiết cụ thể để tìm ra những nhận định, đánh giá Phương pháp này hết sức quan trọng trong các nghiên cứu, bởi vì việc thu thập số liệu chưa có tính quyết định, mà điều cốt lõi chính là những số liệu đó nói lên điều gì Chính việc phân tích tài liệu sẽ trả lời cho điều đó

Quá trình thu thập và xử lý thông tin thứ cấp phục vụ cho việc nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở đọc và phân tích các loại tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu

để so sánh, đối chứng sự khác biệt về những số liệu, sau đó đi giải thích cho sự khác biệt đó trên cơ sở thực tiễn thu lượm được Nguồn tài liệu được sử dụng cho nghiên cứu này bao gồm: Các bài báo được đăng trên báo, tạp chí, sách tham khảo, các công trình nghiên cứu về vấn đề bạo lực gia đình, bạo hành đối với NCT Các loại tài liệu của địa phương bao gồm: Những báo cáo tổng kết về công tác phòng và chống BLGĐ tại địa phương, báo cáo tổng kết về tình hình NCT của Hội Người cao tuổi tỉnh Nghệ

An và thành phố Vinh, báo cáo về tình hình kinh tế xã hội của thành phố Vinh, của phường Bến Thủy và phường Hưng Dũng

8.2.5 Phương pháp đặc thù của Công tác xã hội

Trong quá trình nghiên cứu để viết luận văn, tác giả có sử dụng những phương pháp đặc thù của công tác xã hội nhằm hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu, thực hành và giúp hỗ trợ cho đối tượng trong đó đặc biệt là các phương pháp của công tác xã hội với

cá nhân và gia đình nhằm hỗ trợ tâm lý và xây dựng những kỹ năng giúp cho NCT có thể vượt qua được những khó khăn về tâm lý khi bị bạo hành Phương pháp này còn giúp cho NCT tự tổ chức xây dựng được những kỹ năng sống, những kiến thức cần thiết để phòng và chống bạo hành xảy ra cụ thể như:

Trang 25

22

* Phương pháp Công tác xã hội với cá nhân: Công tác xã hội cá nhân là một cách thức, quá trình nghiệp vụ mà nhân viên xã hội sử dụng các kỹ năng kiến thức chuyên môn để giúp đối tượng phát huy tiềm năng tích cực tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề cải thiện đời sống của mình

* Phương pháp Công tác xã hội với gia đình: Công tác xã hội với gia đình là một phương pháp công tác xã hội, là cách tiếp cận giúp đỡ gia đình có khó khăn trong việc duy trì trạng thái cân bằng trong gia đình Công tác xã hội với gia đình đưa ra nhiều loại chương trình khác nhau như các dịch vụ duy trì gia đình, hỗ trợ tại nhà, hướng dẫn gia đình về các mô hình gia đình, thm vâấn hôn nhân…

9 Cấu trúc của khóa luận

Cấu trúc của khóa luận bao gồm 3 phần:

Phần mở đầu: Giới thiệu khái quát về đề tài, về lý do chọn đề tài, tổng quan về tình

hình nghiên cứu của đề tài, mục đích và ý nghĩa của việc chọn đề tài, câu hỏi nghiên cứu cho đề tài, các phương pháp để tiến hành nghiên cứu, giả thuyết để nghiên cứu, đối tương, khách thể và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Phần nội dung: Bao gồm ba chương:

Chương 1: Giới thiệu về cơ sở lý luận của quá trình nghiên cứu đề tài bao gồm:

Các khái niệm cơ bản của đề tài, một số lý thuyết cơ bản được áp dụng cho quá trình nghiên cứu, đặc điểm của địa bàn nghiên cứu

Chương 2: Trình bày về kết quả nghiên cứu bao gồm: Thực trạng của vấn đề

bạo hành đối với NCT trong các gia đình đô thị tại thành phố Vinh, Nguyên nhân và hâu quả của vấn đề

Chương 3: Nâng cao sự hỗ trợ và khả năng ứng phó của NCT để giúp họ phòng

chống bạo hành gia đình tình trạng bạo hành đối với mình trong các gia đình đô thị tại thành phố Vinh

