1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

BÀI GIẢNG KINH tế vĩ mô SINH VIÊN

164 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 2,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bao gồm: Tiêu dùng là chi tiêu của các hộ gia đình cho các hàng hóa dịch vụ, ngoại trừ việc mua nhà mới; đầu tư là việc mua những hàng hóa mà sẽ được sử dụng trong tương lai để sản xuất

Trang 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH TẾ HỌC VĨ MÔ

I Kinh tế học

Một hộ gia đình luôn luôn đối mặt với nhiều quyết định hằng ngày để phân

bổ các nguồn lực khan hiếm giữa các thành viên trong gia đình

Cũng như gia đình, xã hội cũng luôn phải đối mặt với nhiều quyết địnhlàm gì và ai sẽ làm những công việc đó Nghĩa là xã hội phải phân bố các nguồnlực vào những công việc sản xuất, những ngành nghề khác nhau

Vì nguồn lực là khan hiếm( hạn chế và không đáp ứng được tất cả cácnhu cầu của xã hội) vì vậy việc quyết định phân bổ các nguồn lực là vô cùngquan trọng

Do đó cần đưa ra một môn học chuyên nghiên cứu về những quyết địnhnày, đó là môn Kinh tế học

Định nghĩa: Kinh tế học là môn học nghiên cứu cách xã hội quản lý các nguồn lực khan hiếm.

Kinh tế học giúp chúng ta điều gì?

Kinh tế học quan sát hành vi lựa chọn của các thành phần kinh tế và chỉ ra chỗlựa chọn tốt nhất

Kinh tế học trả lời cho 3 câu hỏi:

+ Sản xuất cái gì?: Sự lựa chọn trong việc sản xuất hàng hóa hay dịch vụ

để phục vụ nhu cầu của thị trường

+ Sản xuất như thế nào?: Làn vấn đề về việc đạt được lợi nhuận thôngqua quá trình sản xuất và bán hàng hóa Nhà sản xuất phải lựa chọn đượcphương án sản xuất tối ưu nhất

+ Sản xuất cho ai?: Nghĩa là phải lựa chọn đối tượng, khách hàng chosản phẩm

1 Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô

Trang 2

Kinh tế học được chia thành kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô

1.1 Kinh tế học vi mô

- Kinh tế học vi mô ngiên cứu quyết định của các doanh nghiệp, các hộ giađình( người tiêu dùng) và tương tác của các quyết định này trên thịtrường

- Mục tiêu:

+ Nghiên cứu giá( P) và lượng (Q) của một hàng hòa cụ thể

+ Nghiên cứu tác động của Chính phủ đến giá và lượng của một hàng hóa

về giá cả trong các thời điểm khác nhau?

+ Kinh tế học vĩ mô còn nghiên cứu những tác động của Chính phủ đếnnền kinh tế: Làm thế nào Chính phủ giảm hiện tượng lạm phát? Làm thế nào đểtăng GDP hay phát triển nền kinh tế?

Tóm lại Kinh tế học vĩ mô cung cấp cho ta những kiến thức tổng quát vềnền kinh tế, liên quan đến tổng việc làm, tổng thu nhập, tổng sản phẩm xã hộinhằm phát triển nền kinh tế

Trang 3

Mối quan hệ giữa kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô: Bởi nền kinh

tế tổng thể là một tập hợp từ nhiều hộ gia đình và doanh nghiệp tương tác với nhau trên nhiều thị trường cho nên kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Tuy nhiên việc nghiên cứu nền kinh tế trên bình diện tổng thể đặt ra một số thách thức mới và hấp dẫn.

2 Các vấn đề kinh tế vĩ mô then chốt

- Nếu đánh giá một con người về mặt kinh tế thì bạn phải nhìn vào thunhập của họ Tổng quát cho một nền kinh tế của một quốc gia thì phải

đánh giá qua thu nhập của quốc gia đó Thu thập quốc gia (GDP) là giá

thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong

một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định Bao gồm: Tiêu dùng

(là chi tiêu của các hộ gia đình cho các hàng hóa dịch vụ, ngoại trừ việc

mua nhà mới); đầu tư (là việc mua những hàng hóa mà sẽ được sử dụng trong tương lai để sản xuất thêm các hàng hóa và dịch vụ); mua sắm của Chính phủ (bao gồm chi tiêu cho các hàng hóa và dịch vụ bởi chính quyền địa phương, tiểu bang và lien bang) và xuất khẩu ròng (bao gồm

chi tiêu của người nước ngoài cho hàng hóa được sản xuất trong nước trừ

đi chi tiêu của cư dân trong nước cho hàng hóa nước ngoài

- Bên cạnh đó các nhà kinh tế học còn phải nghiên cứu đo lường chi phítổng thể của cuộc sống để tìm ra một số cách để biến số tiền thành các

thước đo sức mua có ý nghĩa Đó được gọi là chỉ số giá tiêu dùng Các nhà kinh tế học sử dụng thuật ngữ lạm phát để mô tả một tình huống

trong đó mức giá chung của nền kinh tế đang gia tăng Tỷ lệ lạm phát làphần trăm thay đổi của mức giá so với kỳ trước đó Vai trò của nhữngnhà kinh tế học là điều chỉnh được những tác động của lạm phát thoognqua việc sử dụng chỉ số giá

- Kinh tế học còn đặc biệt nghiên cứu vấn đề thất nghiệp Tỷ lệ thất

nghiệp là phần trăm những người muốn làm việc mà không có việc làm.Nền kinh tế thường phải trải qua tình trạng thất nghiệp cả ngắn hạn vàdài hạn và các nhà chính sách luôn nghiên cứu để đưa ra những giải phápcho vấn đề trọng yếu này Một nguyên nhân gây ra thất nghiệp là phải

Trang 4

tốn thời gian cho người lao động tìm được việc phù hợp với năng lực và

sở thích Thất nghiệp co xát này tăng do bảo hiểm thất nghiệp, là chínhsách Chính phủ thiết kế để bảo vệ thu nhập cho người lao động Nguyênnhân thứ 2 mà nền kinh tế của chúng ta luôn có thất nghiệp là do luậtlương tối thiểu Bằng cách tăng mức lương của những người không có kỹnăng và không kinh nghiệm lên trên mức cân bằng, luật lương tối thiểulàm tăng lượng cung và giảm lượng cầu lao động Lượng thặng dư laođộng là lượng thất nghiệp Nguyên nhân thứ 3 là quyền lực của thịtrường công đoàn Khi đẩy mức lương trong nền công nghiệp có côngđoàn lên trên mức công bằng, công đoàn tạo ra thặng dư thất nghiệp Vànguyên nhân cuối cùng là do lý thuyết tiền lương hiệu quả Theo lýthuyết này, các doanh nghiệp sẽ có lợi khi trả lương trên mức cân bằng.Lương cao có thể cải thiện sức khỏe người lao động, giảm lao động bỏviệc, tăng chất lượng và nổ lực của người lao động

II Các nguyên lý của Kinh tế học

Con người ra quyết định như thế nào?

Nguyên lý 1: Con người đối mặt với sự đánh đổi

Cả ba thành phần kinh tế đều phải đối mặt với sự đánh đổi: Chính phủ,Doanh nghiệp và Người tiêu dùng

Chính phủ đối mặt với đánh đổi giữa hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội

+ Hiệu quả kinh tế đạt được khi: kết quả > chi phí

+ Công bằng xã hội tức là phân chia các nguồn lực hữa hạn đồng đềucho mọi người

Nguyên lý 2: Chi phí của một thứ là cái mà bạn từ bỏ để có được nó

Chi phí cơ hội là giá trị của cơ hội tốt nhất bị bỏ qua khi đưa ra một sựlựa chọn

Chi phí cơ hội gắn liền với mỗi quyết định cụ thể, vì vậy con người luônluôn so sánh chi phí cơ hội giữa các quyết đinh để có những quyết định hợplý

Nguyên lý 3: Con người duy lý suy nghĩ tại điểm cận biên

Nghĩa là: con người suy nghĩ để hành động tại điểm cận biên Conngười duy lí cố làm tốt nhất để đạt được mục tiêu của họ một cách có hệthống và có mục đích với các cơ hội sẵn có Một người quyết định hợp lý

Trang 5

thực hiện một hành động khi và chỉ khi lợi ích cận biên của hành động vượtquá chi phí cận biên.

Nguyên lý 4: Con người phản ứng với các động cơ khuyến khích

Con người luôn luôn so sánh giữa lợi ích và chi phí vì vậy luôn phảnứng với những khuyến khích dẫn đến việc thay đổi hành vi của họ trong tiêudùng Một sự thay đổi nhỏ về động cơ khuyến khích trong thị trường cũngkhiến người tiêu dùng phản ứng mạnh mẽ vì vậy các nhà chính sách luôncân nhắc kỹ khi đưa ra những quyết định về động cơ khuyến khích

Con người tương tác với nhau như thế nào

Nguyên lý 5: Thương mại có thể làm cho mọi người đều được lợi

Thương mại có thể làm lợi cho tất cả mọi người vì người ta chỉ cần tiếnhành sản xuất hàng hóa và dịch vụ có chi phí cơ hội thấp còn những hànghóa và dịch vụ có chi phí cơ hội cao sẽ có được thông qua thương mại thìtổng giá trị sẽ được tăng lên

Nếu mỗi quốc gia chỉ sản xuất những hàng hóa và dịch vụ có chi phí cơhội thấp còn lại thông qua trao đổi thương mại thì tổng giá trị quốc dân sẽtăng lên rất nhiều

Nguyên lý 6: Thị trường thường là một phương thức tốt nhất để tổ chức hoạt động kinh tế

Các mô hình kinh tế trong các nền kinh tế bao gồm: mô hình kinh tế thịtrường, mô hình kinh tế chỉ huy và mô hình kinh tế hỗn hợp

Trong đó nền kinh tế thị trường là một mô hình kinh tế thành công Thịtrường tự do bao gồm nhiều người mua bán, người bán vô số hàng hóa vàdịch vụ khác nhau và tất cả mọi người quan tâm đến phúc lợi riêng của họ.Nền kinh tế thị trường đã chứng tỏ thành công lạ thường trong việc tổ chứchoạt động kinh tế theo hướng thúc đẩy phúc lợi kinh tế chung

Nguyên lý 7: Đôi khi Chính phủ có thể cải thiện được kết cục thị trường

Thị trường thường tạo ra những thất bại thị trường (tình huống mà thịtrường tự nó thất bại trong việc phân bố các nguồn lực một cách có hiệuquả) mà bàn tay vô hình của thị trường không thể giải quyết được, Chínhphủ vẫn có khi tham gia vào việc giải quyết để cải thiện những kết cục củathị trường Tuy nhiên không phải lúc nào Chính phủ cũng có những chínhsách phù hợp để cải thiện những kết cục của thị trường

Nguyên lý 8: Mức sống của một nước phụ thuộc vào năng lực sản xuất hàng hóa và dịch vụ của nước đó.

