Hơn mọi lời nói, cái nắm tay ấy thể hiện sự thấu hiểu và đồng cảmlẫn nhau của những người lính; họ truyền cho nhau hơi ấm, truyền cho nhau sức mạnhtinh thần khích lệ, cổ vũ lẫn nhau vượt
Trang 1ĐỒNG CHÍ (Chính Hữu)
I Kiến thức cơ bản
1 Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ “Đồng chí” được sáng tác đầu năm 1948, sau khitác giả cùng
đồng đội tham gia chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc
2 Nội dung và nghệ thuật chủ yếu
- Qua những chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ thơ giản dị, chân thực cô đọng, giàu sứcbiểu cảm, nhà
thơ Chính Hữu đã diễn tả tình đồng chí của những người lính dựa trên cơ sở cùng chungcảnh ngộ và lí tưởng chiến đấu, đồng thời cho thấy tình đồng chí đồng đội gắn bó keosơn, ấm áp của họ Bài thơ đã góp phần
thể hiện được thành công cơ sở hình thành tình đồng chí của những người lính cách
II Phân tích.
1 Cơ sở hình thành tình đồng chí (7 câu thơ đầu)
Cả bài thơ là hình ảnh những người lính sóng đôi xuyên suốt “anh” và “tôi” tạonên cặp đồng chí, cặp đồng chí ấy có rất nhiều điểm chung, mà trước hết là điểm chung
về nguồn gốc xuất thân:
Quê hương anh nước mặn, đồng chua, Làng tôi nghèo đặt cày lên sỏi đá.
Đọc những câu thơ, ta tưởng như được nghe những lời tâm tình, thủ thỉ của ngườilính Trong đêm khuya, giữa rừng, họ kể cho nhau nghe về làng quê của mình Nếu như
“anh” ở vùng quê “nước mặn đồng chua” – vùng quê ven biển thì “tôi” lại ra đi từ nơi
“đất cày lên sỏi đá” – mảnh đất cằn cỗi vùng trung du Bắc Bộ Tuy người miền xuôi, kẻmiền ngược nhưng họ đều có chung cảnh ngộ xuất thân từ những miền quê nghèo khó.Mượn thành ngữ để nói về làng quê, nơi chôn nhau cắt rốn thân yêu của những ngườilính, Chính Hữu đã làm cho lời thơ bình dị, chất thơ mộc mạc, đáng yêu như làm hồnngười trai cày ra trận đánh giặc Sự đồng cảnh, đồng cam và hiểu nhau là cơ sở, là cáigốc làm nên tình bạn, tình đồng chí sau này
Tình đồng chí còn được bắt nguồn từ những hoàn cảnh cụ thể của đất nước:
Anh với tôi đôi người xa lạ
………
Đồng chí !
Vốn là những người nông dân gắn bó với ruộng đồng, cày cuốc nhưng khi đấtnước xảy ra chiến tranh, họ nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc lên đường cầm súng đánhgiặc Và chiến trường đã trở thành nơi gặp gỡ của những người cùng có chung mục đích,
lí tưởng cao đẹp Không những vậy, nhà thơ còn dùng hình ảnh hoán dụ hàm súc, hìnhtượng “súng bên súng, đầu sát bên đầu” để diễn tả những con người cùng chung mộtnhiệm vụ, kề vai sát cánh bên nhau đối mặt với quân thù, sống chết có nhau Khi mànđêm buông xuống, đôi bạn lính ấy lại cùng chung một tấm chăn mỏng manh rủ rỉ chuyệnnhà, chuyện cửa, chuyện gian lao khó nhọc, chuyện người yêu dấu Chính vì vậy màkhông biết tự bao giờ họ đã trở thành “đôi tri kỉ” (đôi bạn thân thiết, hiểu bạn như hiểuchính bản thân mình), trở thành “đồng chí” của nhau Câu thơ ở cuối đoạn đột ngột
Trang 2một sự nghẹn lòng, rưng rưng, xúc cảm “Đồng chí” nghĩa là cùng chung chí hướng,cùng chung lí tưởng Tình cảm ấy không phải một sớm, một chiều có được mà đó là cảmột quá trình dài từ khi quen nhau, hiểu nhau, là tri kỉ của nhau đến khi chiến đấu sốngchết có nhau nên tình đồnng chí mới bền chặt và thiêng thiêng đến vậy ! Câu thơ cònnhư một nhịp cầu kết lại những cơ sở hình thành tình đồng chí từ những câu thơ trên,đồng thời lại mở ra những biểu hiện cao đẹp của tình đồng chí trong những câu thơ tiếptheo.
2 Biểu hiện của tình đồng chí
Biểu hiện trước hết của tình đồng chí là sự cảm thông, chia sẻ những tâm tư,những nỗi niềm trong nhau:
Ruộng nương….
….ra lính.
Những câu thơ đã diễn tả hoàn cảnh gia đình và nỗi niềm của những người lính.Vào lính nghĩa là ruộng nương, nhà cửa phải gửi lại hậu phương Hình ảnh “gian nhàkhông mặc kệ gió lung lay” gây cho người đọc một sự xúc động đến nao lòng “Giannhà không” là gian nhà trống trải, không có tài sản, có phần xiêu vẹo bởi gió, gợi rahoàn cảnh nghèo khó đến tận cùng của những người lính – người nông dân Song không
hề chi, các anh vẫn vui vẻ để lên đường vì nghĩa lớn, các anh hiểu được rằng nước cóyên thì nhà mới ổn Thái độ ấy được nhà thơ diễn tả qua từ “mặc kệ”, không phải là thái
độ dửng dưng, thờ ơ mặc kệ đời mà đó là thái độ mạnh mẽ, dứt khoát lên đường còn sâuthẳm trong tâm hồn các anh vẫn luôn thường trực hình ảnh “giếng nước gốc đa nhớngười ra lính” Nhà thơ đã khéo mượn hình ảnh hoán dụ “Giếng nước gốc đa” để nóiquê hương nhớ người lính, nhưng thực chất là nhằm diễn tả nỗi nhớ của những ngườilính về hậu phương Họ nhớ nhà, nhớ quê hương, nhất là gốc đa, giếng nước, sân đình,nơi hò hẹn mỗi mùa trăng về, nơi chứng kiến cuộc chia li buổi lên đường….những kỉniệm ấy luôn neo đậu trong tâm tư họ và sẻ chia, đồng cảm cho nhau
Tình đồng chí đồng đội đặc biệt được thể hiện ở sự đồng cam cộng khổ:
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
………
Áo anh rách vai
……….
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
Bằng bút pháp hiện thực, những câu thơ đã tái hiện lại một cách chân thực đờisống, chiến đấu đầy dẫy những khó khăn gian khổ của người người lính thời kì khángchiến chống Pháp Các anh phải chịu sự hành hạ của bệnh tật, không thuốc thang, đặcbiệt là những trận sốt rét rừng khủng khiếp làm các anh ớn lạnh, thậm chí cơn sốt đếnchết người là có thực Các anh còn phải chịu những khó thăn thiếu thốn tối thiểu về vậtchất như chịu đói, đầu không mũ, áo rách mong manh, quần vá vài mảnh; chịu rét, chânkhông giày, sương muối phủ rừng hoang, những hạt sương móc treo trên đầu ngọn cỏbước chân trần đạp lên như kim châm thấu buốt tận xương tủy; đêm nằm phải trải lákhô, không màn, muỗi “truy kích” gây bệnh là có thực Nhưng những khó khăn ấy lạichính là điều kiện để bản lĩnh các anh được tôi luyện, để tình đồng chí, đồng đội thêmgắn kết bền chặt hơn Bằng nghệ thuật đối xứng song hành, Chính Hữu đã diễn tả tìnhđồng chí được biểu hiện ở sự sẻ chia trong mọi cảnh ngộ, chịu chung những thiếu thốn,gian khổ, lúc nào cũng có “anh” và “tôi” Nếu “áo anh rách vai” thì tôi cũng chẳng hơn
Trang 3gì anh “ quần tôi có vài mảnh vá”; miệng anh “cười buốt giá” thì tôi “chân không giày”cũng lạnh chẳng kém gì anh Trong hoàn cảnh ấy, những người lính đã “Thương nhautay nắm lấy bàn tay” Hơn mọi lời nói, cái nắm tay ấy thể hiện sự thấu hiểu và đồng cảmlẫn nhau của những người lính; họ truyền cho nhau hơi ấm, truyền cho nhau sức mạnhtinh thần khích lệ, cổ vũ lẫn nhau vượt lên hoàn thành nhiệm vụ mà Tổ quốc giao phó.
Những câu thơ khiến ta liên tưởng đến đoạn thơ trong bài “ Giá từng thước đất”,Chính Hữu viết:
“Năm mươi sáu ngày đêm bom gầm pháo dội
Ta mớ hiểu thế nào là đồng đội Đồng đội ta
Là hớp nước uống chung Nắm cơm bẻ nửa
Là chia nhau một trưa nắng một chiều mưa Chia khắp anh em một mẩu tin nhà
Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết.”
Tình đồng chí là như thế, cái gì cũng chia nhau từ bát cơm, manh áo đến cuộc đời,cái chết cũng chia nhau Có lẽ, trong cuộc đời người lính không có gì quý giá hơn tìnhđồng chí Đó không chỉ là nét đẹp tâm hồn của người lính thời kì chống Pháp mà còn làcủa người lính bộ đội cụ Hồ trong suốt các cuộc trường chinh vĩ đại của dân tộc ta
3 Bức tranh đẹp về người lính (ba câu cuối)
Biểu hiện cao đẹp nhất của tình đồng chí đồng đội được kết đọng qua những hìnhảnh đặc sắc ở ba câu thơ cuối:
“chờ giặc tới” Bên cạnh họ còn có hai người bạn đồng hành là súng và trăng Hình ảnhtrăng chông chênh, bát ngát trên nền trời, rồi trăng cứ xuống thấp dần có lúc như treođầu ngọn súng Từ “treo’ được nhà thơ sử dụng thật khéo, nó tạo ra sự tương quan, lắc lưgiữa súng và trăng khiến bức tranh trở nên sinh động, có hồn Súng và trăng trong câuthơ là hai hình ảnh vừa có tính hiện thực lại vừa lãng mạn Súng tượng trưng cho chiếntranh, cho hiện thực chiến đấu, cho tâm hồn người chiến sĩ; trăng tượng trưng cho hòabình, cho sự lãng mạn và tâm hồn người thi sĩ Hình ảnh người lính, súng và trăng trongbài thơ đã hòa quyện vào nhau tạo nên nét đẹp thơ mộng, lãng mạn nhưng cũng đầy chấtlính với tình đồng chí cao dẹp nhất giữa cuộc chiến đấu đầy gian khổ của dân tộc ta
Trang 4BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH (Phạm Tiến Duật)
Khổ thơ 1:
Ngay mở đầu bài thơ, tác giả đã làm nổi bật hình ảnh những chiếc xe:
Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi.