Trang 26

23

Phần kết luận: Bao gồm kết luận và những khuyến nghị

Trang 27

24

PHẦN NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU

1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Người cao tuổi

Đại hội thế giới về người cao tuổi tại Viên (Áo) (1982) đã thống nhất quy định, tuổi già bắt đầu từ 60 trở lên Ở Việt Nam, Luật Người cao tuổi (tháng 11 nǎm 2009) được quy định: NCT là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên

Người cao tuổi hay người cao niên hay người già là những người lớn tuổi,

1.1.2 Khái niệm bạo hành

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO): Bạo hành là việc đe dọa hay dùng sức mạnh

thể chất hay quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc đối với một nhóm người hay một cộng đồng người mà gây ra hay làm gia tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hay gây ra sự mất mát

Khái niệm này cho thấy, bạo hành trong gia đình là một hành vi vi phạm nghiêm trọng giá trị chuẩn mực của gia đình và xã hội Đây là hành vi mà một cá nhân lợi dụng sức mạnh của mình để làm tổn thương cả về mặt thể chất và tinh thần của những người thân yêu nhất trong gia đình của mình Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tình cảm của các thành viên trong gia đình với nhau, nguy cơ đe dọa hạnh phúc gia đình cũng như sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của thế hệ trẻ và sự bình ổn của xã hội

(1)

Pháp lệnh người cao tuổi (số 23/2000/PL-UBTVQH, ra ngày 28/04/2000)

Trang 28

25

1.1.3 Khái niệm bạo hành người cao tuổi

Hiện nay chưa có một khái niệm nào cụ thể về vấn đề bạo hành đối với NCT, chỉ có trong quá trình nghiên cứu một số tác giả đã đưa ra một số cách nhìn nhận về vấn đề bạo hành với NCT

Theo cách hiểu của tác giả cho rằng: “Bạo hành với NCT là các hành vi phân

biêt đối xử với NCT, chửi mắng, ngược đãi xúc phạm đến danh dự nhân phẩm của NCT, dùng sức mạnh đe dọa, đánh đập NCT, không nuôi dưỡng, không cho giao tiếp

xã hội, bắt quỵ lụy về kinh tế, đuổi ra khỏi nhà, cưỡng ép quan hệ tình dục… những hành vi này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe thể chất và tinh thần của NCT, thậm chí nó còn ảnh hưởng đến tính mạng của họ”

Theo cánh hiểu này thì ta có thể thấy được bạo hành đối với NCT bao gồm tất

cả các dạng thức của của bạo hành đó là bạo hành về mặt thể chất, bạo hành về tinh thần, bạo hành về kinh tế và bạo hành về mặt tình dục đối với NCT

Trên khuôn khổ của đề tài bạo hành với NCT ở đây được bàn trên các phương điện sau:

- Về chủ thể: đây là các hành vi bạo hành trong gia đình giữa con, cháu đối với ông bà, cha, mẹ

- Về các loại hình: Trong khuôn khổ đề tài chỉ bàn đến các loại hình bạo hành đối với NCT hiện tại có ở Nghệ An như: Bạo hành về thể chất, bạo hành về tinh thần, bạo hành về kinh tế Còn bạo hành tình dục ở Nghê An không có, hơn nữa chủ thể gây bạo hành cho NCT ở đây là con cháu đối với ông bà, cha mẹ nên không có bạo hành về mặt tình dục

+ Bạo hành về thể chất: bao gồm cách hành vi làm tổn thương về thể xác: đánh, đuổi ra khỏi nhà, bị đe dọa, bị nhốt xích, ép phải bỏ đi…

Trang 29

-Về mức độ bạo hành: bao gồm các mức độ nhẹ, diễn ra hàng ngày như nói bong, nói gió cho đến các mức độ nguy hiểm và ảnh hưởng đến tính mạng của NCT

1.1.4 Khái niệm bạo lực gia đình

Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, là “hành vi cố ý của các

thành viên gia đình gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại… với các thành viên khác

Nói một cách dễ hiểu hơn, đó là việc các thành viên gia đình vận dụng sức mạnh

để giải quyết các vấn đề gia đình Gia đình là tế bào của xã hội, là hình ảnh thu nhỏ của

xã hội nên bạo lực gia đình có thể coi như là hình thức thu nhỏ của bạo lực xã hội với rất nhiều dạng thức khác nhau Xét về hình thức, có thể phân chia bạo lực gia đình thành các hình thức chủ yếu sau:

