1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

SANG KEN KINH NGHIEM moi nhat 1

56 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 360,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.1.1. Tiến hành khảo sát Khi thấy được tầm quan trọng, ý nghĩa của việc tìm hiểu đề và lập dàn ý cho bài văn nghị luận có liên quan mật thiết tới hiệu quả tăng, giảm chất lượng bộ môn Văn. Tôi đã tiến hành các cuộc điều tra bằng phiếu khảo sát với 112 học sinh của 4 lớp 11 trong trung tâm là 11A, 11B, 11C, 11D với mẫu phiếu sau: Câu 1: Em có thói quen phân tích đề văn trước khi viết bài không? a. Thường xuyên b. Thỉnh thoảng c. Không Câu 2: Em có thói quen lập dàn ý trước khi viết bài văn không? a. Thường xuyên b. Thỉnh thoảng c. Không Câu 3: Hãy phân tích đề và lập dàn ý cho đề bài sau: Ngạn ngữ có câu: “Gieo thói quen, gặt tính cách”. Suy nghĩ của anhchị về vấn đề trên. Câu 4: Yêu cầu học sinh thực hiện ở nhà, buổi sau nộp: Hãy viết bài văn với đề bài đã cho ở Câu 3. 2.1.2. Kết quả khảo sát Với câu hỏi số 1: Khảo sát thói quen phân tích đề với câu hỏi: Em có thói quen phân tích đề văn trước khi viết bài không?, cho kết quả như sau: Tổng số học sinh Trả lời Thường xuyên Thỉnh thoảng Không 112 22 28 62 100% 19,6 25,0 55,4 Bảng 1: Kết quả khảo sát thói quen phân tích đề của học sinh trước khi áp dụng các biện pháp. Với câu hỏi số 2: Khảo sát thói quen lập dàn ý với câu hỏi: Em có thói quen lập dàn ý trước khi viết bài văn không?, cho kết quả như sau: Tổng số học sinh Trả lời Thường xuyên Thỉnh thoảng Không 112 11 23 78 100% 9,8 20,5 69,7 Bảng 2: Kết quả khảo sát thói quen lập dàn ý của học sinh trước khi áp dụng các biện pháp. Với câu hỏi số 3: Khảo sát kỹ năng phân tích đề, lập dàn ý với câu hỏi: Hãy phân tích đề và lập dàn ý cho đề bài sau: Ngạn ngữ có câu: “Gieo thói quen, gặt tính cách”. Suy nghĩ của anhchị về vấn đề trên. Tổng số học sinh Kết quả Phân tích đề Lập dàn ý Đạt yêu cầu Không đạt yêu cầu Đạt yêu cầu Không đạt yêu cầu 112 31 81 26 86 100% 27,7 72,3 23,2 76,8 Bảng 3: Kết quả khảo sát kỹ năng phân tích đề, lập dàn ý của học sinh trước khi áp dụng các biện pháp. Bảng 4: Thống kê kết quả bài viết văn của HS với đề bài đã cho ở câu hỏi số 3. Tổng số HS Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém 112 6 14 46 25 21 100% 5,4 12,5 41,1 22,3 18,7 Bảng 4: Kết quả bài viết của học sinh trước khi áp dụng các biện pháp. 2.2. Phân tích kết quả khảo sát Dựa vào bảng kết quả khảo sát thói quen phân tích đề và lập dàn ý trước khi viết bài văn nghị luận (Bảng 1 và 2) cho thấy phần đa học sinh không có thói quen phân tích đề và lập dàn ý trước khi viết bài (chiếm 55,4 % và 69,7%). Khi hỏi những học sinh không bao giờ phân tích đề, lập dàn ý trước khi viết bài thì hầu hết các em đều xem nhẹ khâu này, một số em cho biết: “Khi đi thi thầy cô chỉ chấm điểm bài viết chứ không ai yêu cầu phải nộp phần phân tích đề và lập dàn ý nên em không làm”; “Em không quen lập dàn ý, nó còn khó hơn viết văn, nên em cứ vừa viết vừa nghĩ ý”;… một số HS không thường xuyên phân tích đề và lập dàn ý cho rằng: “Việc phải đặt bút phân tích và lập dàn ý một đề văn sẽ rất phí thời gian làm bài nên thường những bài viết được giao về nhà em mới thực hiện khâu này, còn viết trên lớp em thấy không cần thiết vì mất thời gian”… Khi khảo sát kỹ năng phân tích đề, lập dàn ý với một đề văn cụ thể, tôi thấy các em đã cố gắng phân tích đề và lập dàn ý nhưng số học sinh đạt yêu cầu còn rất thấp. Tệ hại hơn, phần đa các em không biết lập dàn ý (có ghi bố cục 3 phần Mở bài, Thân bài, Kết bài nhưng lại viết thành các đoạn văn; hoặc nêu ra một vài ý nhưng không biết sắp xếp các ý cho logic...). Dẫn đến việc mất thời gian lại không hiệu quả. Quan sát quá trình viết một đề văn cụ thể của các em, tôi thấy hầu hết học sinh chỉ đọc đề một vài lần và viết bài luôn, không tìm ý trước mà vừa viết vừa suy nghĩ để tìm ý. Một số em chưa biết cách phân tích đề làm cơ sở cho việc tìm ý nên khi bắt tay tay vào viết rất lúng túng, viết không đúng yêu cầu của đề bài và lạc đề dẫn đến chất lượng bài viết không cao, tỉ lệ bài viết Khá, Giỏi rất thấp (Bảng 4). Đặc biệt đối với đề văn mở như trên các em còn gặp khó khăn trong khâu xác định phương thức biểu đạt, các thao tác tư duy để làm bài, bị động trong quá trình viết bài. 2.3. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng

Trang 1

UBND TỈNH HẢI DƯƠNG

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN

Tên sáng kiến……….

