1. Trang chủ
  2. » Tất cả

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KỲ I

14 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 167,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng chí 1948- Chính Hữu - Nội dung: Tình đồng chí của những người lính dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ và lí tưởng chiến đấu được thể hiện thật tự nhiên, bình dị mà sâu sắc trong mọ

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KỲ I - NGỮ VĂN 9

PHẦN I - VĂN BẢN

I Thơ hiện đại việt nam

1 Đồng chí (1948)- Chính Hữu

- Nội dung: Tình đồng chí của những người lính dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ và lí tưởng chiến

đấu được thể hiện thật tự nhiên, bình dị mà sâu sắc trong mọi hoàn cảnh, nó góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh và vẻ đẹp tinh thần của người lính cách mạng

- Nghệ thuật: Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu thể hiện hình tượng người lính cách mạng và sự gắn bó

keo sơn của họ qua những chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, chân thực, cô đọng, giàu sức biểu cảm, Bút pháp tả thực kết hợp với lãng mạn

MB1: Chính Hữu là nhà thơ quân đội trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp Phần lớn thơ ông

hướng về đề tài người lính với lời thơ đặc sắc, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ hàm súc, cô đọng giàu hình ảnh Bài thơ “Đồng chí” là một trong những bài thơ viết về người lính hay của ông Bài thơ đã diễn tả thật sâu sắc tình đồng chí gắn bó thiêng liêng của anh bộ đội thời kháng chiến

Chinh Hữu đã ghi lại tình cảm cao quý ấy trong bài thơ mộc mạc mà có sức rung cảm lạ thường Bài thơ mở đầu bằng những lời tâm sự chân tình:

Quê hương anh nước mận, đồng chua

Đồng chí!

Đó là lời trao gửi tâm tình của hai người lính xa quê vào những phút giây nghỉ ngơi ngắn ngủi sau chặng hành quân dài vất vả, sau một trận đánh ác liệt hay trong đêm rừng cùng nhau phục kích quân thù Điều làm cho mọi người dễ xích lại gần nhau là những câu chuyện quê hương, Quê hương anh và làng tôi, cách gọi chứa đựng tình cảm gắn bó thiết tha Không thấy nhắc đến tên một địa phương cụ thể nào, chỉ biết rằng quê hương anh là vùng nước mặn đồng chua Câu thơ gợi nhiều hơn

tả Thành ngữ nước mặn đồng chua đi vào câu thơ rất tự nhiên, khiến người đọc liên tưởng đến một vùng đồng chiêm trũng ven biển quanh năm úng lụt Cuộc sống người dân ở đây rất gieo neo, cơ cực Còn làng tôi là một làng nghèo ở vùng trung du đồi núi, đá sỏi cây cằn, đất đai quý hơn vàng bạc Con người phải đổi bát mồ hôi lấy bát cơm Cả hai vùng quê đều nghèo nàn, lam lũ Chỉ qua hai câu thơ thôi tác giả đã nêu rõ thành phần xuất thân của người chiến sĩ Phần lớn họ là nông dân nghèo khổ Theo tiếng gọi cứu quốc, họ tạm xa con trâu, mảnh ruộng đế cầm súng giết giặc Ra đi chiến đấu, mỗi người để lại sau lưng nơi chôn nhau cắt rốn với luỹ tre xanh, với mái tranh nghèo quen thuộc và những người thân yêu nhất, không hẹn mà nên, những người nông dân ấy gặp nhau tại một điểm: lòng yêu nước Tình yêu quê hương, gia đình, nghĩa vụ công dân thúc giục họ lên đường chiến đấu Bởi thế nên từ những phương trời xa lạ, mọi người chẳng hẹn mà quen nhau

Súng bên súng, đầu sát bên đầu, Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Ngày cùng chung nhiệm vụ chiến đấu, chia nhau gian khổ, hiểm nguy, đêm đắp chung một chiếc chăn đơn, qua tâm sự vui buồn, họ thành tri kỉ Khi đà thành tri âm tri kỉ rồi thì ngọt bùi san sẻ, sống chết có nhau

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay

Là lao động chính của gia đình, giờ các anh đi chiến đấụ, bao khó khăn vất vả sẽ đè nặng lên vai cha già, mẹ yếu, vợ dại, con thơ Biết chắc là như thế nhưng các anh vẫn quyết ra đi cứu nước vì cứu nước là cứu nhà Ruộng vườn thì gửi bạn thân cày; gian nhà tranh cù kĩ, xiêu vẹo đành mặc kệ gió lung lay Mặc kệ nghĩa là dẹp hết chuyện riêng tư sang một bên để lo đánh giặc trước đã Phảng phất

Trang 2

nói dân dã, mộc mạc của người nông dân Hai cách nói khác nhau nhưng cùng chung một thái độ: dứt khoát đưa nhiệm vụ cứu nước lên trên hết

Tôi với anh chung cảnh ngộ, anh với tôi chung một lí tưởng, chung đội ngữ và tôi với anh giờ đây lại chung cả những cơn sốt rét rừng ghê gớm Cái căn bệnh quái ác mà lính ta anh nào cũng sợ

Sợ mà không sao tránh khỏi Nhà thơ nhắc đến chuyộn này như nhắc đến một kỉ niệm khó quên trong tình bạn

Bài thơ đem lại sự rung động sâu sắc khi dựng nên được hình ảnh chân thực và giản dị của anh bộ đội cụ Hồ:

"Đêm nay rừng hoang sương muối

Đầu súng trăng treo."