- Bạo lực thể chất: là hành vi ngược đãi, đánh đập thành viên gia đình, làm tổn

thương tới sức khỏe, tính mạng của họ

- Bạo lực về tinh thần: là những lời nói, thái độ, hành vi làm tổn thương tới danh

dự, nhân phẩm, tâm lý của thành viên gia đình

(1)

Điều 1, Luật phòng, chống bạo lực gia đình

Trang 30

27

- Bạo lực về kinh tế: là hành vi xâm phạm tới các quyền lợi về kinh tế của thành

viên gia đình (quyền tự do lao động, tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản…)

- Bạo lực về tình dục: là bất kỳ hành vi nào mang tính chất cưỡng ép trong các

quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình, kể cả việc cưỡng ép sinh con

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu

Abraham Maslow (1908 – 1970) là nhà tâm lý học người Mỹ Ông được cả thế giới biết đến như là nhà tiên phong của trường phái tâm lý học nhân văn Đây là một trường phái nhấn mạnh những giá trị, sự tự do, sáng tạo, khuynh hướng tự chủ, những kinh nghiệm của con người bởi hệ thống các lý thuyết về “thang bậc nhu cầu” của con người

Ông cho rằng con người phải được đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển Đó là nhu cầu về vật chất và sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu tình cảm xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được hoàn thiện Các nhu cầu này được sắp xếp theo thứ tự thang bậc từ nhu cầu cơ bản, có vị trí nền tảng nhất đến những nhu cầu khác cao hơn Vì vậy lý thuyết nhu cầu hay còn gọi là bậc thang nhu cầu Trong cách tiếp cận của ông con người thường có nhu cầu thỏa mãn những nhu cầu quan trọng nhất ở vị trí bậc thang đầu tiên rồi sau đó mới hướng tới những nhu cầu cao hơn

Trang 31

28

Áp dụng lý thuyết cho ta thấy được đối với NCT:

Nếu như theo nấc thang nhu cầu của A.Maslow thì nhu cầu lớn nhất của mỗi con người là nhu câu vật chất và sinh lý như: ăn, ở, mặc, tình dục… Tuy nhiên, đối với NCT những nhu cầu về ăn uống và sinh lý không còn cao như những lứa tuổi trước đó Với họ thì các nhu cầu về vật chất, ăn uống… của họ khi bước vào “tuổi xế chiều” không phải là những món ăn sơn hào hải vị, cũng không phải là những của ngon vật lạ

mà chỉ là những món ăn đạm bạc phù hợp với lứa tuổi của mình, thậm chí đối với một

số NCT họ còn hạn chế ăn những chất có nhiều chất dinh dưỡng hoặc chế biến và trang

trí cầu kỳ với lý do “sợ không lành bụng” Họ cũng không cần phải mặc thật đẹp, hay

phải có kiểu này model kia Với NCT có tâm lý “mặc quần áo mới không làm gì phí” nên dù cho quần áo mới con cháu có mua về thì họ vẫn cất giữ chỉ mặc những bộ quần

áo đã cũ

Ở cái tuổi “bên kia dốc cuộc đời” cái mà NCT cần nhất là được con cháu yêu thương kính trọng, quý trọng mình, về những gì mình đã cống hiến, được sum vầy bên

Trang 32

29

con cháu và lấy đó là niềm vui cuộc sống Với họ dù họ không còn làm ra kinh tế như trước kia nữa nhưng trong suy nghĩ của họ tiếng nói của mình phải luôn luôn có trọng lượng với con cháu, để họ thấy được rằng trong mắt con cháu, mình với tư cách là ông,

là bà – là người lớn tuổi nhất trong nhà, mình vẫn là người có vị trí quan trọng Đây là một nhu cầu rất lớn bởi như chúng ta biết NCT là những người đã rời xa khỏi công việc cùng các mối quan hệ xã hội, chính vì vậy mà nguồn vui của họ bây giờ là những người thân trong gia đình đặc biệt là con cháu của mình Tâm lý chung của NCT là sau bao nhiêu năm lăn lộn vất vả vì gia đình và vì con cháu thì lúc này mình về nghỉ ngơi nhưng họ vẫn luôn muốn con cháu phải thừa nhận những gì họ làm được, họ đã cống hiến Tuy nhiên, một thực tế đang xảy ra hiện nay là những giá trị của gia đình đang bị đảo lộn, trong gia đình người nắm kinh tế là những người có tiếng nói ảnh hưởng, và

có quyền quyết định tới các thành viên khác trong nhà và những người phụ thuộc như