Trang 6

Nguyên nhân của sự khác biệt về mức sống của những quốc gia khácnhau là do năng suất lao động của mỗi quốc gia khác nhau – tức là số lượnghàng hóa được làm ra trong một giờ lao động của một công nhân Ở nhữngquốc gia mà nguwoif lao động sản xuất được lượng hang hóa và dịch vụ lớnhơn trên một đơn vị thời gian, hầu hết người dân được hưởng mức sống cao;còn ở các quốc gia có năng suất kém hơn, hầu hết người dân phải chịu cuộcsống nghèo nàn Tương tự, tốc độ tăng năng suất của một quốc gia quyếtđịnh tốc độ tăng thu nhập bình quân của quốc gia đó.

Nguyên lý 9: Giá cả tăng lên khi chính phủ in quá nhiều tiền

Nguyên nhân gây ra lạm phát: Đó là sự gia tăng của lượng tiền KhiChính phủ tạo ra 1 lượng tiền lớn giá trị của lượng tiền giảm, dẫn đến sự lạmphát cao

Nguyên lý 10: Xã hội đối mặt với sự đánh đổi ngắn hạn giữa lạm phát và thất nghiệp

+ Tăng số lượng tiền trong nền kinh tế sễ kích thích mức tổng chitieuevaf do đó kích thích cầu hàng hóa và dịch vụ

+ Cầu cao hơn theo thời gian buộc các công ty tăng giá của họ, nhưngcùng lúc đó, cầu cao cũng khuyến khích họ thuê thêm lao động nhiều hơn vàsản xuất nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn

+ Thuê lao động nhiều hơn nghĩa là tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn

→ Trong ngắn hạn nền kinh tế đối mặt giữa lạm phát và thất nghiệp

III Tư duy của nhà kinh tế

Mỗi lĩnh vực nghiên cứu đều co ngôn ngữ và cách tư duy riêng của nó và cáckinh tế học cũng vậy Các thuật ngữ như cung, cầu, độ co giãn, lợi thế so sánh,thặng dư tiêu dùng, tổn thất vô ích là những thuật ngữ cần thiết phải học để trao đổivới những người khác về các vấn đề kinh tế một cách chính xác và hiệu quả Mụcđích của phần này giúp bạn học được cách tư duy của nhà kinh tế

1 Nhà kinh tế là nhà khoa học

Các nhà kinh tế cố gắng đưa ra các chủ đề theo cách khách quan của nhà khoahọc Họ suy nghĩ về nền kinh tế như là các nhà vật lí nghiên cứu vật chất,các nhàsinh vật nghiên cứu cuộc sống Xây dựng các học thuyết, thu thập dữ liệu, và sau

đó phân tích dữ liệu để khẳng định hay bãi bỏ các học thuyết đó là mục đích của

họ Bản chất khoa học của kinh tế là ở phương pháp – đó là quá trình phát triển và

Trang 7

kiểm định một cách vô tư các học thuyết về cách vận hành của sinh vật và hiệntượng.

Phương pháp khoa học: quan sát, lí thuyết, tiếp tục quan sát

Sự tương tác giữa lí thuyết và quan sát cũng xuất hiện trong lĩnh vực kinh tếhọc Tính khoa học của một nhóm khoa học để quyết định bởi cách tiếp cận vấn đềchứ không phải bởi công cụ sử dụng nghĩa là phải phát triển và kiểm định các lýthuyết về phương thức vận hành của thế giới một cách khách quan và vô tư

Cũng giống như các nhà thiên văn và sinh vật học tiến hóa, các nhà kinh tếthường phải làm việc với bất cứ dữ liệu nào sẵn có từ nhưng hiện tượng diễn raxung quanh Trong cuốn sách này, chúng ta sẽ tìm hiểu nhiều sự kiện lịch sử.Những sự kiện này rất đáng để nghiên cứu bởi vì chúng cung cấp cho chúng tanhững cách nhìn sâu và nền kinh tế trong quá khứ, và quan trọng hơn, nó cho phépchúng ta minh họa và đánh giá các lý thuyết kinh tế hiện tại

Vai trò của các giả định:

Các nhà kinh tế các giả định và các lí do: giả định để đơn giản hóa một thế giớiđầy phức tạp và làm cho nó dễ hiểu hơn Nhà vật lí giả định viên đá rơi trong chânkhông, giả định này là không chinh sát tuy nhiên làm vậy để đơn giản hóa vấn đề.Cũng như để việc nghiên cứu ảnh hưởng của thương mại quốc tế, chúng ta có thểgiả định rằng cả thế giới chỉ có hai quốc gia và mỗi quốc gia chỉ sản xuất hai loạihàng hóa Trên thực tế thì không như vậy

Nghệ thuật trong tư duy khoa học – cho dù là trong vật lí sinh học hay kinh tếhọc – chính là ở chổ quyết đinh xem cần phải gỉa định cái gì Tất cả các mô hìnhcho dù trong lĩnh vực vật lí sinh học hay kinh tế học đều là sự đơn giản hóa thựchiện để giúp chúng ta dể nắm bắt đối tượng

Mô hình kinh tế học:

Mô hình là một cách đơn giản để làm cơ sở cho phân tích ví dụ như các giáoviên ở các trường phổ thong thường dùng các mô hình để cho học sinh biết đượccác cáo tạo cơ thể con người

Các nhà kinh tế cũng sử dụng mô hình để tìm hiểu về thế giới, các mô hìnhkinh tế thường bỏ đi nhiều chi tiết để chung ta tập trung hiểu được những vấn đề

Trang 8

thật sự quan trọng Nếu như mô hình của giáo viên không có toàn bộ các cơ vàmao mạch, mô hình của nhà kinh tế tất cả các đặc trưng

Mô hình đầu tiên: Sơ đồ chu chuyển

Nền kinh tế có hàng triệu con người tham gia vào nhiều hoạt động mua, bán,làm việc, thuê mướn, chế biến, v.v… Để hiểu một nền kinh tế vận hành như thếnào , chúng ta phải tìm cách nào đó đơn giản hóa những suy nghĩ về các hoạt độngnày

Sơ đồ chu chuyển: trong mô hình này, nền kinh tế được đơn giản hóa khi chỉđưa vào hai nhóm ra quyết định là doanh nghiệp và hộ gia đình Doanh nghiệp sản

Trang 9

xuất, bán hàng hóa và dịch vụ; thuê mướn và sử dụng các yếu tố sản xuất Hộ giađình mua sắm và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ, sở hữu bán các yếu tố sản xuất.

Hộ gia đinh và doanh nghiệp tương tác lẫn nhau trên hai thị trường ở thịtrường hàng hóa và dịch vụ, họ gia đình là người mua và doanh nghiệp là ngườibán Cụ thể ở thị trường hàng hóa và dịch vụ: doanh nghiệp bán họ gia đình mua

Ở thị trường các yếu tố sản xuất: hộ gia đình bán, doanh nghiệp mua Sơ đồ chuchuyển đưa ra cái nhìn đơn giản cách thức sắp xếp các giao dịch xảy ra giữa các hộgia đình và các doanh nghiệp trong nền kinh tế

Hai vòng lặp của sơ đồ chu chuyển tuy khác nhau nhưng lại có liên quan vớinhau Vòng bên trong biểu thị cho dòng chu chuyển của đầu vào và đầu ra Vòngbên ngoài đại diện cho dòng tiền luân chuyển tương ứng

Mô hình thứ hai: Đường giới hạn khả năng sản xuất

Khác với sơ đồ chu chuyên phần lớn các mô hình kinh tế được xây dựng dựa trêncác công cụ toán học ở đây chúng ta sử dụng mô hình đơn giản nhất để mô tả một

vài ý tưởng kinh tế cơ bản: mô hình đường giới hạn khả năng sản xuất Đường giới hạn khả năng sản xuất là một đồ thị biểu thị nhưng phối hợp khác nhau của

sản lượng đầu ra mà nền kinh tế có thể sản xuất

Trang 10

Một trong 10 nguyên lí kinh tế học là con người đối mặt với sự đánh đổi.Đường giới hạn khả năng sản xuất thể hiện một sự đánh đổi mà nền kinh tế phảiđối diện Một khi chúng ta đã đạt đến những điểm hiệu quả trên đường giới hạn,cách duy nhất để sản xuất thêm 1 hàng hóa này là sản xuất bớt 1 hàng hóa khác.Vdnhư khi nền kinh tế di chuyển từ điểm A sang điểm B, xã hội sản xuất thêm được

100 xe nhưng phải giảm bớt đi 200 chiếc máy tính

Đường giới hạn khả năng sản xuất cũng cho chúng ta biết chi phí cơ hội củamột hàng hóa được đo lường bằng số lượng hàng hóa khác (chi phi cơ hội của mộtthứ là những tất cả những gì chúng ta phải hi sinh để có được nó)

Đường giới hạn khả năng sản xuất thể hiện sự đánh đổi giữa sản lượng đầu racủa các sản phẩm khác nhau tại một thời điểm Theo thời gian điều đó có thể thayđổi Như tiến bộ của công nghệ trong ngành công nghiệp máy tính gia tăng sốlượng máy tính làm ra

Sự dịch chuyển của đường giới hạn khả năng sản xuất: một sự tiến bộ vềcông nghệ trong ngành công nghiệp máy tính cho phép nền kinh tế sản xuất ranhiều máy tính hơn tại các mức sản lượng xe hơi cho trước Kết quả là, đường giớihạn khả năng sản xuất dịch chuyển ra ngoài

Trang 11

Đường giới hạn khả năng sản xuất đơn giản hóa 1 nền kinh tế phức tạp để đưa ra ýtưởng tuy cơ bản nhưng rất quan trọng : sự khan hiếm, tính hiệu quả, sự đánh đổi,chi phí cơ hội và sự tăng trưởng kinh tế Đường giới hạn khả năng sản xuất chochúng ta 1 cách nhìn tổng quát đơn giản về chúng khi những ý tưởng này lặp lại ởnhiều dạng khác nhau.

Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô

Kinh tế học vi mô nghiên cứu các hộ gia đình và doanh nghiệp ra quyết định nhưthế nào và tương tác với nhau ra sao trên thị trường cụ thể

Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu các hiện tượng tống quát trên nền kinh tế

2 Nhà kinh tế là người tư vấn chính sách:

Thông thường, các nhà kinh tế hóc được yêu cầu giải thích những nguyênnhân của các sự kiện kinh tế Ví dụ, tại sao tỷ lệ thất nghiệp của lao động ở độ tuổithanh niên cao hơn so với ở độ tuổi lơn hơn? Khi các nhà kinh tế cố gắng giải thíchđiều đó, họ là những nhà khoa học khi họ cố gắng cải thiện điều đó, họ là nhữngngười tư vấn chính sách

Phân tích thực chứng và phân tích chuẩn tắc:

Các nhà kinh tế đưa ra nhận định xem thế giới vận hành như thế nào?

Một cách tổng quan, các phát biểu về thế giới có 2 dạng:

Một là dạng thực chứng , như là củ Polly (Polly: quy định mức lượng tối thiểu gây

ra thất nghiệp) Phát biểu thực chứng mang tính mô tả, họ giải thích thế giới

Hai là dạng chuẩn tắc, như của Norm (Norm: chính phủ nên tăng mức lương tốithiểu) Phát biểu chuẩn tắc thì mang tính mệnh lệnh, họ chưa ra phát biểu về những

gi thế giơi nên làm

Khi nghiên cứu về kinh tế học, bạn nên tách biết giữa các phát biểu chứng vàchuẩn tắc để tập trung vào nhiệm vụ mà mình đang làm Hầu kinh tế học là thựcchứng vì chúng cố gắng giải thích nền kinh tế vận hành như thế nào

IV Cung cầu và thị trường:

Kem: là sản phẩm cụ thể mà chúng ta xét trong phần này.

Trang 12

1 Cầu:

Đường cầu: mối quan hệ giữa lượng cầu và giá bán

Lượng cầu của 1 loại hàng hóa là lượng hàng mà người mua có thể và sẵnlòng mua Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến lượng cầu, nhưng nhân tố chính là giábán của hàng hóa Nếu giá kem tăng bạn sẽ ăn ít kem hơn và ngược lại

Quy luật cho rằng với các yếu tố khác không đổi lượng cầu của lượng hànghóa giảm khi giá của nó tăng lên Trong điều kiện mọi yếu tố khác không đổi, khigiá của hàng hóa tăng, lượng cầu của nó sẽ giảm và khi giá một hàng hóa giảmlượng cầu của nó sẽ tăng Đường cầu là 1 đường dốc xuống biểu thị mối quan hệgiữa giá và lượng cầu của 1 hàng hóa

Cầu thị trường là tổng của tất cả các cầu về một loại hàng hóa hay dịch vụ cụthể: Nói cách khác cầu thị trường là tổng của các cầu cá nhân theo chiều ngang.Đường cầu thị trường cho thấy tổng lượng cầu của 1 loại hàng hóa thay đổi như thếnào khi giá của nó thay đổi trong điều kiện các yếu tố khác không đổi

Cầu các nhân là cầu của 1 cá nhân đối với 1 sản phẩm

Sự dịch chuyển của đường cầu:

Trang 13

Cầu tăng: lượng cầu tăng ở tất cả các mức giá, đường cầu dịch chuyển sang phải.

Cầu giảm: lượng cầu ở tất cả các mức giá, đường cầu dịch chuyển sang trái

Các yếu tố là đường cầu dịch chuyển:

 Thu nhập: hàng hóa thông thường: các yếu tố không đổi, thu nhập tăng làmcầu hàng hóa đó tăng

Hàng hóa thứ cấp: các yếu tố khác không đổi, thu nhập tăng làm giảm cầuhàng hóa đó

 Giá hàng hóa liên quan:

Thay thế: giá hàng hóa này tăng dần đến hàng hóa

Bổ sung: giá hàng hóa này tăng dần đến cầu hàng hóa kia giảm

Thị hiếu: thị hiếu thay đổi cầu thay đổi

Kỳ vọng của người mua: mong đợi về giá: tương lại tăng,cầu hiện tại giảmmong đợi về thu nhập tương lai tăng, cầu hiện tại tăng

Số lượng người mua: tăng, cầu tăng

2 Cung

Đường cung: mối quan hệ giữa mức giá và lượng cung:

Lượng cung là lượng hàng hóa mà người bán có thể và sẳn lòng bán 1 lầnnữa giá cả đóng vai trò đặc biệt trong các yếu tó quyết định đến lượng cung Khigiá kem cao lượng cung sẽ lớn và ngược lại

P

Trang 14

S S’

P

Q

S P

Q

Quy luật cung cho rằng: với các yếu tố khác không đổi lượng cung của 1hàng hóa tăng khi giá của nó tăng Đường cung là một đường dốc lên là đổ thị biểudiển mối quan hệ giữa mức giá và lượng cung của một hàng hóa

Cung thị trường và cung cá nhân

Cung thị trường là tổng các đường cung các nhân về một loại hàng hóa Nóicách khác đường cung thị trường là tổng cung cá nhân theo chiều ngang Chúngcho thấy lượng cung thay đổi bao nhiêu khi thay đổi giá, với các yếu tố khác khôngđổi

Sự chuyển dịch của đường cung

Cung tăng: lượng cung tăng ở tất cả các mức giá, đường cung dịch chuyển sangphải

Cung giảm: lượng cung giảm ở tất cả các mức giá, đường cung dịch chuyển sangtrái

Các yếu tố làm đường cung dịch chuyển

* Giá đầu vào: giá đầu vàu tăng làm cung tăng

* Công nghệ: tiến bộ công nghệ làm cung tăng

* Giá cả hàng hóa liên quan: làm cho cung thị trường tăng hoặc giảm

* Số lượng người bán: số lượng người bán tăng cung thị trường tăng

* Kì vọng của người bán: tác động vào cung hiện tại, giá được thì kìvọng tăng sẻ làm cung hiện tại giảm

S’

Trang 15

* Thuế: nhà nước tăng thuế cung giảm

3 Cân bằng cung cầu

Cân bằng cung cầu hay cân bằng thị trường: trong tình huống mà giá trị thịtrường đạt đến mức lượng cung bằng lượng cầu khi đó đường cung và đường cầucắt nhau

Giá trị cân bằng (hay còn gọi là giá thị trường vì ở mức giá này tất cả mọi ngườitrên thị trường đều hài lòng): là mức giá có lượng cung bằng lượng cầu

Sản lượng cân bằng là mức sản lượng ở giá cân bằng

Kết hợp cung cầu cũng gây ra thị trường không cân bằng

Giả sử giá trị thị trường cao hơn giá trị cân bằng sẻ gây ra dư thừa lượng cung lúc

đó lớn hơn lượng cầu Những người bán ( ở đây là bán kem) sẽ cắt giảm giá bántheo đó sẽ làm tăng lượng cầu và giảm lượng cung Những thay đổi này tạo ra sự dichuyển dọc theo đường cung và đường cầu Giá sẽ giảm cho đến khi bằng với giá

cân bằng Và ngược lại khi giá thị trường thấp hơn giá cân bằng sẻ gây ra thiếu hụt

Thiếu hụt

Cung

Cung Thặng dư

Trang 16

lượng cầu lớn hơn lượng cung Nhưng người bán sẽ tăng giá bán mà không bị mấtdoanh thu theo đó sẽ làm giảm lượng cầu và tăng lượng cung Những thay đổi tạo

ra sự dịch chuyển dọc theo đường cung và cầu,chúng đưa thị trường đến trạng tháicân bằng

Vì vậy dù giá có quá thấp hay quá cao hành động của người mua và người

bán sẻ đẩy giá về giá cân bằng Hiện tượng này được gọi là Quy luật cung và cầu

Ba bước phân tích sự thay đổi của trạng thái cân bằng:

1 Xác định sự kiện làm dịch chuyển đường cung/cầu hay cả 2

2 Xác định các đường dịch chuyển sang trái hay phải

3 Dùng đồ thị cung cầu dể xem sự thay đổi mức giá và sản lượng cân bằng

Trang 17

CHƯƠNG 2

DỮ LIỆU KINH TẾ VĨ MÔ

2.1 ĐO LƯỜNG THU NHẬP QUỐC GIA

Khi bạn hoàn thành việc học hành và bắt đầu tìm kiếm một công việc toànthời gian, ở phạm vi tổng quát thì kinh nhiệm tìm việc của bạn sẽ được định hìnhbởi những điều kiện kinh tế hiện hành Trong một số năm nào đó, các doanhnghiệm trên khắp nền kinh tế đang mở rộng hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch

vụ, công ăn việc làm rất dể kiếm Trong những năm khác, các doanh nghiệp lạiđang cắt giảm sản xuất, công ăn việc làm đang sụt giảm, và việc tìm kiếm mộtcông việc tốt mất rất nhiều người gian Không có gì ngạc nghiên, bất kỳ sinh viênnào mới tốt nghiệp đại học cũng sẽ dễ gia nhập lực lượng lao động vào năm mànền kinh tế mở rộng hơn là vào năm mà nền kinh tế thu hẹp

