1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn công nghệ vật liệu composite

30 152 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 373,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vật liệu xây dựng chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong các công trình xây dựng. Chất lượng của vật liệu có ảnh hưởng lớn đến chất lượng và tuổi thọ của công trình. Muốn sử dụng vật liệu xây dựng có hiệu quả kinh tế và kĩ thuật cao thì cần phải hiểu biết về vật liệu xây dựng. Trong khi đó, thuật ngữ vật liệu composite ra đời trong bối cảnh có liên quan đến việc chế tạo các loại vật liệu có những tính chất ưu việt để đáp ứng nhu cầu cho các nghành kĩ thuật cao như chế tạo máy bay, vệ tinh.

Trang 1

Mục lục

Mục lục 1

DANH MỤC VIẾT TẮT 3

DANH MỤC HÌNH ẢNH 4

Lời nói đầu 5

1 Khái niệm chung 6

1.1 Khái niệm 6

1.2 Lịch sử sử dụng và phát triển vật liệu composite ở nước ta 6

2.Thành phần và cấu tạo của composite 7

2.1 Nền 7

2.2 Cốt 8

2.3 Tính chất 8

3 Đánh giá chất lượng của composite 9

3.1 Composite cốt dạng hạt phân tán 9

3.2 Composit cốt sợi 10

4 Vật liệu Composite trong kết cấu xây dựng 10

4.1 Bêtông và các sản phẩm bêtông 10

4.1.1 Bêtông nặng 11

4.1.2 Bêtông nhẹ 15

4.2 Bêtông cốt thép (BTCT) 18

4.3 Xi măng amiăng 19

4.3.1 Nguyên vật liệu 19

4.3.2 Các loại sản phẩm xi măng amiăng 20

4.4 Tấm chất dẻo thủy tinh 22

4.5 Tấm sợi gỗ 25

Trang 2

4.6 Tấm dăm bào gỗ fibrolit 26

4.7 Vật liệu lợp và vật liệu cách nước từ bitum và grudong 27

4.7.1 Giấy lợp 27

4.7.2 Vật liệu cách nước 28

Kết luận 29

Tài liệu tham khảo 30

Trang 4

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1: Bê tông cho công trình thủy điện 11

Hình 2: Bê tông đường 12

Hình 3: Bê tông polymer 14

Hình 4: Đường ống bê tông tẩm 14

Hình 5: Gạch bê tông nhẹ dùng trong xây tường ngen 15

Hình 6: Bê tông tổ ong 16

Hình 7: Cầu thanh bê tông thép 19

Hinh 8: Bê tông cốt thép trong xây dựng cầu 19

Hình 9: Tấm lớp 20

Hình 10: Pono ximăng amiăng 21

Hình 11 : Sợi thủy tinh dạng thẳng liên tục (nhóm I) trong kết cấu tấm bao che 23

Hình 12: Mái lợp cho phân xưởng cho ánh sáng đi qua bằng tấm chất dẻo thủy tinh (nhóm II) 24

Hình 13: Kệ bếp khung inox của sợi thủy tinh bằng tectolite 24

Hình 14: Tấm sợi gỗ cách nhiệt 25

Hình 15: Tấm dăm bào sợi gỗ fibrolite dùng làm tường cách âm, cách nhiệt 26

Hình 16: Mái nhà làm bằng giấy 27

Trang 5

Lời nói đầu

Vật liệu xây dựng chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong các côngtrình xây dựng Chất lượng của vật liệu có ảnh hưởng lớn đến chất lượng và tuổithọ của công trình Muốn sử dụng vật liệu xây dựng có hiệu quả kinh tế và kĩthuật cao thì cần phải hiểu biết về vật liệu xây dựng

Trong khi đó, thuật ngữ vật liệu composite ra đời trong bối cảnh có liênquan đến việc chế tạo các loại vật liệu có những tính chất ưu việt để đáp ứng nhucầu cho các nghành kĩ thuật cao như chế tạo máy bay, vệ tinh