Bộ môn (lĩnh vực):………

Trang 2

TÓM TẮT SÁNG KIẾN

1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến

Nghị luận là kiểu bài quan trọng trong phân môn làm văn ở THPT,kiểu bài này có phạm vi rất rộng, đề tài lại phong phú đa dạng, học sinhkhi đứng trước kiểu bài này các em sẽ vô cùng lúng túng Nếu các em bỏqua bước tìm hiểu đề và lập dàn ý trước khi viết bài chắc chắn sẽ rất khó

để đảm bảo đồng thời các yếu tố cần thiết cho một bài văn nghị luận: bốcục hoàn chỉnh, lập luận chặt chẽ, hấp dẫn người đọc

Hơn nữa, đối tượng học sinh của Trung tâm Giáo dục Nghề nghiệp –giáo dục Thường xuyên với chất lượng đầu vào còn khiêm tốn, kĩ năng tạolập văn bản của các em còn hạn chế, thậm chí một số học sinh không có khảnăng viết được một văn bản hoàn chỉnh, bố cục hợp lí, cấu trúc rõ ràng Khiquan sát các em làm bài kiểm tra tôi thường thấy các em bỏ qua khâu tìm hiểu

đề, lập dàn ý (ta quen gọi là nháp) trước khi viết bài Gặp một đề văn các emchỉ bỏ ra một vài phút để đọc đề rồi cắm cúi viết Chính vì vậy bài viết củacác em thường không có chất lượng

Một thực tế nữa, trong cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT quốc gia,phần Làm văn chiếm 7 trên tổng số 10 điểm thì trong đó cả 2 câu viết vănđều thuộc dạng văn nghị luận, vì sự hạn chế về kĩ năng viết văn nghị luậnnên các em thường đánh mất rất nhiều điểm trong phần này

Là giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn tại trung tâm, tôi vô cùng trăn trở,luôn đi tìm tòi cách thức tháo gỡ giúp các em học sinh hiểu cách tìm hiểu

đề, lập dàn ý cho bài nghị luận, tự tin đạt điểm cao trong các kì thi quantrọng

2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến

Sáng kiến mà tôi đưa ra được sự quan tâm chỉ đạo của Ban giám đốctrung tâm, sự hỗ trợ góp ý của Tổ chuyên môn cùng các đồng nghiệp Đểsáng kiến có hiệu quả tối ưu nhất, bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch áp

Trang 3

dụng sáng kiến từ đầu năm học 2017-2018 với 3 lớp 11 mà tôi trực tiếpgiảng dạy đó là 11A, 11B và 11D Bên cạnh đó, bản thân tôi luôn nghiêmtúc đầu tư về trí tuệ, công sức, lòng nhiệt huyết với nghề và tận tuỵ vớihọc sinh thân yêu, đồng thời sự ủng hộ nhiệt tình của phụ huynh học sinhcũng là động lực giúp tôi quyết tâm thực hiện sáng kiến.

3 Nội dung sáng kiến:

3.1 Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến:

Trong sáng kiến này tôi đã lựa chọn nội dung sáng kiến là Rèn kĩ năng phân tích đề, lập dàn ý bài văn nghị luận cho học sinh trung tâm giáo dục Nghề nghiệp - giáo dục Thường xuyên đây là vấn đề mà ít các

thầy cô giảng dạy khối GDTX đưa ra và quan tâm đúng mức, giải pháptôi đưa ra trong sáng kiến có tính mới giúp học sinh dễ nhận biết dễ hiểu

dễ nắm được quy cách làm một bài văn nghị luận Vì thực tế phần líthuyết ở trong sách giáo khoa còn chung chung, tôi đã hướng dẫn họcsinh cách phân tích đề, lập dàn ý bài nghị luận rõ ràng hơn, cụ thể hơn rấtnhiều

3.2 Khả năng áp dụng của sáng kiến

Khả năng áp dụng và triển khai rộng rãi ở tất cả các nhà trường

THPT, đối tượng lớp 11, có thể áp dụng cả cho lớp 10,12 (khi tiếp cậnvới các bài văn nghị luận.)

Cách thức áp dụng tôi đã trình bày rất rõ ràng cụ thể: Hướng dẫn họcsinh nhận thức về tầm quan trọng của việc phân tích đề và lập dàn ýtrong bài văn nghị luận; Cách thức phân tích đề làm văn cho bài văn nghịluận; Cách thức tìm ý cho bài văn nghị luận; Cách thức lập dàn ý cho bàivăn nghị luận; Rèn kỹ năng phăn tích đề, lập dàn ý đối với từng dạng bàivăn nghị luận

4 Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến.

Học sinh đã hiểu và nắm được cách làm một bài nghị luận Biết

Trang 4

quan sát, khả năng diễn đạt, khả năng lập luận, rèn kĩ năng dựng đoạn,viết bài Chủ động hứng thú, có ý thức chủ động tìm tòi nghiên cứu thamkhảo trên nhiều kênh thông tin khác nhau.

5 Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến.

Bằng những ý tưởng sáng kiến kinh nghiệm nhỏ bé của mình được tíchlũy trong công tác giảng dạy tôi hi vọng bạn đọc đồng nghiệp có thể tìmthấy ở sáng kiến này những điều bổ ích Tuy nhiên, đây là những phátkiến của cá nhân nên cũng khó tránh khỏi những sơ ý, thiếu sót trong bản

mô tả sáng kiến Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các đồngchí trong Hội đồng xét và chấm sáng kiến các cấp, các đồng chí là lãnhđạo trường, lãnh đạo ngành, các đồng chí là bạn bè đồng nghiệp để giúptôi hoàn thiện hơn!