NCT lại bị coi là “vô tích sự” chính vì vậy những lời nói hay ý kiến của họ ít được coi

trọng Đây là một yếu tố gây nên sự tổn thương về tâm lý của NCT

Một nhu cầu được xem là rất cao đối với NCT ở giai đoạn này, nhu cầu được chăm sóc sức khỏe, bởi đây là giai đoạn mà các bộ phận trên cơ thể bắt đầu lão hóa dần, khả năng phục hồi là rất thấp Cơ thể bắt đầu xuất hiện những cơn đau mỗi khi thời tiết thay đổi, thêm vào đó là những năm tháng lăn lộn vất vả của tuổi trẻ đã để lại những di chứng cho cơ thể như: đau nhức chân tay, lưng còng, gồi mỏi, mắt mờ Chính vì vậy mà một nhu cầu tất yếu là họ được thăm khám và chăm sóc về mặt y tế để đảm bảo sức khỏe

Ngoài ra, đối với NCT họ cũng luôn luôn cần những nhu cầu khác như được đảm bảo an toàn, được sống trong môi trường ấm cúng hạnh phúc, yêu thương và kính trọng Được tiếp tục thể hiện những tài năng mà mình đã có trước đây để tiếp tục cống hiến cho đời, được chơi những thú vui mà trước đây vì công việc, vì thời gian họ không làm được như: trồng hoa cây cảnh, nuôi chim, chơi cờ …

Trang 33

30

Như chúng ta đã biết để thực hiện được những nhu cầu bậc thấp là yếu tố tối thiểu nhất cần phải có, còn những nhu cầu bậc cao cũng đóng vai trò khá quan trọng trong việc giúp một cá nhân có thể phát triển tốt Song với một bộ phận nhỏ NCT một

số nhu cầu cơ bản ấy vấn chưa được đáp ứng và thực hiện một cách đầy đủ thì những nhu cầu bậc cao kia khó mà thực hiện được

1.2.2 Lý thuyết nhận thức hành vi

Lý thuyết nhận thức hành vi là một phần trong quá trình phát triển của lý thuyết hành vi và trị liệu được các tác giả như Beak (1989) và Ellis (1962) đưa ra Những nhà nghiên cứu cố gắng kết hợp logic giữa tư duy và nhận thức Lý thuyết này đánh giá rằng hành vi bị ảnh hưởng thông qua nhận thức hoặc lý giải về môi trường trong quá trình học hỏi Người ta cho rằng hành vi không phù hợp là xuất phát từ việc nhận thức sai lệch hoặc lý giải về môi trường sai lệch Chính vì vậy muốn thay đổi hành vì thì một yếu tố nhất thiết là cần phải thay đổi lại nhận thức về vấn đề đó Thuyết hành vi nhận thức có sự khác biệt với thuyết hành vi của Watson, Skinner hay Pavlov Với những lý thuyết về hành vi trước đây các tác giả nghiên cứu hành vi dựa trên sự phản

xạ Tức là có phản xạ thì tất yếu sẽ có hành vi đáp trả lại sự phản xạ đó Nhưng khi phản xạ kết thúc hay khi ngừng phản xạ thì hành cũng dần mất đi Nhưng thuyết hành

vi nhận thức lại xuất phát từ nhận thức của cá nhân Nhận thức chi phối hành vi vì vậy đôi khi chưa có sự thay đổi của nhận thức thì hành vi khó mà thay đổi được kể cả khi ý thức không tư duy đến vấn đề nhưng hành vi đó vẫn diễn ra

