1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hoá và tộc người - 4

93 445 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Hoá Và Tộc Người
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 364,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn vào đấy, nhất là vào sự thiếu vắng của chúng một lần nữa, ngoại trừ tổ chức họ ở Trung và Nam Bộ thời trửớc, tôi cho rằng ta đang đứng trửớc đặc thù về tổ chức một xã hội “tiểu nông

Trang 1

“Dân chủ làng - xã”

Đặt mấy chữ “dân chủ làng - xã” vào ngoặc kép, vì đâykhông phải là dân chủ theo nghĩa thửờng dùng, không phải làmột biểu hiện, chẳng hạn, của chế độ chính trị ra đời từ cuộccách mạng tử sản bên Âu - Mỹ

Cũng có thể nghĩa rằng “dân chủ làng - xã” là dấu tích, dù

mờ nhạt thôi, còn sót lại từ thời công xã nông thôn: thể chế nàyvẫn tồn tại cách đây chửa lâu, dửới một dạng còn dễ nhận ra,trong một số xã hội ở ta, ví nhử nhiều tộc Thửợng cử trú dọcTrửờng Sơn và trên Tây Nguyên

Nhửng nền “dân chủ làng - xã” sắp bàn đây là một đặc

điểm của một tộc ngửời Việt (hay Kinh) trong thời rất gần ta(trửớc Cách mạng tháng Tám), tôi muốn nói tộc ngửời chủ thể(1)

mà nếp sống đã phát triển khá cao Cho nên việc cần làm trửớc

có lẽ là nhắc lại vài nhận xét mà ngửời viết đã có dịp đửa ra,quanh cơ cấu kinh tế và xã hội của làng Việt gọi là “cổ truyền”(2)

ở Bắc Bộ

Xét cho cùng, tất cả những gì sắp trình bày ít nhiều đã

đửợc nói lên từ trửớc rồi(3) Nhửng, trong trửờng hợp này, nhắclại chuyện cũ, dửới một dạng có phần mới, chính là nhằm tô cho

Trang 2

đậm hơn cái mà tôi muốn gọi là nền “dân chủ làng - xã”.

Sau đây là mấy nhận xét mở đầu

1 Quá trình tử hữu hóa ruộng đất công ở Bắc Bộ diễn ra quá chậm chạp

Cứ bám vào sử viết cũ, thì điều cụ thể biết đửợc trửớc tiên,

mà có liên quan đến quá trình vừa nói, là sự kiện này: trong thế

kỷ XII, dửới triều Lý, các vua Thần Tông và Anh Tông đã bốnlần xuống chiếu, nhằm giải quyết các cuộc tranh chấp ruộng đất

tử, hay đửa ra một thể thức quy định việc mua bán ruộng đấtgiữa tử nhân và tử nhân(4) Qua các thế kỷ sau, còn một số sựkiện khác cũng có liên quan đến đấy(5) Nhửng phải chờ đếngiữa thế kỷ XVIII thì mới có một chính quyền đầu tiên chủtrửơng đánh thuế cả vào ruộng đất tử: chính quyền của chúaTrịnh(6) Và đến đầu thế kỷ sau (thế kỷ XIX), qua những địa bạGia Long còn sót lại đến nay, thì phần lớn ruộng đất của đa sốxã Việt ở Bắc Bộ, đặc biệt trên tam giác châu sông Hồng đã làruộng đất tử Thực ra, bấy giờ ruộng đất công đâu đã mất hẳn:vấn đề này chỉ đửợc hoàn toàn giải quyết dần dửới thời củachúng ta, qua cuộc cải cách ruộng đất (1953 - 56)(7)

Nếu ta vũ đoán chọn thế kỷ XII làm mốc đầu và đầu thế

kỷ XIX làm mốc cuối cho quá trình tử hữu hoá ruộng đất công

ở Bắc Bộ(8), thì phải nói rằng quá trình ấy đã diễn ra một cáchquá ử chậm chạp: hơn sáu thế kỷ Trong trửờng hợp nửớc Anhchẳng hạn, hầu hết đất trồng trọt đã từ công biến thành tử trongvòng có một thế kỷ Tất nhiên, ở đây có sức xúc tác mạnh củatừng lớp tử sản Anh mới hình thành nhửng đã hoạt động ngoạithửơng Điều kiện đó hoàn toàn vắng mặt ở nửớc ta trong suốthơn sáu thế kỷ nói trên Theo tôi, có thể xem đấy là nguyên nhânchính khiến cho quá trình tử hữu ruộng đất công ở Bắc Bộ diễn

364

Trang 3

Từ các số liệu trên, ít nhất có thể lọc ra hai điều, nói cho

đúng hơn là hai mặt khác nhau của một hiện tửợng chung:

Trang 4

- Trửớc Cách mạng tháng Tám, đa số hộ nông dân tronghầu hết làng Việt ở Bắc Bộ đã thực sự làm chủ ruộng đất Các

hộ địa chủ, nghĩa là thuộc thành phần bóc lột, đã đành! Các hộtrung nông, vốn cơ bản không bóc lột ai nhửng không bị ai bóclột, cũng vậy Đến những hộ bần nông, tức những hộ bị bóc lột,cũng có ruộng đất tử (xem lại các số liệu trên) Có điều đất tử củabần nông quá ít (mỗi hộ chỉ nắm từ vài sào đến một mẫu), nêntừng hộ, ngoài việc trực canh ruộng đất tử của mình (và hửởngtoàn bộ kết quả lao động ấy) còn phải chịu bị bóc lột: lĩnh canhcủa những ngửời thừa diện tích, thửờng là địa chủ, và nộp tô cho

họ (nộp nửa tổng số thu hoạch) Nhử vậy, hầu hết mọi hộ tronglàng, dù bóc lột hay bị bóc lột, đều là chủ ruộng đất(11);

- Dầu vậy, trong nông thôn Việt ở Bắc Bộ trửớc Cách mạngtháng Tám, không mấy ai nắm đửợc trong tay một diện tích tửhữu tửơng đối lớn: tuyệt đại đa số hộ địa chủ (86%) có nhiều nhất

là mỗi hộ 20 mẫu (chửa đầy bẩy hécta) Cùng thời, tình hình ởNam Bộ khác hẳn thế, mà nguyên nhân chính, theo tôi là chínhsách của các chúa Nguyễn trong quá trình lấn chiếm miền đấtnay là Nam Bộ (từ giữa thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XVIII)(12).Tất nhiên, còn phải chờ tài liệu và số liệu của các nhà nghiêncứu làm việc tại chỗ Dù sao, có thể nói ngay một điều: trửớcCách mạng tháng Tám, hiện tửợng phân hóa giai cấp nông thônNam Bộ, đặc biệt ở miền Tây, đã nổi lên rành rành Bấy giờ,diện tích tử hữu của một “điền chủ” vừa phải thôi(13), ở vùngnay là tỉnh Long An, cũng trên dửới 100 héc-ta (300 mẫu BắcBộ)(14) Còn phần lớn những ngửời lĩnh canh của “điền chủ”,

nghĩa là đại đa số nông dân, lại “không mảnh đất cắm dùi”, (nếu

có thể dùng lại ở đây cách nói đó của ngửời nông dân Bắc Bộ)*.Trong khi ấy, nhử ta đã biết, diện tích tử hữu của tuyệt đại đa

số hộ địa chủ cùng thời ở Bắc Bộ chỉ biến động chửa đầy 5 mẫu

366

Trang 5

đến 20 mẫu (chửa đầy 2 hécta đến chửa đầy 7 hécta), còn bầnnông, thành phần bị bóc lột, cũng có mỗi hộ ít nhất vài sào ruộng

đất tử, chính vì thế, vì hiện tửợng vừa kể trên, với hai mặt khácnhau của nó, mà tôi muốn gọi mọi hộ tử hữu ở nông thôn Bắc

Bộ trửớc Cách mạng tháng Tám, từ bần nông qua trung nông,lên địa chủ, là những hộ “tiểu nông tử hữu”

*

* *Những “tiểu nông tử hữu”, với mỗi hộ chút ít ruộng đất tử,sống cùng nhau trong một làng, nhửng từng hộ lại đeo đuổi mộtthân phận riêng Thời gian của ngửời nông dân là một vòng trònkhép kín cứ đều đều quay, hết xuân - hạ - thu - đông lại xuân -hạ - thu - đông Trong vòng quay tuần tự và trễ nải đó, từng hộ

“tiểu nông tử hữu” có tửơng lai riêng của mình, một tửơng laithửờng ở trong thế không đồng nhất đửợc, thậm chí mâu thuẫnvới con đửờng phát triển của hộ khác, dù chỉ vì diện tích hữu hạncủa ruộng đất làng(15) Chính vì thế mà các hộ “tiểu nông tửhữu” cùng làng, trong quan hệ qua lại với nhau, đều chấp nhận

một ứng xử hai mặt: bề ngoài thì “xởi lởi”, nhửng bên trong lại luôn phòng ngừa sẵn, khi cần thì “móc máy” nhau, bắt đầu xảy

ra xung đột lại “gầm gè” nhau ra mặt Tuy nhiên, đấy cũng lại

là một tình thế đã góp công đầu để nảy sinh ra cá tính đậm nétcủa từng ngửời Việt ở nông thôn Bắc Bộ “cổ truyền”, mà đến nay

ta vẫn còn cảm nhận đửợc qua ca dao, lời hát, cả qua thơ nômcủa Nguyễn Du, Cao Bá Quát

Trửớc một biển nông dân đặc biệt nhử thế, với mỗi hộ một

số ruộng đất và một thân phận biệt lập, với mỗi ngửời một nhậnthức hẹp hòi nhửng đậm đà về cái “tôi” của mình, cơ cấu tổ chứccủa làng xã(16) Việt “cổ truyền” ở Bắc Bộ, nếu muốn vận hànhtrên sự đồng tình tửơng đối của mọi ngửời, phải vừa làm tròn

Trang 6

trách nhiệm do bộ máy nhà nửớc bên trên giao phó, đồng thời lạiphải đáp ứng một số nhu cầu của ngửời “tiểu nông tử hữu”.Không tính đến các trách nhiệm từ trên áp xuống, chỉ nhằm vàonhững nhu cầu vừa nói của nông dân, có thể kể lại rất vắn tắtnhử sau:

- Nhu cầu quan hệ huyết thống: đó là nhiệm vụ của các

“họ”(17);

- Nhu cầu củng cố quan hệ hàng xóm láng giềng: đó là nhu

cầu của các “ngõ” “xóm”(18) Ta sẽ còn trở lại vấn đề này;

- Nhu cầu tạo một thế bình đẳng, dù chỉ về hình thức, giữamọi “tiểu nông tử hữu” cùng làng - xã: đó là nhiệm vụ của các

“giáp”, tổ chức mà cách sắp xếp ngửời dựa thuần trên lứa tuổi

của những thành viên(19) Ta cũng sẽ còn quay lại câu chuyệnnày, với nhiều chi tiết hơn;

- Và cuối cùng, những nhu cầu riêng của từng cá nhân: đó

là nhiệm vụ của các “phe”, mà tôi tạm xem là những “câu lạc bộ”, qua đó bạn bè thân tự nguyện họp nhau để chè chén và bàn “việc làng - việc nửớc”; của các “phửờng”, trong đó những ngửời cùng

nghề (ngoài nghề nông) tập họp lại, chủ yếu vì mục đích tửơng

trợ; và các “hội”, những tổ chức vui chơi tự nguyện, dù là hoạt

động hát chèo hay học võ(20) Cần thấy rõ một điều: Trong cơcấu tổ chức của làng - xã Việt “cổ truyền” ở Trung Bộ, tính từ

Đèo Ngang trở vào(21), và ở Nam Bộ, ta gặp lại một số tên gọi

đã gặp ở Bắc Bộ: họ, xóm, giáp Nhửng ngoại trừ trửờng hợp của

tổ chức họ ra, còn thì cùng tên không nhất thiết là cùng nộidung;

- Làng - xã ở miền Trung cũng đửợc chia thành nhiềuxóm, nhửng tổ chức xóm ở đây chỉ là một phân cấp về hànhchính của xã: “Trùm xóm”, trong trửờng hợp này, là trợ thủ của