Tôi mạnh dạn đề nghị các cấp quản lí giáo dục và lãnh đạo trung tâmcần chú trọng hơn nữa trong việc đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất giúpgiáo viên và học sinh có môi trường học tập thuận lợi để phát triển toàndiện hơn

Trang 5

MÔ TẢ SÁNG KIẾN

1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến

1.1. Trong thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn tại Trung tâm giáo dụcNghề nghiệp – Giáo dục Thường xuyên huyện Ninh Giang và tham khảo

sự nhìn nhận, đánh giá của các đồng nghiệp tại trung tâm tôi nhận thấyhiện nay phần lớn học sinh Trung tâm giáo dục Nghề nghiệp - Giáo dụcThường xuyên đều thiếu kiến thức và kỹ năng viết bài đặc biệt là dạngvăn nghị luận Đa số học sinh làm văn theo cảm tính, các em chưa có thóiquen suy nghĩ về đề, về yêu cầu của đề, về cách tìm ý, sắp xếp các ý, vềkết cấu văn bản sắp hình thành Vì thế hiện tượng học sinh lạc đề, xa đề,viết lan man, kết cấu lộn xộn, trùng lặp, đứt mạch, mất cân đối, hoặc bàivăn kết cấu không đầy đủ, không biết triển khai luận điểm ở từng phầnhay không biết khai thác tư liệu,…xảy ra phổ biến Đó là những thiếu sótthường gặp trong kĩ năng làm văn nghị luận của học sinh tại trung tâmhiện nay

1.2. Để giúp các em làm tốt dạng bài nghị luận là một vấn đề đặt ra chogiáo viên dạy Ngữ văn ở trung tâm Trong khung cấu trúc đề thi tốt nghiệptrung học phổ thông quốc gia môn Ngữ văn đều có câu hỏi yêu cầu vậndụng kiến thức xã hội và văn học để viết bài văn nghị luận với mức 7/10điểm Vì vậy học sinh cần chuẩn bị cả về kiến thức và kĩ năng để có thể làmtốt dạng câu hỏi này trong kì thi quan trọng ở cuối cấp

1.3. Là giáo viên trực tiếp dạy bộ môn Ngữ văn khối 10, 11 và từng cónhững năm ôn thi tốt nghiệp THPT quốc gia tại Trung tâm giáo dục Nghềnghiệp – Giáo dục thường xuyên huyện Ninh Giang, tôi luôn trăn trở:Làm thế nào để giúp các em có thể chủ động tiếp cận, tổng hợp kiến thức

để làm tốt bài văn nghị luận? Cũng như làm thế nào để các em nắm đượccách thức phân tích đề và lập dàn ý bài văn nghị luận trong sách giáokhoa Ngữ Văn 11- Tập 1? Làm thế nào để các em hứng thú, thích họcVăn, say mê tìm tòi hứng thú trước một đề văn?

Trang 6

Đó cũng là những lí do khiến tôi chọn đề tài Rèn kĩ năng phân tích đề, lập dàn ý bài văn nghị luận cho học sinh trung tâm giáo dục Nghề nghiệp - Giáo dục Thường xuyên để nghiên cứu, áp dụng vào thực tế

giảng dạy ở trung tâm Hy vọng rằng, những kinh nghiệm nhỏ này cũng

sẽ góp phần tạo nên tác dụng hữu ích với đồng nghiệp

2 Cơ sở lý luận của vấn đề

2.1 Theo Luật Giáo dục tại điều 28.2: “Phương pháp giáo dục phổ thôngphải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo; phù hợp với từnglớp học, từng môn học ” Điều đó cho thấy, một trong những vấn đề cơbản trong định hướng đổi mới của nền giáo dục nước ta hiện nay là đổimới phương pháp dạy - học Ở phân môn làm văn để làm được điều đóchúng ta phải tổ chức dạy học sao cho học sinh được trang bị một hệthống kiến thức và kỹ năng cần thiết nhất đặc biệt phải giúp các em có thểvận dụng tốt nhất hệ thống kiến thức và phương pháp được cung cấp đểcác em có thể tự mình viết được một bài văn hoàn chỉnh theo bất cứ yêucầu nào

2.2 Làm văn là một công việc đầy sáng tạo và khó nhọc, không chỉ đòi

hỏi ở người viết sự am hiểu chữ nghĩa, năng lực tư duy, vốn hiểu biết màcòn thử thách trình độ tạo lập văn bản và cả nhân cách, cá tính của ngườicầm bút Phân tích đề và lập dàn ý là những thao tác, kĩ năng quan trọnglàm nên trình độ tạo lập văn bản của người làm văn

2.3 Phân tích đề và lập dàn ý là một yêu cầu có tính bắt buộc trong quytrình làm một bài văn ở trường phổ thông: có ý nghĩa quan trọng, quyếtđịnh phương hướng lựa chọn kiểu văn bản, cùng với việc sử dụng cácthao tác tư duy hoặc các phương thức biểu đạt để tạo lập văn bản và nộidung bài văn Để đánh giá một bài văn hay, căn cứ điều đầu tiên và thenchốt nhất là bài văn có đúng yêu cầu của đề bài đặt ra không? Qua việcphân tích đề và lập dàn ý học sinh có thể kiểm tra xem định hướng viếtbài của mình đã phù hợp chưa, trả lời được các câu hỏi mà Bác hồ đã thu

gọn lại: Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết cái gì? Viết như thế nào?

Trang 7

Như vậy, phân tích đề và lập dàn ý là một thao tác tư duy rất quan trọngnhằm định hướng cho hành động Chính vì vậy mà Gớt-tơ nhà văn nổitiếng của Đức đã quả quyết “Tất cả đều phụ thuộc vào bố cục” Còn Đô-xtôi-ep-xki nhà văn Nga thế kỉ XIX lại ao ước “Nếu tìm được một bản bốcục đạt thì công việc sẽ nhanh như trượt trên mỡ” Trong phạm vi nhàtrường phổ thông kĩ năng này rất cần cho học sinh để làm bất kì bài vănnào Bởi khi thành thục các kĩ năng này học sinh sẽ viết được bài văn rõràng, mạch lạc, đầy đủ ý, đúng yêu cầu của từng kiểu văn bản.

2 Thực trạng của vấn đề

2.1 Kết quả khảo sát thực tế việc phân tích đề, lập dàn ý cho

bài văn nghị luận của học sinh khối 11 tại trung tâm giáo dục Nghề nghiệp – Giáo dục Thường xuyên huyện Ninh Giang (năm học 2017-2018)

2.1.1 Tiến hành khảo sát

Khi thấy được tầm quan trọng, ý nghĩa của việc tìm hiểu đề và lậpdàn ý cho bài văn nghị luận có liên quan mật thiết tới hiệu quả tăng,giảm chất lượng bộ môn Văn Tôi đã tiến hành các cuộc điều tra bằngphiếu khảo sát với 112 học sinh của 4 lớp 11 trong trung tâm là 11A,11B, 11C, 11D với mẫu phiếu sau:

Câu 1: Em có thói quen phân tích đề văn trước khi viết bài không?