Áp dụng vào đề tài nghiên cứu thấy rằng: Bạo hành trong gia đình là một vấn đề sai, và đặc biệt bạo hành đối với NCT lại càng sai Đây là hành vi không được pháp luật và xã hội chấp nhận, đi ngược lại với giá trị truyền thống, đạo đức và văn hóa xã hội, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và thậm chí là tính mạng của những nạn nhân - NCT Dù vẫn biết đây là hành vi sai trái, vi phạm pháp luật, nhưng nạn bạo hành gia đình nói chung và bạo hành đối với NCT nói riêng vẫn

Trang 34

họ NCT trong gia đình, dù họ là cha mẹ mình hay cha mẹ của vợ hoặc chồng thì họ đều

là những người già cả, không làm được việc, hay ốm đau mang lại gánh nặng cho gia đình khi phải vừa nuôi dưỡng vừa chăm sóc sức khỏe lại vừa phải động viên, chiều chuộng Chính những nhận thức sai lầm này đã làm cho họ có những hành vi không đúng đối với NCT như: không tôn trọng, mắng chửi, hắt hủi, không cho ăn, sỉ nhục về tình thần, đuổi ra khỏi nhà, thậm chí là đánh đập… Vậy để thay đổi được tình trạng này, cần giúp họ thay đổi nhận thức của mình đối với cha mẹ mình Rằng cha mẹ là người đã sinh ra ta, cho ta cuộc sống, đã nuôi dưỡng ta thành người, cả cuộc đời cha

mẹ đã hi sinh rất nhiều để mong ta có cuộc sống tốt đẹp hơn Và đến bây giờ khi cha

mẹ đã già yếu không còn khả năng để làm ra của cải vật chất nữa thì cha mẹ rất cần nương tựa vào những người con như chúng ta Đối với cha mẹ niềm hạnh phúc lớn nhất là được gần gũi con cháu, được con cháu yêu thương, kính trọng… Từ việc thay đổi nhận thức như vậy sẽ giúp họ thay đổi hành vi của mình, dần dần xây dựng những hành vi mới tốt đẹp như yêu thương, kính trọng… hơn với cha mẹ và những người lớn tuổi xung quanh mình

1.2.3 Lý thuyết hệ thống

Thuyết hệ thống ra đời từ năm 1940, do nhà sinh vật học Ludwig Von BertaLffy phát hiện Để phản đối chủ nghĩa đơn giản hoá và việc cô lập hoá các đối tượng của khoa học, ông đưa ra quan điểm rằng tất cả cơ quan đều là các hệ thống, bao gồm những hệ thống nhỏ hơn và là phần tử của cá hệ thống lớn hơn

Hệ thống là tổng hoà các thành tố, các thành phần, các bộ phận và các mối quan

hệ giữa chúng với nhau theo một kiểu nào đó thành 1 cơ cấu toàn vẹn hoàn chỉnh

Trang 35

32

Von BertaLffy đã xác định một vài quy tắc quan trọng trong việc hiểu thế nào là một hệ thống và nó hoạt động như thế nào, các quy tắc đó là: Mọi hệ thống đều nằm trong một hệ thống khác lớn hơn và hệ thống lớn hơn có ảnh hưởng tới những hệ thống nhở hơn nằm trong đó; Một hệ thống luôn bao gồm những hệ thống con; Hệ thống có tính phụ thuộc (có ba loại tính phụ thuộc: Tính phụ thuộc trong hệ thống, tính phụ thuộc giữa các hệ thống, tính phụ thuộc vào môi trường); Tổng thể có nhiều đặc tính hơn tổng cộng các đặc tính của tất cả các thành viên (sự tương tác giữa các phần tử tạo

ra đặc tính mới cho tổng thể, những đặc tính này trước đây chưa có ở bất cứ thành viên nào trong hệ thống); Hệ thống có tính tương tác vòng

Vận dụng vào vấn đền bạo hành đối với NCT ta thấy rằng nếu như gia đình là một hệ thống thì bản thân NCT là một bộ phận trong hệ thống đó, vì vậy mà thái độ, hành vi, cách ứng xử, các hành vi bạo hành của các thành viên trong gia đình (được hiểu là các bộ phận khác của hệ thống gia đình) sẽ tác động một cách trực tiếp và gián tiếp lên NCT Từ cách vận dụng này cho ta thấy thân chủ thiếu hụt ở những hệ thống nào, mặt nào trong cuộc sống Mặt khác, khi nhìn nhận gia đình là một hệ thống thì cần đặt nó trong mối tương quan với các hệ thống xung quanh như các gia đình làng xóm,

họ hàng, dòng tộc, địa phượng… các hệ thống này có cách nhìn nhận, và phản ứng như thế nào khi NCT bị bạo hành, các nhân tố bên ngoài đó có tác tác động làm cho vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn hay làm giảm mức độ của vấn đề hay không