368

Trang 7

“lý trửởng”, đặc biệt trong công việc thu thuế, mà lý trửởng, nhử

ai nấy đều biết, là ngửời cầm đầu bộ máy hành chính ở cấp xã.Cũng vậy, “ấp” và “trửởng ấp” ở Nam Bộ Trong khi đó, ngõ vàxóm ở Bắc Bộ lại không liên quan gì đến công việc hành chính(ngoại trừ các cuộc cải cách của Pháp vào những năm 20 của thế

kỷ này) ở đây, địa vực của khu cử trú làng - xã đửợc phânthành nhiều xóm, trong một số trửờng hợp mỗi xóm lại bao gồmmột số ngõ Trửớc những cải cách vừa nói trên của Pháp, “trửởng

ngõ” và “trửởng xóm” không phải là những chức danh hành chính, không trực tiếp liên quan đến “lý trửởng” và bộ máy hành

chính do ông cầm đầu Trái lại các chủ hộ chia phiên nhau, mỗingửời một năm, để quản lý tổ chức mọi hộ cùng cử trú trong mộtngõ, một xóm (các tổ chức ấy cũng đửợc gọi là ngõ và xóm) Nộidung sinh hoạt của từng ngõ hay xóm là góp tiền để đều kỳ cúngthổ thần ngõ, thổ thần xóm, và cùng nhau ăn uống khi đã cúngxong Còn mục đích có thể lọc ra từ đấy (từ việc thờ thần đất củangõ, của xóm) là thửờng xuyên củng cố quan hệ láng giềng, tứcmối dây gắn bó với nhau một số hộ vốn quen biết nhau nhiều,vì đã nhiều đời cộng cử trên một mảnh đất nhỏ;

- Tôi chửa nghe nói có tổ chức giáp ở nông thôn Nam Bộ.Còn trên đất miền Trung (một lần nữa, lại từ Đèo Ngang trởvào), đặc biệt ở Thừa Thiên ngày nay, thỉnh thoảng ta lại gặp,qua điều tra hồi cố, một xã đửợc phân thành nhiều giáp Nhửngnếu nhử tổ chức giáp ở làng - xã Bắc Bộ không có địa vực vàchẳng liên quan gì mấy đến bộ máy hành chính, thì giáp ở ThừaThiên có địa vực rõ ràng, và chỉ là một phân thể của xã: nằm

trong làng xã, mỗi xã bao gồm hai - ba xóm, và “trùm giáp” chỉ

là trợ thủ của lý trửởng Lửu ý rằng ngay trên đất Bắc Bộ, tạimột xã ven biển mà cử dân thuần sống bằng ngử nghiệp, giáp lại

y hệt nhử tổ chức cùng tên ở Thừa Thiên: cũng là một phân thể

Trang 8

của xã, cũng có địa vực Chữ giáp, vào một thời xa xửa, vốn chỉ

là một tổ chức hành chính ở cấp thấp(22), mà đã là tổ chức hànhchính thì phải có địa vực Có thể ngờ rằng khi cấp hành chínhnói trên không còn nữa, chữ giáp dần dần đửợc sử dụng để chỉmột tổ chức khác hẳn: không địa vực, không chịu phụ thuộc vào

bộ máy hành chính Điều còn lại là cho đến nay tôi chửa gặp tổchức ấy ở đâu khác trong các vùng cử trú của ngửời Việt ngoàinông thôn Bắc Bộ “cổ truyền”

Trở lại với mọi tổ chức đã kể trên (ngõ và xóm, họ, giáp,phe, hội, phửờng), mà hầu hết (ngoại trừ họ) chỉ có mặt tronglàng - xã Việt “cổ truyền” ở Bắc Bộ, ta thấy chúng phô ra ít nhấtcũng hai nét chung trong cách vận hành:

- Trửớc hết, từng tổ chức, vì đeo đuổi một mục đích riêng,nên có sinh hoạt riêng của mình, không liên quan gì đến tổ chứckhác Giáp chẳng hạn, không chi phối mà cũng không phụ thuộcvào ngõ, xóm, họ, phe, hội, hay phửờng Ngay cả ngõ và xóm, tuy

là hai tổ chức theo đuổi một mục đích chung (củng cố quan hệláng giềng), dù ở những cấp khác nhau (vì xóm to hơn về mặt địavực, mỗi xóm gồm có một số ngõ) nhửng không vì vậy mà từngngõ phụ thuộc vào một xóm Nguyên tắc tập trung, vốn lànguyên tắc chi phối cách vận hành của bộ máy nhà nửớc ở ta quamọi thời, không có chỗ đứng ở đây;

- Một nét chung nữa là cơ quan hành chính ở cấp xã hầukhông nhúng tay vào sinh hoạt các tổ chức đang bàn Không cógì khó hiểu lắm Từng cá nhân nam giới sống trong làng - xã, mà

đã đến tuổi thành niên, là thành viên chính thức của một họ,một ngõ, một xóm, một giáp và nếu có nhu cầu thì có thể vào mộtphe, một hội hay một phửờng Bảy tổ chức cả thảy, nhửng có thểnói ở đâu cũng chỉ có bấy nhiêu con ngửời cụ thể đấy thôi Muốnràng buộc từng cá nhân vào một nếp sống chung, làng - xã nào

370

Trang 9

cũng có riêng cho mình một “hửơng ửớc”, văn bản quy định một

số nhiệm vụ và điều cấm đoán mà mọi dân trong làng phải tuânthủ, cũng nhử trong trửờng hợp khen thửởng hay trừng phạt đốivới từng ngửời có công hay phạm tội Có thể tạm xem văn bản

ấy là dấu tích của tập quán pháp (tức pháp luật bắt nguồn từ tậpquán)(23) vốn vận hành trong nhiều cộng đồng sống dửới thể chếcông xã nông thôn, thậm chí sau đó ít nhiều Dù sao, trửớc mộtcá nhân đáng thửởng hay phải phạt, bộ máy hành chính ở cấpxã phối hợp với một số các cụ có uy tín trong làng - xã, dù họ

đứng trong hay ngoài bộ máy vừa nói(24), để thi hành những

điều khoản trong hửơng ửớc quy định, hoàn toàn không đả độnggì đến họ, ngõ, xóm, giáp, phe, hội mà đửơng sự là thành viên

Cứ thế, các tổ chức phi hành chính ấy cứ đều đều vận hànhmột cách độc lập, không liên quan gì đến nhau, đã đành, mà cóthể nói ngoài vòng cửơng tỏa của chính quyền cấp xã Nhìn vào

đấy, nhất là vào sự thiếu vắng của chúng (một lần nữa, ngoại trừ

tổ chức họ) ở Trung và Nam Bộ thời trửớc, tôi cho rằng ta đang

đứng trửớc đặc thù về tổ chức một xã hội “tiểu nông tử hữu”,trong đó các hộ, vì không quá xa cách nhau về điền sản và vềquyền làm ngửời, đều đòi hỏi không khí bình đẳng trong sinhhoạt cộng đồng, dù cho họ đã bị đặt từ lâu dửới áp lực trực tiếpcủa bộ máy nhà nửớc trung ửơng tập quyền Trong ít nhất là mộttrửờng hợp (trửờng hợp giáp), xã hội ấy không ngần ngại giữ lạitrong lòng nó một dấu tích dân chủ đọng lại từ thể chế công xãnông thôn đã chìm vào dĩ vãng Nhửng chuyện đó, ta sẽ bàn sau

*

* *Riêng bộ máy thuần hành chính ở cấp xã cũng gợi nên hainhận xét có phần ngửợc chiều nhau:

1 Mô hình tiếp thu từ công xã nông thôn(25)

Trang 10

Về mặt hình thức, chỉ về mặt hình thức thôi, nó lại lặplại mô hình của bộ máy quản lý làng trong thể chế công xã nôngthôn xửa Qua từng tộc ngửời, từ châu Phi đến châu á, châu ĐạiDửơng, châu Mỹ, bộ máy quản lý ấy biến động rất nhiều về chitiết Nhửng, dù ở đâu, thì lõi

- Vòng tròn ở giữa (II) là tập thể các bô lão (hay các “già

làng”, nhử một số các nhà văn chuyên viết về Tây Nguyênthửờng gọi), bộ phận gồm những ngửời đàn ông đã đạt đến mộttuổi già nhất định (tùy tập quán của từng tộc ngửời), tức nhữngngửời đửợc toàn cộng đồng xem là giàu kinh nghiệm nhất về sảnxuất và xã hội (trên bối cảnh một cuộc sống nông nghiệp lạc hậu,hơn thế nữa, ngửng đọng) Còn nhiệm vụ của tập thể này là đề

ra những “chính sách” và “biện pháp” (nếu có thể dùng ở đâynhững danh từ hiện đại nhử thế), mà trửởng làng phải cùng dânlàng thực hiện;

- Vòng lớn ở ngoài cùng (III) là cuộc họp của dân làng

(thửờng đửợc đại diện bởi các chủ hộ), qua đó trửởng làng đemcung cách thi hành ra xin ý kiến của các già làng, và nếu cần thìxin ý kiến của mọi ngửời có mặt về những vấn đề gay cấn màchính các già làng cũng không dám quyết định

372

Trang 11

Từ mô hình phổ biến đó, cái nổi bật lên trên hết là tính dânchủ rộng rãi toát ra từ cách quản lý làng trong thể chế công xãnông thôn.

Nhửng ở đây, điều khiến ta ngạc nhiên là dửới sức nặngcủa một nhà nửớc trung ửơng tập quyền chủ yếu vận hành bằngbạo lực, bộ máy hành chính cấp cơ sở (cấp xã) trong nông thôn

“cổ truyền” Việt ở Bắc Bộ vẫn lặp lại, dù chỉ trên hình thức, môhình ba vòng tròn đồng tâm vừa trình bày:

- Vòng tròn nhỏ ở trung tâm (I) là bộ phận “lý dịch” do lý

trửởng cầm đầu, mà nhiệm vụ chính là thi hành, đối với từng hộ

và từng ngửời dân trong xã do nó quản, mọi lệnh từ triều đìnhbên trên áp xuống (thông qua các cấp quan lại trung gian);

- Vòng tròn ở giữa (II) là “hội đồng kỳ mục” (hay “kỳ dịch”),

thửờng gồm những ngửời có điền sản, có “phẩm hàm” (nhữngtửớc vị do triều đình ban cấp, hay do xã bán cho những ngửời sẵntiền) ít nhất cũng trên lý thuyết, hội đồng này có trách nhiệmgóp ý kiến cho lý trửởng và các lý dịch khác, để họ hoàn thànhlệnh trên;

- Vòng lớn ở ngoài cùng (III) là cuộc họp “dân hàng xã”: sau

khi nghe ý kiến của hội đồng kỳ mục, lý dịch triệu tập mọi chủ

hộ trong xã ra “đình”, để phổ biến lệnh trên, và cách thi hành

lệnh

2 Sự bất lực của mô hình ấy

Có điều là mô hình ba vòng tròn đồng tâm vừa trình bày,vốn đọng lại từ thời xa xửa, không còn phát huy đửợc chất dânchủ của công xã nông thôn nữa:

- Trửớc hết vì làng Việt “cổ truyền” ở Bắc Bộ, từ lâu rồi, từkhi thoát khỏi nghìn năm Bắc thuộc, đã dần dần bị hút ngày

Trang 12

càng chặt vào bộ máy cai trị của một nhà nửớc cơ bản đửợc xâydựng theo mẫu trung ửơng tập quyền kiểu Trung Hoa Và đếncuối Lê - đầu Nguyễn, thì nhiệm vụ chủ yếu của cơ quan hànhchính cấp xã chỉ còn là thi hành các mệnh lệnh triều đình, đửợc

cụ thể hóa qua các “trát” (hay chỉ thị, nếu nói nhử ngày nay) của

các cấp quan thấp nhất Trong khi đó, từng làng còn sống trongthể chế công xã nông thôn (nhử làng của một số tộc Thửợng ởTây Nguyên, vào thời chửa xa) lại độc lập, ít nhất cũng tự trị đốivới mọi làng khác, do đó bộ máy quản làng thuần chăm lo nhữngviệc riêng của làng mình, không phải quy chiếu vào mệnh lệnhcủa một cấp nào cao hơn làng: việc kinh tế (ví nhử hàng nămchia lại đất canh tác cho từng hộ); đạo lý (trừng phạt các hành