Chất hiện thực nghiệt ngã và lãng mạn bay bổng hoà quyện với nhau Cảnh vẫn là cảnh rừng hoang, sương muối âm u, lạnh giá nhưng dường như nó không con de doạ được con người nữa mà trái lại, nó bị đẩy lùi ra tít phía sau, nhường chỗ cho hình ảnh của đồng đội đang sát cánh bên nhau trong tư thế sẵn sàng chiến đấu

Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng người chiến sĩ, chắp cánh cho tâm hồn họ bay bổng Đêm khuya chờ giặc, trăng đã xế ngang tầm súng Và lạ lùng thay, như một khám phá bất chợt, thú vị: Đầu súng trăng treo Câu thơ như một tiếng reo vui chứa đựng bao ý nghĩa Trong sự tương phản giữa hai hình ảnh súng và trăng, người đọc vẫn tìm ra được môi quan hệ gần gũi Súng tượng trưng cho tinh thần quyết chiến để bảo vệ hoà bình Trăng tượng trưng cho cái đẹp và cuộc sống yên vui Súng và trăng

là biểu tượng sóng đôi của dân tộc Việt Nam dũng cảm, hào hoa muôn thuở, đồng thời nó cung thể hiện rõ nét cái tư thế chủ động, tin tưởng và tâm hồn lạc quan, yêu đời của chiến sĩ ta

Như tên gọi của nó, bài thơ Đồnq chí là bức chân dung sống động về anh bộ đội Cụ Hồ buổi đầu kháng chiến Chính Hữu đã khắc hoạ hình ảnh người chiến sĩ với tấm lòng cảm phục và mến thương sâu sắc Bài thơ lưu lại mãi mãi trong kí ức bao thế hệ cầm súng chống xâm lăng từ đó đến nay Bởi thế, nhắc đến tác giả là người đọc nhớ ngay đến bài thơ Chỉ thế thôi cũng là điều thật đáng quý đối với người sáng tác

2 Bài thơ về tiểu đội xe không kính (1969) - Phạm Tiến Duật

- Nội dung: Bài thơ đã khắc hoạ hình ảnh độc đáo: những chiếc xe không kính Qua đó, tác giả khắc hoạ

nổi bật hình ảnh những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn thời chống Mĩ, với tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan, dũng cảm, bất chấp khó khăn nguy hiểm và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam

- Nghệ thuật: Tác giả đã đưa vào bài thơ chất liệu hiện thực sinh động của cuộc sống ở chiến trường,

ngôn ngữ và giọng điệu giàu chất khẩu ngữ, tự nhiên, khoẻ khoắn

Đề bài phân tích bài thơ về tiểu đội xe không kinh

Trong những năm tháng gay go, quyết liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, từ tuyến đường Trường Sơn đầy bom rơi đạn nổ, nhà thơ Phạm Tuyến Duật đồng thời cũng là anh bộ đội đã viết những bài thơ ca ngợi người lính trên chiến trường với một phong cách thơ riêng biệt, độc đáo Thơ của anh đã được đánh giá cao.Tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Trích trong tập Vầng trăng-Quầng lửa) là một trong những bài thơ để lại ấn tượng mạnh trong lòng người đọc về hình ảnh những người lính và sự kế thừa của biết bao thế hệ

Hình tượng thơ gắn liền với cái đẹp, vẻ chau chuốt sự kì vĩ đi cùng năm tháng đó chính là hình ảnh

những chiếc xe không kính…- Bình thường, những chiếc xe không kính không thể gọi là cái đẹp ấy thế mà tác giả đã lấy hình tượng đó làm cảm hứng xuyên suốt của bài thơ Hình tượng độc đáo

nhưng hợp lý này đã có tác dụng gây ấn tượng mạnh, là cơ sở để làm nổi bật phẩm chất dũng cảm,

sự lạc quan và quyết tâm dành chiến thắng của anh lính lái xe thời chống Mĩ Hình tượng những chiếc “xe không kính” đã gợi lên những nguy hiểm cận kề Những “ bom giật, bom rung” làm vỡ kính xe Sự hi sinh, cái chết đã ở đâu đó, rất gần những người lính Lời thơ bình dị: “ Không kính

Trang 3

không phải vì xe không có kính Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi…”

- Hình tượng những chiếc xe không kính cũng đã góp phần cụ thể hóa những khó khăn gian khổ mà anh bộ đội lái xe phải chịu đựng: “Không có kính, ừ thì có bụi, Bụi phun tóc trắng như người già…………mưa xối như ngoài trời”

Hoàn cảnh chiến trường khó khăn, cái chết là những thử thách lớn với những người lái xe trên con đường Trường Sơn khói lửa.- Điệp ngữ “ không có kính” ở đầu các khổ thơ vừa có tác dụng nhấn mạnh cho ta cảm nhận được gian khổ, hiểm nguy sự khốc liệt của hiện thực cuộc chiến đối với người lính Trường Sơn vừa khắc họa được nét tiêu biểu của con người Việt Nam, dù thiếu thốn, khó khăn

vẫn kiên cường chiến đấu Trong tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, bất chấp mọi khó khăn

nguy hiểm, niềm vui sôi nổi của tuổi trẻ và ý chí chiến đấu vì miền Nam Trong bom đạn khốc liệt của chiến tranh, anh chiến sĩ vẫn dữ vững tư thế hiên ngang hướng về phía trước, thực hiện khẩu hiệu: “tất cả vì tiền tuyến, tất cả vì miền Nam ruột thịt” Câu thơ chuyển giai điệu, thanh thản, tự tin:“ Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”

