đề tài “ Phân tích cơ sở pháp lý để các tổ chức tín dụng chuyển ngoại tệ ra nước ngoài và những vấn đề pháp lý phát sinh cũng như hướng giải quyết thông qua thực tiễn áp dụng trong bối cảnh quản lý ngoại hối, huy động ngoại hối trong thời gian tới”
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I) Tổng quan về hoạt động chuyển ngoại tệ ra nước ngoài của các tổ chức tín dụng 1
1 Các tổ chức tín dụng và hoạt động chuyển ngoại tệ ra nước ngoài 1
2 Các đối tượng được phép chuyển ngoại tệ ra nước ngoài 2
3 Các trường hợp được chuyển ngoại tệ ra nước ngoài 2
II) Thủ tục chuyển ngoại tệ ra nước ngoài 4
III) Các vấn đề pháp lý phát sinh trong hoạt động chuyển ngoại tệ ra nước ngoài 7
1 Nguy cơ chảy máu ngoại tệ 7
2 Bất cập trong quản lý dòng tiền dẫn đến chuyển tiền bất hợp pháp, rửa tiền 9
3 Các chủ thể lợi dụng chuyển tiền ra nước ngoài để trốn thuế 11
IV) Một số phương hướng đề xuất nhằm giải quyết các bất cập trong hoạt động chuyển ngoại tệ ra nước ngoài 12
1 Xây dựng và tăng cường các biện pháp pháp lý 12
2 Tăng cường chuyên môn, chuyên sâu trong các tổ chức tín dụng 13
3 Từ phía các chủ thể chuyển tiền 13
KẾT LUẬN 14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 2MỞ ĐẦU
Hiện nay, nhu cầu cư trú, sinh sống, làm việc của người Việt Nam tại nước ngoài ngày càng tăng cao, như vậy, chuyển tiền ra nước ngoài ngày càng tăng cao Nhà nước Việt Nam cho phép cá nhân, tổ chức được phép gửi tiền sang bên nước ngoài nhưng việc gửi tiền phải có mục đích và nằm trong những trường hợp được cho phép chuyển tiền một chiều từ Việt Nam ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam Đây là một trong những lĩnh vực kinh doanh vừa đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho các tổ chức tín dụng vừa mang lại hiệu quả chung cho toàn xã hội Chính vì vậy, sau đây em xin được chọn đề
tài “ Phân tích cơ sở pháp lý để các tổ chức tín dụng chuyển ngoại tệ ra nước ngoài và những vấn đề pháp lý phát sinh cũng như hướng giải quyết thông qua thực tiễn áp dụng trong bối cảnh quản lý ngoại hối, huy động ngoại hối trong thời gian tới” để làm rõ hơn về vấn đề này.
NỘI DUNG I) Tổng quan về hoạt động chuyển ngoại tệ ra nước ngoài của các tổ chức tín dụng
1 Các tổ chức tín dụng và hoạt động chuyển ngoại tệ ra nước ngoài
Theo luật Các Tổ chức tín dụng 2010, tổ chức tín dụng được định nghĩa
là: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các
hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.” ( khoản 1
điều 4 )
Ngoại tệ là “Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu
và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực” và hoạt động chuyển ngoại tệ ra nước ngoài là việc công dân Việt Nam chuyển ngoại tệ ra nước ngoài thông qua tổ chức tín dụng được phép Hoạt động chuyển
Trang 3ngoại tệ ra nước ngoài là một hoạt động trong số các hoạt động ngoại hối, được liệt kê tại khoản 1, điều 4, pháp lệnh Ngoại hối là:
“ Ngoại hối bao gồm: Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được
sử dụng trong thanh toán quốc tế.”
