ĐỘNG CƠ ĐIỆN ĐỒNG BỘ So với động cơ điện không đồng bộ, động cơ điện đồng bộ có những ưu nhược điểm sau: Ưu điểm: Do được kích thích bằng dòng điện một chiều nên có thể làm việc với
Trang 1CHƯƠNG 25
ĐỘNG CƠ VÀ MÁY BÙ ĐỒNG BỘ
Trang 225-1 ĐỘNG CƠ ĐIỆN ĐỒNG BỘ
So với động cơ điện không đồng bộ, động cơ điện đồng bộ có những
ưu nhược điểm sau:
Ưu điểm:
Do được kích thích bằng dòng điện một chiều nên có thể làm việc với cosφ = 1 và không cần lấy công suất phản kháng từ lưới điện, kết quả
là nâng cao được cosφ của lưới, giảm được tổn hao công suất và tổn hao điện áp trên đường dây
Ít chịu ảnh hưởng đối với sự thay đổi điện áp của lưới điện vì M tỷ lệ với U, trong khi đó động cơ không đồng bộ thì M tỷ lệ với U 2
Khi điện áp lưới sụt thấp do sự cố thì khả năng giữ tải ổn định của động cơ đồng bộ tốt hơn, trong trường hợp đó nếu tăng kích thích động cơ điện đồng bộ có thể làm việc an toàn và cải thiện được điều kiện làm việc của cả lưới điện.
Hiệu suất của động cơ điện đồng bộ thường cao hơn động cơ không đồng bộ vì tổn hao sắt phụ nhỏ hơn do khe hở tương đối lớn.
Trang 3Nhược điểm:
Cấu tạo phức tạp, đòi hỏi phải có máy kích thích hoặc nguồn một chiều để cung cấp dòng kích thích nên giá thành cao.
Việc mở máy động cơ đồng bộ phức tạp hơn,
Việc điều chỉnh tốc độ chỉ có thể thực hiện bằng cách thay đổi tần số nguồn cung cấp.
25.1.1 Các phương pháp mở máy động cơ điện đồng bộ.
1 Mở máy bằng phương pháp không đồng bộ
Quá trình mở máy được chia thành hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Đóng động cơ vào lưới với dòng kích từ it = 0, dây quấn kích thích được nối tắt qua điện trở diệt từ R T (hình 25-1a), động
cơ mở máy như một động cơ không đồng bộ thông thường, rôto tăng tốc đến tốc độ xấp xỉ tốc độ từ trường quay: n ≈ n 1
Giai đoạn 2: Khi n ≈ n1 , đóng kích thích cho động cơ, lúc đó ngoài mômen không đồng bộ và mômen gia tốc tỉ lệ với dω/dt cdt còn có mômen đồng bộ cùng tác dụng, rôto được lôi vào đồng bộ sau một quá trình dao động.
Trang 4Kinh nghiệm cho biết, để đảm bảo rụto được đưa vào đồng bộ một
cỏch thuận lợi, hệ số trượt ở cuối giai đoạn 1 lỳc chưa đúng kớch thớch cần phự hợp với điều kiện sau:
Hình 25-1 Sơ đồ mạch kích thích của động cơ điện đồng bộ lúc mở máy với dây quấn kích thích qua điện trở R T (a) và nối thẳng vào máy kích thích (b)
1
4
U
i t
b)
1 2
R T
3 4
U
i t
a)
tdm
tdb dm
dm m
i
i n
P GD
k
trong đú: k m – năng lực quỏ tải ở chế độ động cơ với dũng kớch từ định mức i t đm .
P đm – cụng suất định mức của động cơ, kW,
i tđm – dũng điện kớch từ khi đồng bộ hoỏ,
GD 2 – mụmen động lượng của động cơ và mỏy cụng tỏc nối với nú, kGm 2
Trang 5Trong giai đoạn 1, dây quấn kích từ được nối với điện trở R T có trị
số bằng 10 ÷ 12 lần điện trở bản thân cuộn kích thích.
Nếu để dây quấn kích thích hở mạch, nó có thể bị hỏng cách điện
do điện áp cao vì ngay lúc đầu mở máy từ trường quay của stato quét qua nó với tốc độ đồng bộ.
Nếu nối ngắn mạch dây quấn kích thích thì sẽ tạo thành mạch một pha có điện trở nhỏ ở rôto, nó sẽ sinh ra mômen cản lớn làm cho tốc
độ rôto không thể vượt quá n 1 /dt c2 Điều này được giải thích như sau:
- Dòng điện rôto có tần số f 2 = sf 1 sẽ sinh ra từ trường đập mạch, từ trường này phân tích thành hai từ trường quay thuận và quay ngược với chiều quay rôto, tốc độ tương đối so với rôto là n 1 - n, trong đó n 1
là tốc độ từ trường quay của stato, n là tốc độ quay của rôto.