Những chiếc xe vận tải vẫn ngày đêm băng ra chiến trường có vai trò vô cùngquan trọng Nó là cầu nối, là phương tiện để ta chi viện sức người, sức của cho miềnNam trong công cuộc đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược Hình ảnh những chiếc xe vận tảitrong bài thơ này là những chiếc xe không có kính Đó là hình ảnh những chiếc xe độcđáo, mới lạ và cũng rất hiện thực, hiện thực đến nỗi nó cứ trần trụi, hổng hông hốc nhưhai hốc mắt con quái vật trông thật nghộ nghĩnh và lạ lẫm Phải chăng xe không kính là
do nhà sản xuất ? Nhà thơ đã sử dụng nghệ thuật điệp từ với các từ ngữ phủ định
“không” vừa để giới thiệu về xe vừa giải thích nguyên nhân khiến xe không có kính.Hóa ra xe không kính là do “bom giật bom rung” – do hiện thực khốc liệt của chiếntranh đã làm cho “kính vỡ đi rồi” Lời thơ giải thích như lời nói thường ngày đã phầnnào diễn tả được thái độ bình thản của người lính, sàng đổi diện với khó khăn mà họ gặpphải khi lái những chiếc xe không kính Những chiếc xe chỉ là vật vô tri vô giác nếukhông có sự tác động của con người Chính những người lính lái xe đã truyền qua vôlăng một hồn sống khiến chiếc xe trở nên sinh động, hấp dẫn Chiếc xe đã trở thành điềukiện để nhà thơ khắc họa vẻ đẹp của những người lính lái xe, khắc họa chân dung, tư thếmột dân tộc anh hùng
Ấn tượng đầu tiên với người đọc là tư thế hiên ngang, tự tin, dũng cảm đầy chấtlãng mạn của người lính lái xe:
Ung dung buồng lái ta ngồi, Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Những chiếc xe đi ra từ trong “bon giật bom rung” nghĩa là người lính vừa mớithoát khỏi móng vuốt của tử thần Ngồi trên những chiếc xe không kính nghĩa là chẳngkhác gì ngồi ngoài trời, phải chịu thêm nhiều nguy cơ về bom đạn và thời tiết khắcnghiệt Vậy mà người lính vẫn “ung dung” lái xe Sử dụng nghệ thuật đảo ngữ đưa từ
“ung dung” lên đầu câu thơ kết hợp với đại từ “ta” phải chăng nhà thơ muốn nhấn mạnhthái độ bình thản, tư thế lái xe vững vàng, làm chủ tay lái của các anh ? Câu thơ tiếptheo, với cách ngắt nhịp 2/2/2 và điệp từ “nhìn” được lặp lại ba lần, nhà thơ đã gợi ra sựdứt khoát, rắn rỏi, sự tập trung cao độ vào tay lái của những người lính lái xe Các anhđang ngẩng cao đầu trước những hiểm nguy để hướng về con đường phía trước – conđường giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Ánh nhìn của các anh đã góp phầntạo nên bức chân dung các anh mang tầm vóc lớn lao sánh ngang với đất, với trời
Khổ thơ 2: Cái vất vả, gian khổ, hiểm nguy của người lính được miêu tả bằng những hình ảnh giản dị, trung thực đến từng chi tiết:
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái.
Trang 5Xe không có kính chắn nên người lính lái xe gặp phải rất nhiều khó khăn như các yếu tố về thiên nhiên, chướng ngại vật rơi rụng, quăng ném, va đập vào trong buồng lái Nhưng t ất cả những hiện thực ấy đã tr ở thành những hình ảnh thi vị khiến người lính được gần gũi, hòa mình với thiên nhiên hơn Gió lùa mạnh vào cabin, người lái xe
không chỉ cảm thấy mà còn “nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng” Cử chỉ quá dỗi trìu mến, dịu dàng của gió đã xoa và làm dịu đi những đôi mắt đắng cay xè của các anh vì thiếu ngủ, vì phải lái xe hết đêm này qua đêm khác Không chỉ nhìn thấy gió mà các anh còn nhìn thấy “con đường,“sao trời”,“cánh chim” tất cả đều đột ngột như sa, như ùa vào trong buồng lái; thiên nhiên, vạn vật dường như cũng bay theo các anh ra chiến trường Vui vẻ chấp nhận tất cả những hiện thực ấy bởi vì các anh luôn “nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim” mình – con đường giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Những câu thơ với nghệ thuật liệt kê và điệp từ “nhìn”, nhà thơ không chỉ giúp ta cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn lạc quan, lãng mạn với nét hào hoa, kiêu bạc, yêu đời của những người lính trẻ mà còn gợi tả tốc độ nhanh của những chiếc xe không kính, không khí hối hả ra trận của miền Bắc chi viện cho miền Nam ruột thịt
Khổ 3, 4: Một vẻ đẹp nữa làm nên bức chân dung tinh thần của người lính trong bài thơ chính là tinh thần lạc quan, sôi nổi, bất chấp khó khăn, nguy hiểm:
Không có kính, ừ thì có bụi,
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn, mưa xối như ngòai trời
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.
Những câu thơ giản dị như lời nói thường, với giọng điệu thản nhiên, ngang tàn
, hóm hỉnh, cấu trúc: “không có ”,“ừ thì ”, “chưa cần” được lặp đi lặp lại, các từ ngữ “phì phèo”,“cười ha ha”,“mau khô thôi” làm nổi bật niềm vui, tiếng cười của người lính cất lên một cách tự nhiên giữa gian khổ, hiểm nguy của cuộc chiến đấu Cài tài của Phạm Tiến Duật trong đoạn thơ này là cứ hai câu đầu nói về hiện thực nghiệt ngã phải chấp nhận thì hai câu sau nói lên tinh thần vượt lên để chiến thắng hoàn cảnh của người lính lái xe trong chiến tranh ác liệt Xe không kính nên “bụi phun tóc trắng như người già” là lẽ đương nhiên, xe không có kính nên “ướt áo”, “mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời” là lẽ tất nhiên Trước mọi khó khăn, nguy hiểm, các anh vẫn “cười ha ha” rồi chẳng cần bận tâm, lo lắng, các anh sẵn sàng chấp nhận thử thách, gian lao như thể đó làđiều tất yếu Các anh lấy cái bất biến của lòng dũng cảm, của thái độ hiên ngang để thắng lại cái vạn biến của chiến trường sinh tử gian khổ, ác liệt Đọc những câu thơ này giúp ta hiểu được phần nào cuộc sống của người lính ngoài chiến trường những năm tháng đánh Mỹ Đó là cuộc sống gian khổ trong bom đạn ác liệt nhưng tràn đầy tinh thầnlạc quan, niềm vui sôi nổi, yêu đời Thật đáng yêu và đáng tự hào biết bao!
Khổ thơ 5,6: Sâu sắc hơn, bằng ống kính điện ảnh của người nghệ sĩ, nhà thơ
đã ghi lại những khoảnh khắc đẹp đẽ thể hiện tình đồng chí đồng đội của những người lính lái xe không kính:
Trang 6Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.
Chính sự khốc liệt của chiến tranh đã tạo nên tiểu đội xe không kính Nhữngchiếc xe từ khắp mọi miền Tổ quốc về đây họp thành tiểu đội Người lính lai xe “bắttay” nhau thật đặc biệt “Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi” Xe không kính lại trở thành điềukiện thuận lợi để các anh thể hiện tình cảm Cái bắt tay thể hiện niềm tin, truyền chonhau sức mạnh, bù đắp tinh thần cho những khó khăn mà họ phải chịu đựng Có sự gặp
gỡ với ý thơ của Chính Hữu trong bài thơ “Đồng chí”: “Thương nhau tay nắm lấy bàntay” nhưng hồn nhiên hơn, trẻ trung hơn Đó là quá trình trưởng thành của thơ ca, củaquân đội Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc
Tình đồng chí, đồng đội còn được thể hiện một cách ấm áp, giản dị qua những giờphút sinh hoạt của họ:
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi lại đi trời xanh thêm.
Gắn bó trong chiến đấu, họ càng gắn bó với nhau hơn trong đời thường Vàchung bữa cơm hội ngộ, những người lính lái xe đã xích lại thành gia đình – tình cảmcủa những người ruột thịt, bền chặt, thiêng liêng: “Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”.Cách định nghĩa về gia đình thật lính, thật hóm hỉnh mà thật chân tình sâu sắc Đó là giađình của những người lính cùng chung nhiệm vụ, cùng chung lí tưởng chiến đấu Saunhững phút nghỉ ngơi thoáng chốc trên ngững cánh võng nơi rừng trường sơn, họ lại tiếptục bền bỉ lên đường làm nhiệm vụ Điệp ngữ “lại đi” và hình ảnh “trời xanh thêm” tạo
âm hưởng thanh thản, nhẹ nhàng, thể hiện niềm lạc quan, tin tưởng của người lính về sựtất thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ Câu thơ trong vắt như tâm hồn người chiến
sĩ, như khát vọng, tình yêu họ gửi lại cho cuộc đời Chính tình đồng chí, đồng đội đãbiến thành động lực giúp các anh vượt qua khó khăn, nguy hiểm, chiến đấu bảo vệ Tổquốc thân yêu Sức mạnh của người lính thời đại Hồ Chí Minh là vẻ đẹp kết hợp truyềnthống và hiện đại Họ là hiện thân của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là hình tượng đẹpnhất của thế kỷ XX
Khổ thơ cuối: khổ thơ cuối là hình ảnh “trái tim lái xe” - đó là lòng yêu nước,
ý chí chiến đấu giải phòng miền Nam của những người lính :
Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chủ cần trong xe có một trái tim.