động vi phạm tập quán pháp); xã hội (giải quyết mâu thuẫn giữacác hộ cùng làng); tôn giáo (tiến hành các nghi lễ cộng đồng);ngoại giao (quyết định gây chiến hay liên minh với các làngkhác…) Tóm lại, mỗi làng sống trong thể chế công xã nông thôn

là một nửớc riêng, dù cho chế độ thủ lĩnh lớn bao trùm lên nhiềulàng có thể đã xuất hiện(26) Còn từng làng Việt “cổ truyền” ởBắc Bộ, cũng nhử ở Trung Bộ và Nam Bộ, chỉ là phân thể củamột nửớc gồm hàng nghìn, hàng vạn làng, và bộ máy hành chính

ở cấp thấp nhất, cấp xã, phải phụ thuộc, có thể nói là trực tiếp,vào bộ máy nhà nửớc đửợc áp đặt lên mọi làng;

- Bên cạnh thần thái chung đó của làng - xã Việt khắp bamiền, cơ quan hành chính của xã Việt “cổ truyền” ở Bắc Bộ lạiphô ra một đặc điểm riêng, mà có lẽ ta khó lòng gặp lại ở Trung

Bộ và Nam Bộ: bộ máy đửợc mô hình bằng ba vòng tròn đồngtâm, trong một số trửờng hợp, kể cả thi hành lệnh của nhà nửớcbên trên, có lúc chỉ còn vận hành một cách tửợng trửng nữa thôi

Lý do của hiện tửợng đó, kể ra, cũng rõ Giữa một biển “tiểunông tử hữu”, với mỗi ngửời một cái “tôi” biệt lập, hội đồng kỳ

374

Trang 13

mục, vốn bao gồm những cá nhân có uy thế nhất trong đám tiểu

nông nói trên (vì có điền sản, có phẩm hàm, “có mồm - có mép”),

không đủ cơ sở để hoạt động một cách tửơng đối khách quan vìquyền lợi chung của toàn dân, nhử tập thể các già làng: các cuộchọp của hội đồng, nhất là khi phải bàn làm sao thu cho đủ sốthuế từ trên áp xuống, thửờng là những buổi cãi vã không dứt,qua đó từng ngửời viện đủ cớ để cố đẩy qua các hộ khác một phầngánh nặng sẽ đè lên hộ mình, do đó hội họp ít khi đi đến nhữngkết luận dứt khoát Còn buổi sinh hoạt của dân hàng xã, thì

những tay “có quyền ăn - quyền nói”, hay có mồm - có mép, lại

tiếp tục, trửớc một số ngửời đông hơn, các cuộc cãi vã diễn ra bên

trong hội đồng kỳ mục Trong khi đó “dân đen” (gồm những

ngửời kém uy thế nhất, vì nghèo mà không có phẩm hàm) chỉbiết lắng nghe, có thể nói lên điều gì để tự bảo vệ thì cũng thửagửi cho “phải phép” Càng thế, khi mọi chủ hộ, đại diện cho toànxã, hội họp ngoài đình, dù để nghe lệnh trên, hay để bàn mộtviệc nào khác có liên quan đến sinh hoạt cộng đồng (tổ chức tế

lễ, chẳng hạn): trong trửờng hợp đó, ai nấy đều phải ngồi theothứ bậc trên dửới rõ ràng, từng thứ bậc phụ thuộc vào “hạng”(27)của từng ngửời, điều cần nhấn mạnh ở đây là tính vô hiệu (tửơng

đối thôi) của bộ máy hành chính cấp cơ sở trong nông thôn Việt

“cổ truyền” ở Bắc Bộ Hiện tửợng ấy đâu có gì lạ ở miền Bắc, mộtxã hội “tiểu nông tử hữu”, nhửng là chuyện hiếm thấy ở Trung

Bộ, miền đất trên đó ruộng đất công còn chiếm ửu thế mãi đếngần đây, và ở Nam Bộ, nơi đầu tiên trên đất nửớc ta đã chứngkiến việc xã hội phân hóa thành giai cấp rành rành Tất nhiên,nhử đã có dịp nói rồi, còn phải chờ ý kiến của những nhà nghiêncứu làm việc tại chỗ

Tóm lại, sau nhiều thế kỷ tử hữu hóa ruộng đất và phânhóa giai cấp, nhiều tổ chức của làng Việt “cổ truyền” ở Bắc Bộ

Trang 14

vẫn giữ lại, cho cơ quan hành chính nằm trong lòng nó, mô thức

ba vòng tròn đồng tâm của bộ máy quản làng trong thể chế côngxã ở nông thôn Có thể tìm nguyên nhân của sự tồn đọng nàytrong tình trạng không triệt để của cuộc phân hóa vừa nói Mặtkhác, chèo chống giữa vô vàn mâu thuẫn nhỏ, thửờng thì ngấmngầm nhửng cũng nhiều khi bột phát, giữa những hộ “tiểu nông

tử hữu” bị buộc chặt mỗi hộ vào một thân phận riêng, bộ máyhành chính ấy, mà mô thức tổ chức chỉ thích hợp với quan hệ chủyếu là bình đẳng giữa những con ngửời sống trong chế độ cônghữu của thể chế công xã nông thôn, nhiều khi để lộ ra nỗi bất lựccủa mình, có trửờng hợp không vận hành đửợc nữa, kể cả lúc bị

đặt trong tình thế phải đáp ứng ngay những đòi hỏi của nhànửớc trên cao

*

* *

Đến đây, hiện lên một câu hỏi thúc bách: bằng cách nào bộmáy hành chính quản xã Việt “cổ truyền” ở Bắc Bộ vửợt lên láchắn đã trình bày, để thửờng xuyên làm tròn nhiệm vụ đối vớinhà nửớc trung ửơng tập quyền mà nó là cấp cơ sở ở nông thôn?Lời đáp từ điền dã: bằng cách sử dụng tổ chức giáp (đã nói

đến qua một phần trên) Mà giáp lại là dấu tích khá rõ nét củamột tổ chức vốn vận hành trong sinh hoạt cộng đồng làng thuộcthể chế công xã nông thôn, cái mà dân tộc học ửớc gọi là tổ chức

các lớp tuổi (organisaion des classes d’âge) Muốn thoát khỏi

những hạn chế của một tổ chức đã lỗi thời, mà lại thoát bằngdấu tích của chính cơ cấu ấy kể cũng lạ! Chính vì vậy mà trửớckhi động đến giải pháp tửởng chừng đầy mâu thuẫn đó khôngthể không đi vào tổ chức vừa nêu lên

Từ nhiều tộc ở châu Phi, qua châu á đến châu Đại Dửơng,rồi châu Mỹ, nhửng chủ yếu là ở châu Phi đen, tổ chức ấy còn có

376

Trang 15

mặt cách đây chửa lâu, nên đửợc các nhà dân tộc học ghi chépkhá kỹ Nói chung, nó gom lại mọi thành viên nam giới của mộtlàng, từ buổi sơ sinh cho đến lúc chết Trong một số trửờng hợp,nữ giới cũng có mặt, nhửng nam và nữ tập hợp lại thành hai tổchức riêng, mỗi bên đều có những quy tắc khác phù hợp với giớitính của mình Ngoại trừ nhiều dị biệt nhỏ giữa các tộc ngửời, cóthể lọc ra, từ tổ chức các lớp tuổi nói chung, một nguyên tắc vậnhành đồng nhất, mà ngửời trình bày xin nhắc lại thành mấy

điểm tách nhau, cho nó rõ:

- Đời của mỗi thành viên, “từ buổi sơ sinh cho đến lúcchết”, đửợc phân thành nhiều chặng đửờng, mà dân tộc học ửớc

gọi là những lớp tuổi (hay lứa tuổi cũng đửợc, cho hợp với tiếng

ta);

- Từ một lứa tuổi thấp cho đến cao hơn tiếp ngay sau, từngcon ngửời đửợc mọi ngửời trọng hơn, nhửng cũng chịu tráchnhiệm cao hơn trửớc cộng đồng Việc chuyển từ lứa tuổi này lênlứa tuổi kia đửợc đánh dấu bằng nghi lễ, mà dân tộc học ửớc gọi

là các lễ chuyển tiếp (rites de passage) Trong số các lễ đó, quan

trọng nhất thửờng là lễ chuyển ngửời đã đến tuổi thành niên, cóthể tạm nói là, từ cửơng vị “dự bị” lên “chính thức”: có trửờng hợp

nó bao gồm cả một loạt những thử thách cam go có thể gây chếtchóc cho ngửời thụ lễ;

- Lứa tuổi cao nhất, tức đửợc trọng vọng nhất, là lứa nhữngngửời mà tập quán của cộng đồng xem là đã đến tuổi già Đấycũng là lứa những ngửời gánh trách nhiệm cao nhất: có chântrong tập thể các già làng, để bàn bạc và quyết định mọi việcquan trọng của cộng đồng, mà trửởng làng phải cùng dân làngthực hiện Nhử vậy, tổ chức các lứa tuổi, dù vận hành ngoài cáchoạt động của bộ máy quản lý làng, vẫn liên quan chặt chẽ đến

sự hình thành của bộ máy ấy(28)

Trang 16

Tổ chức giáp trong lòng từng xã Việt “cổ truyền” ở Bắc Bộlập lại gần y nguyên từng điểm kể trên, tuy ở mức nhạt hơn:

- Đời của những thành viên nam giới trong các giáp thuộcmột xã cũng đửợc chia thành nhiều lứa tuổi, cụ thể là ba lứa: từlúc mới sinh ra đời cho đến tuổi 18, mà ta có thể tạm gọi là lứatuổi vị thành viên; từ 18 đến 50 tuổi, lứa những thành viênchính thức của giáp, mà ngửời ta gọi là “đinh”; từ 50 tuổi trở lên,

lứa tuổi già, tức các “bô”, các “lão”, hay các “cụ”;

- Lớn lên trong lòng giáp từ năm này qua năm khác, từngngửời ngày càng đửợc cộng đồng vị nể hơn, mà đửợc trọng nhất

là những ai đã ngồi trên “chiếu các cụ” Chuyển từ lứa tuổi thấp

lên lứa tuổi cao hơn, cũng phải thông qua nghi lễ (“lên đinh”,

“lên lão”), tuy đơn giản hơn nhiều so với các lễ tửơng tự trong tổ

chức thực thụ;

- Các cụ là những ngửời đửợc trọng vọng nhất, nhử vừanói, cho nên, ngoài chiếu riêng dành cho họ trong các dịp họpgiáp (thửờng để ăn uống), “trửởng giáp” hay “giáp trửởng”, cũng

gọi là “cai giáp” hay “câu đửơng”(29), còn phải “trình các cụ” mọi

việc quan trọng trong sinh hoạt nội bộ của giáp, trửớc khi đem

ra bàn rộng trửớc các thành viên, cho dù đấy có khi chỉ là hìnhthức(30)

Phân cuộc đời thành nhiều chặng đửờng, càng chuyển quacác chặng sau con ngửời càng đửợc tập thể vì nể, đó là một biểuhiện của lão quyền (gérontocratie), đặc thù của hầu hết mọi xãhội bị cầm chân trong một nền kinh tế ngửng đọng Nhửng đồngthời nó cũng nói lên thế bình đẳng giữa các thành viên trongcộng đồng còn ở lứa tuổi thấp, A phải nghe lời dạy dỗ của ngửờigià, trong số đó có cụ B, chẳng hạn; nhửng A lại biết rằng, khicòn trẻ nhử mình hiện nay, B cũng từng nhất nhất nghe lời các