Trang 8

Câu 3: Hãy phân tích đề và lập dàn ý cho đề bài sau: Ngạn ngữ có

câu: “Gieo thói quen, gặt tính cách” Suy nghĩ của anh/chị về vấn đề trên.

Câu 4: Yêu cầu học sinh thực hiện ở nhà, buổi sau nộp: Hãy viết bài văn với đề bài đã cho ở Câu 3.

- Với câu hỏi số 3: Khảo sát kỹ năng phân tích đề, lập dàn ý với câu hỏi:

Hãy phân tích đề và lập dàn ý cho đề bài sau: Ngạn ngữ có câu: “Gieo

thói quen, gặt tính cách” Suy nghĩ của anh/chị về vấn đề trên.

Trang 9

Không đạt yêu cầu

Bảng 3: Kết quả khảo sát kỹ năng phân tích đề, lập dàn ý của học sinh

trước khi áp dụng các biện pháp.

Bảng 4: Thống kê kết quả bài viết văn của HS với đề bài đã cho ở câu hỏi số 3

Bảng 4: Kết quả bài viết của học sinh trước khi áp dụng các biện pháp.

2.2 Phân tích kết quả khảo sát

Dựa vào bảng kết quả khảo sát thói quen phân tích đề và lập dàn ý trước

khi viết bài văn nghị luận (Bảng 1 và 2) cho thấy phần đa học sinh không

có thói quen phân tích đề và lập dàn ý trước khi viết bài (chiếm 55,4 %

và 69,7%) Khi hỏi những học sinh không bao giờ phân tích đề, lập dàn ý

trước khi viết bài thì hầu hết các em đều xem nhẹ khâu này, một số emcho biết: “Khi đi thi thầy cô chỉ chấm điểm bài viết chứ không ai yêu cầuphải nộp phần phân tích đề và lập dàn ý nên em không làm”; “Em khôngquen lập dàn ý, nó còn khó hơn viết văn, nên em cứ vừa viết vừa nghĩ ý”;

… một số HS không thường xuyên phân tích đề và lập dàn ý cho rằng:

“Việc phải đặt bút phân tích và lập dàn ý một đề văn sẽ rất phí thời gianlàm bài nên thường những bài viết được giao về nhà em mới thực hiệnkhâu này, còn viết trên lớp em thấy không cần thiết vì mất thời gian”…

Trang 10

Khi khảo sát kỹ năng phân tích đề, lập dàn ý với một đề văn cụ thể, tôithấy các em đã cố gắng phân tích đề và lập dàn ý nhưng số học sinh đạtyêu cầu còn rất thấp Tệ hại hơn, phần đa các em không biết lập dàn ý (cóghi bố cục 3 phần Mở bài, Thân bài, Kết bài nhưng lại viết thành cácđoạn văn; hoặc nêu ra một vài ý nhưng không biết sắp xếp các ý chologic ) Dẫn đến việc mất thời gian lại không hiệu quả.

Quan sát quá trình viết một đề văn cụ thể của các em, tôi thấy hầu hết

học sinh chỉ đọc đề một vài lần và viết bài luôn, không tìm ý trước màvừa viết vừa suy nghĩ để tìm ý Một số em chưa biết cách phân tích đềlàm cơ sở cho việc tìm ý nên khi bắt tay tay vào viết rất lúng túng, viếtkhông đúng yêu cầu của đề bài và lạc đề dẫn đến chất lượng bài viết

không cao, tỉ lệ bài viết Khá, Giỏi rất thấp (Bảng 4) Đặc biệt đối với đề

văn mở như trên các em còn gặp khó khăn trong khâu xác định phươngthức biểu đạt, các thao tác tư duy để làm bài, bị động trong quá trình viếtbài

2.3 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng

Từ kết quả khảo sát, điều tra và phỏng vấn cho thấy nguyên nhân chủ yếudẫn tới thực trạng học sinh không phân tích đề, lập dàn ý trước khi viếtbài hoặc thực hiện với kết quả không cao là bởi những lý do sau:

- Ngay từ các lớp dưới các em không có thói quen phân tích đề, lập dàn ýtrước khi viết bài

- Kỹ năng phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn còn yếu kém

- Học sinh chưa thấy được tầm quan trọng của việc phân tích đề, lập dàn

ý trước khi viết bài nên còn xem nhẹ, hời hợt

- Tinh thần tự giác, tích cực tìm tòi suy nghĩ trước một đề văn của các emcòn hạn chế

- Thời gian dành cho việc rèn luyện kỹ năng này còn hạn chế

3 Các biện pháp thực hiện

Trang 11

3.1 Hướng dẫn học sinh nhận thức về tầm quan trọng của việc phân tích đề và lập dàn ý trong bài văn nghị luận.

Giáo viên trực tiếp tiến hành cuộc phỏng vấn một số em học sinh đạtđiểm Khá, Giỏi môn văn trong nhiều năm liền ở các khối lớp về bí quyếtgiúp các em làm ra những bài văn hay Kết quả cho thấy 100% các emgiỏi Văn đều coi trọng việc lập dàn ý

Em Vũ Thị Vân Anh (lớp 12A, từng đạt giải Nhì trong kỳ thi học sinhGiỏi môn Ngữ văn cấp Tỉnh năm học 2017-2018) chia sẻ bí quyết giúp

em học tốt môn Văn: “Mặc dù yêu môn Văn nhưng em không dành toàn

bộ thời gian của mình vào môn Văn Em phân chia từng môn học ra rõràng, học đều các môn nhưng để làm ra một bài văn hay thì em có mộtphương pháp riêng Trước khi viết thành bài văn em rất chú trọng việcphân tích đề và lập dàn ý, chỉ cần bỏ ra khoảng 5 đến 10 phút cho khâuphân tích đề và lập dàn ý là em có thể tự tin rằng bài văn của em sẽ rõràng, và các ý sẽ phát triển một cách logic Quan trọng hơn hết là khi lậpdàn ý em sẽ không bị bỏ sót những ý chính Đó là điều giúp em thànhcông trong môn Văn.”