Kết thúc bài thơ, vẫn giọng thơ nói mộc mạc như văn xuôi, vậy mà nhạc điệu,hình ảnh, ngôn ngữ rất đẹp, rất thơ Cảm gứng và suy tưởng vừa thực vừa bay bổng đểhoàn thiện vẻ đẹp chân dung người lính lái xe Trường sơn những năm đánh Mĩ Bốn dòng thơ dựng lại hình ảnh đối lập đầy kịch tính, bất ngờ, thú vị giữa “người”
và “xe; giữa “vật chất” và “tinh thần”; giữa cái “không” và cái “có” làm nổi bật cái gai góc, khốc liệt của cuộc chiến và chất anh hùng đẹp đẽ của con người Trải qua bom đạn của chiến trường, hình ảnh chiếc xe không chỉ
Trang 7“không có kính” mà còn bị tàn phá nặng nề đến trần trụi, biến dạng: “không
có đèn”, “không có mui” và “thùng xe có xước” Điệp từ “không có” trong haicâu thơ trên được nhấn lại ba lần như nhân lên ba lần thử thách; ngôn ngữ trong haidòng thơ được ngắt làm bốn nhịp như bốn chặng đường gập ghềnh, khúc khuỷu Tatưởng chừng như xe không thể chạy được nữa Thế như, hai câu thơ sau, âm điệu lại nhẹnhàng, phóng khoáng bởi hình hài những chiếc xe có thể bị bom đạn làm cho biến dạng,nhưng với xe còn cỗ máy thì xe còn chạy, với con người còn hơi thở, còn trái tim thì còntình yêu Tổ quốc “Trái tim” ở cuối bài thơ là hình ảnh hoán dụ cho những người lính lái
xe Trường sơn giàu nhiệt huyết, bản lĩnh, giàu tình yêu thương và lòng căm thù giặc sẽbất chấp tất cả để chiến đấu và chiến thắng Đến đây, ta chợt nhận ra, người chiến sĩ lái
xe chính là một phần không thể thiếu, là con mắt, là bộ não, là linh hồn của chiếc xe Cótrái tim, chiếc xe trở thành một cơ thể sống, thành một khối thống nhất với người lính
Có lẽ vì thế mà nhiều người cho rằng bài thơ này có hình ảnh “trái tim cẩm lái”
Tóm lại, bằng chất liệu hiện thực sinh động của cuộc sống, chiến đấu ở chiếntrường, ngôn ngữ và giọng điệu thơ giàu tính khẩu ngữ, tự nhiên, khỏe khắn, Thi phẩm
“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm tiến Duật đã khắc họa được một hình ảnhđộc đáo: những chiếc xe không kính Qua đó, tác giả khắc họa và làm nổi bật hình ảnhnhững nguwoif lính lái xe Trường sơn thời chống Mĩ, với tư thế hiên ngang, tinh thầnlạc quan, dũng cảm, bất chấp khó khăn nguy hiểm và ý chí chiến đấu giải phong miềnNam thống nhất đất nước Đó không chỉ là vẻ đẹp của những người lính thời chống Mĩ
mà còn là vẻ đẹp chung của hình tượng người lính bộ đội cụ Hồ nói chung (liên hệ bảnthân)
……….
ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ ( HUY CẬN)
Huy Cận là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam-một hồn thơ dạt dàocảm hứng lãng mạn về thiên nhiên đất nước, con người trong thời đại mới Bài thơ
“Đoàn thuyền đánh cá” được nhà thơ sáng tác vào năm 1958 khi miền Bắc xây dựng chủnghĩa xã hội bài thơ là bức tranh thiên nhiên con người về cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá vào lúc hoàng hôn, cảnh đoàn thuyền đi trên biển đánh bắt cá và cảnh đánh bắt
cá vào lúc bình minh
Khổ 1:
Với đôi mắt quan sát sắc sảo, trí tưởng tượng phong phú, trái tim nhạy cảm và tài năng nghệ thuật điêu luyện, nhà thơ đã vẽ lên trước mắt chúng ta một khung cảnh lao động tuyệt vời trên biển Cả bài thơ như một bức tranh sơn mài lộng lẫy với những sắc màu huyền ảo, cuốn hút vô cùng Trong đó, khổ thơ đầu tiên là cảnh đoàn thuyền đánh
cá bắt đầu ra khơi:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùng gió khơi.”
Trang 8Bằng hình ảnh so sánh độc đáo và sự liên tởng thú vị, nhà thơ
đã làm nổi bật hình ảnh mặt trời trên biển lúc hoàng hôn trônggiống nh một hòn lửa khổng lồ đang chiếu những tia nắng cuối cùngxuống mặt biển và phủ lên đó một gam màu rực rỡ, lấp lánh Rồi hònlửa ấy từ từ lăn vào lòng mẹ biển cả bao la Sau khoảnh khắc ấy, màn
đêm bắt đầu buông xuống Với trớ tưởng tượng phong phỳ cựng với nghệ thuậtnhõn húa, nhà thơ đó tạo ra một sự liờn tưởng hết sức thỳ vị: những con súng giống nhưnhững chiếc then cài, màn đờm là cỏnh cửa lớn cũn thiờn nhiờn, vũ trụ bao la rộng lớngiống như một ngụi nhà khổng lồ đang bước vào trạng thỏi nghỉ ngơi Biển khụng cũnbao la, choỏng ngợp trước con người nữa mà trở nờn gần gũi, thõn thiết, hũa hợp Khithiờn nhờn, vũ trụ bước vào trạng thỏi nghỉ ngơi cũng là lỳc: “Đoàn thuyền đỏnh cỏ lại rakhơi’ Nhà thơ đẫ dựng phộp tu từ hoỏn dụ “đoàn thuyền đỏnh cỏ” chỉ những ngư dõn
họ đang bắt đầu một ngày lao động mới Từ “lại” trong cõu thơ cho ta thấy cụng việccủa họ lặp đi lặp lại nhiều lần liờn tục đó trở thành thúi quen Qua đõy, nhà thơ muốnnhấn mạnh tinh thần lao động hăng say khụng ngừng nghỉ cả ngày lẫn đờm của nhữngngười ngư dõn - những con người lao động mới khi miền Bắc trong thời kỡ xõy dựng chủnghĩa xó hội Tinh thần ấy cũn được nhà thơ gợi tả qua nghệ thuật núi quỏ “cõu hỏt căngbuồm cựng giú khơi” Cõu thơ khiến ta liờn tưởng đến những chàng trai thânhình vạm vỡ, mình trần đang mở căng lồng ngực cất cao tiếng hát.Tiếng hát của họ cất lên khoẻ khoắn, vang xa, bay cao cùng với gió,hoà với gió thổi căng cánh buồm ra khơi Tiếng hỏt ấy chỉ cú thể được cất lờn
từ nhừng con người lạc quan, yờu đời, yờu lao động, đợc làm chủ thiên nhiên, làmchủ đất nớc mình Từ đú nhà thơ muốn diễn tả khụng khớ ra khơi thật nhộn nhịp,sụi nổi và tràn đầy hứng khởi
Khổ thơ 2: Vậy người dõn chài ra khơi, họ hỏt về điều gỡ:
“Hỏt rằng: cỏ bạc biển Đụng lặng
Cỏ thu biển Đụng như đoàn thoi Đờm ngày dệt biển muụn luồng sỏng Đến dệt lưới ta, đoàn cỏ ơi!”
Trong cõu hỏt của những ngư dõn cú gọi tờn cỏc loài cỏ: cỏ bạc, cỏ thu… chỳng được so sỏnh như những “đoàn thoi” bơi ngang dọc ngư đan như dệt lấp lỏnh muụn màu sắc trờn biển Cõu thơ khụng chỉ gợi ra những hỡnh ảnh sống động mà cũn là lời ca ngợi nguồn tài nguyờn phong phỳ ở vủng biển tỉnh Quảng Ninh; đồng thời thể hiện niềm tin của ngư dõn về một chuyến ra khơi thành cụng, tốt đẹp
Khổ 3: Khổ thơ tiếp theo là cảnh đoàn thuyền đỏnh ca trong đờm được nhà thơ
quan sỏt và miờu tả với một cảm hứng trữ tỡnh mónh liệt Nhà thơ như húa thõn vào thiờnnhiờn, vào cụng việc và con người lao động:
“Thuyền ta lỏi giú với buồm trăng
Lướt giữa mõy cao với biển bằng
Trang 9Ra đậu dặm xa dò bụng biển
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.”
Với trí tưởng tượng phong phú cùng bút thơ đầy lãng mạn, bay bổng, nhà thơ đã diễn tả cảnh đoàn thuyền đánh cá ngoài khơi thật đẹp Đoàn thuyền đánh cá ra khơi có gió làm bánh lái vầng trăng khuyết trên trời cao đã trở thành cánh buồm Đoàn thuyền đánh cá giống như những con thuyền thơ lướt nhẹ trên mặt biển và in đầy trăng sao Lờithơ phảng phát phong vị cổ điển nhưng vẫn đậm chất hiện thực Bằng việc sử dụng hàngloạt các động từ “lái”, “lướt”, “ra đậu”, “dò”, “dàn đan”… nhà thơ đã miêu tả cảnh đoànthuyền đánh cá với những con thuyền to lớn, tư thế hùng dũng, hiên ngang, giống như những thuyền chiến còn con người đang thả lưới vây giăng chuẩn bị bước vào trận chiếnđấu mới trên mặt trận lao động Đó là những con người lao động của thời đại mới với tầm vóc lớn lao, kỳ vĩ sánh ngang cùng thiên nhiên vũ trụ, họ thự sự làm chủ biển khơi, làm chủ cuộc đời của mình trong công cuộc xây dựng đất nước
Khổ 4: Đã bao đời, người ngư dân có mối quan hệ chặt chẽ với biển cả Họ thuộc
biểnnhư thuộc lòng bàn tay Bao loài cá họ thuộc tên, thuộc dáng, thuộc cả thói quen củachúng:
“Cá nhụ cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng.
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe, Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.”