Với sự lớn mạnh và phát triển không ngừng của khoa học vật liệucomposite, cho đến nay chúng đã ứng dụng trong tất cả các lĩnh vực khoa họccông nghệ, đặc biệt là nghành xây dựng

Sự ra đời của những vật liệu composite với đặc tính: bền, cứng, đàn hồi,rẻ, đã dần thay thế cho các vật liệu xây dựng truyền thống vốn nặng và ít bền vớimôi trường thời tiết

Hy vọng trong tương lai gần sẽ càng có nhiều vật liệu composite được ứngdụng trong xây dựng cả về số lượng và chất lượng

Bài tiểu luận “ứng dụng của vật liệu composite trong lĩnh vực xây dựng”được trình bày dựa trên những kiến thức về vật liệu xây dựng đã được biên soạntrong các tài liệu cho lĩnh vực xây dựng

Mặc dù đã cố gắng hết sức để đem lại tầm nhìn khái quát và chi tiết củavật liệu composite trong xây dựng nhưng chắc chắn còn nhiều thiếu sót Kínhmong giáo viên bộ môn phê bình và đóng góp ý kiến

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

1 Khái niệm chung

1.1 Khái niệm

Vật liệu composite là một hệ thống di pha (không đồng nhất) được chế tạo

từ 2 cấu tử trở lên sao cho đặc tính của từng cấu tử vẫn giữ nguyên Một cấu tửtrong đó có tính chất liên tục trên toàn bộ khối vật liệu được gọi là cấu tử nền Cấu

tử khác phân bố gián đoạn trong khối vật liệu được gọi là cấu tử cốt (làm đặc)

Trong composite các cấu tử có hiệu quả tổng hợp, tạo ra một chất lượng mớicho vật liệu, khác với tính chất của các cấu tử ban đầu Trong composite kết cấuhiệu quả đó là hệ số phẩm chất (hệ số chất lượng kết cấu) cao do việc giảm khốilượng, năng suất tăng cao, thời gian sử dụng tăng

Những loại vật liệu composite thuộc xây dựng có thể kể đến là bê tông, bêtông cốt thép, bê tông cốt sợi, xi măng amiăng, tấm sợi gỗ, tấm dăm bào gỗ, tấmchất dẻo có cốt (sợi, hạt) Trong các loại cốt thì cốt sợi hay dùng hơn cả

Việc xuất hiện thuật ngữ composite có liên quan đến một hướng kĩ thuậthoàn toàn mới: đó là việc hình thành một loại công nghệ chế tạo ra những loại vậtliệu cường độ cao, chủ yếu trong chế tạo máy bay, vệ tinh và chế tạo máy Thí dụnhư việc chế tạo ra loại chất dẻo sợi thủy tinh gồm có cấu tử nền là polyme và cấu

tử cốt là sợi thủy tinh Vì vậy việc chế tạo ra một loại vật liệu mới cho xây dựngtrong tương lai có thể sẽ phải gắn với việc sử dụng lý thuyết và công nghệ của vậtliệu composite

1.2 Lịch sử sử dụng và phát triển vật liệu composit ở nước ta

Ở các nước phát triển trên thế giới thì vật liệu composite đã phát triển từlâu, nhưng với nước ta thì đây vẫn coi là vật liệu mới Thời gian ứng dụng chưalâu và thời gian ứng dụng ở nước ta còn hạn chế

Có thể nói vật liệu composite bắt đầu phát triển từ 1985, trên cơ sở nhựapolyester không no (UPE) và sợ thủy tinh để tạo một số phẩm như cano, ghexuồng nhỏ mà lúc bấy giờ được xem là một loại vật liệu mới