Em Nguyễn Thị Thủy (lớp 11C, học sinh Giỏi toàn diện 2 năm liền):

“Tuy em theo ban tự nhiên nhưng đối với em, môn Văn cũng rất quantrọng, dù đó không phải là môn em thi Đại học nhưng lại là môn có trongthi Tốt nghiệp nên em cũng phải học đàng hoàng Em không học thuộclòng như các bạn trong lớp mà em ghi những ý chính Từ đó lập nên mộtdàn ý, chỉ cần có những ý chính đó em sẽ không sợ bị lạc đề và trênnhững ý đó em sẽ phát triển thành một bài văn hoàn chỉnh.”

Thực tế trên đã cho thấy một minh chứng về tầm quan trọng củaviệc phân tích đề và lập dàn ý một bài văn nghị luận Nó được xem là mộtyêu cầu bắt buộc trước khi các em đặt bút viết bài nhằm giúp bài viếttránh được tình trạng xa đề, lạc đề, nội dung lan man, thiếu ý, thừa ý…đồng thời giúp các em học tốt môn Ngữ văn

Trang 12

Thực chất của việc phân tích đề là giúp học sinh định hướng được nộidung bài viết, các phương pháp, thao tác lập luận và phạm vi tư liệu sửdụng trong bài viết trước khi các em tiến hành xây dựng luận điểm Đểphân tích được một đề văn nghị luận, trước hết yêu cầu học sinh đọc thật

kĩ đề bài và gạch chân những từ hoặc cụm từ then chốt (các từ khóa).Tiếp đó cần giải mã các từ khóa và trả lời các câu hỏi sau:

a Đề đặt ra vấn đề gì cần giải quyết? (Viết lại rõ ràng luận đề ra giấy.)

( Đề 4 – trang 123; Làm văn 11; NXB Giáo dục năm 2000)

- Đề chìm, các em cần nhớ lại bài học về tác phẩm ấy, dựa vào chủ đề củabài đó mà xác định luận đề Hoặc liên hệ đến những vấn đề xã hội mangtính thời sự hoặc những đạo lý làm người để xác định luận đề

Ví dụ:

Đề bài: Tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài “Tự tình” (Bài II).

( Đề 2 – trang 23; Ngữ văn 11 tập 1; NXB Giáo dục năm 2015)

b Đề yêu cầu nghị luận theo kiểu bài nào?

Dưới đây là dạng đề thường gặp:

* Đối với nghị luận xã hội, cần chú ý 3 kiểu bài:

- Nghị luận về một tư tưởng đạo lí

- Nghị luận về một hiện tượng đời sống

- Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học

* Đối với nghị luận văn học, cần chú ý các kiểu bài:

- Phân tích/ cảm nhận về một bài thơ, đoạn thơ, một khía cạnh nội dung, nghệ thuật của bài thơ

- Phân tích/ cảm nhận về đoạn trích văn xuôi

- Nghị luận về tình huống truyện

- Phân tích/ cảm nhận nhân vật, chi tiết trong tác phẩm…

- So sánh, đối chiếu: hai nhân vật, hai chi tiết, hai tư tưởng, hai đoạn thơ, hai hay nhiều bài thơ…

- Bình luận một ý kiến bàn về văn học

- Nghị luận hai ý kiến bàn về văn học

c Cần sử dụng những thao tác nghị luận nào, thao tác nào chính?

d Để giải quyết vấn đề cần sử dụng những dẫn chứng nào? Ở đâu?

Trang 13

Ví dụ minh họa 1: Phân tích đề cho đề bài:

Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua các bài Bánh trôi nước,

Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của Trần Tế Xương.

( Đề 2 – trang 53; Ngữ văn 11 tập 1; NXB Giáo dục năm 2015)

- Gạch chân các cụm từ: Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua

các bài Bánh trôi nước , Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương và Thương vợ

của Trần Tế Xương.

- Vấn đề đặt ra trong đề bài: Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa

(Đề bài này thuộc dạng đề nổi vì các em dễ dàng nhận ra và gạch dướiluận đề trong đề bài)

- Kiểu bài: Phân tích một hình tượng trong văn học (Dựa vào các từ ngữ

đã gạch chân)

- Các thao tác: Phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh…

Thao tác chính: Phân tích

- Dẫn chứng: Trong văn học, qua các bài: Bánh trôi nước, Tự tình (bài II)

của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của Trần Tế Xương.

Ví dụ minh họa 2: Phân tích đề cho đề bài:

Trình bày suy nghĩ của anh/chị về thông điệp từ câu chuyện sau :

Một cậu bé nhìn thấy cái kén cùa con bướm Một hôm cái kén hở

ra một cái khe nhỏ, cậu bé ngồi và lặng lẽ quan sát con bướm trong vòng vài giờ khi nó gắng sức để chui qua khe hở ấy Nhưng có vẻ nó không đạt được gì cả.

Do đó cậu bé quyết định giúp con bướm bằng cách cắt khe hở cho

to hẳn ra Con bướm chui ra được ngay nhưng cơ thể nó bị phồng rộp và

bé xíu, cánh của nó co lại Cậu bé tiếp tục quan sát con bướm, hi vọng rồi cái cánh sẽ đủ lớn để đỡ được cơ thể nó Những chẳng có chuyện gì xảy ra cả.

Thực tế, con bướm đó sẽ phải bỏ ra suốt cả cuộc đời nó chỉ để bò trườn với cơ thể sưng phồng Nó không bao giờ bay được.

Cậu bé không hiểu được rằng chính cái kén bó buộc làm cho con bướm phải cố gắng thoát ra là điều kiện tự nhiên để chất lưu trong cơ thể

nó chuyển vào cánh, để nó có thể bay được khi nó thoát ra ngoài kén (Hạt giống tâm hồn, First New, NXB TP HCM, Trang 123)

- Vấn đề đặt ra trong đề bài:

Từ câu chuyện đặt ra hai vấn đề:

+ Những khó khăn thử thách trong cuộc sống chính là cơ hội cho conngười tự rèn luyện, phấn đấu vươn lên để khẳng định bản thân và tự hoànthiện mình (ý chính)

+ Lòng tốt nếu không thể hiện đúng cách, đúng chỗ có thể gây ra những

Trang 14

- Các thao tác lập luận: Giải thích, bình luận, chứng minh

Thao tác chính: Bình luận

- Kiểu bài: Nghị luận xã hội về vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học.