Thiên nhiên vũ trụ như một cơ thể sống đang chìm sâu vào giác ngủ với những hơi thở là sóng vỗ ì ầm Trên mặt biển đêm, ánh trăng long lanh dát bạc, ánh sao trên trời đổ bóng như đang lùa xuống biển khiến mặt biển như được đính những viên ngọc lấp lánh Nhà thơ liệt kê tên từng loài cá “cá nhụ, cá chim cùng cá đé – cá song lấp lánh đuốc đen hồng” , chúng bơi lượn trên biển, quẫy cái đuôi trông giống như những nàng tiên đang nhảy múa, đang tắm mình trong ánh trăng “vàng chóe” Qua đây, nhà thơ không chỉ ca ngợi biển giàu có mà còn cho ta thấy cảnh biển đẹp như một bức tranh thêu kim tuyến khổng lồ
Khổ 5: Con người vẫn đang miệt mài lao động, bài ca “gọi cá vào” vẫn ngân
vang, lúc náo nức, lúc thiết tha:
Ta hát bài ca gọi cá vào
………
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào
Lần thứ hai, tiếng hát ngân vang trên biển, hát để gọi các vào lưới Vầng trăng cao như thức cùng ngư dân, trăng cùng sóng dập dờn bên mạn thuyền như gõ nhịp phụ họa cho tiếng hát Trăng chiếu sáng cho người kéo lưới được mẻ cá đầy Thiên nhiên
và con người thật hòa hợp biết bao! Chất lãng mạn bao trùm bức tranh lao động đã biến công việc đánh cá nặng nhọc, vất vả, sóng gió trở thành niềm vui, lòng yêu đời, yêu cuộc sống chứa chan
Nghệ thuật nhân hóa, so sánh “biển” như “lòng mẹ” đã làm cho câu thơ thêm giàu sắc thái biểu cảm Nếu rừng là vàng, thì biển là bạc Biển không chỉ giúp cho môi trường sinh thái chúng ta trở nên trong lành mà còn có giá trị tiềm năng lớn về kinh tế Biển cho rất nhiều như bà mẹ nhân từ bao dung đã nuôi lớn đàn con của mình trong âm
Trang 10ngư dân chài nói lên lòng tự hào và sự biết ơn chân thành với biển quê hương Đến đây, giọng thơ bỗng trở nên ấm áp, chan chứa tình người Đối với dân chài, biển đã gắn bó với họ từ bao đời nay, ngay từ khi mới lọt lòng họ đã được đắm mình trong hơi thở nồng nàn, vị mặn mòi của biển khơi Và cứ như vậy, họ lớn lên, sống và gắn bó bền chặtvới mẹ biển Bởi vậy, hai câu thơ cuối của khổ thơ này vừa bộc lộ niềm tự hào vùa là lời cảm tạ chân thành tha thiết của con người với biển cả.
Khổ 6: Bóng đêm đang tan, ngày đang đến, nhịp độ công việc càng sôi nổi, khẩn
trương:
“Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng Vảy bạc đuôi vàng lóe rạng đông Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.”
Bao công lao vất vả đã được đền bù xứng đáng Dáng người ngư dân đang choãichân nghiêng người, dồn tất cả sức mạnh vào đôi cánh tay cuồn cuộn; họ kéo “xoăn tay”– kéo nhanh, kéo khẩn trương những mẻ lưới nặng trĩu cá; bóng dáng họ in trên nền trời hồng của buổi bình minh mới đẹp làm sao! Những tia nắng sớm chiếu trên khoang cá đầy làm lấp lánh thêm “vẩy bạc, đuôi vàng" và màu sắc phong phú của bao loài cá cũng khiến cho cảnh rạng đông thêm rực rỡ Nhịp điệu câu thơ cuối của khổ thơ trên chậm rãi,gợi cảm giácthanh thản, vui tươi, phản ánh tâm trạng thoải mái của ngư dân trước kết quả tốt đẹp của chuyến ra khơi
Khổ 7: Khổ thơ cuối cùng miêu tả cảnh trở về của đoàn thuyền đánh cá:
“Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.”
Vẫn là tiếng hát khỏe khoắn của người ngư dân dạn dày sóng nước đang vươt lênlàm chủ cuộc đời Tiếng hát hòa trong gió, thổi căng cánh buồm đưa đoàn thuyền ra khơiđêm trước, nay lại cùng đoàn thuyền đầy ắp cá hân hoan về bến Mặt biển rộng lớn trởthành trường đua với hai đối thủ là con người và mặt trời Và chắc hẳn con người sẽthắng bởi họ đã một lần chiến thắng biển khơi với những khoang thuyền đầy ắp cá Hìnhảnh “Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời" rất hiện thực mà cũng rất hào hùng Nó phảnánh một thói quen lâu đời của ngư dân là đưa cá về bến trước khi trời sáng, đồng thờicũng hàm ý nói lên khí thế đi lên mạnh mẽ của họ trong công cuộc dựng xây đất nướckhi miền Băc bước vào xây dựng Chủ nghĩa Xã hội Hòa cùng niềm vui to lớn của mọingười, nhà thơ chắp cánh cho trí tưởng tượng của mình bay bổng Đoàn thuyền lao vunvút trên mặt biểu, "Mặt trời đội biển nhô màu mới” một màu hồng rạng rỡ, tinh khôi, vàánh mặt trời phản chiếu trong muôn ngàn mắt cá trên thuyền, khiến nhà thơ liên tưởngtới hàng ngàn mặt trời nhỏ xíu đang tỏa sáng niềm vui Đến đây, bức tranh biển cả ngậptràn sắc màu tươi sáng và ăm ắp chất sống trong từng dáng hình, đường nét của cảnh vật,của con người lao động trong thời đại mới
Tóm lại, Đoàn thuyền đánh cá là một bài ca lao động hứng khởi, hào hùng Nhà
thơ ca ngợi biển cả mênh mông - nguồn tài nguyên bất tận của Tổ quốc, ca ngợi những
Trang 11con người lao động cần cù, gan góc, ngày đêm làm giàu cho đất nước Cảm hứng trữ tình của Huy Cân và nghệ thuật điêu luyện của ông đã cuốn hút người đọc thực sự Chúng ta cùng chia sẻ niềm vui to lớn với nhà thơ, với tất cả những người lao động mới đang kiêu hãnh ngẩng cao đầu trên con đường đi tới tương lai tươi sáng Hơn bốn thập
kỷ đã trôi qua, bài thơ vẫn giữ nguyên vẹn giá trị ban đầu của nó Phần nào, bài thơ giúp chúng ta hiểu được chân dung tinh thần mới của Huy Cận sau bao biến cố lịch sử trọng đại của đất nước và dân tộc Một Huy Cận trữ tình cách mạng
- Thơ ông có đặc điểm nổi bật là: trong trẻo, đa dạng về hình ảnh, chi tiết; chất thơsâu lắng, cảm xúc giàu suy tư
- Tác phẩm chính: Hương cây - Bếp lửa (thơ in chung với Lưu Quang Vũ – 1968),Những gương mặt, nhữngkhoảng trời (1973), đất sau mưa (thơ – 1977), Khoảng cáchgiữa lời (thơ – 1983) Cát sáng (thơ 1986), Bếplửa - Khoảng trời (thơ tuyển 1988)
c Nghệ thuật: Bài thơ đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với miêu tả, tự sự và bìnhluận Thành công của bài thơ còn ở sự sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnhngười bà, làm điểm tựa khơi gợi mọi kỉ niệm, cảm xúc và suy nghĩ về bà và tình bàcháu
d Bố cục : 4 phần:
+ Phần 1: 3 dòng đầu: hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng cảm xúc hồi tưởng về bà.+ Phần 2: Từ “lên bốn tuổi” đến “niềm tin dai dẳng”: những kỉ niệm tuổi thơ và kí ức vềhình ảnh người bà gắn liền với hình ảnh bếp lửa trong
+ Phần 3: Từ “lận đận đời bà đến “thiêng liêng bếp lửa”: suy ngẫm về bà và cuộc đờibà
+ Phần 4: (4 dòng cuối): Hình ảnh bà và bếp lửa sống mãi trong tâm hồn cháu
II Phân tích
1 Bếp lửa khơi nguồn cảm xúc ( 3câu đầu)
Khổ 1: Nếu như trong câu chuyện cồ tích của những bạn cùng lứa khác có bà
tiên, có phép màu thì trong câu chuyện của Bằng Việt có hình ảnh xuyên suốt là bà và
Trang 12bếp lửa hiện lên trong cảm xúc nhớ thương da diết của đứa cháu xa quê Trong đó, b acâu thơ đầu tiên là hình ảnh bếp lửa thân thương, ấm áp khơi nguồn cảm xúc :
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
- Ba tiếng “một bếp lửa” đã trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ với giọng điêụ sâu
lắng, hình ảnh quen thuộc trong mọi gia đình Đó không chỉ là một bếp lửa thật chờn vờn ấm áp giữa cái lạnh của làn sương sớm mà còn là một bếp lửa “ ấp iu nồng đượm”
gợi ra sự vỗ về yêu thương, chăm chút từ đôi tay kiên nhẫn, khéo léo của bà
- Nghĩ về bếp lửa, nhớ về bà mà trong lòng đứa cháu đi xa trào dâng một cảm xúcnhớ thương bà vô hạn: “ Cháu thương bà biết mấy nắng mưa” Tình cảm bà cháu thiêngliêng cứ như một dòng sông với con thuyền nhỏ chở đầy ắp những kỉ niệm mà suốt cuộcđời này chắc người cháu không bao giờ quên được và cũng chính từ đó, sức ấm và ánhsáng của tình bà cháu cũng như của bếp lửa lan toả toàn bài thơ
2 Hồi tưởng những kỉ niệm tuổi thơ và kí ức về bà với bêp lửa
Khổ thơ tiếp theo là dòng hồi tưởng của tác giả về những kỉ niệm của những nămtháng sống bên cạnh bà Lời thơ giản dị như lời kể, như những câu văn xuôi, như thủ thỉ,tâm tình, tác giả như đang kể lại cho người đọc nghe về câu chuyện cổ tích tuổi thơmình
Khổ 2: - Trước hết là những ấn tượng năm cháu lên bốn tuổi:
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!