Mục tiêu của kinh tế vĩ mô là nhằm giải thích những thay đổi kinh tế có ảnhhưởng đồng thời đến nhiều hộ gia đình, nhiều doanh nghiệp và các thị trường Cácnhà kinh tế học vĩ mô trả lời những câu hỏi khác nhau: Tại sao thu nhập bình quân

là cao ở một số quốc gia trong khi lại thấp ở những quốc gia khác? Tại sao giá cảđôi khi tăng lên nhanh chóng trong khi ở một số thời điểm khác thì nó lại ổn địnhhơn? Tại sao sản xuất và việc làm lại mở rộng trongmột số năm và thu hẹp vàonhững năm khác? Chính phủ có thể làm gì, bất cứ việc gì, để thúc đẩy tăng trưởngthu nhập nhanh chóng, giữ lạm phát ở mức thấp và tạo công ăn việc làm ổng định?Những câu hỏi này về bản chát đều là những vấn đề của kinh tế vĩ mô bởi vì chúngquan tâm đến sự vận hành của toàn bộ nền kinh tế

2.1.1 THU NHẬP VÀ CHI TIÊU CỦA NỀN KINH TẾ

Nếu bạn đánh giá một con người về phương diện kinh tế, thì trước hết bạnnhìn vào thu nhập của họ Một người thu nhập cao có thể dễ dàng đáp ứng nhữngnhu cầu thiết yêu và xa xỉ của cuộc sống hơn Không có gì ngạc nghiên khi nhữngngười cố thu nhập cao thụ hưởng mức sống cao hơn, như là: nhà ở tiện nghi hơn,dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt hơn, những chiếc xe hơi sành điệu hơn, các kỳ nghỉsang trọng hơn,

GDP đo lường đồng thời hai chỉ tiêu: tổng thu nhập của tất cả mọi ngườitrong nền kinh tế và tổng chi tiêu cho sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh

Trang 18

tế GDP có thể đóng vai trò đo lường cả tổng thu nhập và tổng chi tiêu bởi vì hai chỉtiêu này thực sự là như nhau Đối với tổng thể nền kinh tế, thu nhập phải bằng chitiêu vì mỗi giao dịch đều có hai bên: người bán và người mua Ví dụ, giả sử rằngKim trả 100 USD để Duy dọn dẹp nhà cho cô ấy Trong trường hợp này, Duy làngười bán dịch vụ, và Kim là người mua Duy kiếm được 100 USD, và Kim chitiêu 100 USD, Do đó, giao dịch này đóng góp như nhau vào thu nhập và vào chitiêu của nền kinh tế GDP dù được đo lường bằng tổng thu nhập hay tổng chi tiêuđều tăng 100 USD

CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT LAO ĐỘNG ĐẤT ĐAI & VỐN

THỊTRƯỜNGHÀNGHÓA VÀDỊCH VỤ

DOAN

H NGHIỆP

THỊTRƯỜNGCÁC YẾU

TỐ SẢNXUẤT

Trang 19

TIỀN LƯƠNG TIỀN THUẾ VÀ LỢI NHUẬN(=GDP) THU

NHẬP(=GDP)

DÒNG ĐẦU VÀO VÀĐẦU RA

DÒNG TIỀNMột cách khác để thấy sự bằng nhau của thu nhập và chi tiêu là nhìn vào sơ

đồ dòng chu chuyển trong hình 1 Như bạn có thể nhớ lại từ chương 2, biểu đồ này

mô tả tất cả các giao dịch giữa các hộ gia đình và các doanh nghiệp trong một nềnkinh tế đơn giản Nó đơn giản hóa vấn đề bằng việc giả định rằng toàn bộ các hànghóa và dịch vụ được mua bởi các hộ gia đình và các hộ gia đình chi tiêu toàn bộthu nhập của họ Trong nền kinh tế này, khi các hộ gia đình mua hàng hóa và dịch

vụ từ các doanh nghiệp, những khoản chi tiêu này luân chuyển qua thị trường hànghóa và dịch vụ khi các doanh nghiệp đến lượt dùng số tiền họ thu được từ việc bánhàng để trả lương cho người lao động, tiền thuê cho chủ đất và lợi nhuận cho chủdoanh nghiệp, thì thu nhập này luân chuyển qua thị trường các yếu tố sản xuất.Dòng tiền liên tục luân chuyển từ các hộ gia đình đến các doanh nghiệp và sau đóquay trở lại các hộ gia đình

GDP đo lường dòng tiền này Chúng ta có thể thanh toán GDP cho nền kinh

tế này theo một trong hai cách: bằng việc cộng tổng chi tiêu của các hộ gia đìnhhoặc bằng việc cộng tổng thu nhập (tiền lương, tiền thuê và lợi nhuận) được trả bởi

Các hộ gia đình không chi tiêu tất cả thu nhập của hộ Họ phải nộp một phần thunhập dưới dạng thuế cho chính phủ, và họ tiết kiệm một phần thu nhập để sử dụngtrong tương lai Hơn nữa, các hộ gia đình không mua tất cả các hàng hóa và dịch

vụ được sản xuất trong nền kinh thế; một số hàng hóa và dịch vụ được mua bởichính phủ, và một số được mua bởi những doanh nghiệp có kế hoạch sử dụngchúng trong tương lai để sản xuất đầu ra của chính họ Nhưng nguyên tắc cơ bảnvẫn giữ nguyên: bất kể một hộ gia đình, chính phủ, hay doanh nghiệp mua mộthàng hóa hay dịch vụ, thì giao dịch đó đều có một người mua và người bán Nhưvậy, đối với tổng thể nền kinh tế, chỉ tiêu và thu nhập luôn bằng nhau

Trang 20

2.1.2 ĐO LƯỜNG TỔNG SẢN PHẨM QUỐC NỘI

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa

và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong một quốc gia trong một khoảng thời gian

Định nghĩa này có lẽ khá đơn giản Nhưng thực thế, có nhiều vấn đề tinh tế phátsinh khi tính toán GDP của một nền kinh tế Vì thế chúng ta hãy xem xét cẩn thậntừng cụm từ trong định nghĩa này!

GDP cộng nhiều loại sản phẩm khác nhau vào trong một thước đo giá trị duy nhấtcủa hoạt động kinh tế Để làm việc này, nó sử dụng giá cả thị trường Bởi vì giá cảthị trường đo lường số tiền mà người ta sẵn lòng trả cho những hàng hóa khácnhau, cho nên chúng phản ánh giá trị của những hàng hóa đó

Trang 21

Một ngoại lệ quan trọng của nguyên tắc này nảy sinh khi một hàng hóa trung gianđược sản xuất và thay vì được sử dụng, thì được đưa vào hàng tồn kho của mộtdoanh nghiệp để sử dụng hoặc bán về sau Trong trường hợp này, hàng hóa trunggian được tính là “cuối cùng” tại thời điểm này, giá trị của nó như là khoản đầu tưvào hàng tồn kho được tính là một phần của GDP Vì vậy, sự gia tăng của hàng tồnkho được tính vào GDP, và khi hàng tồn kho được sử dụng hoặc được bán ra sau

đó, thì lượng hàng tồn kho giảm đi được trừ ra khỏi GDP

GDP bao gồm cả hàng hóa hữu hình (thực phẩm, quần áo, xe hơi) và các dịch vụ

vô hình (cắt tóc, lau dọn nhà cửa, khám sức khỏe) Khi bạn mua một đĩa CD củaban nhạc yêu thích, thì bạn đang mua một hàng hóa và giá mua là một phần củaGDP Khi bạn trả tiền để nghe một buổi hòa nhạc cũng của bạn nhạc, thì bạn đangmua một dịch vụ, và giá vé cũng là một phần của GDP

GDP bao gồm những hàng hóa và dịch vụ hiện đang được sản xuất Nó không baogồm các giao dịch liên quan đến những hàng hóa được sản xuất trước đây KhiFord sản xuất và bán một chiếc xe mới, giá trị của chiếc xe được tính vào GDP.Khi một người bán một chiếc xe đã sử dụng cho người khác, giá trị của chiếc xe đã

GDP đo lường giá trị sản xuất trong phạm vi lãnh thổ cửa một quốc gia Do đó,những mặt hàng được tính vào GDP của một quốc gia nếu chúng được sản xuấttrong nước, không phân biệt quốc tịch của nhà sản xuất

GDP đo lường giá trị sản xuất diễn ra trong một khoảng thời gian cụ thể Thôngthường, khoảng thời gian đó là một năm hoặc một quý (ba tháng) GĐP đo lườngdòng thu nhập và dòng chi tiêu của nền kinh tế trong khoảng thời gian đó.Khi chính phủ báo cáo GDP cho một quý, chính phủ thường thể hiện GDP “theo tỉ

lệ hằng năm” Điều này có nghĩa là con số được báo cáo của GDP theo quý làkhoản thu nhập và chi tiêu trong quý nhân với 4.GDP như là tổng chi tiêu trong nền kinh tế Nhưng đừng quên rằng mỗi đô la chitiêu của người mua một hàng hóa hay dịch vụ trờ thành một đô la thu nhập củangười bán của hàng hóa hay dịch vụ đó Vì vậy ngoài việc áp dụng định nghĩa này,chính phủ cũng xác định được tổng thu nhập trong nền kinh tế Hai cách tính GDPmang lại hầu như chính xác cùng một câu trả lời (Tại sao lại là “hầu như”? Mặc dù

Trang 22

hai thước đo nên chính xác là như nhau, nhưng các nguồn số liệu không phải làhoàn hảo Sự chênh lệch giữa hai cách tính GDP được gọi là sai số thống kê).GDP là một thước đo phức tạp về giá trị của hoạt động kinh tế Trong các khóa họcnâng cao về kinh tế vĩ mô, bạn sẽ tìm hiểu thêm về những sự tinh tế phát sinh trongquá trình tính toán nó Nhưng ngay cả bây giờ bạn cũng có thể thấy rằng mỗi cụm

từ trong định nghĩa này đều chứa đựng một ý nghĩa

2.1.2 CÁC THÀNH PHẦN CỦA GDP

Để hiểu được nền kinh tế đang sử dụng các nguồn lựa khan hiếm như thếnào, các nhà kinh tế nghiên cứu những thành phần của GDP giữa các loại chi tiêukhác nhau Để làm được điều đó, GDP (mà chúng ta ký hiệu là Y) được chia thànhbốn thành phần: Tiêu dùng (C), đầu tư (I), mua sắm của chính phủ (G), và xuấtkhẩu ròng (NX): Y = C + I + G + NX

Trong đó: NX = X – IM (X là xuất khẩu, IM là nhập khẩu)