- Dẫn chứng: Thực tế xã hội (chủ yếu) và trong câu chuyện.

3.3 Cách thức tìm ý cho bài làm văn nghị luận.

Tìm ý là bước nối tiếp sau khi học sinh đã phân tích đề bài Trongbước này, học sinh phải tìm ra các ý chính - tìm ra hệ thống luận điểmchính, khung sườn cho bài văn Vậy làm thế nào để tìm được ý? Sau khihọc sinh xác định được kiểu dạng bài nghị luận thì các em bám vào từkhóa để lập ý

3.3.1 Đối với kiểu bài nghị luận xã hội:

- Kiểu bài nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống: Giải thích (nếucần), thực trạng; nguyên nhân; hậu quả; biện pháp

- Kiểu bài nghị luận về tư tưởng đạo lí: giải thích; phân tích; bác bỏ;đánh giá

Để thực hiện bước tìm ý học sinh bắt buộc tự đặt câu hỏi và lập ý chobài văn

Ví dụ minh họa:

Cho đề bài: Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động như thế nào đểgóp phần giảm thiểu tai nạn giao thông

- Tai nạn giao thông là gì?

- Thực trạng tai nạn giao thông? Diễn ra ở đâu ? Nhờ đâu mà em biết được điều đó? Dẫn chứng bằng số liệu cụ thể về số vụ việc, người và vụ

mà em biết.

- Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên (khách quan và chủ quan)

- Hậu quả xấu gây ra là gi? (ảnh hưởng đến bản thân, gia đình, xã hội như thế nào?)

- Biện pháp khắc phục (với cá nhân, với cộng đồng xã hội, đề nghị với cơ quan chức năng…)

Trang 15

3.3.2 Đối với kiểu bài nghị luận văn học:

- Tự tái hiện lại kiến thức đã học về những giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đang bàn đến

- Tự suy nghĩ và trả lời các câu hỏi:

+ Xác định giá trị nội dung, tư tưởng: tác phẩm ấy chứa đựng bao nhiêu nội dung Đó là những nội dung nào? Qua mỗi nội dung, tác giả thể hiện thái độ, tình cảm gì? Nhà văn muốn gởi gắm thông điệp gì đến người đọc?

+ Xác định giá trị nghệ thuật: để làm bật lên giá trị nội dung, nhà văn đã

sử dụng những hình thức nghệ thuật nào? Thủ pháp nghệ thuật quan trọngnhất mà tác giả sử dụng để gây ấn tượng cho người đọc là thủ pháp gì? Chi tiết nào, hình ảnh nào,…làm em thích thú nhất? Vì sao? Nhà văn đã

mà mình muốn làm sáng tỏ Đây là bước quan trọng vì không thể viết bài

mà không lập dàn ý Học sinh có thể phác khảo các ý trong đầu hoặc viết

ra giấy nháp Thực chất mục đích của lập dàn ý ra giấy là buộc người viếtphải động não suy nghĩ trước khi viết Lập dàn ý sẽ giúp:

- Người viết bao quát được những nội dung chủ yếu, những luận điểm, luận cứ cần triển khai, phạm vi và mức độ nghị luận,…

-Tránh được tình trạng xa đề, lạc đề hoặc lặp ý; tránh được việc bỏ sót hoặc triển khai ý không cân xứng

-Có dàn ý, người viết cũng đồng thời sẽ biết phân phối thời gian hợp lí khi làm bài, tránh sự mất cân đối trong bài viết

Muốn lập dàn ý bài văn nghị luận, cần nắm chắc yêu cầu của đề bài, từ

đó tiến hành các bước: tìm hệ thống luận điểm, luận cứ; sắp xếp, triển khai hệ thống ý đó theo một trật tự hợp lí, có trọng tâm

Dàn ý của một bài văn nghị luận cũng được triển khai thành ba phần:

+ Mở bài: Giới thiệu và định hướng triển khai vấn đề.

+ Thân bài: Triển khai lần lượt các luận điểm, luận cứ.

Trang 16

+ Kết bài: Nhấn mạnh ý nghĩa hoặc mở rộng vấn đề.

Tuy nhiên các phần nhiều khi rất linh hoạt sau đây giáo viên cung cấp dàn ý chỉ mang tính chất gợi ý tham khảo, học sinh có thể thay đổi thêm bớt, đảo vị trí sao cho phù hợp với yêu cầu nghị luận

3.5 Rèn kỹ năng phăn tích đề, lập dàn ý đối với từng dạng bài văn nghị luận.

3.5.1 Phân tích đề, lập dàn ý bài văn nghị luận xã hội.

3.5.1.1 Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

a Phân tích đề:

- Vấn đề nghị luận: Thường là các nội dung bàn về lĩnh vực, tư tưởng,

đạo lý, lối sống có ý nghĩa quan trọng đối với con nguời, cuộc sống Hiểurộng hơn là bàn về: Những truyền thống tốt đẹp trong lối sống của conngười Việt Nam; tư tưởng của con người; mối quan hệ giữa con nguờitrong xã hội…

- Các thao tác thường sử dụng: Giải thích, phân tích, chứng minh, so

+ Bàn luận mở rộng, nâng cao vấn đề: Đưa ra phản đề làm đối sánhnhằm khẳng định luận đề, mở rộng nâng cao vấn đề lên mức độ khái quátthành quan niệm sống, triết lí sống

Trang 17

* Kết bài:

Kết luận, tổng kết, nêu bài học sâu sắc cho bản thân về nhận thức, vềhành động

Lưu ý: Bài làm ở dạng này cần lựa chọn góc độ riêng để giải thích, đánh

giá và đưa ra ý kiến riêng của mình Có thể chọn dẫn chứng từ 3 nguồn:thực tế, sách vở và giả thiết Tuy nhiên không nên chọn nhiều dẫn chứngvăn học, vì sẽ dễ sa vào nghị luận văn học

c Ví dụ minh họa:

- Đề bài: “Có ba cách để tự làm giàu mình: mỉm cười, cho đi và tha thứ”

(Theo: Hạt giống tâm hồn – NXB Tổng hợp TP HCM, 2008)Những suy ngẫm của anh /chị về quan niệm trên

- Phân tích đề

+Vấn đề nghị luận: tâm hồn con người sẽ trở nên trong sáng, giàu đẹp

hơn nếu biết lạc quan, sẻ chia và độ lượng với mọi người

+ Thao tác lập luận: giải thích, chứng minh, bình luận.