- Từ láy “ung dung”, và điệp từ nhìn: “nhìn đất”, “nhìn trời”, “nhìn thẳng” thể hiện tư thế, phong cách của người lái xe trên đường ra trận.Tư thế và lòng tự tin ấy còn được biệu lộ ở chỗ bất chấp “ bom giật, bom rung” của kẻ thù, vẫn cảm nhận cái đẹp của thiên nhiên, của đất nước, những nét đẹp lãng mạng, mặc dù cái chết còn lẩn quẩn, rình rập đâu đó quanh anh Hình ảnh thơ đẹp, mạnh mẽ:

“ Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái”

- Những thiếu thốn,khó khăn vật chất lại càng không ngăn được con đường anh đi tới:“ Không có kính, ừ thì có bụi”; “ Không có kính, ừ thì ướt áo” Câu thơ mộc mạc như một lời nói thường ngày đầy dí dỏm, tinh nghịch: “ừ thì có bụi”, “ ừ thì ướt áo” đã giúp ta hiểu thêm về người lính trước những khó khăn gian khổ Có khó khăn nhưng nào đáng kể gì! Có sao đâu, anh chấp nhận tất cả - Cách giải quyết khó khăn của anh cũng thật bất ngờ, thú vị:

“ Chưa cần rửa, phì phèo châm điêu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”; “ Chưa cần thay, lái trăm cây số ………… gió lùa khô mau thôi”

- Ngôn ngữ bình dị, âm điệu vui thể hiện niềm lạc quan yêu đời của tuổi trẻ sống có lý tưởng Tư thế hiên ngang, lòng dũng cảm đã làm nên sức mạnh của anh bộ đội Sức mạnh ấy còn được nhân lên gấp bội vì cạnh anh còn có cả tập thể anh hùng Từ trong bom đạn hiểm nguy, “tiểu đội xe không kính” được hình thành, bao gồm những con người từ bốn phương chung lý tưởng, gặp nhau thành bạn bè

“ Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”

Các anh đã cùng chung niềm vui sôi nổi của tuổi trẻ, của tình đồng đội, tình đồng chí Hình ảnh sinh hoạt ấm tình đồng đội:“ Chung bát đũa nghĩa là gia đình Võng mắc chông chênh đường xe chạy”.Những câu thơ này như tái hiện được những âm điệu vui tươi của bài hát `“ Năm anh em trên một chiếc xe tăng” Tuy mỗi người một tính nhưng ta chung một lòng” Đọc những câu thơ tiếp theo, ta thấy rõ khó khăn gian khổ càng nhiều hơn chiến tranh

càng ác liệt hơn:

“ Không có kính, rồi xe ………… thùng xe có nước”

Nhưng dù khó khăn ác liệt đến mấy, ý chí chiến đấu vì miền Nam ruột thịt của anh bộ đội vẫn không hề lay chuyển: “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước” Hình ảnh tượng “Chỉ cần trong

xe có một trái tim”Trái tim là hình ảnh hoán dụ chỉ người chiến sĩ lái xe đồng thờ cũng là hình ảnh

ẩn dụ tượng trưng cho ý chí, nghị lực và lóng quyết tâm dành chiến thắng của các anh Đó chính là lòng yêu nước bất khuất của các anh bộ đội cụ Hồ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước

Trang 4

- Bài thơ thành công trong việc khắc họa hình ảnh những anh bộ đội lái xe trên tuyến đường Trường Sơn đầy gay go, thử thách, một lực lượng tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước Họ là hình ảnh “Nhân dân ta rất anh hùng” Âm điệu trẻ chung, vui tươi, lời thơ gần với những lời nói trong sinh hoạt thường này và cách xây dựng hình tượng thơ độc đáo đã thể hiện phong cách thơ riêng của Phạm Tiến Duật

3 Đoàn thuyền đánh cá (1958)- Huy Cận

- Nội dung: Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” đã khắc hoạ nhiều hình ảnh đẹp tráng lệ, thể hiện sự hài hoà

giữa thiên nhiên và con người lao động, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước và cuộc sống

- Nghệ thuật: Bài thơ có nhiều sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh bằng liên tưởng, tưởng tượng

phong phú, độc đáo; có âm hưởng khoẻ khoắn, hào hùng, lạc quan

Đề bài: Em hãy phân tích bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá: của Huy Cận

Bài làm

Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới Sau cách mạng ông nhanh chóng hoà nhập vào công cuộc kháng chiến vĩ đại và trường kì của dân tộc Hoà bình lập lại, từng trang thơ Huy Cận ấm áp hơi thở của cuộc sống đang lên Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”được sáng tác ở Hòn Gai năm 1958 nhân một chuyến đi thực tế dài ngày Bài thơ thực sự là một bài ca ca ngợi cuộc sống của những con người lao động mới

Cảnh ra khơi và tâm trạng náo nức của con người được khắc họa qua từ ngữ: “Mặt trời xuống biển… Sóng đã cài then đêm sập cửa” -Nghệ thuật so sánh nhân hóa cho thấy cảnh biển hoàng hôn vô cùng tráng lệ, hùng vĩ Mặt trời được ví như một hòn lửa khổng lồ đang từ từ lặn xuống đáy biển