+ Tuổi thơ của cháu gắn liền với thảm cảnh chung của đất nước là nạn đói năm
1945, “cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ” Giọng thơ trĩu xuống, nao nao lòng ngườiđọc khi nhắc đến cái “đói mòn đói mỏi” - cái đói dai dẳng làm mỏi mệt, xơ xác, kiệt quệsức người; còn con ngựa thì gầy rạc cùng với hình ảnh người bố đánh xe có lẽ cũng gầykhô…Những năm tháng ấy gây một ấn tượng sâu đậm trong tâm hồn đứa cháu với hìnhảnh tang thương người chết đói đầy đường làng Trong những năm đói khổ ấy, chính bà
đã gắn bó bên cháu, chở che và xua tan bớt đi trong tâm trí cháu cái không khí ghê rợncủa nạn đói năm 1945
+ Ấn tượng nhất với cháu là mùi khói bếp: “ Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu /Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay” Hai câu thơ vừa có ý nghĩa tả thực vừa có ý nghĩatượng trưng Phải chăng vì củi ướt, sương ẩm nên khói nhiều làm sống mũi cháu bị cay,hay vì cháu xúc động khi nhớ về tuổi thơ gian khó, vì lòng cháu đang cồn cào một nỗinhớ thương bà ? Cảm xúc quá khứ hoà lẫn hiện tại trỗi dậy mạnh mẽ Cho dù năm thángtrôi qua nhưng kí ức ấy trở thành một vết thương lòng đâu dễ nguôi ngoai
Khổ 3: - Từ mùi khói bếp, nhân vật trữ tình nhớ về khoảng thời gian suốt tám
Trang 13+ Tám năm là một khoảng thời gian dài, ròng rã, dai dẳng cháu pahir sống xa cha
mẹ Tuổi thơ của cháu bên bà gắn liền với âm thanh tiếng chim tu hú Tiếng tu hú vẳng
về từ những cánh đồng xa gợi không gian làng quê xao xác, quạnh quẽ, khi thì thảngthốt, khắc khoải, lúc thì mơ hồ làm nổi bật sự côi cút của hai bà cháu Trong cnahr ngộ
ấy, bà luôn chở che, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu cả vật chất lẫn tân hồn Các từ ngữ “bàhay kể chuyện”, “bà bảo”, “bà dạy”, “bà chăm” đã diễn tả thấm thía tấm lòng đôn hậu,tình yêu thương bao la, sự chăm chút của bà đối với cháu Bà hiện lên thật ấm áp, tầntảo; bà là chỗ sựa tinh thần vững chắc cho cháu, thay thế và lấp đầy tất cả tình cha, nghĩa
mẹ, công thầy
+ Sống bên bà, cháu thẩu hiểu được nỗi lòng, sự hi sinh thầm lặng của bà Vì vậycháu nói về tiếng chim tu hú trong sự hờn trách: “Tu hú ơi, chẳng đến ở cùng bà / Kêuchi hoài trên những cánh đồng xa” Cháu hiểu được, tu hú nhớ bầy cất tiếng kêu than,còn bà nhớ cha mẹ cháu bà lại giấu kín trong lòng, giấu nước mắt vào trong
+ Không chỉ hiểu, mà cháu còn bộc lộ nỗi thương bà bằng cả những cử chỉ, việclàm Cháu “thương bà khó nhọc”, nên cùng bà nhóm lửa Cháu động viên an ỉu bà bằng
sự ngoan ngoãn, vâng lời: “Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe – Bà dạy cháu làm, bàchăm cháu học”
+ Cả đoạn thơ có hai hình ảnh sóng đôi là “bà” và “cháu” được nhắc đi nhắc lạicàng tô đậm thêm tình cảm gắn bó, quấn quýt không rời của hai bà cháu Nếu như vớimỗi chúng ta, “ba sẽ là cánh chim cho con bay thật xa, mẹ sẽ là cành hoa cho con cài lênngực” thì với Bằng Việt, bà chính là cánh chim để nâng ước mơ của cháu vào một khungtrời mới, là cành hoa tươi thắm nhất để cháu cài lên ngực áo mình Bởi thế, tình bà cháu
là vô cùng thiêng liêng, quý giá đối với nhà thơ
Khổ 4: - Sau nữa là ấn tượng kinh hoàng của cháu về cảnh giặc Pháp càn quét,
thiêu hủy xóm làng:
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rui
………
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!
Cuộc sống càng khó khăn, cảnh ngộ càng ngặt nghèo, nghị lực của bà càng bềnvững, tấm lòng của bà càng mênh mông Qua đó, ta thấy hiện lên một người bà cần cù,nhẫn nại và giàu đức hi sinh, thương con, quý cháu; là biểu tượng của hậu phương vữngchắc trong kháng chiến Dù cho ngôi nhà, túp lều tranh của hai bà cháu đã bị đốt nhẵn,nơi nương thân của hai bà cháu nay đã không còn, bà dù có đau khổ thế nào cũng khôngdám nói ra vì sợ làm đứa cháu bé bỏng của mình lo buồn Bà cứng rắn, dắt cháu vượtqua mọi khó khăn, bà không muốn đứa con đang bận việc nước phải lo lắng chuyện nhà.Điều đó ta có thể thấy rõ qua lời dặn của bà: “Mày có viết thư chớ kể này kể nọ / Cứ bảonhà vẫn đươc bình yên!” Lời dăn của bà nôm na giản dị nhưng chất chứa biết bao tình.Gian khổ, thiếu thốn, bao nỗi nhớ thương con bà đều phải nén vào trong lòng để yênlòng người nơi tiền tuyến Hình ảnh người bà không chỉ còn là người bà của riêng cháu
mà còn là một biểu tượng rõ nét cho những người phụ nữ Việt Nam
Khổ 5: - Từ hình ảnh thưc, người bà và bếp lửa dần biến thành biểu tượng:
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn, Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…
Trang 14+ Nhà thơ sử dụng từ “lại” thật ý nghĩa Giặc tàn phá nhà cửa, xóm làng nhưngkhông thể đánh đổ được ý chí, nghị lực của con người Bà vẫn dậy nhóm lửa mỗi sớmmai, sự sống lại tiếp diễn một cách kiên gan, bền bỉ.
+ Đến đây, hình ảnh bếp lửa được chuyển hóa thành hình ảnh ngọn lửa Điệpngữ
“một ngọn lửa” cùng với các từ ngữ chỉ thời gian: “rồi sớm rồi chiều”, các động từ
“nhen”, “ủ sẵn”,“chứa” đã khẳng định ý chí, bản lĩnh sống, tình thương, đức hi sinh của
bà, cũng là của người phụ nữ Việt Nam giữa thời chiến Bếp lửa bà nhen sớm sớm chiềuchiều đâu phải chỉ bằng nhiên liệu bên ngoài mà còn sáng bừng lên từ tình yêu thươngluôn được ủ sẵn trong lòng bà Do vậy, bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn
là người truyền lửa - ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp và cũng vìthế mà bếp lửa đã trở thành một ngọn lửa thiêng liêng, bất diệt
3 Suy ngẫm về bà, bếp lửa và hành trang vào đời của cháu
Khổ 6: - Tám câu thơ tiếp theo là những suy ngẫm về bà và bếp lửa mà nhà thơ
muốn gởi tới bạn đọc, qua đó cũng là những bài học sâu sắc từ công việc nhóm lửatưởng chừng đơn giản:
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
………
Ôi kỳ lạ và thiêng liêng - bếp lửa !
+ Cháu cảm nhận được cuộc đời của bà nhiều “lận đận”, trải qua nhiều “nắngmưa” vất vả Bà đã nhóm bếp lửa trong suốt cả cuộc đời, đã trải qua nắng mưa “mấychục năm rồi” để lo toan cho con cháu trong gia đình
+ Bà không chỉ nhóm bếp lửa bằng đôi bàn tay già nua, gầy guộc, mà là bằng tất
cả tấm lòng đôn hậu “ấp iu nồng đượm” của bà đối với con cháu Điệp từ “nhóm” đượcnhắc đi nhắc lại 4 lần trong đoạn thơ như một sự khẳng định sâu sắc về lòng biết ơn củacháu về công ơn của bà Một lấn nữa, hình ảnh bếp lửa “ ấp iu”, “nồng đượm” đã đượcnhắc lại ở cuối bài thơ như một lần nữa khẳng định lại cái tình cảm sâu sắc của hai bàcháu “Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi” Nhóm lên bếp lửa ấy, người bà đãtruyền cho đứa cháu một tình yêu thương những người ruột thịt và nhắc cháu rằng khôngbao giờ được quên đi những năm tháng nghĩa tình, những năm tháng khó khăn mà hai bàcháu đã sống vơi nhau, những năm tháng mà hai bà cháu mình cùng chia nhau từng củsắn, củ khoai “Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui” “Nồi xôi gạo mới sẻ chung vui”của bà hay là lời răn dạy cháu luôn phải mở lòng ra với mọi người xung quanh, phải gắn
bó với xóm làng, đừng bao giờ có một lối sống ích kỉ “Nhóm dậy cả những tâm tinhtuổi nhỏ” Bà không chỉ là người chăm lo cho cháu đấy đủ về vật chất mà còn là ngườilàm cho tuổi thơ của cháu thêm đẹp, thêm huyền ảo như trong truyện Người bà có tráitim nhân hậu, người bà kì diệu đã nhóm dậy, khơi dậy, giáo dục và thức tỉnh tâm hồnđứa cháu để mai này cháu khôn lớn thành người Người bà kì diệu như vậy ấy, rất giản
dị nhưng có một sức mạnh kì diệu tứ trái tim, ta có thể bắt gặp người bà như vậy trong
“Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh:
“Tiếng gà trưa Mang bao nhiêu hạnh phúc Đêm cháu về nằm mơ Giấc ngủ hồng sắc trứng.”
Trang 15Khổ 7: - Trong cả bài thơ, tác giả dành phần ớn dung lượng để hồi tưởng về bếp
lửa và người bà Chỉ đến bốn câu thơ cối, mạch thơ mới trở về hiện tại:
Giờ cháu đã đi xa Có ngọn khói trăm tàu
……….
- Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?