Trang 7

Loại vật liệu này bằng sợi thường bằng sợi liên tục đã triển khai tại ThànhPhố Hồ Chí Minh năm 1986, trên cơ sở nhựa UPE và sợi thủy tinh Tuy nhiên vậtliệu composite thực phát triển 1995 đến nay, kể cả chất lượng và số lượng, đặcbiệt đồng bằng sông Cửu Long các sản phẩm như: ghe, thuyền, nhà chống lũ Công nghệ chế tạo vật liệu composite nhanh chóng phát triển, một số cơ sở nhưtrung tâm nghiên cứu vật liệu polymer Đại học Bách Khoa thành phố Hồ ChíMinh, trung tâm kỹ thuật và công nghệ quốc gia đã nghiên cứu chế tạo và ứngdụng vật liệu composite cốt sợi thủy tinh để chế tạo ra hàng loạt các sản phẩmphục vụ quốc phòng và đời sống như: vỏ thuyền, cano, tàu tuần tra, phao xuồng,tháp nước, thùng và bể chứa, cầu và bồn tắm, cửa ván cống thủy lợi, sà lan, nhàlưu động, tấm lợp, vòng che máy bay và phao máy bay trinh sát điều khiển từ xa,các kết cấu chiệu lực xây cho ngành mở và xây dựng

Cùng với sự phát triển trên nhu cầu về nhập nguyên vật liệu ngày càngtăng Công nghệ sử dụng ở nước ta vẫn chủ yếu công nghệ lát tay, công nghệ phun

và công nghệ tiên tiến khác vẫn được áp dụng Tuy nhiên ta thấy sản phẩm phục

vụ trong đời sống Hầu hết các nước trong khu vực đều đã có nhà máy chế tạo sợithủy tinh và polyester chuyên dùng cho vật liệu composite Hiện nay ngành vậtliệu composite của nước ta đang phát triển và hứa hẹn cho ra nhiều vật liệu mớiứng dụng trong xây dựng, quân sự

2 Thành phần và cấu tạo của composite

Composite là vật liệu có tổ chức đa pha mà phổ biến nhất là chúng tạo nênthành phần cơ bản là vật liệu nền và cốt

2.1 Nền

Là pha liên tục và đóng vai trò chủ yếu Nó liên kết toàn bộ các phần khốicomposite đồng nhất Tạo khả năng để tiếng hành các phương pháp gia côngcomposite thành các chi tiết theo thiết kế Che phủ bảo vệ cốt tránh hư hỏng cơ học

và hóa học của môi trường Nền có thể là các vật liệu khác nhau, theo bản chất củavật liệu nền có thể phân composite ra một số nhóm lớn sau:

 Vật liệu nền polymer (composite chất dẻo)

Trang 8

 Vật liệu nền kim loại (composite kim loại).

 Vật liệu nền gốm, vật liệu nền cacbon

 Nền hỗn hợp

2.2 Cốt

Trong toàn bộ khối vật liệu composite, xét về mặt sắp xếp thì cốt phân bốkhông liên tục Về mặt bản chất thì cốt rất đa dạng tùy vào tính chất của compositecần chế tạo

Cốt đóng vai trò tạo nên độ bền cao, mođun đàn hồi cao do đó bản thân cốtphải có độ bền cao, modun đàn hồi cao và nhẹ để có độ bền riêng cao Cốt có thểđược tạo thành từ nguồn kim loại (thép không gỉ, volfram, ) vô cơ (bo, các bon,thủy tinh, gốm, ) hay polymer (polyamit)

Các yếu tố của bản chất cốt ảnh hưởng đến khả năng liên kết với nền như:diện tích bề mặt, khả năng hấp phụ trên bề mặt, độ bền cấu trúc cốt và độ xốp củacốt hạt

Tùy theo phương pháp tạo cốt, composite được phân ra:

 Tạo các lớp sợi song song liên tục

 Tạo các lớp vải hỗn độn trong hệ không gian

 Cường độ của mối liên kết trên bề mặt phân chia nền và cốt

Quan hệ của những thông số này đặc trưng cho toàn bộ các tính chất cơ học

và cơ chế của sự phá hủy vật liệu

Trang 9

Khả năng làm việc của composite được đảm bảo bằng việc lựa chọn đúngcấu tử và cả bằng công nghệ sản xuất thích hợp để sao cho giữ được các tính chấtban đầu của các cấu tử.