378

Trang 17

cụ cao niên thời ấy, và một ngày kia, khi bản thân mình đã đếntuổi B giờ đây, thì lời mình nói ra cũng sẽ đửợc lứa trẻ tuânthủ(31) Thế bình đẳng đó, cùng với lão quyền án đằng trửớc nó,hoàn toàn phù hợp với quyền công hữu về đất trồng trọt, nềntảng của mọi làng còn sống trong thể chế công xã ở nông thôn.Nhửng làng xã Việt “cổ truyền” ở Bắc Bộ, vốn đã trở thànhmột biển “tiểu nông tử hữu”, vẫn giữ lại thế bình đẳng ấy trong

tổ chức giáp! Vang vọng từ một quá khứ xa xôi, nhửng chửa chìmhẳn trong quên lãng? Có thể lắm, nhất là khi quá trình tử hữuhoá ruộng đất công đã diễn ra theo một tốc độ quá chậm, và sựphân hóa giai cấp , kết quả của quá trình ấy, lại quá nhạt nhòa

Dù sao các giáp trong làng - xã, tuy cơ bản còn giữ đửợc cách vậnhành của tổ chức các lứa tuổi, mà vẫn để lộ ra một số khác biệt,

so với tổ chức trên Chính vì thế tôi xem giáp chỉ còn là dấu tíchcủa tổ chức ấy nữa thôi Sau đây là những khác biệt chính:

- Đối với từng ngửời lần lửợt trải qua năm tháng và các lứatuổi trong giáp, lòng vì nể ngày càng cao của tập thể chỉ chủ yếu

đửợc biểu hiện trong sinh hoạt hàng giáp Gần nhử dấu ấn tửợngtrửng, thế thôi Bên ngoài giáp, trong cuộc sống hàng ngày rộnglớn hơn giữa làng - xã, địa vị của từng ngửời, từng hộ, đửợc quy

định bởi những tiêu chuẩn khác, phù hợp hơn với một tập thểnhững “tiểu nông tử hữu” vốn bị đặt từ lâu dửới sức khống chếcủa một nhà nửớc trung ửơng tập quyền: đó là mức giàu có (màbiểu hiện chính là diện tích ruộng đất tử hữu của từng hộ), phẩmhàm (do Nhà nửớc ban cấp), chức vụ trong làng - xã (thửờng gầnvới phẩm hàm) Và trùm lên các tiêu chuẩn ấy là hạng quy chotừng ngửời, mà biểu hiện thấy rõ nhất là chỗ ngồi định cho từnghạng, mỗi khi họp dân làng xã ngoài đình;

- Các cụ rất đửợc trọng vọng trong sinh hoạt hàng giáp.Nhửng nếu nhử ngửời đã đến tuổi già (trong lòng tổ chức các lứa

Trang 18

tuổi) đửơng nhiên phải có chân trong tập thể các già làng (thuộc

tổ chức quản lý làng của thể chế công xã nông thôn), thì, trái lại,không phải ngửời nào đã lên lão (trong lòng giáp) cũng đồng thời

là ủy viên của Hội đồng kỳ mục (thuộc cơ quan hành chính trongnông thôn Việt “cổ truyền” ở Bắc Bộ) Nói một cách khác, giápViệt không liên quan đến sự hình thành của bộ máy hành chính

ở cấp xã, do đó không tác động đửợc là bao lên những quyết địnhcủa bộ máy ấy;

- Hơn thế nữa, khác hẳn các già làng, ngửời vừa lên lão bịtửớc ngay một quyền lợi kinh tế vốn thiết thân: từ lần quân phâncông điền - công thổ tiếp sau, cụ không còn đửợc chia một “đầu

ruộng công”, nhử cụ từng đửợc hửởng từ thuở mới lên đinh cho

đẳng nấp sau quyền đó lên các tổ chức khác của làng - xã, đặcbiệt lên bộ máy hành chính Phải chăng vì thế mà trong cách nóicủa ngửời nông dân Việt Bắc Bộ, tuy đã có thành ngữ lên lão,ngửời ta còn biểu hiện cũng ý đó bằng hai chữ “ra lão”? “Ra” nói

đây là ra khỏi việc làng - việc nửớc, vì trừ một số ngửời sẵn uythế (do có điền sản lớn, có phẩm hàm, có mồm - có mép), còn đa

số các cụ thửờng giữ thái độ “mũ ni che tai”

*

* *Một tổ chức xem chừng vô hiệu trửớc các mâu thuẫn làng

380

Trang 19

mạc, bộ máy hành chính ở cấp xã sử dụng nó nhử thế nào đểthoát ra ngoài các cuộc cãi vã trong hội đồng kỳ mục và cuộc họpdân hàng xã, hòng làm tròn kịp hạn các nhiệm vụ (đặc biệt cácnhiệm vụ thu thuế) đối với các nhà nửớc bên trên Lời đáp cũng

từ điền dã: mặt đửợc sử dụng chính là không khí bình đẳng màgiáp tạo ra đửợc trong nội bộ của nó

Ta biết rồi, không khí ấy hầu bị viền lại trong khu sinhhoạt hàng giáp, không tỏa đửợc mấy nỗi ra cuộc sống hàng ngàyrộng lớn hơn của làng - xã Dù sao, mỗi khi giáp họp, thành viênnào đối với từng ngửời có mặt, cũng ứng xử theo đúng quy tắcdân chủ của lão quyền, luôn tỏ ý tôn trọng vị nào cao tuổi hơnmình qua lời ăn tiếng nói, mà không tính đến điền sản, chức vụphẩm hàm của ngửời ấy Ta cũng biết rằng, không khí dân chủ

đó, miễn chỉ là đặc tính sinh hoạt hàng giáp, miễn không in dấu

ấn của nó lên các tổ chức khác, lại rất phù hợp với tâm lý chungcủa một xã hội “tiểu nông tử hữu”, trong đó các cá nhân khácnhau lại không quá xa cách nhau về điền sản cũng nhử về quyềnlàm ngửời Nói một cách khác, trửớc làng - xã từng ngửời cố thủtrong quyền lợi của hộ mình, và thờ ơ với quyền lợi của hộ khác;nhửng đến giáp thì ai ai cũng vui vẻ làm tròn nhiệm vụ, vì đó làquy định của tuổi tác, ai ai cũng phơi bầy lòng tôn trọng củamình đối với ngửời cao tuổi hơn

Sử dụng đặc thù vừa nói, bộ phận lý dịch, mà ngửời đứng

đầu là lý trửởng, đửa ra trửớc các giáp những vấn đề đang bế tắc.Phải nói ngay rằng đửa ra nhử thế không phải để rồi lý dịchnhất nhất tuân theo quyết định của các giáp Mà đửa vấn đề ra,thoạt tiên giữa lý dịch và các cai giáp, sau đó trửớc mọi thànhviên của từng giáp, là nhằm làm cho ai nấy, kể cả những kẻtrửớc đó đã chủ động gây cãi vã trửớc hội đồng kỳ mục hay cuộchọp dân hàng xã, có điều kiện bàn bạc lại trong không khí êm ả

Trang 20

hơn của giáp Tất nhiên, không phải vì vậy mà các mâu thuẫn

đã chấm dứt đửợc Nhửng chất bình đẳng và trọng lão của sinhhoạt hàng giáp có khả năng làm cho mọi ngửời dần dần đi đếnchỗ “sân siu”(32) lẫn nhau (nhất là trong trửờng hợp phân bổthuế) Chắc chắn không mấy ai hoàn toàn vừa lòng Dù sao cáccuộc họp này cũng tạo ra đửợc một thế thoả hiệp nào đấy giữacác chủ hộ trong xã Bấy giờ, lý trửởng mới đửa quyết định (cóthể đã đửợc chỉnh lý phần nào qua ý kiến của các giáp) ra trửớcdân hàng xã, cho mọi hộ thi hành

Sau khi đã làm việc một cách mềm mỏng đến thế với cácgiáp, giờ đạt đửợc sự đồng tình của đa số các ngửời trong làng -xã đối với các quyết định cuối cùng rồi, bộ phận lý dịch, nếu cần,

có thể áp dụng một số biện pháp mạnh nhằm đốc thúc từng hộthực hiện về phần mình quyết định nói trên Trong trửờng hợpthu thuế chẳng hạn, lý trửởng có thể cho trói suốt ngày ở ngoài

đình một tay vừa ăn nói bừa bãi trửớc đông ngửời, nhằm dọa nonnhững hộ đang chần chừ, chửa muốn làm tròn nhiệm vụ củamình Nói đâu xa, nội những hồi trống dài liên tiếp vang cả ngàytrong làng qua suốt vụ thuế có thể đửợc xem là thứ áp lực tinhthần đối với mọi hộ…

Những biện pháp mạnh ấy không có gì lạ, bạo lực, nói chocùng, vốn đặc trửng của mọi loại chính quyền, nhất là từ khi bộmáy hành chính ở cấp xã phải thi hành mệnh lệnh từ trên ápxuống của một nhà nửớc trung ửơng tập quyền(33) Điều đánglửu ý ở đây là lý dịch không tự cho phép mình dùng biện phápmạnh đối với bất kỳ ai trong làng - xã, càng không thể đối vớinhững ngửời có điền sản, có phẩm hàm, chí ít cũng đửợc nhiềungửời bênh vực: có trói ai đó ngoài đình để làm gửơng cho mọingửời, thì lý trửởng cũng nhằm vào một dân đen, đã thế lại tứ cốvô thân, không họ hàng, không nơi nửơng tựa Ngoài ra, tiếng

382

Trang 21

trống đổ hồi không dứt, cũng nhử thái độ có khi gay gắt của lýdịch trong những ngày đốc thuế, thửờng không nhằm vào riêng

ai, mà chỉ là biểu hiện chung chung của quyền lực đang vậnhành, nghĩa là nhằm vào tất cả mọi ngửời

Nhử vậy, chính quyền cấp xã của ngửời Việt ở Bắc Bộ “cổtruyền” dù là cấp cơ sở của một nhà nửớc dựa trên bạo lực, vẫnkhông thể đơn thuần viện đến chuyên chế, mỗi khi nó phải thihành lệnh từ trên áp xuống Hoạt động trong lòng một xã hội

“tiểu nông tử hữu” cộm lên vô vàn mâu thuẫn nhỏ, thoạt tiên nóphải tìm ra một mảnh đất trên đó các hộ có thể tạm thời thỏahiệp với nhau, dù chỉ đến một mức nào đó thôi: không khí bình

đẳng trong sinh hoạt hàng giáp, dựa trên lòng tôn trọng tuổi tác,cho nó điều kiện làm việc đó Rồi đến khi phải dùng chuyên chế

để ép mọi hộ thi hành lệnh trên bằng hành động cụ thể, nó cònphân biệt áp lực chung chung mà nó tạo ra đối với mọi hộ vànhững biện pháp mạnh đối với một hai cá nhân Trong công việcthứ hai này, nó phải nhìn trửớc nhìn sau khi chọn đối tửợng, saocho không vì thế mà hoàn toàn làm xáo động cả cái xã hội “tiểunông tử hữu” đặt dửới quyền quản lý của nó

Không lạ rằng, có chậm lắm cũng vào cuối Lê - đầuNguyễn, các thành viên của bộ máy lý dịch ở Bắc Bộ thửờng làtrung nông lớp trên: không phải bần nông, đã đành, nhửng cũngkhông mấy khi là địa chủ, càng không phải địa chủ lớn(34) Đếnthời Pháp thuộc, điều đó càng lộ rõ, đặc biệt qua tài liệu thu đửợctrong cuộc Cải cách ruộng đất

Sau một thời gian đấu tranh vũ trang không ngớt giữa bốntập đoàn chính trị của nửa sau thế kỷ XVIII (Lê, Trịnh,Nguyễn, Tây Sơn), đến đầu thế kỷ XIX nhà Nguyễn thu đửợc cảgiang sơn về một mối Trên mọi miền đất nửớc đã thống nhất,triều đại cuối cùng đã áp đặt một bộ máy nhà nửớc gồm triều

Trang 22

đình và các cấp quan lại từ cao đến thấp, cũng mang tính trungửơng tập quyền nhử nhà nửớc dửới các triều trửớc, còn chặt hơn

là đằng khác

Nhửng tại ba miền Bắc, Trung, Nam xã hội nông thôn củatộc ngửời Việt (tộc chủ thể định cử ở những vùng đồng bằng), từtrửớc, đã trải qua quá trình phát triển khác nhau, dù cho bộ máynhà nửớc ở bên trên chỉ là một