Qua những vấn đề trên cho thấy muốn thay đổi vấn đề của thân chủ là NCT mà chỉ tác động vào bản thân NCT thì sẽ không đủ và không giải quyết bền vững cho vấn

đề bới NCT vốn là một bộ phận nằm trong hệ thống gia đình chịu sự tác động của toàn

bộ nền an sinh của gia đình và các nhân tố môi trường bên ngoài gia đình Chính vì thế

mà khi giải quyết vấn đề bạo hành cho NCT tuổi thì ngoài hỗ trợ cho NCT thì đòi hỏi

ta cần làm việc và tác động đối với các cá nhân – là những thành viên còn lại trong gia đình đặc biệt là tác nhân gây nên vấn đề (người gây ra bạo hành cho NCT) và những

Trang 36

33

nhân tố môi trường bên ngoài gia đình NCT như: làng xóm, gia tộc, dòng họ, chính quyền địa phương thì vấn đề mới có thể giải quyết được một cách triệt để

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

1.3.1 Vị trí địa lý và đặc điểm dân cƣ

Thành phố Vinh là trung tâm chính trị kinh tế, văn hoá - xã hội của tỉnh Nghệ

An, một tỉnh lớn nằm ở vùng Bắc Trung bộ, có vị trí ở phía Đông - Nam của tỉnh, phía Bắc và Đông giáp huyện Nghi Lộc, phía Nam giáp huyện Nghi Xuân của tỉnh Hà Tĩnh, phía Tây giáp huyện Hưng Nguyên

Vinh cách thủ đô Hà Nội 300km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.400 km về phía Nam, tổng diện tích tự nhiên là 134,96 km2

, quy mô dân số là 435.208 người, gồm 18 phường và 7 xã mới sát nhập từ huyện Hưng Nguyên và huyện Nghi Lộc.[31,tr1]

Diện tích đất tự nhiên 6.751 km2

trong đó đất ở 13.4%; đất nông nghiệp 49%; đất lâm nghiệp 1,6%; đất chuyên dùng 25.8%; đất chưa sử dụng 1,6% Mật độ dân số 3.590 người/km2

Sau khi sát nhập thêm 7 xã của huyện Hưng Nguyên và Nghi Lộc diện tích sẽ tăng lên 135 km2

.[31,tr1]

Là vùng đất có núi sông bao bọc lại nằm kề cạnh biển đông, Vinh có một vị trí đặc biệt mà bất cứ nhà chiến lược thời đại nào cũng chú ý tới Vinh cũng là nơi hội tụ tiềm lực nhân văn Vinh là trung tâm chính trị - kinh tế, văn hoá, y tế, giáo dục và du lịch của Nghệ An

Vinh có lịch sử từ lâu đời, trải qua bao thế kỷ từ Kẻ Vạn (tiếng nôm), Kẻ Vịnh (tiếng hán) rồi Vĩnh Giang, Vĩnh Doanh sau chuyển thành Vĩnh Thị Và sau đó người tây Âu gọi là Vinh (Vĩnh gọi không có dấu) và kể từ năm 1789 đến nay từ Vinh được đặt tên cho thành phố này Vinh có vị trí địa lý thuận lợi, có tuyến đường sắt Bắc - Nam, đường 1A chạy qua, có sân bay Vinh, Vinh hội tụ tất cả những tinh hoa Xứ

Trang 37

34

Nghệ, có tiềm năng du lịch phong phú đa dạng, hấp dẫn trong thành phố: Thành cổ Vinh, Lâm viên Núi Quyết, Chùa Cần Linh, đền Hồng Sơn, rừng Bần - Tràm chim, chợ Vinh và các bảo tàng, khu vui chơi giải trí