C: là tiêu dùng hộ gia đình

I: đầu tư doanh nghiệp

G: chi tiêu của chính phủ

X (EX): giá trị kim nghạch xuất khẩu.Phương trình này là một đồng nhất thức

Tiêu Dùng

Tiêu dùng là chi tiêu của các hộ gia đình cho các hàng hóa và dịch vụ, ngoại

trừ việc mua nhà ở mới Các hàng hóa bao gồm chỉ tiêu của hộ gia đình cho nhữnghàng hóa lâu bền, như là xe hơi và các trang thiết bị, và hàng hóa không lâu bền,như là thực phẩm và quần áo Các dịch vụ bao gồm các sản phẩm vô hình như cắttóc và chăm sóc y tế Chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục cũng được tính vào tiêudùng các dịch vụ (mặc dù người ta có thể cho rằng nó nằm trong thành phần tiếptheo thì phù hợp hơn

Đầu Tư

Đầu tư là việc mua những hàng hóa mà sẽ được sử dụng trong tương lai để

sản xuất thêm các hàng hóa và dịch vụ Đầu tư vào các công trình xây dựng gồm

Khi bạn nghe từ đầu tư, bạn có thể nghĩ đến các khoản đầu tư tài chính, chẳng hạn

Trang 23

như là cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ hỗ tương Trái lại, bở vì GDP đo lường chi

tiêu cho các hàng hóa và dịch vụ, ở đây từ đầu tư có nghĩa là việc mua hàng hóa

(chẳng hạn như là thiết bị sản xuất, nhà xưởng và hàng tồn kho) được sử dụng đểsản xuất những hàng hóa khác)

Mua sắm của chính phủ

Mua sắm của chính phủ bao gồm chi tiêu cho các hàng hóa và dịch vụ bởi

chính quyền địa phương, tiểu bang và liên bangKhi chính phủ trả lương cho một vị tướng quân đội hay cho một giáo viên, thì tiềnlương đó là một phần mua sắm của chính phủ Nhưng khi chính phủ chi trợ cấp ansinh xã hội cho một người cao tuổi hoặc là bảo hiểm thất nghiệp cho một người laođộng mới bị mất việc gần đây, thì câu chuyện lại rất khác: những khoảng chi nàyđược gọi là chi chuyển nhượng bởi vì chúng được chi không phải để đổi lấy mộthàng hóa hay dịch vụ được sản xuất hiện thời Chi chuyển nhượng làm thay đổi thunhập của hộ gia đình, nhưng nó không phản ánh sự sản xuất của nền kinh tế (chichuyển nhượng giống như là một loại thuế âm) Bởi vì GDP được dùng để đolường thu nhạp từ hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ và chi tiêu cho hoạtđộng sản xuất hàng hóa và dịch vụ, cho nên chi chuyển nhượng không được tính làmột phần mua sắm của chính phủ

Xuất khẩu ròng

Xuất khẩu ròng bằng chi tiêu của người nước ngoài cho hàng hóa được sản

xuất trong nước (xuất khẩu) trừ đi chi tiêu của cư dân trong nước cho hàng hóanước ngoài (nhập khẩu)

NX = X- IM ( trong đó IM = XK- NK )

Chữ ròng trong từ xuất khẩu ròng liên quan đến thực tế là nhậu khẩu được

trừ vào xuất khẩu

Ngoài ra GDP còn có 2 cách tính khác:

 Tính GDP bằng phương pháp tiếp cận thu nhậpGDP= khấu hao+ tiền lương+ tiền lãi+ thuế gián thu+ lợi nhuận+ chiphí về các đầu vào trung gian

 Tính GDP bằng phương pháp tiếp cận giá trị gia tăngGDP= doanh thu của doanh nghiệp- chi phí về hàng hóa trung gian

Trang 24

- Những Thước Đo Thu Nhập.

dân thường trú của một quốc gia (gọi là công dân)

GNP = GDP + thu nhập người tố ròng từ nước ngoài

Vd:khi 1 công dân Canada làm việc tạm thời ở Hoa Kì, sản phẩm mà người đó làm ra là một phần GDP của Hoa Kì, nhưng nó không phải một phần GNP của Hoa Kì (nó là một phần GNP của Canada).

(GNP) trừ đi phần mất đi do khẩu hao (như xe tải bị gỉ sét và máy tính bị lỗi thời)

NNP = GNP – khẩu hao

gia trong quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ

NI = NHP – thuế gián thu ròng

( TGTR : chênh lệch trong thu nhập và chính phủ nhận được từ thuế gián thu

và các khoản chính phủ chi cho trợ giá sản xuất )

doanh nhỏ lẻ nhận được

Yd= c + s ( td + tiết kiệm )

xuất kinh doanh nhỏ lẻ còn lại sau đó khi đã thực hiện các nghĩa vụ đối với chínhphủ Nó bằng với thu nhập cá nhân trừ đi thuế thu nhập cá nhân và những khoảnchi trả ngoài thuế nhất định (như phí phạt giao thông)

2.1.4 GDP THỰC SO VỚI GDP DANH NGHĨA

Nếu tổng chi tiêu tăng lên từ năm này sang năm tiếp theo, thì ít nhất mộttrong hai điều sau đây phải đúng: (1) nền kinh tế đang sản xuất một sản lượng hànghóa và dịch vụ lớn hơn, hoặc (2) hàng hóa và dịch vụ đang được bán với giá caohơn Cụ thể là họ muốn một thước đo cho tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ mànền kinh tế đang sản xuất ra nhưng không bị ảnh hưởng bởi những sự thay đổi vềgiá cả của hàng hóa và dịch vụ đó

Trang 25

GDP thực trả lời một câu hỏi giả thuyết: giá trị của các hàng hóa và dịch vụđược sản xuất trong năm nay sẽ là bao nhiêu nếu chúng ta tính toán giá trị củanhững hàng hóa và dịch vụ này theo mức giá hiện hữu ở một năm cụ thể nào đótrong quá khứ? Với việc đánh giá sản lượng hiện hành bằng cách sử dụng mức giá

cố định trong quá khứ, GDP thực cho biết sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nềnkinh tế thay đổi như thế nào theo thời gian

Một ví dụ bằng số

Để có được một thước đo cho sản lượng được sản xuất mà không bị ảnh

hưởng bởi những thay đổi về giá cả, chúng ta sử dụng GDP thực, đó là sản lượng

hàng hóa và dịch vụ được định giá theo mức giá cố định

Như vậy, GDP danh nghĩa sử dụng giá hiện hành để tính giá trị sản lượnghàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế GDP thực sử dụng giá cố định của năm cơ sở

để tính giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế Bởi vì GDP thựckhông bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của giá cả, cho nên sự hay đổi của GDPthực chỉ phản ánh sự thay đổi của số lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất Vìvậy GDP thực là thước đo sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế

Vì thế, GDP thực là thước đo phúc lợi kinh tế tốt hơn so với GDP danhnghĩa và khi các nhà kinh tế nói về sự tăng trưởng của nền kinh tế, họ đo lường ựtăng trưởng đó bằng sự thay đổi phần trăm của GDP thực từ thời kỳ này sang thời

kỳ khác

Chỉ số giảm phát GDP

Chỉ số giảm phát GDP được tính như sau:

Chỉ số giảm phát GDP = GDP danh nghĩa x100 / GDP thực

Bởi vì GDP danh nghĩa và GDP thực phải giống nhau ở năm cơ sở, cho nênchỉ số giảm phát GDP của năm cơ sở luôn bằng 100 Chỉ số giảm phát GDP củanhững năm tiếp theo đo lường sự thay đổi của GDP danh nghĩa so với năm cơ sở

mà không thể quy về sự thay đổi của GDP thực.Đầu tiên, hãy hình dung rằng số lượng được sản xuất trong nền kinh tế tăng lêntheo thời gian nhưng giá cả vẫn như cũ Trong trường hợp nay, cả GDP danh nghĩa

và GDP thực đều tăng lên cùng nhau, vì thế chỉ số giảm phát GDP không thay đổi,

do đó chỉ số giảm phát GDP phản ánh những gì đang xảy ra với giá cả, chứ khôngphải với sản lượng

Trang 26

Tỉ lệ lạm phát là phầm trăm thay đổi trong thước đo mức giá từ giai đoạn

này sang giai đoạn kế tiếp Sử dụng chỉ số giảm phát GDP, tỉ lệ phạm phát giữa hainăm liên tiếp được tính như sau:

Tỉ lệ lạm phát trong năm 2 = (Chỉ số giảm phát năm 2 – chỉ số giảm phát năm 1)x100

Chỉ số giảm phát năm 1 Hay:

Chỉ số giảm phát GDP là một thước đo mà các nhà kinh tế sử dụng để theodõi mới giá trung bình của nền kinh tế và vì thế cũng theo dõi tỉ lệ lạm phát

GDP CÓ PHẢI LÀ MỘT THƯỚC ĐO TỐT VỀ PHÚC LỢI KINH TẾ?

GDP đo lường cả tổng thu nhập và tổng chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ củanền kinh tế Do đó, GDP bình quân đầu người cho chúng ta biết thu nhập và chitiêu trung bình của một người trong nền kinh tế Bởi vì hầu hết mọi người sẽ thíchnhận được thu nhập cao hơn và thụ hưởng mức chi tiêu nhiều hơn, cho nên GDPbình quân đầu người dường như là thước đo tự nhiên về phúc lợi kinh tế trung bình

Khi Thương sĩ Robert Kennedy vẫn động tranh cử tổng thống vào năm 1968, ông

đã đưa ra một lời bình phẩm xúc động về những thước đo kinh tế như vậy:

“[Tổng sản phẩm quốc nội] không tính đến sức khỏe của con cái chúng ta, chất lượng giáo dục mà chúng nhận được, hay niềm vui của chúng khi vui chơi.

Nó không bao gồm vẻ đẹp của thơ ca hay sự bền vững của các cuộc hôn nhân, sự thông minh trong những cuộc tranh luận công khai hay sự thanh liên chính của các quan chứng Nó không đo lường lòng can đảm và sự hiểu biết của chúng ta,

mà cũng không đo lường sự cóng hiến của chúng ta cho đất nước Nói một cách ngắn gọn, nó có thể cho chúng ta biết tất cả mọi thứ về nước MĨ ngoại trừ lý do tại sao chúng ta lại tự hài rằng mình là người MĨ.”