Mặt trời xuất hiện trong bài thơ rất nhiều lần nó như người bạn đồng hành cùng những ngư dân trên biển Mặt trời mọc, mặt trời lặn, mặt trời thật sự tỏa sáng giống như những con người hăng say làm việc đang tỏa sáng Những con người thời bình tuy không phải ra chiến trường đánh giặc nhưng trên mặt trận lao động sản xuất họ cũng gặp nhiều khó khăn, những thiên tai, bão lũ trên biển hàng năm cướp đi rất nhiều sinh mạng con người Nhưng những ngư dân không thể sống thiếu biển, cuộc sống của họ gắn liền với biển, nên lần nào ra đi họ cũng vui vẻ không hề hoảng sợ Tác giả đã tạo ra một hình ảnh khỏe, lạ mà thật từ sự gắn kết 3 sự vật và hiện tượng: Câu hát, cánh buồm và gió khơi

“Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Câu hat căng buồm cùng gió khơi”

Câu hát mang theo niềm vui, sự phấn chấn của người lao động trở thành sức mạnh cùng với gió biển làm căng cánh buồm để con thuyền lướt sóng ra khơi Nghệ thuật ẩn dụ trong cách viết của nhà thơ Huy Cận đã làm cho những câu thơ sinh động hơn, khéo léo và nhiều sức gợi tả trong lòng người đọc Tinh thần yêu đời, niềm tin vào cuộc sống luôn xuyên suốt bài thơ Tác giả muốn qua những người ngư dân hăng say lao động để nói lên tinh thần yêu nước cống hiến sức mình cho tổ quốc Bài thơ của nhà thơ Huy Cận càng đáng quý khi trong những năm gần đây giữa Việt Nam và Trung Quốc đang cạnh tranh nhau trên biển Đông, việc những người ngư dân bám biển cũng là thể hiện sự bảo vệ chủ quyền của dân tộc Việt Nam ở trên biển Ước muốn chinh phục thiên nhiên, chinh phục biển khơi của con người thật đáng nể phục

Thuyền ta lái gió….lưới vây giăng

Câu thơ vừa gần gũi vừa xa xôi, hư hư thực thực khiến cho con thuyền hiện lên thật gần gũi với con người nhưng cũng thật xa mờ Sự đối lập giữa con thuyền nhỏ bé với cả biển cả vũ trụ bao la Thiên nhiên với con người luôn gắn liền với nhau từ bao đời nay vẫn thế Nếu như cuộc sống là một bức tranh thì thiên nhiên và con người là hai mảnh ghép không thể tách rời nhau Biển đẹp biển hiền hòa, biển dịu êm hay dữ dội thì biển vẫn luôn là người bạn gắn bó với những ngư dân, với những vùng quê có biển Biển như người mẹ hiền cho con người tôm cá, cho con người muối mặn…cho

Trang 5

con người những khu du lịch nghỉ dưỡng sau những ngày làm việc mệt nhọc Hình ảnh mặt trời được tác giả miêu tả rất nhiều với nhiều trạng thái khác nhau từ hoàng hôn tới bình minh

Bài thơ là những bức tranh đẹp, rộng lớn kế tiếp nhau về hình ảnh thiên nhiên và đoàn thuyền đánh cá Thiên nhiên như một người bạn thân thiết, đồng hành cùng cuộc sống của con người Hình ảnh người lao động trong bài thơ được sáng tạo với cảm hứng lãng mạn, thể hiện niềm tin, niềm vui trước cuộc sống mới

4 Bếp lửa (1963)- Bằng Việt

- Nội dung: Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ “Bếp lửa” gợi lại những

kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu trân trọng và biết ơn của người cháu đối với gia đình, quê hương, đất nước

- Nghệ thuật: Bài thơ đó kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với miêu tả, tự sự và bình luận Thành

công của bài thơ còn ở sự sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà, làm điểm tựa khơi gợi mọi kỉ niệm, cảm xúc và suy nghĩ về bà và tình bà cháu

Đề bài phân tích bài thơ bếp lửa

Bài làm

Mỗi người khi xa quê họ đều nhớ về quê hương với những kỷ niệm gần gũi nhất, thân thương nhất

Tế Hanh nhớ về quê là nhớ về dòng sông Giang Nam nhớ về quê là nhớ về những buổi trốn học đuổi

bư-ớm Rồi “kẻ nhớ canh rau muống”, “người nhớ cà đầm tương” Những cái bình thường quen thuộc tưởng chừng như chẳng có gì đáng nhớ nhưng khi xa rồi mới không thể nào quên Bằng Việt trong những năm tháng du học ở Liên Xô nhớ da diết về hình ảnh bếp lửa với người bà thân thương Một người bà giàu tình ân nghĩa

Mở đầu dòng cảm xúc của tác giả là hình ảnh.