1.3.2 Tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Vinh

Về tốc độ phát triển kinh tế: Nhịp độ tăng trưởng GDP thành phố Vinh giai

đoạn 2005 - 2010 đạt bình quân 14%/năm, giai đoạn 2010 - 2015 đạt 12,5%/năm, phấn đấu đến đoạn 2016 - 2020 đạt 12%/năm, đến năm 2020 tỷ trọng GDP của thành phố chiếm 41,5%/năm GDP của tỉnh và chiếm 18,2% GDP của vùng Bắc Trung bộ.[31,tr2]

Đô thị Vinh được phát triển mở rộng gắn kết với vùng phụ cận; các đô thị cũ được cải tạo, chỉnh trang; các khu đô thị mới được xây dựng hiện đại có kết cấu hạ tầng đồng bộ Kiến trúc đô thị có bản sắc riêng của vùng; hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng đáp ứng các chỉ tiêu đô thị loại 1 và đô thị trung tâm vùng

Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Giai đoạn đến năm 2010, thành

phố xác định phát triển kinh tế theo cơ cấu: Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp; giai đoạn sau năm 2010 cơ cấu kinh tế theo hướng: Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp

Công nghiệp: Sản xuất công nghiệp - xây dựng qua 15 năm có bước phát triển

khá Tốc độ tăng trưởng bình quân trên địa bàn giai đoạn 2000 đến 2010 là 12,5%, từ giai đoạn 2010 đến nay là 18,8% Vinh đang phát triển đa dạng các ngành công nghiệp

có lợi thế về nguyên liệu, lao động và thị trường Hướng tới phát triển Vinh trở thành trung tâm của vùng Bắc Trung bộ về một số ngành công nghiệp như: cơ khí phục vụ nông nghiệp, sản xuất lắp ráp ô tô, công nghiệp phần mềm, công nghiệp công nghệ thông tin, các ngành công nghiệp sạch.[31,tr3]

Dịch vụ: Lĩnh vực dịch vụ phát triển đa dạng Tốc độ tăng trưởng bình quân

trên địa bàn qua 15 là 10,7% [31,tr3] Các hoạt động dịch vụ đều có mức tăng trưởng khá Các đơn vị kinh tế hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, thương mại và du lịch tăng

Trang 38

35

trưởng mạnh và khá đa dạng Mạng lưới thương mại, dịch vụ phát triển khá nhanh cả

về số lượng, quy mô và chất lượng Thương nghiệp ngoài quốc doanh phát triển nhanh, đảm bảo nắm được trên 70% lưu chuyển hàng hoá bản lẻ và gần 30% lưu chuyển bán buôn Thành phố đang xây dựng Vinh - Cửa Lò thành trung tâm thương mại lớn của vùng Bắc Trung bộ, đầu mối bán buôn, đầu mối xuất nhập khẩu hàng hóa cho tỉnh và vùng Bắc Trung bộ

Nông nghiệp: phát triển thành phố theo hướng nông nghiệp sạch, an toàn và

hiệu quả cao nhằm phục vụ dân cư đô thị, các khu công nghiệp Thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp ngoại thành theo hướng chuyển từ độc canh trồng cây lương thực sang sản xuất nông nghiệp hàng hoá, thành phố đã tích cực áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống cây con, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ - cây trồng, hình thành vùng rau an toàn, hoa cây cảnh, cải tạo vườn tạp, phát triển mạnh nghề nuôi trồng thuỷ sản Giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiêp trên địa bàn năm đạt 277.400 triệu đồng [31,tr 4]

Giáo dục đào tạo và khoa học - công nghệ: Cơ sở vật chất phục vụ dạy và học

được tăng cường Đề án kiên cố hoá trường lớp và kế hoạch xây dựng trường chuẩn quốc gia được triển khai tích cực và có hiệu quả Mục tiêu 100% trường Tiểu học, Trung học cơ sở và 60% trường học mầm non có nhà cao tầng đã được thực hiện Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên Thành phố đã phổ cập xong chương trình trung học cơ sở Tính đến nay có 19 trường được công nhận Chuẩn Quốc gia Đào tạo nghề có bước phát triển khá, trong giai đoạn 2010 - 2015 đã đào tạo được cho hơn 326.000 lượt người, giới thiệu việc làm cho 321.484 lao động.[31,tr4]