- Giải thích câu nói:

+ Tự làm giàu mình: tự nuôi dưỡng và bồi đắp tâm hồn mình

+ Mỉm cười: biểu hiện của niềm vui, sự lạc quan, yêu đời

+ Cho đi: là biết quan tâm, chia sẻ với mọi người

+ Tha thứ: là sự bao dung, độ lượng với lỗi lầm của người khác

Trang 18

=> Ý cả câu: Tâm hồn con người sẽ trở nên trong sáng, giàu đẹp hơn nếu biết lạc quan, sẻ chia và độ lượng với mọi người.

- Phân tích, chứng minh: (biểu hiện, đánh giá, ý nghĩa, tác dụng của vấn

đề.)

+ Lạc quan, yêu đời giúp con người có sức mạnh để vượt lên những khó khăn, thử thách trong cuộc sống, có niềm tin về bản thân và hướng đến một khát vọng sống tốt đẹp (dẫn chứng, phân tích)

+ Biết quan tâm, chia sẻ, con người đã chiến thắng sự vô cảm, ích kỷ để sống giàu trách nhiệm và yêu thương hơn (dẫn chứng, phân tích)

+ Biết bao dung, độ lượng, con người sẽ trút bỏ đau khổ và thù hận để sống thanh thản hơn và mang lại niềm vui cho mọi người (dẫn chứng, phân tích)

+ Ngoài sự lạc quan, sẻ chia, độ lượng con người còn có thể bồi đắp, và nuôi dưỡng tâm hồn mình bằng những ứng xử tốt đẹp khác (dẫn chứng, phân tích)

+ Để làm được điều đó, phải bắt đầu từ những thái độ sống tích cực, có ý nghĩa với mình và mọi người

=> Ý nghĩa của câu nói: Câu nói có tác dụng gợi mở, nhắc nhở mọi ngườiphải luôn chú ý hoàn thiện bản thân

Kết bài:

Liên hệ thực tế bản thân về ý thức tu dưỡng, hành động: Phải biết nuôi dưỡng và bồi đắp tâm hồn mình để tâm hồn trở nên trong sáng, giàu đẹp hơn bằng sự lạc quan, sẻ chia và độ lượng với mọi người…

3.5.1.2 Nghị luận về một hiện tượng đời sống

a Phân tích đề:

Trang 19

- Vấn đề nghị luận: Thường là các nội dung bàn về hiện tượng có ý

nghĩa đối với xã hội đáng khen, đáng chê hay đáng suy nghĩ; bàn vềnhững vấn đề bức xúc đang đặt ra trong đời sống hiện tại: vấn đề có tínhthời sự, vấn đề được dư luận xã hội quan tâm

- Các thao tác thường sử dụng: Giải thích, phân tích, chứng minh, bác

+ Hậu quả của vấn đề nghị luận (hậu quả xấu hoặc kết quả tốt.)

+ Biện pháp khắc phục hậu quả (đưa ra từng biện pháp: với cá nhân, giađình, xã hội )

* Kết bài: Nêu suy nghĩ bài học và lời khuyên rút ra đối với mọi người.

Lưu ý: Bài làm ở dạng này cần lựa chọn góc độ riêng để phân tích, nhận

định, đưa ra ý kiến và sự cảm nhận riêng của người viết

c Ví dụ minh họa:

Lập dàn ý cho đề bài: Anh (chị), hãy trình bày quan điểm của mình trước cuộc vận động “Nói không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”

- Phân tích đề:

+Vấn đề nghị luận: Quan điểm của bản thân trước cuộc vận động “Nói

không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”

Trang 20

+ Thao tác lập luận: giải thích, chứng minh, bình luận.

- Giải thích: tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục là gì?

-Thực trạng (biểu hiện) của hiện tượng:

+ Tiêu cực trong thi cử:

Xin điểm, chạy điểm

Mua bằng cấp

Thi hộ, thi thuê…

Chạy chức chạy quyền…

+ Bệnh thành tích trong giáo dục:

Báo cáo không đúng thực tế

Bao che khuyết điểm để lấy thành tích

Coi trọng số lượng chứ không coi trọng chất lượng

Học sinh: Học để lấy bằng cấp, phát biểu chỉ để cộng điểm…

Số giáo sư - tiến sĩ, các nhà khoa học nhiều nhưng ít có những cải tiến sáng tạo

- Nguyên nhân:

+ Chủ quan: Học sinh thiếu tự giác trong học tập, ỉ lại, ngại phấn đấu…+ Khách quan:

Do gia đình: Không muốn con vất vả mà vẫn đạt kết quả cao

Do nhà trừơng: Muốn HS có thành tích cao để báo cáo

Do xã hội: Hệ thống luật cha nghiêm, cụ thể; cha thực sự coi trọng nhân tài(Đặc biệt là những cơ quan nhà nước); nhận thức của nhiều ngời còn hạn chế …

- Hậu quả:

+ Lợi: trước mắt cho cá nhân- không cần bỏ công sức nhiều nhưng vẫn đạt kết quả cao

+ Hại là rất nghiêm trọng để lại hậu quả lâu dài:

Các thế hệ học sinh được đào tạo ra không có đủ trình độ để tiếp cận với công việc hiện đại, đất nước ít nhân tài

Tạo thói quen cho HS ngại học, ngại thi, ngại sáng tạo

Tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội

- Biện pháp:

+ Phải giáo dục nhận thức cho học sinh, và toàn xã hội để họ hiểu rằng chỉ có kiến thức thực sự họ mới có chỗ đứng trong xã hội hiện đại

Trang 21

+ Xã hội phải thực sự coi trọng những ngời có kiến thức, có thực tài và lấy đó là tiêu chuẩn chính để sử dụng họ.