Một bếp lửa chờn vờn,

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

Từ“chờn vờn” là từ láy tượng hình vừa giúp chúng ta hình dung làn sương sớm đang bay nhè nhẹ vừa gợi cái mờ nhoà của hình ảnh kí ức theo thời gian Từ “ấp iu” là một sáng tạo mới mẻ của nhà thơ trẻ Đó không phải là từ láy, từ ghép đơn thuần mà là sự kết hợp và biến thể của 2 từ “ấp iu”

và “nâng niu” ấp iu gợi đến bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng chi chút của người nhóm bếp, điệp ngữ “một bếp lửa” điệp lại hai lần gợi ra hình ảnh khơi nguồn cảm hứng cho dòng hồi tưởng về bà

Lên 4 tuổi cháu còn cay

Thành ngữ “đói…mòn” cái đói kéo dài làm mỏi mệt, kiệt sức, hình ảnh con ngựa gầy rạc cùng người bố đánh xe chắc cũng gầy khô là những kỉ niệm về thời gian khó Hình ảnh bếp lửa và khói cùng với hình ảnh người bà hiện lên trong nỗi nhớ thương ngậm ngùi của người cháu

Tám năm cùng bà nhóm lửa,

Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

Tuổi thơ ấy có bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945 có mối lo giặc tàn phá xóm làng “Giặc đốt…rụi” có những hoàn cảnh chung của nhiều gđ VN trong cuộc kháng chiến chống Pháp : mẹ và cha đi công tác bận không về cháu sống cùng bà trong sự cưu mang dạy dỗ Hoàn cảnh chung của đất nước trong kháng chiến chống Pháp Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà

Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế,

Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà

Đang trong dòng hồi tưởng tác giả như tách ra khỏi kí ức trở về với hiện thực trực tiếp nói với bà “

bà còn nhớ không bà” Tiếng tu hú gợi hoài niệm gợi tình cảnh vắng vẻ và nhớ mong của hai bà cháu Miên man theo dòng cảm xúc hồi tưởng, hình ảnh bà hiện lên rõ nét, cụ thể với những phẩm chất cao quí Làm trọn nhiệm vụ của người hậu phương để người đi công tác được yên lòng… lời dặn trực tiếp của bà khi cháu viết thư cho bố không chỉ giúp chúng ta hình dung rõ ràng giọng nói, tiếng

Trang 6

nói tình cảm và suy nghĩ của bà mà còn làm sáng lên phẩm chất của người bà, người mẹ VN yêu nước, đầy lòng hy sinh, kiên cường nhóm lửa giữ lửa

Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng

Từ hình ảnh bếp lửa cụ thể, tĩnh tại và tương đối khái quát, theo mạch cảm xúc, chuyển thành hình ảnh ngọn lửa trìu tượng hơn chủ quan hơn, nhiều ý tứ hơn Đó là ngọn lửa của tấm lòng

ấm áp tình yêu thương con cháu Ngọn lửa niềm tin dai dẳng và bền chặt vào tương lai cuộc kháng chiến Từ bếp lửa tác giả suy ngẫm về cuộc đời bà

Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

Từ láy lận đận và hình ảnh ẩn dụ mấy nắng mưa diễn tả cuộc đời trải nhiều vất vả gian lao, cực nhọc vậy mà bà vẫn giữ thói quen dậy sớm cho đến tận bây giờ không còn chiến tranh đói rét thiếu ăn thiếu mặc như trước nữa Điệp từ “nhóm” nhắc lại 4 lần trong khổ thơ thấy được sự tần tảo, giàu đức hi sinh của bà, bà không chỉ nhóm lửa luộc sắn, khoai mà còn nhóm niềm yêu thương , nhóm dạy cả tâm tình tuổi nhỏ Hình ảnh bếp lửa bình dị thân thuộc mà kì diệu thiêng liêng nâng đỡ bước chân cháu trên khắp chặng đường đời

Tác giả viết " Ôi kì lạ và thiêng liêng bếp lửa!".

Đúng vậy vì bếp lửa thật giản dị, bình thường và phổ biến trong mọi gđ VN nhưng nó cũng thật cao quý kì diệu và thiêng liêng vì nó luôn gắn bó với bà- người giữ lửa, nhóm lửa, truyền ngọn lửa yêu thương và niềm tin cho con cháu Bếp lửa trở thành 1mảnh tâm hồn, 1 phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cháu Người cháu đã khôn lớn, đang ở phương trời xa, quen với khung trời rộng với bếp ga, bếp điện nhưng vẫn luôn nhớ về hình ảnh bếp lửa, nhớ về bà Ngọn lửa của lòng bà đã trở thành kỉ niệm, niềm tin thiêng liêng kì diệu nâng bước cho cháu

5 Ánh trăng (1978) -

- Nội dung: “Ánh trăng” của Nguyễn Duy như một lời tự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua

của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu Bài thơ có ý nghĩa gợi nhắc, củng cố ở người đọc thái độ sống “uống nước nhớ nguồn” ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ

- Nghệ thuật: Với giọng điệu tâm tình tự nhiên, hình ảnh giàu tính biểu cảm.