Từ trường quay thuận có tốc độ so với phần tĩnh là:
n th = n + (n 1 - n) = n 1
nghĩa là quay đồng bộ với từ trường quay của stato Tác dụng của nó với từ trường quay của stato sinh ra mômen không đồng bộ và hỗ trợ với mômen không đồng bộ do dây quấn mở máy sinh ra, có dạng như đường số 1 trên hình 25-2.
Trang 6Từ trường quay ngược cú tốc độ so với phần tĩnh là:
n ng = n - (n 1 - n) = 2n - n 1 = 2n 1 (1 - s) - n 1 = n 1 (1 - 2s)
và sinh ra trong dõy quấn phần tĩnh dũng điện cú tần số là f ’ = f 1 (1 - 2s) Khi 0,5 < s < 1, nghĩa là tốc độ quay của rụto n < n 1 /dt c2 thỡ từ trường quay ngược so với dõy quấn phần tĩnh sẽ quay ngược chiều so với chiều quay rụto Tỏc dụng của nú với dũng điện trong dõy quấn phần tĩnh cú tần số f ’ sẽ sinh ra mụmen phụ cựng dấu với mụmen khụng đồng bộ do từ trường quay thuận tỏc dụng với dõy quấn mở mỏy sinh
ra (đường 2 trờn hỡnh 25-2).
Khi s = 0,5 (tức n = n 1 /dt c2), từ trường quay ngược đứng yờn so với dõy quấn phần tĩnh, mụmen phụ bằng khụng.
Hình 25-2
Đ ờng cong mômen của động cơ đồng
bộ mở máy không đồng bộ với dây
quấn kích từ bị nối ngắn mạch
2 A
1
3
M c
M
Trang 7Khi 0 < s < 0,5 (tức n > n 1 /dt c2) thỡ từ trường quay ngược quay cựng chiều với chiều quay rụto, tỏc dụng của nú với dũng điện cú tần số f’ ở dõy quấn phần tĩnh sinh ra mụmen phụ trỏi dấu với mụmen khụng đồng bộ do từ trường quay thuận sinh ra, do đú tỏc dụng như mụmen hóm Kết quả là mụmen của động cơ trong quỏ trỡnh mở mỏy là tổng của cỏc đường 1 và 2, nú cú d như đường 3 trờn hỡnh 25-2 Rừ ràng khi mụmen cản trờn trục động cơ lớn thỡ rụto sẽ làm việc ở điểm A với tốc
độ n ≈ n 1 /dt c2, động cơ khụng thể đạt đến tốc độ đồng bộ.
2 A
1
3
M c
M
Hình 25-2
Đ ờng cong mômen của động cơ đồng
bộ mở máy không đồng bộ với dây
quấn kích từ bị nối ngắn mạch
Trang 8Để tránh phải mở máy qua hai giai đoạn như trên trong đó phải thao tác tách dây quấn kích thích khỏi điện trở R T rồi sau đó đóng kích thích, ta có thể nối thẳng dây quấn kích từ với máy kích thích trong suốt quá trình mở máy (hình 25-1b).
Khi tốc độ rôto đạt n = (0,6 ÷ 0,7)n đm thì bắt đầu cung cấp kích thích cho động cơ đồng bộ, lúc đến gần tốc độ đồng bộ động cơ được kéo vào đồng bộ.
Khi mở máy theo sơ đồ hình 25-1b, động cơ mở máy trong điều kiện khó khăn hơn vì: do động cơ được kích thích quá sớm nên tạo nên dòng ngắn mạch:
2 2
) 1
(
) 1
(
d
n
x s r
E
s I
2
(25-2)
trong đó: E - s.đ.đ cảm ứng do dòng kích từ i t sinh ra,
x d - điện kháng đồng bộ dọc trục khi s = 0,
Động cơ phải tải thêm một công suất là:
P n = m.I 2
n r ư (25-3)
Trang 9Trên trục động cơ sẽ có thêm mômen cản :
và quá trình kéo động cơ vào đồng bộ gặp khó khăn hơn.
Phương pháp mở máy động cơ đồng bộ theo sơ đồ hình 25-1b chỉ
áp dụng tốt khi mômen cản trên trục động cơ M C = (0,4 ÷ 0,6)M đm Chỉ khi dây quấn mở máy được thiết kế hoàn hảo mới cho phép mở máy như trên với M c = M đm
Phương pháp mở máy này đơn giản nên ngày càng được ứng dụng rộng rãi.
2 Các phương pháp mở máy khác
+ Mở máy theo phương pháp hoà đồng bộ.