Thực tế, đối với hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam, các mức ngoại tệ được chuyển ra nước ngoài được quy định bằng đô la Mỹ
2 Các đối tượng được phép chuyển ngoại tệ ra nước ngoài
Theo quy định tại điều 7 Nghị định 70/2014/NĐ-CP quy định về chuyển tiền một chiều từ Việt Nam ra nước ngoài quy định về các trường hợp được chuyển ngoai tệ ra nước ngoài, có thể thấy các đối tượng được chuyển tiền ra nước ngoài bao gồm:
- Người cư trú là tổ chức
- Người cư trú là công dân Việt Nam
- Người không cư trú, người cư trú là người nước ngoài có ngoại tệ trên tài khoản hoặc các nguồn thu ngoại tệ hợp pháp
- Tổ chức tín dụng được phép
3 Các trường hợp được chuyển ngoại tệ ra nước ngoài
Tại Điều 7 Nghị định 70/2014/ NĐ-CP quy định về các trường hợp được chuyển ngoại tệ ra nước ngoài như sau:
“ 1 Người cư trú là tổ chức được thực hiện chuyển tiền một chiều ra nước ngoài để phục vụ mục đích tài trợ, viện trợ hoặc các mục đích khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
2 Người cư trú là công dân Việt Nam được mua, chuyển, mang ngoại tệ ra nước ngoài theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho các mục đích sau:
a) Học tập, chữa bệnh ở nước ngoài;
Trang 4b) Đi công tác, du lịch, thăm viếng ở nước ngoài;
c) Trả các loại phí, lệ phí cho nước ngoài;
d) Trợ cấp cho thân nhân đang ở nước ngoài;
đ) Chuyển tiền thừa kế cho người hưởng thừa kế ở nước ngoài;
e) Chuyển tiền trong trường hợp định cư ở nước ngoài;
g) Chuyển tiền một chiều cho các nhu cầu hợp pháp khác.
3 Người không cư trú, người cư trú là người nước ngoài có ngoại tệ trên tài khoản hoặc các nguồn thu ngoại tệ hợp pháp được chuyển, mang ra nước ngoài; trường hợp có nguồn thu hợp pháp bằng đồng Việt Nam thì được mua ngoại tệ để chuyển, mang ra nước ngoài.
4 Tổ chức tín dụng được phép có trách nhiệm xem xét các chứng từ, giấy tờ do người cư trú, người không cư trú xuất trình để bán, chuyển, xác nhận nguồn ngoại tệ tự có hoặc mua từ tổ chức tín dụng được phép để mang ra nước ngoài căn cứ vào yêu cầu thực tế, hợp lý của từng giao dịch chuyển tiền.”
Các quy định trên chủ yếu dựa trên mục đích chuyển tiền ra nước ngoài
để kiểm soát cũng như thiết lập điều kiện đối với các đối tượng chuyển tiền Như người cư trú là tổ chức chỉ được chuyển tiền khi mục đích chuyển tiền là
“tài trợ, viện trợ hoặc mục đích khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” Đối với người cư trú là công dân Việt Nam, điều kiện để được chuyển tiền ra nước ngoài là phải chứng minh được mục đích chuyển tiền là một trong bảy mục đích quy định tại khoản 2, điều 7
Bên cạnh đó, các yếu tố về vấn đề “cư trú” và “xác định nguồn gốc tiền” cũng là vấn đề được quan tâm khi các nhà làm luật đưa ra chế định về vấn đề chuyển ngoại tệ ra nước ngoài
Vì đây là hoat động chuyển tiền ra nước ngoài chứ không phải là mang tiền ra nước ngoài nên các tổ chức tín dụng đóng một vai trò bắt buộc và quan trọng – vừa là bên thực hiện dịch vụ chuyển tiền, vừa là bên đảm bảo các vấn đề pháp lý thủ tục, vừa phải xác định nguồn gốc ngoại tệ đó
Trang 5II) Thủ tục chuyển ngoại tệ ra nước ngoài
Cá nhân hoặc tổ chức muốn chuyển tiền một chiều từ Việt Nam sang nước ngoài thì bắt buộc phải thuộc các trường hợp quy định tại Điều 7 Nghị định 70/2014/ NĐ-CP Tổ chức tín dụng như các công ty tài chính hoặc ngân hàng được thành lập hợp pháp tại Việt Nam được phép có trách nhiệm xem xét các chứng từ, giấy tờ do người cư trú, người không cư trú xuất trình để bán, chuyển, xác nhận nguồn ngoại tệ tự có hoặc mua từ tổ chức tín dụng được phép