Đề bài phân tích bài thơ Ánh trăng

Thơ xưa cũng như nay, thiên nhiên luôn là nguồn cảm hứng sáng tác vô tận cho các nhà văn, nhà

thơ Đặc biệt là ánh trăng Xưa, Lý Bạch khi đối diện với vầng trăng đã giật mình thảng thốt nhớ cố

hương Nay Nguyễn Duy, một nhà thơ tiêu biểu cho thế hệ trẻ sau năm 1975 cũng góp vào mảng thơ thiên nhiên một ánh trăng Và đối diện trước vầng trăng, người lính đã giật mình về sự vô tình trước thiên nhiên,

vụ tình với những kỉ niệm nghĩa tình của một thời đã qua Bài thơ “Ánh trăng” giản dị như một niềm ân hận trong tâm sự sâu kín ấy của nhà thơ

Ánh trăng gắn với những kỷ niệm trong sáng thời thơ ấu tại làng quê con người khi đó sống giản dị, thanh cao, chân thật trong sự hòa hợp với thiên nhiên trong lành

Hồi nhỏ sống với đồng

Với sông rồi với biển

Ánh trăng gắn bó với những kỷ niệm không thể nào quên của cuộc chiến tranh ác liệt của người lính trong rừng sâu “Hồi chiến tranh ở rừng, vầng trăng thành tri kỉ”

Trăng khi đó là ánh sáng trong đêm tối chiến tranh, là niềm vui bầu bạn của người lính trong gian lao

của cuộc kháng chiến – vầng trăng tri kỷ Nhân vật trữ tình gắn bó với trăng trong những năm dài

kháng chiến Trăng vẫn thủy chung, tình nghĩa

Vầng trăng tri kỷ ngày nào nay đã trở thành "người dưng" – người khách qua đường xa lạ Sự thay đổi của hoàn cảnh sống – không gian khác biệt, thời gian cách biệt, điều kiện sống cách biệt

Thình lình đèn điện tắt

.Đột ngột vầng trăng tròn

Trang 7

Hành động "vội bật tung cửa sổ" và cảm giác đột ngột "nhận ra vầng trăng tròn", cho thấy quan hệ giữa người và trăng không còn là tri kỷ, tình nghĩa như xưa vì con người lúc này thấy trăng như một vật chiếu sáng thay thế cho điện sáng mà thôi Câu thơ dửng dưng – lạnh lùng – nhức nhối, xót xa miêu tả một điều gì bội bạc,

nhẫn tâm vẫn thường xảy ra trong cuộc sống

Từ sự xa lạ giữa người với trăng ấy, nhà thơ muốn nhắc nhở: Đừng để những giá trị vật chất điều khiển chúng ta Trăng và con người đã gặp nhau trong một giây phút tình cờ.Vầng trăng vẫn một tình cảm tràn đầy, không mảy may sứt mẻ Tác giả sử dụng hình ảnh thơ khá hay "trăng tròn" biện pháp nghệ thuật hóan dụ đặc sắc "ngửa mặt lên nhìn mặt" Cách viết thật lạ và sâu sắc, trăng – người đang đối diện đàm tâm.Ánh trăng đã thức dậy những kỷ niệm quá khứ tốt đẹp, đánh thức lại tình cảm bạn bè năm xưa, đánh thức lại những gì con người đã lãng quên Cảm xúc "rưng rưng" là biểu thị của một tâm hồn đang rung động, xao xuyến, gợi nhớ gợi thương khi gặp lại bạn tri kỷ

Có cái gì rưng rưng

.Như là sông là rừng

Biện pháp liệt kê đồng, bể, sông, rừng lúc này không phải đại diện cho thiên nhiên nữa mà đại diện cho quá khứ gian lao nghĩa tình hiện về Nhịp thơ hối hả dâng trào như tình người dào dạt Niềm hạnh phúc của nhà thơ như đang được sống lại một giấc chiêm bao.Ánh trăng hiện lên đáng giá biết bao, cao thượng vị tha biết chừng nào

Trăng cứ tròn vành vạnh

.Đủ cho ta giật mình

Trăng tròn vành vạnh là hiện diện cho quá khứ đẹp đẽ vẫn tròn đầy, vẹn nguyên tình nghĩa không thể phai mờ Ánh trăng im phăng phắc biện pháp nhân hóa trăng chính là người bạn nghĩa tình

mà nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta: Con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt

"Giật mình" là cảm giác và phản xạ tâm lý có thật của một người biết suy nghĩ, chợt nhận ra sự vô tình, bạc bẽo, sự nông nổi trong cách sống của mình Cái "Giật mình" của sự ăn năn, tự trách, tự thấy phải đổi thay trong cách sống: Không bao giờ được làm người phản bội quá khứ, phản bội thiên nhiên, sùng bái hiện tại mà coi rẻ thiện nhiên.Câu thơ thầm nhắc nhở chính mình và cũng đồng thời nhắc nhở chúng ta, những người đang sống trong hòa bình, hưởng những tiện nghi hiện đại, đừng bao giờ quên công sức đấu tranh cách mạng của biết bao người đi trước

Bài thơ Ánh trăng là một lần "giật mình" của Nguyễn Duy về sự vô tình trước thiên nhiên, vô tình với những kỷ niệm nghĩa tình của một thời đã qua Nó gợi ra trong lòng chúng ta nhiều suy ngẫm sâu sắc về cách sống, cách làm người, cách sống ân nghĩa thủy chung ở đời Ánh trăng thật

sự đã như một tấm gương soi để thấy được gương mặt thật của mình, để tìm lại cái đẹp tinh khôi

mà chúng ta tưởng đã ngủ yên trong quên lãng./

II Truyện Việt nam sau cách mạng tháng Tám năm 1945

1 Làng (1948) - Kim Lân viết sâu sắc về đề tài người nông dân trong thời kì k/c chống Pháp

a Nội dung: Tình yêu làng quê, lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi

tản cư đã được thể hiện rất chân thực, sâu sắc và cảm động ở nhân vật ông Hai trong truyện “Làng”