Sự đa dạng của vật liệu sợi và vật liệu nền cũng như sự đa dạng các sơ đồphân bố cốt sợi, cho phép điều chỉnh một cách có định hướng cường độ, độ cứng,mức độ chịu nhiệt và các tính chất khác của vật liệu composite bằng cách lựa chọnthành phần, thay đổi tỉ lệ các cấu tử

Tùy theo bản chất dạng cốt, composite phân thành hai nhóm: composite cốtdạng hạt phân tán và dạng sợi Chúng khác nhau về cấu tạo và cơ chế tạo cường độcao

3 Đánh giá chất lượng của composite

3.1 Composite cốt dạng hạt phân tán

Hạt chỉ bắt đầu thể hiện tác dụng lèn chặt của mình khi nó hạn chế đượcbiến dạng của nền bằng sự chèn lấp cơ học, điều đó phụ thuộc vào quan hệ khoảngcách giữa các hạt với đường kính của chúng, cũng như vào đặc tính đàn hồi củanền và hạt

Modun đàn hồi của composite cốt hạt phân tán cần phải thỏa mãn đẳngthức của ứng suất trong các cấu tử

En: modun đàn hồi của nền

Eh: modun đàn hồi của hạt

Bất kỳ sự sai lệch dương nào đối với phương trình này đều biểu hiện sự lènchặt nền, có nghĩa là tác dụng lèn chặt của hạt

Trang 10

Có những vật liệu mà modun đàn hồi của nó cao hơn cả sợi thủy tinh như:sợi chế tạo từ bore, cacbit silic, sợi cacbon, sợi chế tạo từ các tinh thể hoàn thiệncủa oxit nhôm (saphia),…nhưng giá thành các loại sợi này còn cao, chúng mớiđược dung ở những lĩnh vực mà giá thành vật liệu được xếp ở hàng thứ hai, hyvọng giá thành loại vật liệu mới này giảm xuống và chúng sẽ được dùng trong lĩnhvực xây dựng.

4 Vật liệu Composite trong kết cấu xây dựng

Trang 11

các hạt cốt liệu thành một khối dạng đá và được gọi là bêtông Chất kết dính có thể

có thể là xi măng các loại, thạch cao, vôi và cũng có thể là chất kết dính hữu cơ(polyme) Bêtông có cốt thép gọi là bêtông cốt thép

Trong bêtông ximăng cốt liệu thường chiếm 80÷85%, còn xi măng chiếm8÷15% khối lượng

Bêtông và Bêtông cốt thép được sử dụng rộng rãi trong xây dựng hiện đại vìchúng có ưu điểm sau:

Cường độ tương đối cao, có thể chế tạo được những loại bêtông có cường

độ, hình dạng và tính chất khác nhau

Giá thành rẻ

Bền vững và ổn định đối với thời tiết, nhiệt độ, độ ẩm

Tuy vậy chúng còn tồn tai những nhược điểm sau:

Nặng (γo = 2200÷2400 kg/m3)

Cách âm cách nhiệt kém (λ=1,05÷1,5 kCal/m.oC.h)

Khả năng chống ăn mòn yếu

Phân loại:

4.1.1 Bêtông nặng

Có khối lượng (γo > 1800) gồm các loại chính sau:

Bêtông thủy công ( BTTC)

Dùng để xây dựng những

công trình thủy công hoặc bộ

phận công trình nằm thường

thọ cho công trình, BTTC phải có

cường độ, tính ổn định nước,

tính chống thấm nước Hình 1: Bêtông cho công trình thủy điện

Trang 12

Khi thời hạn chịu tải của thiết kế của công trình nhỏ hơn 90 ngày thì có thểxác định cường độ ở 60 và 28 ngày.