Các điều kiện hoà đồng bộ đối với động cơ điện đồng bộ giống như của máy phát điện đồng bộ.
Theo phương pháp này động cơ đồng bộ được quay bởi một máy nối cùng trục với nó (ví dụ: động cơ đồng bộ - máy phát điện một chiều) Lúc mở máy, máy phát điện một chiều làm việc như động cơ điện để kéo động cơ đồng bộ quay đến tốc độ đồng bộ
n c
P
Trang 10+ Mở máy động cơ điện đồng bộ bằng nguồn có tần số thay đổi
Theo phương pháp này, động cơ phải lấy điện từ một máy phát điện riêng có tần số điều chỉnh được từ không đến định mức trong quá trình mở máy Như vậy động cơ được quay đồng bộ với máy phát ngay từ lúc đầu mở máy.
Kích từ của máy phát và của động cơ đồng bộ được cấp từ nguồn một chiều riêng.
25.1.2 Các đặc tính làm việc của động cơ điện đồng bộ.
hệ P 1 , I 1 , η, cosφ = f(P 2 ) khi i t = const, U = const và f = const, có dạng như hình 25-4.
Động cơ điện đồng bộ thường làm việc với góc θ = 20 0 ÷ 30 0
Đặc điểm của động cơ điện đồng bộ là có thể làm việc với cosφ cao,
ít hoặc không tiêu thớicong suất phản kháng Q của lưới nhờ thay đổi dòng kích từ i t Khi kích thích thiếu, động cơ tiêu thụ công suất điện cảm từ lưới (φ > 0), còn khi quá kích thích, động cơ phát công suất điện cảm vào lưới (φ < 0), nghĩa là tiêu thụ công suất điện dung
Lợi dụng chế độ làm việc quá kích thích của động cơ điện để nâng cao hệ số cosφ cho lưới điện.
Trang 11Hình 25-4 Đặc tính làm việc của động cơ
Hz; 600 vg/dt cph; Cosφ = 0,8 (quá kích thích)
Trang 1225-2.MÁY BÙ ĐỒNG BỘ
• Máy bù đồng bộ thực chất là động cơ điện đồng bộ làm việc không tải
với dòng điện kích từ được điều chỉnh để phát hoặc tiêu thụ công suất phản kháng Q, do đó duy trì được điện áp của lưới ở nơi tiêu thụ.
• Chế độ làm việc bình thường của máy bù đồng bộ là chế độ quá kích
thích, phát công suất điện cảm vào lưới (tiêu thụ công suất điện dung của lưới điện) Ở chế độ này máy bù có tác dụng như một bộ tụ điện, gọi là máy phát công suất phản kháng
• Khi tải của hộ dùng điện giảm (đêm hoặc những giờ không cao điểm),
điện áp của lưới tăng, máy bù làm việc ở chế độ thiếu kích thích tiêu thụ công suất phản kháng (điện cảm) từ lưới và gây thêm sụt áp trên đường dây, duy trì được điện áp nơi tiêu thụ khỏi tăng quá mức quy định.
• Máy bù đồng bộ tiêu thụ rất ít công suất tác dụng từ lưới vì công suất
đó chỉ để bù vào các tổn hao trong nó.
Trang 13Máy bù đồng bộ thường có cấu tạo theo kiểu cực lồi Để dễ mở máy, mặt cực được chế tạo bằng thép nguyên khối, trên mặt cực có đặt dây quấn mở máy.
Trục của máy bù đồng bộ có thể nhỏ vì không phải kéo tải cơ.
Do mômen cản trên trục nhỏ nên yêu cầu làm việc ổn định với lưới điện không bức thiết, do đó có thể thiết kế cho x d lớn, nghĩa là khe hở
có thể nhỏ khiến cho kích thước của máy nhỏ hơn.
Công suất định mức của máy bù đồng bộ được quy định ứng với chế độ làm việc quá kích thích, có trị số:
S đm = m.U đm I đm (25-5)
Khi làm việc ở chế độ thiếu kích thích tối đa, nghĩa là i t = 0 và E = 0, công suất của máy bằng:
S ’ = m.U đm I ’ (25-6)
Nếu bỏ qua tổn hao thì:
I ’ = (E – U)/dt cjx d = U/dt cjx d
và S ’ = m.U 2đm /dt cx d (25-7)
Trang 14So sánh S ’ với S đm ta có:
*
1 '
d d
dm
dm
U S
S
Với máy bù đồng bộ thông thường x d* = 1,5 ÷ 2,2 nên
67 , 0 45
, 0
'
dm
S S
Các trị số trên đáp ứng được yêu cầu về vận hành
Trong một số trường hợp cần tăng trị số S ’ thì phải giảm x d* bằng cách tăng khe hở và như vậy giá thành của máy lại cao.