b Nghệ thuật: Tác giả đã thành công trong việc xây dựng tình huống truyện, trong nghệ thuật miêu tả

tâm lí và ngôn ngữ nhân vật

c Tình huống truyện

+ Tác giả tạo tình huống đặc sắc ông Hai nghe tin làng theo giặc

+ T/g đặt nhân vật vào tình huống để nhân vật tự bộc lộ t/c yêu làng, yêu nước,

+ t/c yêu nước, tinh thần k/c bao trùm chi phối t/c yêu làng quê

+ Tạo nút thắt cho câu chuyện để nhân vật tự bộc lộ tâm trạng, phẩm chất góp phần thể hiện chủ đề

d Diễn biến tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng theo giặc

- T/y làng là bản chất truyền thống của người nông dân:

Trang 8

+ Ông hay khoe về làng chứng tỏ niềm tự hào sâu sắc về làng quê “Ta về ta tắm ao ta

Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”

+ Nó còn trở thành niềm say mê niềm kiêu hãnh của ông Hai

- Sau cách mạng ông Hai có những chuyển biến trong t/c

+ Ông tự hào về phong trào cách mạng, phong trào kháng chiến của quê hương: đào đường…

+ Ông quan tâm và theo dõi tin tức kháng chiến, ông vui vì những tin thắng lợi của quê hương

-> Chuyển biến trong nhận thức của người nông dân

- Tình yêu làng gắn bó hòa quyện với tình yêu nước:

+ Ông Hai đang vui sướng vì nghe được nhiều thành quả của k/c thì ông nghe được tin làng theo giặc khiến ông sững sờ bàng hoàng không thể tin được “cổ ông nghẹn ắng lại… thở được” ông nói lảng đi chuyện khác rồi ra về với tâm trạng xấu hổ

+ Nhìn lũ con ông giàn nước mắt ông thương con, xấu hổ niềm tự hào trong ông đã bị xúc phạm

+ Ông dằn vặt nội tâm, đau đớn ông tự kiểm điểm trong óc “không mà họ toàn là những người có tinh thần cả mà…”

+ T/g diễn tả sâu sắc tinh tế tâm trạng ông Hai bằng hình thức độc thoại nội tâm

+ Chỉ nghe những tiếng xì xào cũng làm ông giật mình lo sợ, ám ảnh

+ Ông đấu tranh tư tưởng gay gắt hay quay về làng, quay về tức là bỏ k/c bỏ cụ Hồ còn ở lại đây thì bị coi thường bị xua đuổi

+ Ông quyết định “làng thì yêu thật nhưng làng theo tây mất rồi thì phải thù” biểu hiện sâu sắc về sự chuyển biến trong nhận thức của người nông dân họ đã biết đặt t/y nước và tinh thần k/c lên trên t/y làng + Ông trò truyện với con trai là để tự giãi bày với lòng mình, tự mình nói với chính mình dường như để thanh minh để trấn an mình trong tình huống căng thẳng

- Khi nghe tin làng được cải chính:

+ Ông Hai trút bỏ được gánh nặng tâm lí “mặt rạng rỡ, miệng bỏm bẻm, mắt hấp háy…”tác giả dùng từ láy và miêu tả ngoại hình…

+ Ông càng tự hào và vui sướng hơn ông náo nức khoe làng mình, nhà ông bị tây đốt là minh chứng cho tinh thần kháng chiến của làng Chợ Dầu…

=> Sự thống nhất t/y quê hương và tinh thần k/c trong t/y đất nước Nhà văn Kim Lân đã rất tinh tế trong việc diễn tả tâm lí nhân vật

Đề bài 1: Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn " Làng" của Kim Lân.

A- Mở bài:

- Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc Ông gắn bó với thôn quê, từ lâu đã am hiểu người nông dân Đi kháng chiến, ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân

- Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948, trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một tình cảm lớn lao của dân tộc, tình yêu nước, thông qua một con người cụ thể, người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp

B- Thân bài

1 Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc, tình cảm quê hương đất nước Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước, tinh thần kháng chiến Tình cảm đó vừa có tính truyền thống vừa có

chuyển biến mới

2 Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm, tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh động và độc đáo ở một con người, nhân vật ông Hai ở ông Hai tình cảm chung đã mang rõ màu sắc riêng, in

rõ cá tính chỉ riêng ông mới có

Trang 9

a Tình yêu làng, một bản chất có tính truyền thống trong ông Hai

- ông hay khoe làng, đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê

- Cái làng đó với người nông dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần

b Sau cách mạng, đi theo kháng chiến, ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm

- Được cách mạng giải phóng, ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương, về việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông Phải xa làng, ông nhớ quê cái không khí “đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…”; rồi ông lo “cái chòi gác,… những đường hầm bí mật,…” đã xong chưa?

- Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến, thích bình luận, náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế, chỗ này giết một tí, chỗ kia giết một tí, cả súng cũng vậy, hôm nay dăm khẩu, ngày mai dăm khẩu, tích tiểu thành đại, làm gì mà thằng Tây không bước sớm”

c Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin làng theo giặc

- Khi mới nghe tin xấu đụ, ông sững sờ, chưa tin Nhưng khi người ta kể rành rọt, không tin không được, ông xấu hổ lảng ra về Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống mà đi

- Về đến nhà, nhìn thấy các con, càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi” ông giận những người ở lại làng, nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”, lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân

- Ba bốn ngày sau, ông không dám ra ngoài Cái tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp Ông luôn hoảng hốt giật mình Không khí nặng nề bao trùm cả nhà

- Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá, vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu Nhưng tình yêu nước, lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù” Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt

- Tình cảm đối với kháng chiến, đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ, với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này:

+ Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa là ông, bố của nó

+ Ông mong “Anh em đồng chí biết cho bố con ông Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông” + Qua đó, ta thấy rõ:

• Tình yêu sâu nặng đối với làng chợ Dầu truyền thống (chứ không phải cái làng đổ đốn theo giặc)

• Tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng với kháng chiến mà biểu tượng của kháng chiến là

cụ Hồ được biẻu lộ rất mộc mạc, chân thành Tình cảm đụ sâu nặng, bền vững và vô cùng thiêng liêng : có bao giờ dám đơn sai Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai

d Khi cái tin kia được cải chính, gánh nặng tâm lí tủi nhục được trỳt bỏ, ụng Hai tột cựng vui sướng

và càng tự hào về làng chợ Dầu

- Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường

- Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông

3 Nhân vật ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân

- Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiều sâu tâm trạng

- Miêu tả rất cụ thể, gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ đối thoại và độc

Trang 10

thoại.Ngôn ngữ của ông Hai vừa có nét chung của người nông dân lại vừa mang đậm cá tính nhân vật nên rất sinh động

C- Kết bài:

- Qua nhân vật ông Hai, người đọc thấm thía tình yêu làng, yêu nước rất mộc mạc, chân thành mà vô cùng sâu nặng, cao quý trong những người nông dân lao động bình thường

- Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yếu đất nước là nột mới trong nhận thức

và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống Pháp đã chú trọng làm nổi bật Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý

Đề bài 3; Trong truyện ngắn Làng, nhà văn Kim Lân đã thể hiện một cách sinh động và tinh tế diễn

biến tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc.

Dựa vào truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân, em hãy phân tích để làm sáng rõ điều đó.

Bài làm

Quê hương là gì hở mẹ

Mà cô giáo dạy phải yêu

Quê hương là gì hở mẹ

Ai đi xa cũng nhớ nhiều

( Đỗ Trung Quân )

Trong trái tim mỗi con người luôn có một khoảng dành riêng cho quê hương, tình cảm dạt dào cháy bỏng với quê hương luôn có sức sống mãnh liệt bền bỉ Đặc biệt trong hoàn cảnh gian khó nguy hiểm tình cảm ấy càng tỏa sáng rạng ngời Với ngòi bút sắc sảo chân thực, tâm hồn đồng cảm sâu sắc nhiều nhà văn Việt Nam hiện đại đã khắc họa thành công hình ảnh những con người có tình cảm yêu làng quê da diết Thành công hơn cả là nhà văn Kim Lân với nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng – một lão nông dân nghèo luôn nặng lòng với quê hương Lật lại từng trang sách, ta nghẹn ngào xúc động cùng buồn vui với nhân vật và càng thấu hiểu được vẻ đẹp ẩn chứa trong bức tranh nội tâm nhân vật Trong truyện ngắn Làng, nhà văn Kim Lân đã thể hiện một cách sinh động và tinh

tế diễn biến tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc

Ông Hai nhân vật chính của tác phẩm là người rất yêu làng, nhưng phải xa làng đi tản cư Tình yêu làng của ông được đặt vào một tình huống đầy thử thách: tin làng chợ Dầu theo giặc, phản bội kháng chiến Ông Hai đã trải qua tâm trạng dằn vặt, đau đớn, phải đấu tranh rất quyết liệt để lựa chọn con đường đi đúng đắn cho mình

Khi nghe tin làng theo giặc, ông bàng hoàng, sững sờ “ Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân”.

Ông nghi ngờ, cố chưa tin nhưng khi cái tin ấy được khẳng định từ chính miệng những người tản cư dưới xuôi lên thì ông không thể không tin Từ lúc ấy, tâm trạng ông bị ám ảnh, day dứt với

mặc cảm là kẻ phản bội Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông “ cúi gằm mặt xuống mà đi”

Ông sống trong tâm trạng nơm lớp lo sợ, xấu hổ, nhục nhã “ Cứ nghe thấy tiếng Tây, Việt gian, cam nhông…là ông lủi ra một góc nhà nín thít”

Ông tủi thân thương con, thương dân chợ Dầu, thương thân mình phải mang tiếng là dân làng

Việt gian “ Nước mắt ông lão cứ giàn ra”

Ông Hai tiếp tục bị đầy vào tình huống thử thách căng thẳng khi nghe tin người ta không chứa người làng chợ Dầu

Ô Hai cảm nhận hết nỗi nhục nhã, lo sợ vì tuyệt đường sinh sống “ đi dâu bây giờ?”, “ Rồi đây biết làm ăn, buôn bán ra sao”.

Bị đẩy vào đường cùng, tâm trạng ông vô cùng bế tắc Mâu thuẫn nội tâm được đẩy đến đỉnh

điểm Ông nghĩ “ Hay là quay về làng?”, nhưng ông hiểu rõ “ Về làng tức là chịu quay lại làm nô lệ cho thằng Tây” , là phản bội cách mạng, phản bội Cụ Hồ

Ngày đăng: 05/09/2020, 21:43

w