Riêng cơ cấu tổ chức của làng - xã Việt ở Bắc Bộ “cổtruyền” phô ra, qua điều tra hồi cố, một số đặc điểm không thấy

có ở miền Trung và miền Nam Các đặc điểm ấy đã đửợc trìnhbày qua các phần trên ở đây, trong lời kết, chỉ xin tóm tắt lạinhử sau:

- Thoạt tiên là sự tồn tại của nhiều tổ chức phi chínhquyền Những tổ chức ấy vận hành ngoài vòng cửơng tỏa của bộmáy hành chính cấp xã, mỗi tổ chức nhằm thỏa mãn một nhucầu tình cảm hay kinh tế của từng ngửời “tiểu nông tử hữu”;

- Trong số các tổ chức vừa nói, nổi bật lên là giáp, một dấutích của một tổ chức các lứa tuổi thời công xã nông thôn xửa, màtác dụng là tạo ra một không khí rất phù hợp với tâm lý “tiểunông tử hữu”, nhửng không lan tỏa nổi không gian hẹp của giáp

ra không gian rộng lớn hơn của làng - xã, vì dù sao thì làng - xãViệt “cổ truyền” ở Bắc Bộ cũng là một xã hội bắt đầu phân hóagiai cấp ;

- Một dấu tích khác nữa: mô hình ba vòng tròn đồng tâmcủa bộ máy quản lý làng trong thể chế công xã nông thôn, màngửời đi điều tra hồi cố gặp lại trong tổ chức của bộ máy hànhchính cấp xã Mô hình ấy có thể thỏa mãn phần nào, dù chỉ trênhình thức, thiên hửớng ngóng về dân chủ của ngửời “tiểu nông

tử hữu” Nhửng nó lại vận hành trên bối cảnh một xã hội nông

384

Trang 23

thôn đã phân hóa, tuy còn nhạt nhòa, trong đó nổi lên, một bên,

số ít ngửời có quyền ăn - quyền nói, và, bên kia một đa số bị đặtvào phải ăn nói sao cho phải phép, hoặc chỉ biết mũ ni che tai.Vì không còn phù hợp với một xã hội đổi thay nhử thế, mô hìnhkia có thể gây khó khăn cho bộ máy hành chính, khiến sự vậnhành của bộ máy có khi vì nó mà lâm vào bế tắc;

- Trong trửờng hợp đó, bộ phận lý dịch (trong bộ máy hànhchính) phải quay về với giáp, lợi dụng không khí bình đẳng vàtrọng lão trong sinh hoạt hàng giáp, cố tạo ra một thế thỏa hiệptạm thời giữa đa số các hộ “tiểu nông tử hữu” trong làng - xã Có

đạt đến thế thỏa hiệp ấy, lý dịch mới có thể bắt đầu thi hànhlệnh trên bằng các biện pháp cửỡng bức

- Trửớc vô vàn mâu thuẫn nhỏ của một biển “tiểu nông tửhữu”, mà muốn thi hành lệnh trên cho trót lọt và kịp hạn, lýdịch còn phải cân nhắc từng biện pháp cửỡng bức, kết hợp thựcchất chuyên chế với hành động khéo léo

Nói chung bộ máy hành chính cấp xã trong nông thôn Việt

“cổ truyền”, dù ở Bắc Bộ, Trung Bộ hay Nam Bộ, chỉ là cái đuôi

ở cơ sở của nhà nửớc trung ửơng tập quyền: nhiệm vụ của nó làbắt dân quê thi hành lệnh của nhà nửớc, bằng cách đóng tài sản(đóng thuế) và công sức của mình (đi phu, đi lính) Nhửng tínhchất “tiểu nông tử hữu” của xã hội nông thôn Bắc Bộ lại buộc bộmáy ấy phải cân nhắc kỹ khi thi hành chuyên chế mà không đẩynhững ngửời nông dân có cá tính vào con đửờng phản loạn Mặtkhác cũng vì nhu cầu thỏa mãn tâm lý của ngửời “tiểu nông tửhữu” mà làng - xã Việt ở Bắc Bộ còn bảo lửu một số dấu tích

đọng lại từ thời quyền bình đẳng giữa ngửời và ngửời còn đửợcbảo đảm

Từng ấy, về thực chất, không phải là dân chủ, hay chửa

Trang 24

phải là dân chủ, cũng có thể nói là không còn dân chủ nữa, trong

chừng mực đem đối chiếu làng - xã Việt “cổ truyền” ở Bắc Bộ vớilàng dửới thể chế công xã nông thôn Dù sao, “từng ấy” cũng tạo

ra đửợc một mùi vị đặc biệt cho cách vận hành của bộ máy, khiếnngửời nhìn vào lại thoáng nhận ra thế đối kháng tiềm tàng giữalàng - xã bên dửới và nhà nửớc trung ửơng tập quyền ở bên trên.Mùi vị đặc biệt đó, tôi gọi là “dân chủ làng - xã”, miễn đặt bốnchữ ấy vào ngoặc kép

* Những từ và thành ngữ nay không phổ biến nữa, nhửng trửớc kialại thông dụng ở nông thôn Bắc Bộ, khi xuất hiện lần đầu tiên trongbài, đều đửợc in nghiêng, vừa đửợc đặt vào ngoặc kép

Một số những chú thích sau đây đửợc hoàn thành với sự giúp đỡ của

đồng chí Nguyễn Quốc Tuấn Xin hết lòng cám ơn bạn Tuấn

1 Đây là hiện tửợng phổ biến ít nhất cũng ở Đông Nam á lục địa,trong đó có nửớc ta Từng quốc gia ra đời trong lịch sử miền này đềugồm nhiều tộc ngửời, trong số đó nổi bật lên một Định cử trong khônggian rộng của các vùng đồng bằng sát bờ biển, tộc ngửời chủ thể có cơnhanh chóng phát triển dân số và kinh tế (thông qua nông nghiệptrồng lúa nửớc trong không gian rộng), đã thế lại sớm tiếp thu (bằng

đửờng biển) nhiều yếu tố của hai nền văn minh lớn ấn Độ và TrungHoa Trên những thế mạnh đó, tộc ngửời đó đóng vai trò chính (nếukhông phải là duy nhất) trong việc thành lập quốc gia, mở rộng dầnranh giới quốc gia lên các vùng cao, củng cố và đa dạng hóa bộ máy nhànửớc Trong hoàn cảnh nhử vậy, văn hóa của tộc ngửời chủ thể có khảnăng tỏa lan vào nếp sống của tộc ít ngửời, đặc biệt chữ viết và ngônngữ, trong khi khả năng ngửợc lại rõ ràng yếu kém hơn nhiều ở nửớc

ta tộc chủ thể là ngửời Việt (hay Kinh)

2 “Cổ truyền” nói đây không có nghĩa là cổ, không phải thuộc cácthời xa xửa, mà chỉ có nghĩa là từ xửa truyền lại, do đó còn giữ đửợc

386

Trang 25

một số nét cổ Làng Việt ở Bắc Bộ, vào đầu thời Nguyễn (khi nửớc tachửa bị Pháp xâm lửợc), thậm chí trong thời Pháp thuộc (trửớc cáchmạng tháng Tám năm 1945), vẫn là làng “cổ truyền” không phải vì nógiữ nguyên ngoại dạng và cơ cấu của làng Việt dửới những thời cổ hơn,trái lại, là sản phẩm của vô vàn cải cách nhỏ qua các triều đại nối tiếpnhau Nhửng các cải cách ấy, kể cả trong thời Pháp thuộc chỉ là nhữngbiện pháp để thích ứng với tình thế đã ít nhiều đổi mới, vẫn còn đọnglại một số nét (không dễ nhận ra ngay) của những cơ chế trửớc nữa, kểcả trong thời mà làng Việt, hoặc nhiều hoặc ít, chửa thoát khỏi khungcủa thể chế công xã nông thôn.

3 Trần Từ, Cơ cấu tổ chức của làng Việt “cổ truyền” ở Bắc Bộ , Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1984 (từ đây, sẽ dẫn tắt: cơ cấu tổ chức…).

4 Đại Việt sử ký toàn th ử, tập I trong toàn bộ bản dịch của Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội 1972 tr.271, 278, 279

Lời của sử cũ không nói cho cụ thể rằng bốn chiếu chỉ nhằm vàoruộng đất tử Nhửng nội dung đửợc lời sử phản ánh cũng cho phép

ngửời đọc đoán đửợc rằng ruộng đất đửợc đề cập đến là của tử nhân

5 Đại Việt sử ký toàn th ử, bản kỷ, quyển 5 - tập II trong toàn bộ

bản dịch của Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1971, tr.26

Cũng sách trên bản kỷ thực lục, quyển 10, tập III trong bản dịch đãdẫn 1972, tr.65-66 và 74

Vẫn sách trên, bản kỷ thực lục, quyển 12 tập III trong bản dịch đãdẫn, tr 201-202

Qua thử tịch vừa dẫn, có thể lọc ra số ít sự kiện sau đây có liên quanmột cách trực tiếp hay gián tiếp đến hiện tửợng ruộng công dần dầnbiến thành ruộng tử

Vào giữa thế kỷ XIII (1254), dửới thời vua Trần Thánh Tông (tứcTrần Anh Tông, ngửời mở đầu triều Trần) Nhà nửớc bán ruộng côngcho dân làm ruộng tử, giá mỗi diện (tức mẫu của các thời sau) là 5 quantiền Lời ghi không nói rõ ruộng công đó thuộc địa hạt nào, tổng diện

Trang 26

tích của chúng là bao nhiêu, ngửời mua thuộc những thành phần xãhội nào, và nhà nửớc bán ruộng công vì mục đích gì.

Trong nửa đầu thế kỷ XV, đúng vào năm mới lên ngôi (1428), LêThái Tổ, (tức Lê Lợi ngửời sáng lập nên triều Lê) ra lệnh cho các quan

địa phửơng sung công ruộng đất của các gia đình đã tuyệt tự Qua nămsau (1429), nhà nửớc lại ra lệnh xã nào có ruộng đất hoang thì chongửời xã khác không có đất canh tác đến cày cấy Hai sự kiện vừa nêu

có vẻ “đi ngửợc chiều”: biến ruộng tử thành ruộng công trở lại Theo tôi,phải đặt chúng vào chính sách chung của Lê Lợi ngay sau khi cuộcchiến tranh kéo dài chống Minh vừa dứt: Phải phục hồi sản xuất.Vào cuối thế kỷ XV, vua Lê Thánh Tông cử một số quan vào hửớngLam Sơn (đất xuất phát của nhà Lê), để khám xét đất công ở đấy,nhằm cấp cho các công thần…

6 Phan Huy Chú, Lịch triều hiến ch ửơng loại chí, Tập III trong

toàn bộ bản dịch của Nxb Sử học, Hà Nội, 1962 , tr.57-59

Ngô Cao Lăng, Lịch triều tạp kỷ, tập II trong toàn bộ bản dịch của

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1975, tr.43-44, 156

Theo hai cuốn trên, chúa Trịnh Cửơng là ngửời đầu tiên ra lệnh xoá

lệ miễn thuế ruộng tử (1723): từ đấy, cả ruộng công lẫn ruộng tử đềuchịu thuế đồng loại Năm năm sau (1728), vẫn theo lệnh của vị chúanày, thuế đánh vào ruộng tử đửợc giảm đi, so với thuế đánh vào ruộngcông

7 Sau Cách mạng tháng Tám 1945, cụ thể hơn là trong những năm

đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, ruộng đất công của nhiều làng xã ở Bắc Bộ đã đửợc tạm chia cho những hộ thiếu diện tích canh tác.Nhửng cũng tại nhiều làng - xã, chủ yếu trong các vùng bị quân đội Phápchiếm đóng, chính sách trên chửa đửợc thi hành Và phải chờ đến khiquân Pháp không còn có mặt ở miền Bắc Việt Nam nữa, qua cuộc cải cáchruộng đất, thì ruộng đất vốn là của công, cùng ruộng đất thừa của những

-hộ thuộc giai cấp bóc lột, mới đửợc vĩnh viễn phân cho các -hộ nghèo

8 Một mặt, nếu nhử hai vua Lý hồi thế kỷ XII đã bốn lần xuống

388

Trang 27

chiếu nhằm giải quyết những cuộc tranh chấp ruộng đất giữa tử nhân

và tử nhân, thì điều đó hàm nghĩa rằng ruộng đất tử đã ra đời trửớc đórồi Mặt khác, căn cứ vào địa bạ Gia Long đửợc hoàn thành vào thế kỷXIX, thì bấy giờ ruộng tử đã chiếm tỷ lệ lớn nhất trong diện tích canhtác từng làng - xã ở Bắc Bộ, nhửng ruộng công vẫn còn đấy và chỉ mấthẳn qua cuộc Cải cách ruộng đất của thời ta Nhử vậy, lấy thế kỷ XII làmmốc đầu và đầu thế kỷ XIX làm mốc cuối cho toàn bộ quá trình “biến công

vi tử” của ruộng đất ở Bắc Bộ, dù sao, vẫn là một chọn lựa “vũ đoán”

9 Các số liệu này đửợc đúc lại từ hai biểu I, II mà tôi đã trình bày

trong: Cơ cấu tổ chức… tr.21, 26.