+ Suốt dọc bài thơ, mười lấn xuất hiện hình ảnh bếp lửa là mười lần tác giả nhắctới bà Âm điệu những dòng thơ nhanh mạnh như tình cảm dâng trào lớp lớp sóng vỗvào bãi biển xanh thẳm lòng bà Giờ đây, khi đang ở xa bà nửa vòng trái đất, được tiếpxúc với khói trăm nhà, niềm vui trăm ngả nhưng người bà đã, đang và sẽ mãi mãi làngười quan trọng nhất đối với cháu Bà đã trở thành một người không thể thiếu trong tráitim cháu
+ Câu hỏi tu từ cuối bài thơ: “Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”…không chỉthể hiện nỗi nhớ thường trực của cháu đối với bà mà còn là ời tự huấn, tự dặn lòng mình
“chẳng thể nào quên nhắc nhở” về một kí ức đầu đời Đó chính là biểu hiện của đạo lítruyền thống ngàn đời của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”
Những sáng tác thơ của Nguyễn Duy sâu lắng và thấn đẫm cái hồn của ca dao, dân caViệt Nam Thơ ông không cố tìm ra cái mới mà lại khai thác, đi sâu vào cái nghĩa tìnhmuôn đời của người Việt “Ánh trăng” là một bài thơ như vậy Trăng đối với nhà thơ có
ý nghĩa đặc biệt: đó là vầng trăng tri kỉ, vầng trăng tình nghĩa và vầng trăng thức tỉnh
Nó như một hồi chuông cảnh tỉnh cho mỗi con người có lối sống quên đi quá khứ
1 Cảm nghĩ của con người về vầng trăng trong quá khứ (K1,2)
Khổ 1: Mạch cảm xúc của bài thơ đi từ quá khứ đến hiện tại và lắng kết lại trongcái giật mình ở cuối bài thơ Trong đó khổ thơ 1 và 2, nhà thơ kể về những kỷ niệmtrong quá khứ, về mối quan hệ giữa người với trăng Vầng trăng là tình nghĩa, là tri kỉ,hiền hậu, bình dị, gắn bó với tuổi thơ và cuộc kháng chiến của dân tộc:
Trang 16“Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ”
Qua nghệ thuật liệt kê, điệp từ “với”, nhà thơ Nguyễn Duy đã gợi về trong lòngngười đọc cả một kí ức, một tình bạn tươi đẹp giữa người với trăng Hình ảnh vầng trăngnhư đang trải rộng ra trong không gian êm đềm, trong sáng của tuổi thơ với “đồng”, với
“sông’, với “bể” Đó là nơi chôn cất kỉ niệm của một thời thơ ấu khó quên Những câuthơ còn gợi cho ta cảm nhận được cuộc sống lam lũ, vất vả của những người nông dânmột nắng hai sương; thấy được cuộc sống chiến đấu ở rừng cực kì gian khổ, ác liệt củanhững người lính bộ đội cụ Hồ trong cuộc kháng chiến của dân tộc Thế nhưng trongnhững hoàn cảnh ấy, trăng vẫn đến với con người không một chút ngần ngại Trăngkhông chỉ là người bạn của tuổi thơ với những trò chơi dân gian đầy thú vị mà còn làánh sáng cho người nông dân lao động sản xuất; là chiếc đèn trời khổng lồ soi bướcđường cho người lính hành quân, là người bạn tâm tình của các anh trong những đêmnhớ nhà, nhớ quê hương da diết Hình ảnh vầng trăng đã được nhân hóa trở thành trởthành nhân chứng gắn bó với con người và con người cũng gắn bó với trăng, coi trăng là
“tri kỉ” – người bạn vô cùng thân thiết, hiểu bạn như hiểu chính bản thân mình
Khổ 2: Ở khổ thơ tiếp theo, nhà thơ ngẫm nghiễm lại quá khứ để đánh giá đó là một thời kỳ đầy gian khổ nhưng trong sáng:
“Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa”
Hình ảnh vầng trăng được nhân hóa, so sánh hiện lên “trần trụi” và “hồn nhiên”
Vẻ đẹp ấy như có nét đồng điệu với vẻ đẹp tâm hồn của người dân quê, của người línhchân chất, mộc mạc, giản dị Bởi vậy mối quan hệ giữa người với trăng không chỉ là “trikỉ’ nữa mà được nâng lên thành “tình nghĩa” Mối quan hệ ấy sâu đậm đến mức conngười có cảm tưởng “ngỡ” không bao giờ quên được “cái vầng trăng tình nghĩa” Cáihay trong việc dùng từ ở câu thơ này là nhà thơ không dùng từ “nghĩa” mà dùng từ
“ngỡ” vừa để diễn tả tình cảm của con người nhưng cũng đồng thời như muốn dự báo
về một sự thay đổi ngấm ngầm trong suy nghĩ mà ngay chính người trong cuộc cũngkhông dễ nhận ra
2 Cảm nghĩ của con người về hình ảnh vẩng trăng trong hiện tại (khổ 3,4)
Khổ 3: Con người cứ đinh ninh về sự bền chặt trong quan hệ với trăng, thế nhưngcon người đã thay đổi:
“Từ hồi về thành phố
quen ánh điện, cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường”
Sau chiến tranh, người lính trở về sống ở thành phố Đó là cuộc sống hiện đại vớinhững tòa nhà cao tầng, có “phòng buyn – đinh”, nơi mà “ánh điện”, “cửa gương” sángloáng đã làm lu mờ đi ánh sáng của vầng trăng Điều kiện sống thay đổi thì thái độ của
Trang 17con người đối với trăng cũng đổi thay, phải chăng con người không cần đến trăng nhưtrước kia nữa và điều ngỡ không bao giờ quên thì nay đã bị lãng quên Nhà thơ đã mượnnghệ thuật nhân hóa, so sánh trong hai câu thơ “ vầng trăng đi qua ngõ - như ngườidưng qua đường” để diễn tà thái độ thờ ơ, lạnh lùng, lãng quên của con người đối vớitrăng Con người đã vô tình quay lưng lại với quá khứ, với người bạn tình nghĩa nămxưa, biến anh ta thành một kẻ xa lạ qua đường Qua đây, nhà thơ muốn mượn trăng đểnói về chuyện thế thái nhân tình: con người khi được sống đầy đủ về vật chất thì sẽ dễdàng quên đi nền tảng của cuộc sống, có thể trở thành người ích kỉ, lạnh lùng ngay cảvới quá khứ của chính mình của đồng đội đã từng vào sinh ra tử.
Khổ 4: Tuy nhiên cuộc sống hiện đại cũng có lúc bất trắc xảy ra buộc con ngườiphải đối mặt Khổ thơ thứ tư đã diễn tả những bất trắc ấy tạo nên bước ngoặt để nhân vậttrữ tình bộc lộ cảm xúc, từ đó thể hiện chủ đề của tác phẩm:
“Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn -đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn”
Khi đèn điện tắt, cũng là khi không còn được sống trong cái xa hoa, đầy đủ về vậtchất, người lính bỗng phải đối diện với cái thực tại tối tăm Trong cái “thình lình”, “độtngột” ấy, người lính vôi bật tung cửa sổ và bất ngờ nhận ra một cái gì đó Đó chẳng phải
ai xa lạ mà chính là người bạn tri kỉ năm xưa đã bị anh ta lãng quên – vầng trăng Vầngtrăng không hề thay đổi, vẫn tròn đầy, nguyên vẹn, thủy chung, chỉ có lòng người thayđổi mà thôi ! Như vậy, giây phút mất điện lại chính là khoảnh khắc buộc con người phảinhìn lại chính mình, ngẫm lại cách đối xử của mình với người bạn năm xưa, với quá khứmột thời
3 Suy ngẫm của con người về vầng trăng (khổ 5,6)
Khổ 5: Trong tình huống mất điện đột ngột, con người đối diện với trăng vànhững ân tình xưa rưng rưng sống dậy, thổn thức lòng người:
đi mà nó luôn sống một cách lặng lẽ Đoạn thơ hay ở chất mộc mạc, chân thành, ngônngữ bình dị mà thấm thía, đi vào lòng người Như vậy, khổ tơ thứ năm, nhà thơ đã diễn
tả sự chuyển biến về tâm lí của con người để từ đó diễn tả chuyển biến về nhận thứctrong khổ thơ tiếp theo
Khổ 6: Vầng trăng trong khổ thơ thứ sáu có ý nghĩa thức tỉnh con người:
Trang 18về thái độ sống của mình đồng thời khẳng định bản chất hướng thiện vẫn tồn tại mãitrong tâm hồn người lính.
Cả bài thơ, nhân vật trữ tình ẩn sau lời kể, ẩn sau câu chuyện riêng tư của một conngười Đến khổ hơ cuối, nhà thơ lại dùng cụm từ “ta giật mình”, phải chăng cái giậtmình ấy cũng là của mỗi người bởi cũng đã bao lần ta để ngày hôm qua trong ngần rơivào lãng quên ? Bài thơ không chỉ là thái độ, là lời nhắc nhở của trăng đối với con người
mà còn là lời nhắc nhở của con người với chính mình về thái độ sống, về truyền thốngquý báu có từ ngàn đời của dân tộc: “Uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung cùngquá khứ
- Ông hoạt động văn nghệ từ cuối những năm kháng chiến chống Pháp Trong thời
kì kháng chiến chống Mỹ, Thanh Hải bám trụ ở quê hương, cầm súng, cầm bút và trởthành một trong những cây bút có công xây dựng nền văn học cách mạng ở miền Namngay từ những ngày đầu
- Thơ Thanh hải thường ca ngợi tình yêu quê hương đất nước, ca ngợi sự hy sinhcủa nhân dân miềm Nam và khẳng định niềm tin vào chiến thắng của cách mạng
2 Tác phẩm
- Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” được sáng tác không bao lâutrước khi nhà thơ qua đời
- Nội dung và nghệ thuật chủ yếu:
+ Thơ năm chữ, có nhạc điệu trong sáng, tha thiết, gần gũi với dân ca, nhiều hìnhảnh đẹp, giản dị, gợi cảm, những so sánh và ẩn dụ sáng tạo
Trang 19+ Bài thơ là tiếng lòng tha thiết yêu mến và gắn bó với đất nước, với cuộc đời; thểhiện ước nguyện chân thành của nhà thơ được cống hiến cho đất nước, góp một “mùaxuân nho nhỏ” của mình vào mùa xuân lớn của dân tộc.