Tại sao chúng ta lại quan tâm đến GDP? Trong thực tế, GDP lớn giúp chúng

ta hướng đến một cuộc sống tốt đẹp Hay nói cách khác, GDP không trực tiếp đolường những điều làm cho cuộc sống có giá trị, nhưng nó đo lường khả năng củachúng ra để có được nhiều đầu vào phục vụ cho một cuộc sống tốt đẹp

Nhưng GDP không phải là một thước đo hoàn hảo về phúc lợi Một số thứgóp phần tạo nên một cuộc sống tươi đẹp lại bị loại bỏ khỏi GDP Một là thời gian

Trang 27

nghỉ ngơi Hai là chất lượng môi trường… Ngoài ra, GDP cũng không nói gì về sựphân phối thu nhập.

KẾT LUẬN

Chương này đã thảo luận về cách thức mà các nhà kinh tế đo lường tổng thu nhậpcủa một quốc gia Dĩ nhiên, việc đo lường chỉ mới là điểm khởi đầu Phần lớn nộidung của kinh tế vĩ mô là nhằm mục đích tìm hiểu những nhân tố quyết định tổngsản phẩm quốc nội của một quốc gia trong ngắn hạn và dài hạn Ví dụ, tại sao GDPcủa hoa Kỳ và Nhật Bản lại cao hơn GDP của Ấn Độ và Nigeria? Các chính phủcủa các quốc gia nghèo nhất có thể làm gì để thúc đẩy tăng trưởng GDP nhanhhơn Tại sao GDP của Hoa Kỳ tăng lên nhanh chóng trong một số năm và giảmxuống trong những năm khác? Những nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ cóthể làm gì để giảm bớt mức độ nghiêm trọng trong những biến động này của GDP?Đây là những câu hỏi mà chúng ta sẽ sớm trả lời

Tại thời điểm này, điều quan trọng là phải nhận thức được tầm quan trọng của việc

đo lường GDP Tất cả chúng ta đều cảm nhận được phần nào sự vận hành của nềnkinh tế khi chúng ta lo toan cuộc sống Tuy nhiên, các nhà kinh tế là những ngườinghiên cứu về những thay đổi trong nền kinh tế và các nhà hoạch định chính sách

là những người xây dựng các chính sách kinh tế, cho nên họ cần nhiều căn cứ hơn

là những cảm nhận mơ hồ này- họ cần những số liệu cụ thể để làm căn cứ cho cácđánh giá Do đó, việc định lượng hành vi của nền kinh tế bằng những số liệu thống

kê như GDP là bước đầu tiên để phát triển khoa học kinh tế vĩ mô

∙ GDP được chia thành bốn thành phần của chi tiêu: tiêu dùng, đầu tư, mua sắmchính phủ và xuất khẩu ròng Tiêu dùng bao gồm chi tiêu của các hộ gia đình chohàng hóa và dịch vụ, ngoại trừ việc mua nhà ở mới Đầu tư bao gồm chi tiêu cho

Trang 28

thiết bị và các công trình nhà xưởng mới, kể cả khoản mua nhà ở mới của các hộgia đình Mua sắm chính phủ bao gồm chi tiêu của chính quyền liên bang, tiểubang và địa phương cho hàng hóa và dịch vụ Xuất khẩu ròng bằng giá trị hàng hóa

và dịch vụ được sản xuất trong nước và bán ra nước ngoài ( xuất khẩu ) trừ đi giátrị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ở nước ngoài và bán ở trong nước ( nhậpkhẩu )

∙ GDP danh nghĩa sử dụng giá hiện hành để tính giá trị sản xuất hàng hóa và dịch

vụ của nền kinh tế GDP thực sử dụng giá cố định của năm cơ sở để tính giá trị sảnxuất hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế Chỉ số giảm phát GDP – được tính bằng

tỉ lệ GDP danh nghĩa trên GDP thực – đo lường mức giá trong nền kinh tế

∙ GDP là một thước đo tốt về phúc lợi kinh tế vì mọi người thích thu nhập cao hơn

là thu nhập thấp Nhưng nó không phải là một thước đo hoàn hảo về phúc lợi Ví

dụ, GDP không bao gồm giá trị của sự nghỉ ngơi và giá trị của môi trường tronglành

2.2 ĐO LƯỜNG CHI PHÍ SINH HOẠT

Trang 29

2000, một hộ gia đình điển hình mua 100 sách và 100 bút chì Ở đây, lượng sách vàlượng bút chì là ngang nhau cho thấy hộ gia đình không quan trọng về giá của haimặt hàng sách và bút chì ì thế trọng số của hai mặt hàng này là ngang nhau Nhưng nếu lượng mua của sách và bút chì có sự thay đổi Số lượng mua của bútchì nhiều hơn lượng mua của sách, thì khi đó giá bút chì quan trọng hơn giá sách

và ì thế giá bút chì có trọng số lớn hơn trong việc đo lường chi phí sinh hoạt

Xác định giá cả

Xác định giá cả của từng hàng hóa và dịch vụ trong giỏ hàng tại từng thời điểm.bảng 1 cho thấy giá của sách và bút chì qua các năm là khác nhau, có sự biến động

về giá Ví dụ, năm 2000 giá sách là 2USB/quyển va bút chì là 1USD/cây Đến năm

2001, thì giá sách và bút chì khác so với năm 2000 cụ thể là sách là 2.5 USD/quyển

Tính toán chi phí của giỏ hàng.

Sử dụng số liệu về giá cả để tính toán chi phí của giỏ hàng hóa, dịch vụ tại các thờiđiểm khác nhau

Chi phí mua giỏ hàng = Lượng kỳ gốc *giá kỳ tính

Trong năm 2000, giá trị 1 quyển sách là 2 USD và giá của bút chì là 1 USD.Như vậy, chi phí mua giỏ hàng gồm 100 sách và 100 cây bút là 300 USD Trongnăm 2001, giá chỉ sách tăng nhưng giá bút chì lại giảm và tổng chi phí mua giỏhàng đã tăng lên là 340 USD Xét năm 2001 và năm 2002, giá của hai mặt hàngđều tăng làm cho giá của giỏ hàng hóa tăng lên

chọn năm gốc và tính toán chỉ số.

chọn năm gốc là chỉ định một năm làm năm gốc hay năm cơ sở, mốc đế dựa vào đó

để so sánh với năm khác Công thức tính chỉ số này như sau:

Trong bảng 1, năm 2000 là năm gốc, giá của giỏ hàng hóa sách và bút chì là

300 USD Năm 2000 cũng là năm gốc nên chỉ số giá tiêu dùng là 100 trong năm

2000 ( Chỉ số luôn là 100 ở năm gốc ) Trong năm 2001, giá của giỏ hàn g hóa là

Trang 30

340 USD Do đó, chỉ số giá tiêu dùng sẽ bằng 340 USD chia cho 300 USD và nhâncho 100 Và tính được là 113,33 có nghĩa là giá của giỏ hàng hóa vào năm 2001bằng 113,33% giá của giỏ hàng hóa đó trong năm gốc (2000) Hay nói cách khác,một giỏ hàng hóa có giá 100 USD vào năm gốc thì sẽ có giá 113,33% vào năm

Bảng 1: Tính toán chỉ số giá tiêu dùng và tỉ lệ lạm phát

BẢNG 1 Tính toán chỉ số giá tiêu dùng và tỉ lệ lạm phát

Năm

Giá sách(USD/quyển)

Giá bút chì(USD/cây)

Chi phímua giỏhàng

tế đang gia tăng Tỷ lệ lạm phát là phần trăm thay đổi của mức giá so với kỳ trướcđó

CPI của năm 1

Về phương pháp tính ra tỉ lệ lạm phát, hai phương pháp thường sử dụng là:

 Căn cứ thời gian: đo sự thay đổi giá cả của hàng hóa theo thời gian

 Căn cứ thời gian và cơ cấu giỏ hàng hóa Phương pháp này ít phổ biếnhơn vì còn phải tính toán sự thay đổi cơ cấu, nội dung của giỏ hàng hóa

Trang 31

Thông thường, số liệu tỉ lệ lạm phát được công bố trên báo chí hàng nămđược tính theo cánh cộng phần trăm tăng CPI của tưng tháng trong năm.

Trong ví dụ ở bảng 1, tỉ lệ lạm phát qua 12 tháng của năm 2001 được tínhbằng 13,33% và tỉ lệ lạm phát qua 12 tháng của năm 2002 là 10,29%

Chú ý: lạm phát chỉ thể hiện lượng, còn chất thì ta phải xem cơ cấu tăng củamỗi nhóm hàng và do tính cả nước nên tính cả thành thị và nông thôn, cả miềnngược và miền xuôi

BẢNG 2 Chỉ số giá tiêu dùng cả nước tháng 1 năm 2014 so với các năm

Chỉ số giá tháng 1 năm 2014 so với kỳ gốc 2009” có nghĩa là người ta tínhtheo công thức sau:

Đơn vị của CPI là %

Trang 32

Tạm hiểu là % tăng thêm khi tháng 1/2014 bỏ tiền ra mua một giỏ hàng củanăm 2009 Xét bảng trên và công thức thì CPI của năm 2009 sẽ bằng 100%; vàhiện CPI của tháng 1/2014 là 156,78%.