10 Tại nhiều vùng nông thôn ở Bắc Bộ trửớc đây, một số loại đửợc

mệnh danh là “ruộng bán công, bán t ử” Do chủ yếu là “ruộng họ”, tức

ruộng không của riêng ai, mà của chung của một họ, nhửng không phải

là ruộng công của làng Đó còn là trửờng hợp “ruộng hậu”, loại ruộngvốn là tử, mà cá nhân đem cúng vào chùa hay vào giáp, để mình đửợcthửờng xuyên thờ cúng khi đã chết Về thực chất có thể nói rằng ruộngbán công - bán tử cũng là ruộng tử, nhửng là ruộng tử của một tập thể,không phải của một cá nhân

11 Trong nông thôn Bắc Bộ thời trửớc, dửới bần nông còn một hạngngửời nữa, mà ngôn ngữ thửờng dùng trong Cải cách ruộng đất gọi là

“cố nông” Là ngửời từ nơi khác đến chửa quá lâu, cố nông không phải

Trang 28

không họp thành một tầng lớp xã hội rõ ràng nhử bần nông, trung

nông, phú nông địa chủ Khẩu ngữ “không mảnh đất cắm dùi” trên cửa

miệng của ngửời nông dân Việt ở Bắc Bộ thời mới đây, có khả năngnhằm vào cố nông vừa nói

12 Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, tập I trong bộ Lê Quý Đôn toàn

tập của Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr.61-62, 66, 68, 69-70.

Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, tập thửợng, Văn hóa

Theo cuốn sau (Trịnh Hoài Đức), từ thời Phúc Chu chúa đã kêu gọinhà giàu ở Thuận Hóa và Quảng Nam mộ dân vào vùng mới chiếm màkhai khẩn đất đai, khai khẩn xong thì chúa công nhận ngay quyền tửhữu cho ngửời cầm đầu cuộc khai thác Noi gửơng ấy, một số võ quancấp cao cũng dùng sức của quân lính và của dân xiêu dạt đang sống tại

chỗ để khai hoang: loại ruộng này mang tên quan điền biệt thực, hay ruộng châu phê (tức ruộng đửợc chúa công nhận bằng giấy tờ có áp dấu

sơn đỏ), đến cuối thế kỷ XVIII, hầu hết đất đai dễ khẩn ở Nam Bộ đã

đửợc khai thác xong Trên cơ sở chút ít biết đửợc qua sách xửa, tôi thấykhông có gì là quá đáng, nếu ta giả thiết rằng một tầng lớp địa chủ đãdần dần ra đời trên đất Nam Bộ trong khoảng thời gian kéo dài từchiến dịch đánh chiếm của chúa Phúc Chu (cuối thế kỷ XVIII), quatrên dửới một thế kỷ Điều thấy rõ: kết quả đó không bắt nguồn từ mộtquá trình phát triển kinh tế lâu dài và vô thức, mà xuất phát từ chínhsách hữu thức của các chúa Nguyễn

Đáng tiếc là cuốn Trịnh Hoài Đức không đả động gì đến số hộ địachủ mới, dù chỉ trong một vùng nhỏ, cũng nhử diện tích chiếm hữu của

họ Sách cũng có đửa ra một trửờng hợp chửa phải cụ thể lắm nhửng ít

390

Trang 29

nhiều cũng gây cho ngửời đọc một ý niệm: vào đầu thế kỷ XVIII,Nguyễn Phửớc Vân (tửớc hầu), sau khi đi đánh chiếm Xiêm và Miên(Thái Lan và Campuchia ngày nay) trở về, đã dùng quân và dân khaikhẩn đồn điền trong tổng Bình Cách, đửợc chúa phê duyệt, nhờ vậy mà

ba thôn trong tổng trở thành đất riêng của ông Đến thế kỷ thứ XIX,các vua triều Nguyễn còn tiếp tục phê duyệt một số trửờng hợp khác

13 Trửớc Cách mạng tháng Tám 1945, những ngửời lắm ruộng đất

ở nông thôn Nam Bộ đửợc gọi là “điền chủ”, chứ không phải là địa chủ

Từ địa chủ đửợc dùng ở Bắc Bộ, cũng nhử các từ khác chỉ những thànhphần xã hội ở nông thôn (phú nông, trung nông, bần nông, cố nông),mới ra đời từ cuộc Cải cách ruộng đất gần đây Trửớc đấy, ngửời nôngdân Bắc Bộ không phân định rành rẽ nhử thế mà chỉ phân biệt ngửờigiàu, kẻ nghèo, cùng hạng trung gian Cách phân biệt mơ hồ ấy có lẽbắt nguồn từ tình trạng phân hóa không rõ ràng của xã hội nông thônBắc Bộ trửớc kia

14 Trong nông thôn Nam Bộ từ trửớc Cách mạng tháng Tám, lẻ tẻ

có những “điền chủ” nắm trong tay trên dửới một nghìn, thậm chí hàngnghìn hécta Còn ở miền Tây Nam Bộ, nơi ruộng đất có tiếng là tậptrung hơn, so với ở miền Đông, riêng tôi đửợc biết có ba “điền chủ” nắmmỗi ngửời trên dửới mửời nghìn hécta Tôi tự hỏi: tình trạng tập trung

“cao độ” ấy phải chăng kết quả của cuộc khai thác do ngửời Pháp chủtrì dửới thời thuộc địa? còn “điền chủ” thời chúa Nguyễn và trongchặng đầu của triều Nguyễn (khi ngửời Pháp chửa đến), phải chăngchửa phát triển quyền tử hữu đến mức ấy, dù cho họ nắm trong taynhiều ruộng đất hơn so với địa chủ ở Bắc Bộ đửơng thời và sau này?Nhử đã nói rồi, còn phải chờ tài liệu và số liệu của các nhà nghiên cứulàm việc tại chỗ

15 Trừ một số ít hộ đủ giàu để “xâm canh” qua làng khác (bằngcách mua ruộng ở đấy, còn tuyệt đại đa số ngửời làng chỉ có thể nuôimơ ửớc mở rộng diện tích của mình ngay trên đất làng mình Trongmột xã hội “tiểu nông tử hữu” đấy lại là mơ ửớc chung của hầu hết mỗi

Trang 30

hộ cùng làng Có điều là vào từng thời điểm một, diện tích canh tác củalàng, từ trửớc đây, vốn đã đửợc phân phối giữa các hộ, dù cho kẻ nhiều

ngửời ít Trong hoàn cảnh ấy, một hộ mở rộng đửợc diện tích của mình,thì điều đó có nghĩa là một hộ khác phải mất diện tích (cho dù tronghầu mọi trửờng hợp, đấy là kết quả của một cuộc mua bán và thôngqua thửơng lửợng) Nói một cách khác, mâu thuẫn tiềm tàng giữa các

hộ đã náu sẵn trong ửớc mơ chung

16 Làng là tế bào của mọi xã hội đã chuyển từ săn bắt – hái lửợmqua trồng trọt - chăn nuôi Trong thể chế công xã nông thôn xửa, nhửcòn có thể quan sát lại qua các vùng Thửợng cách đây chửa quá lâu.Mỗi làng có cuộc sống độc lập, hầu nhử không liên quan đến cuộc sốngcủa các làng lân cận, dù cùng tộc ngửời: có thể nói, cho “văn vẻ” một tírằng làng cũng là “nửớc” Ngửợc lại, trong những xã hội lớn hơn, đã

đửợc tích hợp vào một quốc gia với một bộ máy nhà nửớc, nhử từ lâutrong xã hội Việt thì làng trở thành đơn vị hành chính cơ sở, đửợc đặt

dửới quyền quản lý và kiểm soát của những cấp hành chính cao hơn

Từ khi nửớc ta rắp ranh bửớc vào con đửờng độc lập, nghĩa là từ khixuất hiện bộ máy nhà nửớc của họ Khúc (thế kỷ X) cấp hành chính ởcơ sở đửợc gọi bằng một từ gốc Hán: xã Cứ thế qua các triều đại và thểchế chính trị khác nhau cho đến hôm nay Trửớc Cách mạng thángTám, xã, trong nhiều trửờng hợp lại đồng nhất với làng (các cụ gọi thế

là “nhất xã nhất thôn”) Cũng có những trửờng hợp xã gồm hai làng

(“nhất xã nhị thôn”), ba làng (“nhất xã tam thôn”) Thậm chí hơn nữa

Mặc dầu xã chính thức là đơn vị cơ sở, mặc dầu xã có khi bị đặt cùngmột số làng khác vào khung chung của một xã, và mặc dầu khái niệmlàng đã đửợc gọi bằng một từ hành chính gốc Hán, thôn, làng cũ phần

nào vẫn giữ đửợc diện mạo của nó: một địa vực riêng (lắm lúc là tên

nôm: kẻ này kẻ kia ); có thể một hai tập tục riêng Trong tiếng nói

hàng ngày, ngửời nông dân Bắc Bộ ít dùng các từ hành chính xã vàthôn: nói chuyện thân tình với nhau, họ dùng từ làng (“bác ngửời làngnào? tôi ngửời làng ”) Chính cái thế vừa đồng nhất vừa khác biệt giữahai khái niệm làng và xã, mà, ở đây, tôi ghép hai từ lại: làng - xã

392

Trang 31

17 Tổ chức họ đã đửợc trình bày một cách dàn trải hơn qua: Cơ cấu

tổ chức tr.38-46.

18 Cũng vậy, ngõ và xóm: Cơ cấu tổ chức tr.31-38.

19.…Giáp: Cơ cấu tổ chức tr.46-60.

20.…Phe, Ph ửờng, Hội: Cơ cấu tổ chức tr.81-95.

21 Đèo Ngang vốn là ranh giới xa xửa giữa nửớc ta và Chămpa(Chiêm Thành): hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh ngày nay, vùng đất

áp sát Đèo Ngang về phía Bắc, vốn thuộc lãnh thổ nửớc ta, mặc dầu,Chămpa bị chiếm dần qua khoảng sáu thế kỷ , và ngửời Việt đến cử trútại những vùng mới chiếm, nhửng, trong một phần thế kỷ XVII và suốtthế kỷ XVIII, Đèo Ngang cơ bản lại là ranh giới giữa miền Đàng ngoàicủa các chúa Trịnh và miền Đàng trong của các chúa Nguyễn; vùngThanh Hóa – Nghệ Tĩnh ngày nay, bấy giờ thuộc Đàng ngoài Bửớc vàothế kỷ XIX, khi đã thống nhất đửợc đất nửớc, nhà nửớc cắt nó về miềnTrung, và, nếu tôi không lầm, mới áp đặt cho bộ máy hành chính xã tại

đây một tổ chức hệt nhử tại các tỉnh ở phía nam Đèo Ngang Tôi chửa

có dịp đửợc tìm hiểu cơ cấu tổ chức của làng Việt “cổ truyền” ThanhNghệ, nên chửa rõ nó gần cơ cấu ở Bắc Bộ hơn, hay ở Trung Bộ hơn Vìthế đả động đến Trung Bộ trong bài này, tôi tạm thời chỉ tính đếnnhững tỉnh ở phía nam Đèo Ngang

22 Khâm định Việt sử thông giám c ửơng mục, tiền biên, quyển 5,

tập II, trong toàn bộ bản dịch của Nxb Văn, Sử, Địa Hà Nội, 1957tr.163

Đại Việt sử ký toàn thử, bản kỷ quyển 6, tập II trong toàn bộ bản

Trang 32

có từ trửớc, trong thời Bắc thuộc Khúc Hạo đặt thêm 150 giáp, cộngthêm giáp sẵn có thì tất thảy là 314.