Văn hóa - thể thao và y tế: xây dựng Vinh trở thành trung tâm văn hoá - thông

tin của vùng với các công trình tiêu biểu sau: Tháp truyền hình, Trung tâm truyền hình khu vực; Hệ thống các cơ quan thông tin - báo chí của vùng; chi nhánh Bảo tàng dân tộc học (Bắc miền Trung); Trung tâm điện ảnh; Thư viện Trung tâm; Nhà văn hoá các

Trang 39

An đủ khả năng giám sát và khống chế các dịch bệnh trên địa bàn Xây dựng Trung tâm sức khoẻ sinh sản Phát triển các bệnh viện chuyên khoa của tỉnh để trở thành các

cơ sở y tế hạt nhân hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật cho các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ

1.3.3 Tình hình kinh tế - xã hội của phường Bến Thủy và phường Hưng Dũng

 Phường Hưng Dũng

Nhắc đến Làng Đỏ thì dân Nghệ Tĩnh phần đa đều hiểu đó là phường Hưng Dũng, thành phố Vinh ngày nay Hưng Dũng được biết đến như một vùng đất yêu nước với phong trào đấu tranh cách mạng sôi nổi ở Nghệ An Là một Phường nằm phía Đông của thành phố Vinh, Hưng Dũng có diện tích: 525 ha, dân số: 14552 khẩu, được chia thành 18 khối trong đó có 17 khối dân cư, 1 khối chung cư [30,tr1]

Về kinh tế: Phường chủ yếu phát triển về Dịch vụ - Thương mại, Buôn bán Công trình: có các trường học, bệnh viện lớn: Đại học Y, Đại học Sư phạm Kỹ

thuật Vinh, Bệnh viện Đa khoa Nghệ An, Bệnh viện Nhi

Di tích: Phường Hưng Dũng là cái nôi Cách mạng với truyền thống quê hương

“Làng Đỏ” Phường có các di tích văn hóa nổi bật như: Cây xanh chùa Ni, Nhà truyền thống (Đình Trung), Nhà thờ họ Nguyễn Sỹ, Nhà ông Nguyễn Hữu Diên, Dăm Mụ Nuôi

 Phường Bến Thủy

Trang 40

37

Nhắc đến địa danh Bến Thủy, chúng ta nhớ ngay đến những người con can trường, bất khuất trong đấu tranh đánh đuổi giặc ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; cần cù, chịu khó, sáng tạo trong lao động sản xuất phấn đấu xây dựng quê hương ngày càng văn minh, giàu mạnh trong thời kỳ đổi mới

Phường Bến Thủy có diện tích tự nhiên 2,91km2, dân số hơn 17.000 người, trên 3.404 hộ [29,tr1] Trên địa bàn phường có nhiều đầu mối giao thông quan trọng phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh được ngăn cách bằng con sông Lam hiền hòa thơ mộng

Với lợi thế địa bàn rộng, dân cư đông đúc, có trường Đại học Vinh, chợ khu vực

và nhiều cơ quan, xí nghiệp đóng trên địa bàn Đảng ủy, chính quyền phường Bến Thủy tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thương mại – dịch vụ, tạo điều kiện để tiểu thủ công nghiệp – xây dựng và nông nghiệp đô thị phát triển ổn định Tổng giá trị sản xuất ngoài quốc doanh ước thực hiện trong năm 2012 là 268 tỷ, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 12,5%.[29,tr2]

Công tác giáo dục đào tạo của Bến Thủy đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận Đảng ủy, chính quyền địa phương tập trung chỉ đạo các trường chăm lo phát triển chất lượng giáo dục toàn diện

Phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao ngày càng phát triển mạnh mẽ, rộng khắp trong đông đảo quần chúng nhân dân Toàn phường đã xây dựng được 10 khu dân cư tiên tiến, 14 ngõ phố văn minh, 86,7% gia đình văn hóa, 35,7% gia đình văn hóa thể thao.[29,tr2]

An ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội luôn được đảm bảo Phường đã xây dựng và triển khai thực hiện một số mô hình: “Khối phố đảm bảo an ninh trật tự và văn minh đô thị”; “Khối phố từ có đến không ma túy” …

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w