Tương tự nếu đặt ở mẫu số là lượng và giá của tháng 12/2013 thì ta có CPIbằng 100,69% Tạm hiểu là chúng ta phải chi thêm 0,69% khi mua giỏ hàng tháng1/2014 thay vì mua cũng giỏ hàng đó tháng 12/2013

Các vấn đề trong đo lường chi phí sinh hoạt

Do sử dụng giỏ hàng hóa cố định nên khi tính toán CPI có 3 vấn đề chínhdẫn đến hạn chế của CPI sau đây

Thiên vị thay thế

CPI không thể phản ánh được độ lệch thay thế vì nó sử dụng giỏ hàng hóa cố định.Khi giá cả một mặt hàng này tăng nhanh hơn so với các mặt hàng khác thì ngườitiêu dùng sẽ có xu hướng ít tiêu dùng những mặt hàng hóa đã trở nên quá đắt đỏ

mà tiêu dùng nhiều những mặt hàng hóa ít đắt đỏ hơn (rẻ hơn) Yếu tố này làm CPI

Chúng ta xét đến một ví dụ cụ thể đơn giản Đối với hai mặt hàng táo và lê, khi táo

rẻ hơn lê nên người tiêu dùng mua táo nhiều hơn mua lê Nhưng ngược lại nếu lê rẻhơn táo thì đương nhiên người tiêu dùng sẽ phản ứng lại với giá cả bằng cách muanhiều lê hơn mua táo Khi đó, người mua có thể lựa chọn giỏ hàng hóa ưa thíchhơn nên thực chất người mua đều được có lợi

Sự giới thiệu hàng hóa mới

CPI không phản ánh được sự xuất hiện của những hàng hóa cố định trong khi nếu

có hàng hóa mới xuất hiện thì một đơn vị tiền tệ cũng cố thể mua được các sảnphẩm đa dạng hơn CPI không phải ánh được sự gia tăng sức mua này của đồngtiền nên vì thế lại đánh giá mức giá cai hơn thực tế

Chúng ta xét một ví dụ: Cho thị trường chung, khi hàng hóa mới được xuất hiện,người tiêu dùng có sự lựa chọn đa dạng hơn Điều này làm cho đồng đội trở nên cógiá trị hơn, do vậy người tiêu dùng cần ít tiền hơn để duy trì mức sống cũ Song dochỉ số giá tiêu dùng lựa vào giỏ hàng hóa và dịch vụ cố định nên nó không phảnánh sự thay đổi này trong sức mua của đồng tiền

Sự thay đổi về mặt chất lượng mà không đo lường được

Trang 33

Nếu chất lượng của một hàng hóa nào đó giảm từ năm này sang năm tiếp theo thìgiá trị của tiền sẽ giảm, thậm chí ngay khi giá cả của hàng hóa không đổi Tương tựnhư vậy nếu chất lượng hàng hóa tăng từ năm này sang năm khác thì giá trị củatiền sẽ tăng Ví dụ hàng may mặc, chất lượng vải của áo hoặc quần tốt, mềm, mịn,

độ co giãn cao thì giá của hàng hóa được điều chỉnh để tính đến sự thay đổi vềchất lượng, Thực chất giá của một giỏ hàng hóa có chất lượng không đổi nên vì thếrất khó để đo lường chất lượng mặt hàng

Chỉ số giảm phát GDP so với chỉ số giá tiêu dùng CPI

Trong nghiên cứu của kinh tế học, để tính lạm phát người ta thường đề cập đến CPI

mà đôi khi quên đi chỉ số giá điều chỉnh GDP Vậy có phải chỉ số giá điều chỉnhGPD là không phù hợp để đánh giá ?

Trên thực thế cả hai chỉ số đều có những ưu và nhược điểm trong quá trình thựchiện tính toán lạm phát vì tùy vào mục đích khác nhau mà người ta sử dụng chỉtiêu CPI và GDP thích hợp Dưới đây là bảng so sánh cho thấy sự khác biệt của haichỉ số tính lạm phát trong nên kinh tế

- Đo lường giá hàng hóa và dịch vụ được mua

bởi người tiêu dùng (không bao gồm giá hàng hóa

và dịch vụ được mua bởi chính thức các hãng)

- Tính cho tất cả hàng hóa và dịch vụ được mua, kể

cả hàng hóa nhậu khẩu

- Đo lường tất cả giáhàng hóa và dịch vụ đượcsản xuất ra

-Chỉ tính cho hàng hóa

và dịch vụ được sản xuấttrong nước

Cố định sự ảnh hưởng Nghĩa là nó

được tính toán bởi giỏ hàng cố định

Có sự thay đổi Nghĩa là nó chophép có sự thay đổi của giỏ hàng hóakhi mà các thành phần GDP thay đổi

Ví Dụ: Một hãng xe Honda nhập khẩu vào Việt Nam và được bán tại đây thì sẽ ảnhhưởng đến CPI nhưng không ảnh hưởng đến GDP

Ví Dụ: Do hạn hán xảy ra nên số lượng cam bị thất thu vì vậy nên giá cam đượcđẩy lên mức cao nhất Vì cam không phải là một bộ phận GDP, sự tăng lên của giácam không chỉ ra sự thay đổi của GDP Nhưng ngược lại, CPI được tính toán bởicác giỏ hàng hóa trong đó có cam Do đó, sự tăng giá cam là một phần nguyênnhân đẩy CPI tăng cao

Trang 34

CPI GDP

Đo lường chi phí cho đời sống, đôi

khi cường điệu sự gia tăng trong chi phí

Giảm với xu hướng gia t ăng chi phíđời sống

Ví Dụ: Vì giá cam tăng nên CPI tăng, nhưng người tiêu dùng có thể chuyển sangdùng hàng hóa hay thế khác như chanh, quýt, khi đó thì chi phí đời sống cũngkhông thay đổi nhiều

HÌNH 1Hai thước đo lạm phát

Hình 1 cho thấy tỷ lệ lạm phát được đo lường bằng các chỉ số giảm phát GDP vàchỉ số giá tiêu dùng cho từng năm từ năm 2003-2012 Hai thước đo này hoàn toànkhác nhau

 Từ năm 2002-2004 tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) luôn thấp hơn tốc

độ tăng của chỉ số GDP Do phải chịu sức ép của các yếu tố đầu vào cho sảnxuất tăng và tác động của lạm phát, dẫn đến giá trị tăng thêm GDP ngàycàng nhỏ đi và nhiều doanh nghiệp phải chịu lỗ

 Giữa năm 2007-2008, lạm phát tính theo CPI tăng vọt còn lạm phát tính theochỉ số giảm phát GDP giảm Cho thấy hàm lượng giá trị gia tăng trong hànghóa xuất khẩu ở Việt Nam lại rất thấp, chủ yếu là gia công Những mặt hàngxuất khẩu chủ yếu như: dầu thô, điện tử, máy tính, linh kiện, giày dép, thủysản

Trang 35

* Tính toán chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam.Việc tính toán CPI ở Việt Nam do Tổng cục thống kê đảm nhiệm Quyền số để tínhCPI được xác định năm 2000 và bắt đầu áp dụng từ tháng 7 năm 2001 Quyền sốnày dựa trên kết quả của hai cuộc điều tra là điều tra mức sống dân cư Việt Namnăm 1997-1998 và điều tra kinh tế hộ gia đình năm 1999 Điều đánh chú ý làquyền số của nhóm hàng lương thực – thực phẩm chiếm tới 47,9% trong khi vănhóa - thể thao - giải trí chỉ chiếm 3,8%.

2.2.2 ĐIỀU CHỈNH CÁC BIẾN SỐ KINH TẾ DO ẢNH HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT

Chuyển đổi số đô la từ những thời điểm khác nhau

Công thức chuyển đổi số đôla năm T thành số đô la của ngày hom nay là:

Một chỉ số giá như chỉ số giá tiêu dùng đo lừng mức giá vì thế xác định mực

độ điều chỉnh lạm phát

Chúng ta hãy áp dụng công thức cho mức lương của BaBe Ruth Mức lươngcủa anh ta năm 1931 là 80000 USD Số liệu thống kê của chính phủ cho thấy chỉ sốgiá tiêu dùng là 15,2 vào năm 1931 và 214,5 vào năm 2009 Do đó mức giá chung

đã tăng lên 14,1 lần Chúng ta có thể sử dụng những con số này để tính mức lươngcủa Ruth theo số đô la của năm 2009 như sau:

Chúng ta có thể thấy mức lương năm 1931 của Ruth tương đương hơn 1 triệu USDnăm 2009

Chỉ số hóa

Các chỉ sô giá được sử dụng để điều chỉnh ảnh hưởng của lạm phát khi sosánh các con số đôla từ những thời điểm khác nhau, xuất hiện ở nhiều nơi trongnền kinh tế Khi một số tiền được tự động điều chỉnh theo luật pháp hay theo hợpđồng trước những thay đổi trong mức giá, thì số tiền đó đã được chỉ số hóa theolạm phát

Một COOLA (trợ cấp chi phí sinh hoạt) tự động tăng lương khi chỉ số giátiêu dùng tăng lên

Trang 36

Chỉ số hóa cũng là một đặc điểm của nhiều luật tuy nhiên nhiều trường hợp

mà hệ thống thuế không được chỉ số hóa theo lạm phát, ngay cả khi nó là việc nênlàm

Lãi xuất danh nghĩa và lã xuất thực

Việc điều chỉnh các biến số kinh tế trước tác động của lạm phát vô cũng quantrọng

Một ví dụ: giả sử rằng Sally là một người thích xem phim và chỉ mua các đĩaDVD Lúc Sally gửi tiền, mỗi đĩa DVD tại cửa hàng địa phương giá 10 USD.Khoản tiền gửi là 1000 USD của cô ấy tương đương với 100 đĩa DVD Một nămsau cô ấy ngận 10% lãi, cô ấy có 1100 USD Bây giờ cô ấy có thể mua bao nhiêuđĩa DVD? Điều này phụ thuộc vào việc giá của một đĩa DVD đã thay đổi như thếnào, sau đây là một số ví dụ: ‘

 Lạm phát bằng zero: Nếu giá một đĩa DVD vẫn là 10 USD, thì số đĩa mà cô

ấy có thể mua tăng từ 100 lên 110 Con số 10% tăng lên của số đô la đồngnghĩa với 10% tăng lên của sức mua

 Lạm phát là 6%: Nếu giá của một đĩa DVD tăng từ 10 USD lên 10,6 USD,thì số đĩa DVD mà cô ấy có thể mua tăng lên từ 100 lên gần 104 Sức muacủa cô ấy đã tăng lên khoảng 4%

 Lạm phát là 10%: Nếu giá 1 đĩa DVD tăng từ 10 lên 11 USD, thì cô ấy vẫnchỉ có thể mua được 100 đĩa DVD Mặc dù số tiền của Sally tăng lên, nhưngsức mua của cô ấy vẫn giống như năm trước

 Lạm phát là 12%: Nếu giá một đĩa DVD tăng từ 10 USD lên 11,2 USD, thì

số đĩa mà cô ấy có thể mua giảm từ 100 xuống gần 98 Dù số tiền lớn hơn,sức mua của cô ấy đã giảm khoảng 2%,

Và nếu Sally đang số trong nền kinh tế có tình trạng giảm phát- giá cả giảmxuống – một khả năng khác có thể sảy ra:

 Giảm phát 2%: Nếu giá một đĩa DVD từ 10 USD giảm xuống còn 9,8USD, thì số đĩa DVD cô ấy có thể mua được tăng từ 100 đến gần 112.Sức mua của cô ấy tăng khoảng 12%

Ví dụ cho thấy tỉ lệ lạm phát càng cao thì sức mua của Sally tăng càng ít Nếu

tỉ lệ lạm phát cao hơn lãi suất, thì sức mua của cô ấy thực tế đã giảm xuống và

Trang 37

nếu giảm phát sảy ra ( tức tỉ lệ lạm phát âm), thì sức mua của cô ấy sẽ tăngnhiều hơn lãi suất.