để mang ra nước ngoài căn cứ vào yêu cầu thực tế, hợp lý của từng giao dịch chuyển tiền Hiện nay các tổ chức tín dụng được thành lập hợp pháp và có hỗ trợ chuyển tiền ra nước ngoài rất nhiều nên cá nhân hoặc tổ chức chuyển tiền dễ dàng hơn, an toàn và tương đối nhanh chóng Khách hàng cá nhân có nhu cầu chuyển tiền cho người thân ở nước ngoài dễ dàng thực hiện thông qua dịch vụ chuyển tiền quốc tế của ngân hàng, vì an toàn và tương đối nhanh chóng
Hiện nay, có các phương thức hỗ trợ việc chuyển tiền quốc tế được sử dụng hợp pháp ở tại Việt Nam như sau:
+ Chuyển tiền qua mã SWIFT Code của ngân hàng Đước hiểu là Mã SWIFT code là dãy số của mỗi ngân hàng, đã được chuẩn hóa dữ liệu Người gửi sẽ tới các tổ chức tin dụng yêu cầu chuyển tiền cho người thụ hưởng đang là các đối tượng nêu trên đang cư trú tại nước ngoài
+ Qua dịch vụ như: Western Union, MoneyGram: Dịch vụ chuyển tiền này đang được sử dụng rộng rãi trên toàn quốc, đặc biệt được sử dụng đối với các đối tượng người đi du nhập trên khắp đất nước
+ Chuyển tiền ra nước ngoài qua thẻ visa,
+ Gửi tiền qua dịch vụ Money Gram…
Quy trình chuyển khoản ra nước ngoài được thực hiện như sau:
Bước một: Cá nhân hoặc tổ chức chuyển tiền ra nước ngoài cần tới chi nhánh
hoặc trụ sở chính của tổ chức tín dụng để điền đầy đủ, chính xác các thông tin
Trang 6vào “Phiếu chuyển tiền” theo mẫu quy định của ngân hàng Bạn cần mang teo một số giấy tờ cần thiết như sau:
+ Chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân hoặc hộ chiếu một bản sao được công chứng hoặc chứng thực theo quy định pháp luật Lưu ý: giấy tờ được công chứng phải còn hiệu lực tại thời điểm làm thủ tục chuyển tiền Đối với các giấy tờ công chứng hoặc chứng thực chỉ có hiệu lực trong khoảng thời gian 6 tháng tính từ thời điểm công chứng hoặc chứng thực:
+ Xuất trình một số giấy tờ liên quan tới mực đích chuyển tiền như: Về tham gia
du học thì có giấy báo trúng tuyển hoặc giấy báo nhận nhập học hoặc giay báo học phí và một số giấy tờ liên quan khác về việc du học
+ Xuất trình một số giấy tờ về khám chưã bệnh như giấy nhập viện, thông báo chi phí, Giấy tiếp nhận khám chữa bệnh của cơ sở chữa bệnh;
+ Xuất trình giấy chứng minh nghĩa vụ cấp dưỡng và người được hưởng trọ cấp
ở nước ngoài như :Bản án hoặc quyết định ly hôn hoặc Giấy tờ chứng minh người hưởng đang ở nước ngoài…
Tổ chức tín dụng có trách nhiệm xem xét các chứng từ, giấy tờ do cá nhân hoặc tổ chức nhu cầu chuyển đang cư trú, người không cư trú xuất trình để xem xét có được phép để mang ra nước ngoài căn cứ vào yêu cầu thực tế, hợp lý của từng giao dịch chuyển tiền hay không
Bước hai: Khi đã điền đầy đủ các thông tin về “Phiếu chuyển tiền”, nộp các
giấy tờ nêu trên và nộp số tiền chuyển, phí dịch vụ chuyển tiền cho nhân viên ngân hàng thì nhân viên có nghĩa vụ cấp nhật dữ liệu vào hệ thống của ngân hàng và trả lại giấy biên nhân cho khách hàng
Bước ba: Người thụ hưởng đang cư trú tại nước ngoài có thể cầm theo giấy tờ
tùy thân của mình như chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân hoặc
hộ chiếu tới các Ngân hàng để nhận khoản tiền được chuyển từ việt Nam sang nước ngoài Trường hợp bạn chuyển theo mã SWIFT Code thì ngân hàng sẽ cấp cho người chuyển tiền một dãy số gồm 10 chữ số người chuyển sẽ chuyển thông tin lại cho người thụ hưởng các thông tin cần thiết về mã SWIFT code
Trang 7Ngoài quy định về đối tượng chuyển, người thụ hưởng và mục đích chuyển tiền thì Cơ quan nhà nước quy định về hạn mức chuyển tiền nước ngoài quy định như sau:
Đối với hạn mức/ số tiền tối đa được chuyển tiền ra nước ngoài cho cá nhân sẽ phụ thuộc vào các mục đích khi làm thủ tục chuyển tiền và quy định riêng của từng ngân hàng như sau:
+ Đối với cá nhân chuyển tiền ra nước ngoài nhằm mục đích học tập của cá nhân đang ở nước ngoài thì mức tiền dựa trên tổng số tiền trong thông báo học phí mà cá nhân phải nộp cho nhà trường và tổng số tiền để đáp ứng nhu cầu thiết yếu cũng như sinh hoạt hàng ngày/ hàng tháng dựa trên: thông báo sinh hoạt, trường hợp không có thông báo sinh hoạt phí cá nhân trong nước có thể thủ tục chuyển với hạn mức tối đa không quá 25000 USD/người/năm
+ Đối với trường hợp cá nhân đi chữa bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh ở bên nước ngoài thì hạn mức chuyển tiền sẽ dựa trên tổng số tiền trên hóa đơn/ thông báo của các cơ sở khám chữa bệnh hợp pháp được nước sở tại công nhận và tổng số tiền để chi trả khoản chi phí sinh hoạt khi ở tại nước ngoài theo hóa đơn hoặc thông báo sinh hoạt, nếu không có chứng từ chứng minh thì cá nhân trong nước có thể chuyển với hạn mức không quá 25000 USD/người/năm
+ Đối với cá nhân đi sang nước ngoài theo phương thức công tác hoặc du lịch hoặc tham viếng thì có thể mua ngoại tệ và mang theo bên mình khoảng 7000 USD/người/lần, trong quá trình tham gia du lịch hoặc thăm viếng nước ngoài thì những thân nhân của người trên có thể chuyển khoản tiền với hạn mức không quá 25000 USD/ Người/năm để trợ cấp
+ Đối với cá nhân là công dân Việt Nam mà phải nghĩa vụ trợ cấp thân nhân đang định cư ở nước ngoài như: Ông, bà nội/ngoại; Bố, mẹ, con đẻ/nuôi; Vợ, chồng; Anh/chị/em ruột thì không hạn mức số tiền chuyển nhượng, còn các đối tượng khác thì hạn mức chuyển tiền tối đa không quá 25000 USD/người/năm, được hưởng thừa kế thì chuyển trên số tiền người đó được hưởng thừa kế theo
Trang 8pháp luật hoặc theo di chúc, chuyển sang bên phía nước ngoài định cư thì số tiền được gửi tổng số tài sản mà cá nhân đang có được coi hợp pháp
III) Các vấn đề pháp lý phát sinh trong hoạt động chuyển ngoại tệ ra nước ngoài
1 Nguy cơ chảy máu ngoại tệ
Báo cáo thường niên “Hồ sơ các hoạt động quốc tế trong lĩnh vực bất động sản ở Mỹ năm 2017” do Hiệp hội quốc gia chuyên viên địa ốc Mỹ (NAR) công bố ngày 18-7 cho biết, dòng tiền từ Việt Nam chuyển vào Mỹ để đầu tư bất động sản chiếm 2% (tương đương 3,06 tỷ USD), đưa Việt Nam xếp ở vị trí thứ 6 trong tổng giá trị các dòng tiền trên thế giới đổ vào mua nhà ở Mỹ (tăng 2 bậc so với báo cáo năm 2016 và ngang hàng các nước như Đức, Nhật Bản) Đây
là thí dụ tiêu biểu cho thấy một lượng lớn ngoại tệ của Việt Nam đang chảy ra nước ngoài
Theo nhiều nguồn thống kê, chỉ riêng dòng ngoại tệ chảy khỏi Việt Nam qua các kênh mua nhà, du lịch, học tập và chữa bệnh ở nước ngoài mỗi năm cũng hàng tỷ USD, gần tương đương khoản kiều hối mà Việt Nam nhận được (9
tỷ USD), bằng hai phần ba lượng vốn FDI thực hiện trong năm 2016 (15,8 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay) Chỉ tính riêng năm 2015, thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, lượng ngoại tệ từ Việt Nam chảy ra nước ngoài dưới dạng tiền và tiền gửi là 14,2 tỷ USD; trong đó, riêng các ngân hàng trong nước đã chuyển 4,6 tỷ USD ra gửi ở nước ngoài
Đáng chú ý, bên dòng vốn đầu tư của các doanh nghiệp lớn, như: Tập đoàn Viễn thông quân đội - Viettel, Vinamilk, các công ty của Tập đoàn FPT, Tập đoàn Cao-su Việt Nam, các ngân hàng có vốn nhà nước,… thì tỷ trọng đầu
tư của khối tư nhân, nhất là đầu tư của cá nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ra nước ngoài ngày càng tăng, hình thức phổ biến nhất là thông qua hợp tác kinh tế song phương, nhằm thúc đẩy kết nối kinh tế Việt Nam với các nền kinh tế trong
Trang 9khu vực, tiêu biểu là với các nước: Lào, Cam-pu-chia, Mi-an-ma, Liên bang Nga, Vê-nê-xu-ê-la, Pê-ru,