Để đảm bảo độ bền lâu, chống được tác dụng ăn mòn của môi trường cầnphải chọn loại xi măng và sử dụng các biện pháp chống ăn mòn thích hợp chobêtông

Loại xi măng có thể dùng cho BTTC có thể là: xi măng pooclăng, xi măngpooclăng puzola, xi măng pooclăng bền sunfat Để nâng cao độ đặc cho BTTC cóthể sử dụng phụ gia hoạt động bề mặt

Đối với BTTC, tính chống thấm nước là tính chất rất quan trọng, độ chốngthấm nước được xác định bằng áp lực nước tối đa khi nước còn chưa thấm qua mẫu

ở tuổi 90 ngày Kết cấu phải chịu áp lực nước ở tuổi sớm thì có thể xác định tínhchất này ở tuổi 60 và 28 ngày

Bêtông đường (BTĐ)

Là loại bêtông nặng được sử dụng rộng rãi cho các lớp áo đường ôtô,đường trong các xí nghiệp công nghiệp, đường thành phố và đường băng sân bay

Bêtông trong các lớp áo đường làm việc trong những điều kiện khó khăn

Nó không những chịu tác động củaphương tiện giao thông mà còn chịu tácdụng của thời tiết mưa nắng khô ẩm liêntiếp Do đó, đòi hỏi BTĐ phải có cường

độ cao, đặc biệt là cường độ chịu uốn và

độ chống mài mòn lớn

Độ chống cọ mòn của BTĐ phụ thuộcvào cấu trúc và thành phần lớp trên của áo đường Hỗn hợp bêtông dẻo có tỉ lệnước/ xi măng (N/X) lớn Để giảm N/X và tăng nhanh quá trình rắn chắc củabêtông, người ta còn sử dụng phụ gia hoạt động bề mặt và phụ gia rắn nhanh

Xi măng nên dùng là xi măng poolăng thường và xi măng poolăng đường

có mác không thấp hơn PC40 ( cho lớp móng không nhỏ hơn PC30) Các chỉ tiêu

Hình 2: Bêtông đường

Trang 13

tính chất của ximăng: lượng sót trên sàng No-008 không lớn hơn 15%, thành phầnkhoáng: C3S 50÷55%, C2S 20÷25%, C4AF 20÷25%, C3A không lớn hơn 8%.

Cát nên dùng cát thiên nhiên (hạt lớn, hạt trung bình, hạt nhỏ) Cát hạt nhỏ

và rất nhỏ chỉ dùng khi cho thêm khoảng 35% mạt đá

Cốt liệu lớn phải có thành phần hạt hợp lý Đường kính lớn nhất của cốtliệu 40mm dùng cho áo đường một lớp và lớp dưới của áo đường 2 lớp, 20mmdùng cho lớp trên của áo đường 2 lớp Đối với BTĐ tốt nhất nên dùng đá dăm vàsỏi

Bêtông bền axit (BTBA)

Dùng để xây dựng các bể chứa, đường ống và các thiết bị khác trong côngnghiệp hóa học, thay thế cho những loại vật liệu đắt tiền như chì lá, gốm chịu axit

CKD trong BTBA là thủy tinh lỏng – loại natri silicat hoặc kali ở dạng lỏng

có khối lượng riêng khoảng 1,4 kg/l Chất độn là bột khoáng bền axit nghiền từ cátthạch anh tinh khiết, andesit, bazan và diaba, còn chất đống rắn thường là natrifloruasilicat (Na2SiF6) Cát dùng là cát thạch anh, đá dăm nghiền từ đá granite,andesite, quaczite…Thành phần hạt phải đảm bảo chế tạo được bêtông có độ đặccao

Bêtông được đầm chặt bằng phương pháp rung động, bảo dưỡng bêtôngkéo dài 10 ngày trong không khí, với nhiệt độ 15÷20oC Sau khi rắn chắc, bêtôngđược sửa sang bằng cách xoa dung dịch axit HCl và H2SO4

BTBA khá bền vững với axit đậm đặc, kém bền với dung dịch kiềm Nước

có thể phá hủy BTBA trong vòng 5÷10 năm BTBA được dùng làm lớp bảo vệcho bêtông cốt thép và kim loại

Bêtông polyme (BTP)

Trang 14

Là loại vật liệu hỗn hợp, trong đó bộ khung silicate được liên kết vớiPolyme hữu cơ.