II Phân tích
1 Cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân thiên nhiên (khổ thơ 1)
Mở đầu bài thơ, Thanh Hải đưa ta vào bức tranh mùa xuân thiên nhiên tươi đẹpcủa xứ Huế thân yêu:
“Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiệnHót chi mà vang trờiTừng giọt long lanh rơiTôi đưa tay tôi hứng”
- Trong khổ thơ này, bức tranh xuân của thiên nhiên được tạo nên từ những hìnhảnh rất tiêu biểu, được vẽ bằng cả màu sắc lẫn âm thanh Đó là một bức tranh trong trẻo,khoáng đạt từ mặt đất đến bầu trời với chiều dài của dòng sông và chiều cao rộng theotiếng hót náo nức, vang trời của con chim chiền chiện gọi mùa xuân về Là bức họa đượchòa phối bằng những sắc màu hài hòa - màu xanh của dòng sông xứ Huế làm nền chomàu tím biếc của bông hoa, khiến không gian trở nên sâu thẳm, huyền ảo, thơ mộng vàsắc tím dịu dàng Đặc biệt, ở hai câu thơ đầu, với nghệ thuật đảo ngữ đưa động từ “mọc”lên đầu câu, ta tưởng như nhà thơ đang quan sát sự vươn lên, trỗi dậy mạnh mẽ của bônghoa màu tím Một bông hoa mọc giữa dòng sông nhưng không hề nhỏ nhoi, yếu ớt, tráilại nó còn làm cho cả bức tranh xuân trở nên căng tràn sức sống
- Hình ảnh của mùa xuân còn được hiện lên trong cảm xúc thiết tha, trìu mến củanhà thơ qua lời kêu, giọng hỏi: “ơi”…, “hót chi mà”,…Đặc biệt, tình cảm nâng niu vẻđẹp của mùa xuân, khát vọng đón nhận và gìn giữ vẻ đẹp ấy được thể hiện qua những từngữ giàu chất tạo hình gợi tư thế độc đáo: “Tôi đưa tay tôi hứng” từng “giọt long lanh”
từ trời xanh rơi xuống “Giọt long lanh” có thể là giọt sương đọng trên lá non, giọt mưaxuân nhưng nếu liên kết với câu thơ trên thì đây cũng có thể là giọt âm thanh của tiếngchim chiền chiền Nếu tiếng chim chiền chiện thả vào không gian trong suốt của mùaxuân được cảm nhận thành từng giọt mang màu sắc long lanh thì đó quả là một sựchuyển đổi cảm giác thật thú vị Cảm giác ấy, động tác ấy chỉ có thể có được ở một tâmhồn thi sĩ, một tấm lòng tha thiết yêu mến cuộc sống này
2 Cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân đất nước (khổ thơ 2,3)
Từ mùa xuân thiên nhiên, nhà thơ hướng cảm xúc của mình về mùa xuân đấtnước, con người:
“ Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy trên lưngMùa xuân người ra đồngLộc trải dài nương mạTất cả như hổi hảTất cả như xôn xao…
Đất nước bốn ngàn năm
Trang 20Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước”
- Mùa xuân trước hết là của “ người cầm súng” và “người ra đồng”, những conngười tiêu biểu cho sự nghiệp chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và lao động sản xuất xây dựngquê hương Họ là những người đã góp phần làm nên mùa xuân và mang mùa xuân đigieo rắc khắp mọi nơi – đem lại hòa bình, ấm no, hạnh phúc cho đất nước Ý nghĩa ấykết đọng ở chữ “lộc” được lặp lại hai lần “Lộc” có nghĩa là mùa xuân cây cối đâm chồinảy lộc; là hái lộc mùa xuân thể hiện cho sự thành đạt dồi dào của con người, cho hyvọng, tương lai Từ “lộc” trong hai câu thơ trên là màu xanh của lá ngụy trang trên lưngngười chiến sĩ ra trận, là màu xanh của mạ non gieo trên khắp cánh đồng Phải chăng,
đó chính là sức sống, thế vươn mình phát triển của cuộc sống mới ?
- Từ hình ảnh “ người cầm súng” và “người ra đồng”, nhà thơ đã khái quát thành
âm hưởng chung: “tất cả như hối hả/ Tất cả như xôn xao” Điệp từ “tất cả”, các từ láy
“hổi hả”, “xôn xao” và cách so sánh trực tiếp đã gợi ra không khí khẩn trương, tưngbừng, náo nức, gợi sự chuyển mình mạnh mẽ của đất nước Ngỡ như cả thiên nhiên, đấttrời và con người như đang hối hả, xôn xao góp phần mình làm nên mùa xuân, đất nước
- Khổ thơ thứ ba, giọng thơ trầm lắng với những suy ngẫm về đất nước trongchiều dài lịch sử Với nghệ thuật nhân hóa “ Đất nước bốn ngàn năm/ Vất vả và gianlao”, nhà thơ đã gợi ra hình ảnh đất nước như một người mẹ thầm lặng mà kiên cườngsuốt hàng ngàn năm chống chọi với thiên tai, thù trong, giặc ngoài để sinh tồn và làmnên lịch sử Qua đó, nhà thơ bộc lộ niềm tự hào về một đất nước với sức sống bất diệt –đất nước của những con người không bao giờ chịu khuất Vì thế dù viết bài thơ này khivừa giải phóng, đất nước còn gặp nhiều khó khăn nhưng nhà thơ vẫn lạc quan, vẫn vữnglòng tin tưởng: “ Đất nước như vì sao / Cứ đi lên phía trước” Trong cảm xúc của nhàthơ, hình ảnh đất nước được so sánh thật đẹp, thật lung linh tỏa sáng như những vì saosoi đường cho thế hệ này nối tiếp thế hệ kia chung tay góp sức đưa đất nước bay cao,bay xa, tròn vẹn, muôn đời
3 Nhà thơ khát vọng hòa nhập và dâng hiến cho đời (khổ thơ 4, 5)
Trong không khí tưng bừng, hối hả của mùa xuân đất nước, con người, nhà thơmuốn được hòa vào, được cống hiến cùng mọi người:
“ Ta làm con chin hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa caMột nốt trầm xao xuyến
Một mùa xuân nho nhỏLặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”
- Nhà thơ ước nguyện được hóa thân thành một con chim trong muôn và loài chimcất cao tiếng hót gọi mùa xuân về Muốn được làm một cành hoa mang màu sắc vàhương thơm tô đẹp cho đời Muốn làm một nốt trầm trong bè trầm của thế giới âm nhạcnhưng cũng đủ để làm xao xuyến lòng người Ước muốn ấy giản dị và khiêm nhườngbiết bao! Tất cả chỉ là “một” mà thôi, nhưng đều là các hình ảnh được láy lại ở khổ thơthứ nhất, đều là những gì đẹp nhất, tinh túy nhất có ý nghĩa góp phần làm nên mùa xuân
Trang 21Ước nguyện ấy của nhà thơ thật chân thành tha thiết qua điệp ngữ “ta làm” Nếu “tôi” ởkhổ thơ thứ nhất là cá nhân thì “ta” ở khổ thơ này lại chính là cái chung rộng lớn (nhândân, đất nước); cái “tôi” phải hòa nhập vào cái “ta” Đến đây, nguyện ước của nhà thơkhông còn là riêng của một người nữa mà trở thành lẽ sống cao đẹp của chung tất cả mọingười: mỗi người hãy dâng hiến một mùa xuân nho nhỏ thì đất nước sẽ là một mùa xuânlớn.
Nói về lẽ sống đẹp, nhà thơ Tố Hữu từng viết:
“ Dẫu là con chim chiếc lá
Thì con chim phải biết hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không có trảSống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.”
- Nếu khổ thơ thứ tư là khát vọng hòa nhập thì khổ thơ thứ năm, nhà thơ khátvọng được dâng hiến cho đời “một mùa xuân nho nhỏ” – mùa xuân được tạo nên từnhững hình ảnh ẩn dụ trong khổ thơ trên Nhà thơ muốn được làm người có ích; muốn
sự tồn tại của mình dù là nhỏ bé, dù là ở độ tuổi nào cũng đều mang đến cho đời, cho đấtnước một ý nghĩa tích cực Tính từ “lặng lẽ”, điệp ngữ “dù là” đã diễn tả và nhấn mạnhcách dâng hiến của nhà thơ là không ồn ào phô trương mà tự nguyện, thầm lặng, bền bỉ.Bài thơ được viết trước khi nhà thơ qua đời một tháng nhưng không gợi chút băn khoăn
về bệnh tật, những suy nghĩ riêng tư cho bản thân mà chỉ lặng lẽ cháy bỏng một khát khao được dâng hiến Thật đáng trân trọng biết bao!
4 Khúc hát ca ngợi quê hương (khổ thơ 6)
Trước lúc đi xa, nhà thơ vẫn cháy lên khát vọng sống và tình yêu quê hương đấtnước qua giai điệu lời ca xứ Huế”:
“ Mùa xuân – ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bìnhNước non ngàn dặm mìnhNước non ngàn dặm tìnhNhịp phách tiền đất Huế”
- Khổ thơ cuối cùng, nhân vật trữ tình mượn câu “Nam ai, Nam bình” ngọt ngàocủa dân ca xứ Huế để ca ngợi vẻ đẹp ngàn dặm bao la của đất nước, bao nhiêu dặm làbấy nhiêu cái nghĩa cái tình thủy chung; để bày tỏ sự biết ơn với cuộc đời, với đất nước.Nước non Việt Nam ta, xứ Huế thân yêu tươi đẹp quá! Hình ảnh ấy quyện vào một câuhát, một làn điệu dân ca truyền thống sẽ in sâu mãi ngân nga, ngân nga mãi trong tráitim nhà thơ – một con người suốt đời chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc
* Tóm lại: Bài thơ khép lại khi đã làm lay động biết bao trái tim bạn đọc yêu thơ
bởi chất họa gợi cảm, chất nhạc vấn vương và ước nguyện thiết tha chân thành của tácgiả Dường như ước nguyện nhỏ bé, khiêm nhường ấy không còn là của riêng Thanh Hải
mà đã trở thành tiếng lòng chung của nhiều bạn đọc Bài thơ đã gợi cho ta những suynghĩ sâu sắc về ý nghĩa cuộc sống của mỗi con người biết chăm lo, cống hiến cho cuộcđời chung của dân tộc
Trang 22VIẾNG LĂNG BÁC
(Viễn Phương)
I Kiến thức cơ bản
1 Tác giả
- Viễn Phương (1928 – 2005) quê ở tỉnh An Giang Ông tham gia hai cuộc kháng
chiến và hoạt động ở Nam Bộ, là một trong những cây bút có mặt sớm nhất trong lựclượng văn nghệ giải phóng miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ
- Thơ Viễn Phương mộc mạc, giản dị nhưng giàu cảm xúc, thể hiện lòng biết ơn
sâu với những người có công với cách mạng, với kháng chiến, đặc biệt là người phụ nữmiền Nam
2 Tác phẩm
- Hoàn cảnh sáng tác: Năm 1976, khi đất nước vừa thống nhất, lăng Chủ tịch Hồ
Chí Minh cũng vừa được khánh thành, Viễn Phương ra thăm miền Bắc, vào lăng viếngBác Bài thơ “Viếng lăng Bác” được sáng tác trong dịp đó và in trong tập “Như mâymùa xuân” (1978)
- Nội dung và nghệ thuật chủ yếu:
+ Giọng điệu trang trọng và tha thiết, nhiều hình ảnh ẩn dụ đẹp, gợi cảm, ngônngữ bình dị mà cô đúc
+ Bài thơ thể hiện niềm thành kính, sự xúc động sâu sắc của nhà thơ và của mọingười đối với Bác Hồ khi vào lăng viếng Bác
II Phân tích
1 Khổ thơ 1: cảm xúc của nhà thơ trước hình ảnh hàng tre bên lăng Bác
Mang theo tiếng lòng của cả đồng bào miền Nam đến thăm lăng Bác, trước lăngNgười, viễn Phương đã thốt lên nghẹn ngào xúc động:
“ Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi ! Hàng tre xanh xanh Việt NamBão táp, mưa sa đứng thẳng hàng.”