Theo cuốn thứ hai, thì giáp vẫn tồn tại với tử cách một đơn vị hànhchính, trong thời Trần, cụ thể là cho đến triều Trần Anh Tông: năm

1297, vua này xuống lệnh đổi giáp thành h ửơng Từ đấy, không thấy

sử cũ nhắc nhở gì đến giáp trong tử cách đơn vị hành chính nữa

23 Một tác giả đã từng gọi bản hửơng ửớc của làng quê Bắc Bộ là

“tập quán pháp” thành văn xem: Bùi Xuân Đính, Lệ làng phép n ửớc,

Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1985, tr.16

24 Thi hành hửơng ửớc trong các trửờng hợp cụ thể để thửởng ngửời

có công, hay phạt ngửời có tội, đó là nhiệm vụ của bộ máy hành chính

ở cấp xã (thửờng là các “lý dịch”, tức “lý trửởng” và những ngửời trợ tácho ông, hơn là các “kỳ mục” tức những vị họp thành một hội đồng đểgóp ý cho bộ phận lý dịch) Nhửng để làm tròn nhiệm vụ của mình, lýdịch cũng thửờng viện đến một số vị có uy tín trong làng - xã, một nhànho đửợc mọi ngửời kính trọng, chẳng hạn, hay một hửu quan dù chocác vị ấy có chân trong hội đồng kỳ mục hay không Và “viện đến” bằng

cách hoặc mời các vị trực tiếp tham gia cuộc phán xử, hoặc “trình các

cụ” trửớc để xin ý kiến của họ Đó là chửa nói đến các trửờng hợp màcông quá lớn, hay tội quá nặng, lại đòi hỏi phải phân xử ngoài “đình”,

trửớc hầu hết mọi dân làng - xã

25 Thể chế công xã nông thôn đã đửợc Ăngghen trình bày một cách

đầy đủ và súc tích qua tác phẩm mà ai cũng biết ở đây trong liên hệvới bài viết, tôi chỉ muốn nhấn mạnh hai đặc điểm lớn của làng trongthể chế công xã nông thôn hoàn chỉnh: 1) Đất đai canh tác của từnglàng thuộc quyền công hữu của dân làng; 2) Làng là một thực thể độclập, không nằm dửới sức khống chế của một nhà nửớc đửợc áp đặt từbên trên, ngay cả trong trửờng hợp đã xuất hiện một thủ lĩnh lớn mà

uy lực trùm lên nhiều làng Mặt cuối của đặc điểm thứ hai sẽ đửợc pháttriển ít nhiều qua chú thích (26) ngay sau đây

26 Ngay ở Tây Nguyên (cực nam Trung Bộ), có thời đã xuất hiện

394

Trang 33

những thủ lĩnh lớn tại nhiều vùng quyền lực của mỗi vị trùm lên một

số làng: đó là thời quân đội Pháp chửa có mặt ở đấy Chế độ thủ lĩnhlớn ở Tây Phi chửa tiếp xúc với ngửời Âu thì nó có thể bắt gốc từ những

lý do khác nhau:một luồng buôn bán xuyên qua nhiều vùng (nhử ta cóthể còn bắt gặp dấu tích ở Nam Tây Nguyên) dù sao, theo chỗ tôinghĩ, lý do phổ biến nhất ắt hẳn là chiến tranh làng mạc, mà mục đíchcuối cùng (tuy có thể không đửợc nói rõ ra) là: cửớp sản phẩm thặng dửcủa đối phửơng, đặc biệt là sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi; cửớp

ngửời của đối phửơng, biến họ thành nô lệ gia đình hoặc bán họ đitrong tử cách ấy; buộc làng đối phửơng chấp nhận quyền lực của thủlĩnh chiến thắng, đồng thời chấp nhận luôn cả mức bóc lột mà thủ lĩnh

ấy áp đặt lên từng làng nằm trong phạm vi khống chế của ông ta.Riêng về mặt cuối cùng này, điều đáng lửu ý nhất, cũng trong mốiquan hệ với bài viết, là thủ lĩnh lớn bóc lột một cách phi kinh tế: bắt

từng làng cống nạp Cách thức bóc lột ấy, dù dựa trên hoàn cảnh do

bạo lực chiến tranh tạo ra, không có khả năng đảo lộn cơ cấu kinh tếxã hội của từng làng, cơ bản vẫn bảo lửu đửợc trong cuộc sống riêng củamình, đặc biệt trong quan hệ giữa ngửời với ngửời, chất dân chủ vốntiềm tàng trong khuôn khổ của thể chế công xã nông thôn

27 Các “hạng” đã đửợc trình bày lại (theo nguyên văn của Phan Kế

Bính) trong: Cơ cấu tổ chức tr.69-72.

ở đây xin nhắc lại rất tắt để bạn đọc theo dõi Mỗi khi họp ngoài

đình theo lời triệu tập của lý dịch, dù chỉ là nghe phổ biến lệnh của nhà

nửớc bên trên, hay để bàn công việc của làng - xã, toàn dân (thửờng

đửợc đại diện bởi các chủ hộ) phải ngồi theo hạng của từng ngửời, nghĩa

là theo thứ bậc trên dửới Cách phân hạng phổ biến nhất đã đửợc Phan

Kế Bính miêu tả: theo lời miêu tả ấy, có sáu hạng cả thảy (kể từ trênxuống dửới): 1) “Chức sắc” (nói chung, ngửời có “phẩm hàm” do nhà

nửớc ban cấp); 2) “Chức dịch” (nói chung, ngửời có giữ chức vụ từ xã lên

đến tổng); 3) “Thi khóa sinh” (nói chung ngửời đã đỗ đạt, ít nhất cũng

có chữ nghĩa dù không có phẩm hàm hay không giữ chức gì trong bộ

Trang 34

máy); 4) “Lão” (ngửời không học hành, không giữ chức vụ gì, không có

phẩm hàm, nhửng đã đến tuổi 49-50); 5) “Dinh” (nhử trên, nhửng chửa

đến tuổi 49-50); 6) “Ti ấu” (chửa đến tuổi 18) Một cách phân hạng

khác đã đửợc giới thiệu vắn tắt qua: Bùi Xuân Đính, Lệ làng Sách đãdẫn, tr.47 (chú thích 2)

28 Quanh tổ chức các lứa tuổi, cũng cần nói thêm một điều cho rõ.

Trong vài trửờng hợp hãn hữu, một số ngửời (trong làng hay trong mộtvùng nhỏ) lợi dụng cung cách tổ chức theo các lứa tuổi để phát huy uylực của mình Xin dẫn một ví dụ có thể nói là điển hình, nhửng, dù sao,chỉ là biệt lệ Tại vài nơi ở châu Phi đen thời chửa xa, bên cạnh các tổchức lứa tuổi thông thửờng, còn có hội kín (société secrete) mà mục

đích là cản lại sự vận hành của bộ máy quản lý làng hoặc của các tổchức khác trong làng, trong vùng, chừng nào chủ trửơng của các tổchức ấy không phù hợp với ý muốn những ngửời cầm đầu hội kia Hành

động cụ thể là hăm dọa, thậm chí ám sát Mọi ngửời đều sợ hội kín,càng sợ khi không biết đích xác những ai là thành viên của hội Theovài bản thuật dân tộc học, thì hội kín thửờng đửợc tổ chức thành nhữnglứa tuổi (nhử tổ chức thực thụ, mà bài viết vừa lửợc tả), và cầm đầuhội là những ngửời đã đạt đến tuổi cao nhất Chính vì cách tổ chức này,

mà hội kín không dễ gì tan rã sau một thời gian hoạt động: nhữngngửời hoạt động của hội chết đi đã có một số ngửời thuộc thế hệ tiếpsau thay thế Hội kín chỉ là biệt lệ và nhằm một mục đích khác hẳn sovới mục đích tổ chức các lứa tuổi thực thụ Cho nên ở đây, tôi khôngxếp nó vào loại tổ chức ấy

29 Nếu nhử “câu đửơng”, tại một số làng - xã “cổ truyền” ở Bắc Bộ

là ngửời quản lý giáp, thì ở Nam Bộ, trong khi ngửời Pháp bắt tay vàoviệc cải cách hửơng thôn (vào đầu thế kỷ XX), nó lại mang một nghĩakhác hẳn một thành viên trong hội đồng quản lý làng - xã mà chứctrách là giải quyết (theo hửớng hòa giải) những mâu thuẫn hàng ngàygiữa dân làng với nhau Dù từng đửợc phiên âm ra chữ Hán, từ đó vẫnkhông gợi lên một nghĩa đen nào cụ thể Phải chăng nó là từ đơn gốc

396

Trang 35

Nam á hay Nam Đảo mà ngửời phiên âm ra Hán văn đã diễn âm đầucủa từ khối nguyên bằng một từ đơn gốc Hán, khiến nó trở thành từkép? Dẫu sao sử cũ cũng ghi từ ấy trong một câu chuyện đã xảy ra vào

đầu triều Trần (thế kỷ thứ XIII): Thái sử Trần Thủ Độ, ngửời chiếmcông đầu trong việc đoạt ngôi nhà Lý cho nhà Trần, khi duyệt sổ sáchcủa các xã, có lần đửợc vợ xin riêng cho một ngửời làm câu đửơng: ôngcho gọi ngửời ấy đến bảo phải chặt một ngón chân của anh ta để phânbiệt với các câu đửơng khác, đửơng sự van nài xin “rút lui” lời cầu hồilâu mới đửợc tha Câu chuyện này, tự thân nó, nhằm nói lên đức tínhcủa Trần Thủ Độ: nó không cho ta rõ câu đửơng giữ chức năng gì trong

bộ máy quản lý xã hồi ấy Dù sao thì từ câu chuyện vui đó, ta có thểngờ (mà chỉ “ngờ” thôi) hai điều: 1) Câu đửơng bấy giờ có khả năng làngửời cầm đầu bộ máy cấp xã Một hồi âm chửa quá xa có lẽ của trửởng

làng (hay tù trửởng làng cũng thế) trong thể chế công xã nông thôn; 2)

Một khả năng khác nữa là câu đửơng theo phong tục đửơng thời phải

do dân làng - xã bầu lên (nhử tại một số nơi ở Tây Nguyên cách đâychửa lâu và cũng y nhử lý trửởng của làng xã Việt “cổ truyền” ở BắcBộ) Về mặt cuối cùng nói cho rõ có thể nghĩ rằng chính vì tập tục bầubán lâu đời vừa nói mà dửới mắt Trần Thủ Độ việc một ngửời cầu xinThái sử cho mình vào chức câu đửơng phải đửợc xem là tội đáng bị chặtmột ngón chân… Câu chuyện trên đửợc kể trong: Đại Việt sử ký toàn

cảnh ấy, những điều mà từng “cai giáp” phải “trình các cụ” trửớc khi

đem ra bàn bạc với mọi ngửời trong làng giáp, thửờng không có gì quantrọng cho lắm đối với thân phận kinh tế - xã hội hàng ngày của từng

Trang 36

cá nhân; hoặc việc đóng góp để tổ chức cỗ bàn; hoặc chuyển một cánhân từ thấp lên lứa tuổi cao hơn vì ngửời ấy đã đến tuổi đửợc chuyển.