Sản phẩm bêtông hay bêtông cốt thép sau khi đã sấy khô được cho vào mộtbình kín để chân không hóa và tẩm dung dịch polyme ( metylmetacrilat, stirôn,…).Sau đó các monome dược trùng hợp lại trong các lỗ rỗng của bêtông Để tăngnhanh quá trình trùng hợp có thể sử dụng

phương pháp phóng xạ hoặc tác nhân

nhiệt Sản phẩm có thể được tẩm lên toàn

bộ chiều dày hoặc chỉ trên lớp mặt

Tính chất của BTP về cơ bản là

khác với tính chất của bêtông thường

Từ bêtông thường mác 300 hay 500 có

thể chế tạo được bêtông BTP có cường độ nén đến 1200÷3000 kG/cm2, cường độchịu kéo 120÷200 kG/cm2, còn độ chống mài mòn thì tăng lên 3÷4 lần, môđun đànhồi cũng tăng 1,3÷1,6 lần Độ từ biến của BTP nhỏ hơn nhiều lần, Độ chống thấmnước tăng khoảng 7 lần so với bêtông thường

Tuy vậy, việc tẩm polyme làm cho giá thành sản phẩm tăng lên, nên chỉdùng BTP trong những trường hợp có nhu cầu

Hình 3: Bêtông polyme

Hình 4: Đường ống bêtông tẩm

Trang 15

Để chế tạo BTNCLR người ta dùng xi măng poolăng thường, xi măngpooclăng rắn nhanh, xi măng poolăng xỉ Cốt liệu chủ yếu là cốt liệu rỗng vô cơ.Đối với bêtông nhẹ cách nhiệt và Bêtông chịu lực cách nhiệt có thể dùng cốt liệuhữu cơ chế tạo từ gỗ, thân cây bông, hạt polystiron bọt…

Cốt liệu rỗng vô cơ có nhiều loại: loại thiên nhiên (sỏi đá bọt, tup núi lửa,tup đá vôi, đá vôi vỏ sò…) và loại nhân tạo (keramzit, agloporit, peclit,…)

Sử dụng cốt liệu rỗng thiên nhiên kinh tế hơn, nhưng không phải nơi nàocũng có Cốt liệu rỗng nhân tạo từ thải phẩm công nghiệp (xỉ lò cao, tro xỉ nhiệtđiện, ) thì về số lượng bị hạn chế và chất lượng không được đảm bảo nên ít dùng.Ngày nay, ở nhiều nước trên thế giới đang đẩy mạnh công nghiệp sản xuất cốt liệurỗng bằng cách nung

Hình 5: Gạch bê tông nhẹ dùng trong xây tường ngăn

Ngày đăng: 28/07/2020, 20:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] PGS.TSKH Phùng Văn Lự,Vật liệu xây dựng, NXB Giáo Dục, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật liệu xây dựng
Nhà XB: NXB Giáo Dục
[2] Nguyễn Văn Dán, Công nghệ vật liệu mới, NXB ĐH Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ vật liệu mới
Nhà XB: NXB ĐH Quốc Gia TP. HồChí Minh
[3] GS.TS La Văn Bình, Khoa học và công nghệ vật liệu, NXB ĐH Bách Khoa Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ vật liệu
Nhà XB: NXB ĐH BáchKhoa Hà Nội
[4] Trần Ích Thịnh, Vật liệu Composite, NXB Giáo Dục, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật liệu Composite
Nhà XB: NXB Giáo Dục
[5] B.N.Arzamaxov, Vật liệu học, NXB Giáo Dục, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật liệu học
Nhà XB: NXB Giáo Dục
[6] Phạm Phố, Vật liệu và vật liệu mới, NXB ĐH Quốc Gia TP.Hồ Chí Minh, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật liệu và vật liệu mới
Nhà XB: NXB ĐH Quốc Gia TP.Hồ ChíMinh

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w