- Câu thơ đầu tiên là lời giới thiệu một cách tự nhiên, giản dị, nhà thơ từ miềnNam ra thăm lăng Bác Cách xưng hô “con – Bác” như trong một gia đình, gần gũi, thânthương mà tôn kính Cuộc hành hương về thăm Bác chính là về thăm cha Động từ
“thăm” được sử dụng rất tinh tế mà gợi cảm Vết thương lòng của nhân dân Việt Namcòn chưa lành lặn trước sự ra đi của Bác, song với cách nói “thăm lăng Bác” thay cho
“viếng lăng Bác” đã phần nào xoa dịu đi nỗi đau thương trước một mất mát lớn của dântộc Đồng thời khẳng định Bác vẫn sống mãi trong trái tim mỗi người Việt Nam
Trang 23- Đến lăng Bác, từ xa nhà thơ đã thấy hình ảnh hàng tre thấp thoáng trong khóisương Ba Đình lịch sử Đó là hình ảnh hàng tre thực, bát ngát, xanh tươi, quen thuộc,gần gũi với làng quê Việt nam Từ hình ảnh ấy, tre được nhân hóa, ẩn dụ trở thành biểutượng thiêng liêng cho sức sống bền bỉ, kiên cường, cho truyền thống lịch sử của dân tộcViệt Nam Nhà thơ thương cho cây tre phải chịu nhiều “ bão táp mưa sa” nhưng cũng tựhào vì tre vẫn đứng thẳng hàng Phải chăng, đó cũng chính là tình cảm mà nhà thơ dànhcho đất nước, cho dân tộc mình khi vẫn đứng vững trước những thăng trầm của lịch sử ?Trước nững phẩm chất tốt đẹp ấy của dân tộc, nhà thơ không khỏi thốt lên “Ôi!” Đó làcảm xúc tự hào, rung động, xốn xang Hình ảnh hàng tre trong khổ thơ trên với hai lớpnghĩa gợi cho ta thấy nơi Bác yên nghỉ thật thiêng liêng, bình dị, gần gũi như bóng dángquê hương, như dân tộc Việt Nam luôn quây quần bên Bác.
2 Khổ thơ 2: Cảm xúc của nhà thơ khi hòa cùng dòng người vào lăng viếng Bác
- Dẫu biết rằng Bác đã ra đi gần nửa thế kỷ song tâm hồn và sự nghiệp của Ngườivẫn cao đẹp, rạng rỡ như vầng tinh tú của vạn vật:
“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăngThấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”
Hai câu thơ trên thể hiện suy ngẫm của nhà thơ về vai trò của Bác đối với dân tộcViệt Nam Trong đó có hai hình ảnh đối xứng: một “mặt trời đi qua trên lăng” và một
“mặt trời trong lăng” Mặt trời thứ nhất là mặt trời của vũ trụ, là hình ảnh thực; mặt trờithứ hai là ẩn dụ chỉ Bác Hồ - mặt trời cách mạng của dân tộc “Người rực rỡ một mặt trờicách mạng” (Tố Hữu) Nếu mặt trời của thiên nhiên đem lại ánh sáng, hơi ấm, sự sốngcho vạn vật trên trái đất thì Bác lại là người quét đi màn sương tối tăm nô lệ, đem lại ánhsáng tự do, ấm no, hạnh phúc cho dân tộc Việt nam Bác như mặt trời mãi luôn tỏa sáng,ánh sáng màu đỏ là vầng hào quang của người chiến sĩ Ánh sáng từ sự nghiệp cáchmạng của Người đã, đang và sẽ mãi soi đường chỉ lối cho dân tộc việt Nam Nhà thơ víBác như mặt trời là đặt Bác sánh ngang với sự lớn lao, sự trường tồn mãi mãi của vũ trụ.Qua đó nhà thơ muốn khẳng định, ca ngợi và bày tỏ lòng biết ơn vô hạn của mình đốivới công lao trời bể của Bác dành cho dân tộc Việt Nam
- Nếu từ “ngày ngày” trong hai câu thơ đầu tạo ấn tượng về thời gian vĩnh viễn,
vô tận của mặt trời thì điệp từ “ngày ngày” trong hai câu thơ sau lại bày tỏ tình cảm nhớthương, tri ân của dân tộc, của nhân dân đối với Bác:
“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớKết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.”
Nhìn cảnh đoàn người vào lăng viếng Bác đi theo đường vòng tròn giống hìnhmột tràng hoa, nhà thơ liên tưởng đến một hình ảnh ẩn dụ độc đáo Chính những ngườidân đã kết thành tràng hoa mà mỗi người là một bông hoa thơm, dâng lên cuộc đời bảymươi chín mùa xuân của Bác tình cảm biết ơn và lòng tiếc thương khôn cùng
3 Khổ thơ 3: Cảm xúc của nhà thơ khi ở trong lăng Bác (đứng trước thi hài Bác)
- Lòng tiếc thương khôn nguôi đối với Bác tiếp tục được khắc sâu trong nhữngcâu thơ tiếp theo:
“Bác nằm trong giấc ngủ bình yênGiữa một vầng trăng sáng dịu hiền.”
Ánh sáng của những ngọn đèn trong lăng được nhà thơ liên tưởng tới vầng trăngkhiến khung cảnh trong lăng hiện lên thật trang nghiêm, êm dịu, thanh bình Và Bác nằm
Trang 24trọn đời mình cho dân tộc Từ hình ảnh vầng trăng, nhà thơ khiến ta liên tưởng tới thơcủa Bác, nhiều bài ngập tràn ánh trăng Trăng và Bác là đôi bạn tri kỷ và giờ đây trăngvẫn ở bên tỏa sáng dịu hiền canh cho Người giấc ngủ ngàn thu Vầng trăng còn là hìnhảnh tượng trưng cho tâm hồn trong sáng, thanh cao, cho tình yêu thương dịu hiền củaBác Hồ đối với đồng bào miền Nam ruột thịt nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung:
“Ôi ! Lòng Bác cứ vậy cứ thương ta Thương cuộc đời chung thương cỏ hoa Chỉ biết quên mình cho hết thảy
Như dòng sông chảy nặng phù sa.”
- Hai câu thơ sau là sự mâu thuẫn giữa cảm xúc và lí trí nhà thơ:
“Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim.”
“Trời xanh” là hình ảnh ẩn dụ chỉ Bác, Người đã hóa thân vào thiên nhiên, đấtnước, tên tuổi Người sẽ mãi mãi như trời xanh Nhưng cũng có thể hiểu theo cách khác
là trời xanh thì vô hạn còn kiếp con người thì hữu hạn chẳng thể sống mãi với cuộc sốngtrần thế Dù biết là như vậy, dù hiểu theo cách nào đi nữa thì nhà thơ cũng không khỏinhói đau về một sự thật là Bác đã đi xa Giọng thơ ngậm ngùi, lời thơ như một tiếngkhóc nghẹn ngào khiến nỗi đau ấy tưởng chừng như có hàng trăm mũi kim đâm vào tráitim nhà thơ Đó cũng chính là nỗi đau chung của nhân dân khi Bác ra đi “Đời tuôn nướcmắt, trời tuôn mưa”
4 Khổ thơ 4: cảm xúc của nhà thơ khi nghĩ đến ngày về
- Từ hiện tại viếng thăm, Viễn Phương nghĩ đến ngày mai phải rời xa Bác trongnỗi nhớ niềm thương:
“ Mai về miền Nam, thương trào nước mắt,Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác, Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây,Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.”
“Thương trào nước mắt” là một cảm xúc mãnh liệt bị đẩy lên đột ngột do nhịp tim
co thắt, dồn nén Đó là tình cảm rất thực không chỉ ở nhà thơ mà ở bất cứ ai đến viếngBác Chính từ cảm xúc nhớ thương vô hạn ấy, nhà thơ khát khao được hóa thân, đượchòa nhập vào những cảnh vật bên lăng Bác để được ở bên Bác mãi mãi, góp phần làmcho không gian yên nghỉ của Bác thêm ấm áp Muốn là con chim cất tiếng hót, làm đóahoa để tỏa hương thơm và đặc biệt là muốn được làm cây tre trung hiếu Điệp từ “muốn”được lặp lại ba lần đã nhấn mạnh tình cảm lưu luyến, lòng thương yêu vô hạn của nhàthơ đối với Bác Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh hàng tre xanh và khép lại cũng bằng hìnhảnh cây tre như một sự khẳng định về lòng trung kiên, son sắt, bộc lộ tâm nguyện hướng
về Bác Hồ; đồng thời như một lời hứa của Viễn Phương về tinh thần bền bỉ giữ gìn nướcnon thống nhất
* Tóm lại: Bài thơ giàu chất suy tưởng và giàu chất trữ tình, đằm thắm, thiết tha.
Bốn khổ thơ, khổ nào cũng đầy ắp, trào dâng một niềm nhung nhớ và xót thương vôhạn; khổ nào cũng đầy ắp những hình ảnh ẩn dụ đẹp, kì vĩ và xứng đáng với Người.Khép lại bài thơ, dư âm vẫn còn vang maixtrong lòng người đọc Tiếng thơ không chỉ làtiếng lòng của Viễn Phương mà còn là tiếng lòng, tình cảm thành kính, thiêng liêng của
cả dân tộc Việt Nam đối với Bác – vị cha già kính yêu của dân tộc, mãi mãi sống trongtrái tim Việt Nam và nhân loại Yêu thương bác, nhớ Bác, chúng con “Xin nguyện cùng