31 Lão quyền, dửới góc nhìn của một số nhà nghiên cứu trở thànhmột thiết chế áp bức, tôi nhìn theo hửớng khác: hửớng ấy vừa đửợctrình bày qua bài viết Theo tôi, có ngửời chỉ thấy cái xấu của lão quyềnhoặc xem xấu là chủ yếu, chính vì, trong một số trửờng hợp, thiết chế

ấy đã bị bóp méo qua những biến động thời kỳ mà thể chế công xã nôngthôn đã suy yếu Ví dụ sau đây cũng đáng đửợc lửu ý, một vài nhà PhiChâu học nêu lên rằng ở Tây Phi vào thời mới đây (trửớc và sau thếchiến II) lẻ tẻ có hiện tửợng một số bô lão lợi dụng uy thế của mình đốivới lớp trẻ để át giọng chúng, đặc biệt để đi lại với các cô gái trẻ (trongxã hội này, quan hệ nam nữ tửơng đối tự do) mặt khác đừng quên rằng,thể chế công xã nông thôn tuy vẫn tồn tại cho đến rất gần đây ở TâyPhi (vì diện tích canh tác quá rộng so với dân số và cung cách trồng trọt

“cổ truyền” đó không cho phép đất tử hữu ra đời) không khỏi chịu áplực của mấy hiện tửợng chính: 1) Từ rất lâu đời, đã xuất hiện từ hầukhắp mọi vùng những thủ lĩnh lớn kể cả thủ lĩnh chiến tranh (xem lạichú thích 26); 2) Trong ít nhất cũng hơn sáu thế kỷ (có lẽ từ thế kỷ thứVIII, IX, cho đến thế kỷ XVI), do luồng buôn vàng rất lớn từ châu TâyPhi lên Địa Trung Hải (xuyên qua sa mạc Sahara) đã liên tục tồn tại

ở đây một số vửơng quốc và đế chế to rộng (có khi bao trùm lên miền

đất Tây Phi) mà thể thức vận hành là bạo lực; 3) Hồi giáo, với đạo lýcửỡng bức của nó, đửợc du nhập khá sớm vào đa số các vùng ở đây; 4)

Từ khi Tây Phi tiếp xúc với ngửời Âu (từ thế kỷ XVI trở đi) khi màluồng buôn vàng đã bị đứt đoạn, giữa nhiều vùng đã liên tục xẩy rachiến tranh cửớp đoạt lẫn nhau qua ba thế kỷ, mà hậu quả rùng rợnnhất là sự xuất hiện tập tục ăn thịt ngửời Nói đâu xa, ngay ở Bắc Bộ

nửớc ta, khi nông thôn đã bửớc vào tình thế phân hóa giai cấp, khi bộmáy nhà nửớc trung ửơng tập quyền đã trùm lên từ lâu vô vàn làng -xã thì lão quyền, tuy vẫn đó, cũng không giữ đửợc nguyên dạng nữa,chỉ còn là hình thức (xem lại chú thích 30) Nói cách khác, ở đây lãoquyền cũng đã biến dạng, tuy biến theo kiểu khác có lẽ còn biến hơn so

398

Trang 37

với Tây Phi.

32 “Sân siu” không có nghĩa là chỉ vì tình cảm mà nhửờng nhịnnhau Sân siu, theo tôi vẫn là nhửờng, nhửờng chút ít, và qua thửơng

lửợng Tôi nhửờng anh lần này, còn lần sau anh sẽ nhửờng tôi, hay tôinhửờng anh mặt này, anh nhửờng tôi mặt khác Không phải không có

chút tình, “tình làng” Nhửng cạnh đó, có thể nói nó còn có nghĩa,

“nghĩa n ửớc”, còn có lý trí Trên cửa miệng ngửời nông dân Việt miền

Trung và miền Nam, tôi chửa gặp từ nào mang hàm nghĩa ấy Phảichăng vì thân phận “tiểu nông tử hữu” của mình mà nông dân Bắc Bộ

bị đặt vào tình thế phải sân siu?

33 Nhân đây, có thể nói cho rõ thêm rằng, ít nhất cũng dửới triềuNguyễn và thời Pháp thuộc, bộ phận lý dịch, trong bộ máy quản lý dâncấp cơ sở ở nông thôn, cấp xã, trực tiếp nhận “trát” (hay chỉ thị, nếu nói

nhử ngày nay) từ cấp quan thấp nhất đại diện cho triều đình, cấp

“huyện” Giữa huyện và xã còn một cấp trung gian: “tổng” Khác với vịquan trị vì một huyện (“tri huyện”) Ngửời đứng đầu một tổng (“caitổng”, hay “chánh tổng”) không phải là quan của triều đình, không ăn

lửơng nhà nửớc bên trên: về mặt này, ông ta hệt lý dịch ở cấp xã.Nhửng khác với lý dịch, mà thành phần xuất thân thửờng từ trungnông (có địa chủ chăng nữa cũng chỉ là địa chủ nhỏ) thì, trái lại, caitổng bao giờ cũng là một tay “hào phú” (ngửời có điền sản lớn hay khálớn) nổi tiếng trong vùng Về cách làm việc cũng có khác biệt khôngnhỏ giữa hai bên: nếu nhử bộ phận lý dịch (thêm vào đấy, còn có các kỳmục) là cả bộ máy quản dân, và nhận lệnh của nhà nửớc từ tri huyện(qua các trát), thì cai tổng, ngửợc lại, không có trong tay một ngửờigiúp việc nào, hơn nữa, không nhận trát từ huyện Có việc gì quantrọng (một vụ thuế có thể đoán trửớc là khó thu, chẳng hạn), sau khitrực tiếp chỉ thị cho các xã, tri huyện bèn mời các cai tổng đến nghe

quan “hiểu dụ” (gần nhử khuyến cáo) Có cao lắm thì nhiệm vụ của cai

tổng chỉ là thỉnh thoảng về xã này hay xã kia thuộc tổng mình, để đốcthúc lý dịch làm việc: một trách nhiệm tửợng trửng! Cấp tổng có phần

Trang 38

nào tửơng đửơng với cấp giáp từ Khúc Hạo đến Lý Cao Tông (xem lạichú thích 22) hay không? Xuất thân từ hào phú, đửợc quan trên vì nể,nhửng chẳng đóng vai trò gì đáng kể trong hệ thống hành chính nóichung, cai tổng phải chăng là vang vọng xa xôi của thủ lĩnh lớn (xem

lại chú thích 26), hay hào tr ửởng thời Bắc thuộc? Cho đến nay, các câu

hỏi ấy đang chờ lời đáp Sau hết, cấp tổng ra đời quá muộn màng: mớivào nửa đầu thế kỷ XIX, dửới thời Minh Mạng, vua thứ hai triều

Nguyễn Về mặt cuối cùng này, xem: Vũ Thị Phụng, Lịch sử nhà n ửớc

và pháp luật Việt Nam, Từ nguồn gốc đến trửớc Cách mạng tháng Tám

1945, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990, tr.113.

34 Bàn về số ruộng đất của chức dịch trong làng xã thuộc mộthuyện thôi (huyện Từ Liêm) vào cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX,một nhà sử học, sau khi đửa ra bốn biểu số, đã nhận xét rằng các vị

chức dịch nói trên thuộc “tầng lớp trung gian, (là) những ngửời sở hữunhỏ”, còn ở những nơi nhiều ruộng công thì họ “không có ruộng đất,hay có ít ruộng đất…” Qua Cải cách ruộng đất, điều ấy càng rõ hơn,

mà trên diện rộng Xem Nguyễn Đức Nghinh - Về tài sản ruộng đất

của một số chức dịch, trong làng xã thuộc huyện Từ Liêm vào cuối thế

kỷ XVIII đến thế kỷ XIX, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Hà Nội… 165

(số 11 và 12 năm 1975), tr.49-57, đặc biệt các tr.53 và 55

35 Nói cho cùng, đây cũng chỉ mới là một giả thuyết làm việc chứanhiều triển vọng Dù sao, đi dọc Trung Bộ (dửới Đèo Ngang) từ tỉnhnày qua tỉnh kia, lẻ tẻ ta vẫn gặp nhiều làng mới gần đây chủ yếu sốngbằng nghề ruộng đất công Riêng ở Thừa Thiên, nơi các chúa Nguyễn,một bộ phận của Tây Sơn, rồi nhà Nguyễn từng đóng đô, càng thế, lạiphải chờ tài liệu của các anh - chị nghiên cứu tại chỗ

400

Trang 39

Làng xã Hệơng sơn

(Ghi chép dân tộc học)

Từ cầu Yến Vĩ đến động Hửơng Tích, qua những núi khegọn mắt nhử non bộ, ngửời đi vãng cảnh giữa một ngày đầuxuân, khi nắng mới gieo vàng lên từng bậc đá, thửờng chỉ thấycảnh, không mấy khi thấy ngửời Kể ra, chơi hội chùa, ngửờicũng gặp ngửời đấy chứ! Ngửời gặp đây là ngửời đi vãng cảnhnhử mình, mắt không rời trần tục mà miệng sẵn sàng “A đi đàPhật”; là cô hàng hửơng, sau bao lần hóa thân đã trở thành nữ

đồng chí mậu dịch viên về đây bán bằng giá rẻ cho khách thậpphửơng một hình Phật cổ truyền in trên chất dẻo; là chị xã viênchèo đò, chỉ vài lần buông mái đã tranh thủ kể đửợc cho kháchngửợc dòng khe Yến tích truyện “Hòn đá đổi chèo” Những conngửời ấy, rất thực trong xuất hiện và trong chức năng, nói chocùng, cũng là rất ảo Dù đã hiện đại hóa, họ vẫn là những nhânvật không thể thiếu của một non nửớc Chùa Hửơng lý tửởng, màcác danh sĩ, từ Chu Mạnh Trinh đến các nhà thơ thời nay, đã nốitiếp nhau dựng thành “mô hình” trên bình diện tửởng tửợng chonhiều thế hệ

Vãng cảnh Chùa Hửơng chỉ trong vòng một ngày- mộtngày dành dụm đửợc giữa nhiều ngày lao động - mấy ai có đủ thìgiờ, có điều kiện khách quan để dừng lại trửớc những con ngửờithực sống sát nách Chùa Hửơng, trong những làng mạc nấp

Trang 40

bóng Chùa Hửơng Không có gì đặc biệt! Họ là những nông dânbình dị sống và lao động trong những xóm làng bình dị, nhử baoxóm làng chen nhau dọc đôi bờ sông Đáy Dù sao, các tuyếnhành hửơng đến những chùa hang trên dãy núi đá vôi này đềunằm gọn trên vùng đất của họ Hơn thế nữa, họ từng định kỳsống dựa một phần vào Chùa Hửơng, có thể nói là những ngửời

đã từng góp phần “đạo diễn” nên hội Chùa Hửơng: cô hàng bánkhánh trên bến Đục, chị lái đò thuộc truyền thuyết chỉ là một

bộ phận nhỏ của họ, là số ít “diễn viên” mà họ cử ra “sân khấu”

để “diễn tích” hội Chùa Hửơng Nhửng, trong hậu trửờng cuộcsống hàng ngày, những ngửời nông dân bình dị này - dù định kỳ

là “đạo diễn”- vẫn có những vui buồn, vẫn nuôi những ửớc vọng

đáng kể chẳng hạn, có dính dấp đến hội Chùa Hửơng, những ửớcvọng bình dị kia lại có khả năng chuyển hóa một cách khôngkém phần bình dị thành chuyện lôi thôi, thành xích mích(1)

Điều đáng chú ý là những hiện tửợng nhử thế lại tìm đửợcnhững biện minh tinh thần từ kết cấu làng mạc cổ truyền, từlịch sử phát triển cụ thể của thôn xã trong vùng Và, nhử vậy,vấn đề bỗng mang thêm một ý vị dân tộc học không chối cãi

đửợc Một tối và một buổi sáng gặp gỡ các cụ ở hai thôn Yến và

Đục quả là ngắn ngủi, không đủ cho ngửời thăm hỏi đi sâu vàotừng sự kiện Trong hoàn cảnh đó, những ghi chép dửới đây chỉ

có thể phản ánh một vài hiểu biết đầu tiên, mà chúng tôi cố hệthống hóa lại theo một trình tự nào đấy Giá trị gợi ý của chúng

bị hạn chế ở mức các tài liệu sơ sài, mà chúng tôi hy vọng có dịp

bổ sung trong những tháng sắp đến

Nói đến lịch sử cử trú của con ngửời trên vùng đất HửơngSơn, không thể không ngửợc nguồn đến tận hang Giặc vừa tìmthấy trong một chuyến đi gần đây(2): tại hang này, một vài divật bằng đá lửợm trên mặt đất đã cho thấy niên đại Hòa Bình -

402

Ngày đăng: 18/10/2013, 17:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w