Nghị định 83/2015/NĐ-CP được ghi nhận là có nhiều điểm mới, phù hợp thực tiễn và yêu cầu của sự phát triển, như: đơn giản hóa thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài; tăng cường quản lý hoạt động đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là những dự án có sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước hoặc các dự án có quy mô lớn, sử dụng nhiều ngoại tệ; nêu rõ các nguyên tắc của việc chuyển vốn cũng như thực hiện nghiêm chế độ báo cáo Nghị định tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp trong nước đầu tư ra nước ngoài, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này
Trên thực tế có thể thấy hình thức đầu tư trực tiếp, gián tiếp và một lượng lớn ngoại tệ chảy ra nước ngoài để phục vụ nhu cầu học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi của người dân sẽ ngày càng đa dạng về hình thức và lĩnh vực, gia tăng về quy mô Nhiều nước trên thế giới cũng cho phép dòng chảy ngoại tệ ra nước ngoài theo những kênh như vậy, thậm chí với quy mô lớn hơn nhiều Điều này
là bình thường trong nền kinh tế thị trường, và sẽ không có gì đáng lo ngại nếu diễn ra trong khuôn khổ pháp luật và được kiểm soát minh bạch Đây là những hoạt động có nhiều tác động đa chiều, giúp các doanh nghiệp tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm; thêm cơ hội tiếp cận thị trường và các thành tựu khoa học - công nghệ, kinh nghiệm trong quản lý đầu tư, cũng như khai thác những cơ hội kinh doanh mới, góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, làm tăng giá trị xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, tạo động lực phát triển đất nước; góp phần khẳng định các cam kết
và nâng cao vị thế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trong bối cảnh hội nhập, tôn trọng quyền tự do kinh doanh và dịch chuyển vốn, lao động, hàng hóa và dịch vụ trên phạm vi toàn cầu, không nước nào có thể chỉ một chiều kêu gọi và thu hút ngoại tệ vào trong nước, đồng thời cấm không cho chuyển ngoại tệ ra nước ngoài để đáp ứng các nhu cầu sống, học tập và chữa bệnh chính đáng của người dân có thu nhập cao Tuy nhiên, bên
Trang 10cạnh việc chủ động cải thiện môi trường đầu tư để tăng sức hấp dẫn và giữ chân những dòng vốn cần thiết cho phát triển kinh tế, tạo việc làm cho người dân, các
cơ quan chức năng cần tăng cường bảo hộ pháp lý và giảm chi phí, rủi ro chính sách cho các dòng ngoại tệ chảy ra nước ngoài một cách trật tự, minh bạch, trong khuôn khổ luật pháp và có cơ chế điều tiết phù hợp Cần tăng cường kiểm soát và ngăn chặn những dòng tiền “bẩn”, có nguồn gốc từ tham nhũng, buôn lậu và từ các hoạt động bất minh khác đã, đang và sẽ tiếp tục tìm đường chuyển lậu hoặc khai thác những kẽ hở từ kênh chuyển tiền chính thức để chuyển ra nước ngoài, ẩn náu an toàn dưới các vỏ bọc khác nhau
2 Bất cập trong quản lý dòng tiền dẫn đến chuyển tiền bất hợp pháp, rửa tiền
Một trong những bất cập lớn nhất trong hoạt động chuyển tiền ra nước ngoài chính là tạo cơ hội cho tội phạm rửa tiền, biến những đồng tiền bẩn thành tiền sạch Từ các quy định pháp luật cũng như từ chính các quy định của các tổ chức tín dụng mặc dù đã cố gắng quản lý dòng tiền một cách chặt chẽ nhất nhưng vẫn không tránh khỏi những thủ đoạn rửa tiền ngày càng chuyên nghiệp
và tinh vi
Báo cáo tháng 12/2015 của Global Financial Integrity (GFI- Tổ chức Toàn vẹn Tài chính Toàn cầu) có tên Luồng tài chính phi pháp từ các quốc gia đang phát triển: 2004-2013 của 2 tác giả Dev Kar và Joseph Spanjers thống kê được tại Việt Nam trong giai đoạn 2004-2013, có tổng cộng 92,935 tỷ USD được chuyển phi pháp từ Việt Nam ra nước ngoài Vào thời điểm 2013, lượng tiền chuyển phi pháp từ Việt Nam ra nước ngoài lên tới 17,837 tỷ USD
Pháp lệnh Ngoại hối sửa đổi năm 2013 có quy định cởi mở hơn việc chuyển ngoại tệ ra nước ngoài rất dễ tạo kẽ hở pháp lý nảy sinh trường hợp lợi dụng sự thông thoáng trong pháp lệnh ngoại hối mới nhằm mục đích chuyển tiền bất hợp pháp, gây khó khăn trong phòng chống rửa tiền