Lãi suất danh nghĩa, lãi suất thực và lạm phát liên quan với nhau như sau:

Lãi xuất thực là sự chênh lệch giữa lãi xuất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát Lãisuất danh nhãi cho biết số tiền trong tài khoản của bạn tăng nhanh như thế nào quathời gian, trong khi lãi xuất thực cho biết sức mua từ tài khoản ngân hàng của bạntăng nhanh như thế nào qua thời gian

Chú ý: do lạm phát, lãi xuất thực và lãi xuất danh nghĩa không đi cùng nhau

KẾT LUẬN

Chương này đã thảo luận về cách thức mà nhà kinh tế đo lường mứcgiá chung của nền kinh tế và cách thức mà họ sử dụng các chỉ số giá để điềuchỉnh các biến số kinh tế trước tác động của lạm phát Các chỉ số giá chophép chúng ta so sánh số tiền từ những thời điểm khác nhau và, do đó, hiểu

rõ hơn ề sự thay đổi của nền kinh tế

TÓM TẮT

 Chỉ số giá tiêu dùng cho thấy chi phí của một giỏ hàng hóa và dịch vụ so vớichi phí của giỏ hàng hóa trong năm gốc Chỉ số này được sử dụng để đolường mức giá chung của nền kinh tế Phần trăm thay đổi của chỉ số giá tiêudùng đo lường lạm phát

 Chỉ số giá tiêu dùng là một thước đo không hoàn hảo về chi phí sinh hoạt vì

3 lý do Lý do thứ nhất, nó không tính đến khả năng là người tiêu dùnghướng đến thay thế bằng nhưng hàng hóa mà ngày càng trở nên rẻ hơn Thứhai, nó không tính đến sự gia tăng sức mua của đồng tiền do sự giới thiệunhững hàng hóa mới thứ ba, nó bị sai lệch bởi những thay đổi không đolường được về chất lượng của hàng hóa và dịch vụ Vì những vấn đề này màCPI phóng đại con số lạm phát thực tế

 Giống như chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giảm phát GDP đo lường mức giáchung của nền kinh tế Hai chỉ số giá thường di chuyển cùng nhau, nhưng cónhững khác biệt quan trọng GDP khác với CPI bởi vì nó bao gồm các hànghóa và dịch vụ được sản xuất thay vì các hàng hóa hay dịch vụ được tiêu thụ

Trang 38

Do đó, hàng hóa nhập khẩu tác động đến chỉ số giá tiêu dùng nhưng khôngtác động đến chỉ số giảm phát GDP Ngoài ra, trong khi chỉ số giá tiêu dùng

sử dụng giỏ hàng cố định, thì chỉ số giảm phát GDP tự động thay đổi nhómcác hàng hóa và dịch vụ theo thời gian khi thành phần của GDP thay đổi

 Số tiền từ những thời điểm khác nhau k hông thể hiện sự so sánh vững chắc

về sức mua Để so sánh một đôla trong quá khứ với một đôla trong hôm nay,thì một đôla trong quá khứ nên được điều chỉnh bằng cách sử dụng chỉ sốgiá

 Nhiều luật và hợp đồng cá nhân sử dụng chỉ số giá để điều chỉnh tác độngcủa lạm phát Tuy nhiên luật thuế chỉ được chỉ số hóa một phần thuế lạmphát

 Sự điều chỉnh lạm phát là đặc biệt quan trọng khi xem xét số liệu lãi suất.Lãi xuất danh nghĩa là lãi xuất thường được công bố; nó là lãi xuất mà tại đó

số tiền trong tài khoản tiết kiệm tăng lên theo thời gian Ngược lại, lãi xuấtthực tính đến sự thay đổi giá trị đồng tiền theo thời gian Lãi xuất thực bằnglãi xuất danh nghĩa trừ đi tỉ lệ lạm phát

CHƯƠNG 3: SẢN XUẤT VÀ TĂNG TRƯỞNG

Khi bạn có điều kiện đi du lịch vòng quanh thế giới, bạn sẽ thấy có sự khác biệtđáng kể về mức sống Các nước giàu có như Hoa Kỳ, Nhật Bản hoặc Đức sẽ cóđược dinh dưỡng tốt hơn, nhà cửa an toàn hơn, được chăm sóc sức khỏe tốt hơn và

có tuổi thọ bình quân luôn cao hơn so với những nước nghèo như ở Indonesia hay

Ấn Độ Vậy tại sao lại có sự khác biệt lớn về mức sống giữa các quốc gia như vậy?

Sự thay đổi về mức sống cũng tồn tại trong cùng một quốc gia Chúng ta hãyxem xét trong một quốc gia như Hoa Kỳ, thu nhập bình quân đã tăng khoảng 2phần trăm mỗi năm Mặc dù 2 phần trăm là rất nhỏ nhưng tỷ lệ tăng trưởng đó sẽtăng gấp đôi sau mỗi 35 năm Kết quả là, người Hoa Kỳ điển hình được hưởng sựthịnh vượng hơn ông bà cha mẹ và tổ tiên của họ

Vậy điều gì giải thích cho những trải nghiệm khác nhau này? Các quốc gia giàu

có duy trì mức sống cao của họ như thế nào? Các chính sách nào mà các quốc gianghèo nên theo đuổi để thúc đẩy hơn nữa tăng trưởng kinh tế và gia nhập vào thếgiới phát triển? Đây là một trong những câu hỏi quan trọng nhất của kinh tế học vĩmô

Trang 39

Cuộc thảo luận của chúng ta về tăng trưởng kinh tế được tiến hành theo trật tựsau Đầu tiên, chúng ta giới thiệu khái niệm về tăng trưởng kinh tế và giải thích tạisao tăng trưởng nhanh và bền vững là mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia.Sau đó chúng ta nghiên cứu các nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế của mộtquốc gia Phần cuối cùng sẽ bàn đến các chính sách mà chính phủ có thể sử dụng

để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

I Tăng trưởng kinh tế.

Khi một nước có tăng trưởng kinh tế, thì dân cư trong nước nhìn chung sẽ có cuộc

sống sung túc hơn Tuy vậy ở một số quốc gia, mức độ bất bình đẳng kinh tế

tương đối cao nên mặc dù thu nhập bình quân đầu người cao nhưng nhiều ngườidân vẫn sống trong tình trạng nghèo khổ Vậy chúng ta hiểu như thế nào về tăngtrưởng kinh tế?

1 Khái niệm và đo lường tăng trưởng kinh tế.

a Khái niệm tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là sự gia tăng mức sản xuất mà nền kinh tếtạo ra theo thời gian

Nhìn chung tăng trưởng kinh tế được tính bằng phần trăm thay đổi của mức sảnlượng quốc dân Như chúng ta đã biết từ chương 2, GDP là thước đo được chấpnhận rộng rãi về mức sản lượng của một nền kinh tế Tất nhiên ở đây chúng ta nóiđến GDP thực tế chứ không phải GDP danh nghĩa, tức là chúng ta không tính đến

sự biến động của giá cả theo thời gian

Thước đo trên có thể gây nhầm lẫn nếu như dân số các nước tăng rất nhanhtrong khi GDP thực tế lại tăng trưởng chậm Một định nghĩa khác có thể thích hợphơn về tăng trưởng kinh tế tính theo mức sản lượng bình quân đầu ngừơi được tínhbằng tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ được tạo ra trong năm chia cho dân số

Do đó chúng ta đưa ra chỉ tiêu đầy đủ nhất về tăng trưởng kinh tế, đó là phần trămthay đổi của GDP thực tế bình quân đầu người của thời kỳ nghiên cứu so với thời

kỳ trước – thông thường tính cho một năm

Trang 40

b Đo lường tăng trưởng kinh tế.

Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối,tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trongmột giai đoạn

Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳcần so sánh

Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy

mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế

kỳ trước Tốc độ trăng trưởng kinh tế được đo lường bằng đơn vị %

y = .100%

Trong đó: y là tốc độ tăng trưởng kinh tế

Y là quy mô của nền kinh tế

+ Tốc độ tăng trưởng tương đối( tăng trưởng năng suất):

Vì tốc độ tăng trưởng kinh tế đo lường sự gia tăng của mức sản xuất làmột biến thực tế nên đo lường chúng ta sử dụng GDP thực tế

+Tốc độ tăng trưởng kinh tế được coi là phản ánh gần đúng nhất mức độcải thiện mức sống của người dân đó là sử dụng GDP thực tế bình quân

đầu người để tính toán

-Tăng trưởng kép và quy tắc 70:

+ Tăng trưởng bình quân hàng năm trông có vẻ nhỏ, nhưng sẽ rất lớn nếutích lũy nhiều năm

+ Tăng trưởng kép là sự tích lũy tăng trưởng qua nhiều năm

+ Quy tắc 70 giải thích: nếu ban đầu bạn có 1 lượng A, với tốc độ tăng của

lượng này là g%/ năm Vậy sau 70/g năm thì giá trị của nó sẽ tăng gấp đôi 2A

2 Vai trò của tăng trưởng.

Tỷ lệ tăng trưởng nhanh làm cho việc giảm nghèo đói trở nên dễ dàng hơn

về mặt chính trị

Ngày đăng: 07/09/2020, 14:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w