+ Phải có một hệ thống pháp luật, luật giáo dục chặt chẽ, nghiêm ngặt, xử

lý nghiêm nhữnh sai phạm Cách ra đề thi coi chấm thi phải đổi mới để sao cho HS không thể hoặc không dám tiêu cực

Kết bài

+ Kêu gọi học sinh có thái độ đúng đắn trong thi cử

+ Phê phán bệnh thành tích trong giáo dục

* Lưu ý 1: Khi làm kiểu bài này các ý có thể linh hoạt đổi vị trí cho nhau

hoặc có thể gộp ý cho dễ diễn đạt (chẳng hạn có thể gộp nguyên nhân vàhậu quả luôn hoặc sau khi nêu thực trạng thì nêu luôn hậu quả của nó cóảnh hưởng tích cực, tiêu cực trong đời sống) chú ý liên hệ tình hình thực

tế xã hội, địa phương nơi em sinh sống để tăng tính thuyết phục

* Lưu ý 2: Việc tách bạch nghị luận về tư tưởng đạo lí với nghị luận về

một hiện tượng đời sống thực ra chỉ mang tính tương đối Với xu hướng

ra đề như hiện nay, thường có sự kết hợp giữa hai kiểu bài này Giáo viêncần hướng dẫn cho học sinh cách làm cụ thể để tránh xa đề, lạc đề Trướchết cần giới thiệu vấn đề cần bàn luận Sau đó bàn về các mặt đúng – sai,lợi – hại, tích cực – tiêu cực của vấn đề Cuối cùng rút ra bài học nhậnthức và hành động của bản thân

3.5.1.3 Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn

học

a Phân tích đề:

- Vấn đề nghị luận: Đây là kiểu bài nghị luận xã hội, tác phẩm văn học

chỉ là cái cớ khởi đầu, được khai thác về giá trị nội dung tư tưởng, ýnghĩa xã hội khái quát trong tác phẩm Mục đích chính của kiểu bài này làyêu cầu người viết bàn bạc nghị luận về một vấn đề xã hội, tư tưởng,nhân sinh, hiện tượng đời sống đặt ra trong tác phẩm văn học Đó là vấn

đề xã hội mang tính thời sự, tính giáo dục sâu sắc, phù hợp với tâm lí họcsinh trung học

- Các thao tác thường sử dụng: Giải thích, phân tích, chứng minh, so

Trang 22

- Dẫn chứng: Chủ yếu từ thực tế xã hội, bên cạnh đó có thể sử dụng

trong tác phẩm văn học đặt ra ở đề bài

- Giới thiệu và phân tích vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học:

Phân tích ngắn gọn văn bản văn học, khái quát chủ đề tác phẩm từ đó rút

+ Phân tích và bình luận nguyên nhân

+ Kết quả (hậu quả)

+ Đề xuất ý kiến (giải pháp)

* Rút ra bài học cho bản thân

Đề bài: Từ truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu,

anh/chị hãy phát biểu suy nghĩ về nạn bạo hành gia đình.

Trang 23

- Dẫn chứng: Chủ yếu từ thực tế xã hội, ngoài ra lấy từ tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa.

- Lập dàn ý:

Mở bài:

- Khái quát thực trạng nạn bạo hành gia đình trong xã hội hiện nay

- Dẫn dắt vào tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu

Thân bài:

* Nêu hoàn cảnh xuất hiện vấn đề có ý nghĩa xã hội:

- Sau khi chụp được bức ảnh “đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh” phóng viên Phùng lại chứng kiến cảnh người đàn ông hàng chài đánh vợ một cách dã man, độc ác Từ hành động vũ phu đó của người đàn ông hàng chài, Nguyễn Minh Châu đã cho chúng ta suy nghĩ nhiều về hiện tượng bạo hành gia đình

- Tóm tắt cảnh bạo hành trong gia đình hàng chài trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa:

+ Người đàn bà sau một đêm kéo lưới mệt mỏi, quần áo ướt sũng, hai con mắt như đang buồn ngủ thì lại bị người chồng lôi lên bờ đánh tới tấp, lăng nhục đau khổ

+ Trước hành động vũ phu của chồng người đàn bà vẫn cam chịu, không van xin, luôn sống trong cảnh “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” từ người chồng thô bạo, vũ phu

+ Nhìn thấy mẹ bị đánh, thằng Phác - đứa con trai đã lao thẳng vào đánh

bố

Hành động thô bạo của hai cha con, người mẹ vô cùng thất vọng Đó chính là hành động bạo lực

* Thực hiện các thao tác nghị luận:

- Giải thích vấn đề bạo hành gia đình: Bạo hành gia đình là hiện tượng

hành động trấn áp người khác bằng lời nói, hành động, là sự khống chế, đàn áp về cả tinh thần và thể xác để xúc phạm tinh thần nhau của những thành viên trong gia đình

- Thực trạng:

+ Thực trạng của hiện tượng bạo hành gia đình: Là vấn đề xã hội bức thiết của một quốc gia nhất là ở những nước kém phát triển và đang phát triển tình trạng này diễn ra thường xuyên

++ Theo số liệu điều tra dân số tỉ lệ bạo hành xảy ra ở cả thành thị lẫn nông thôn, trong đó bạo hành gia đình xảy ra ở thành thị nhiều hơn ở nông thôn và miền núi (dẫn chứng cụ thể: số liệu thống kê, vụ việc đau lòng )

++ Bạo hành xảy ra dưới nhiều hình thức: vợ chồng đánh đập nhau, cháu, con chửi rủa ông bà, dùng những lời lẽ không tốt đẹp để nói về nhau…

+ Hậu quả của bạo hành gia đình: Bạo hành gia đình xảy ra để lại hậu

Trang 24

nhau… gây ra biết bao tệ nạn xã hội

- Nguyên nhân:

+ Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa anh hàng chài vì phải lo toan, bươn chải gánh nặng gia đình, vì đói vì nghèo mà đánh đập vợ con để giải tỏa tâm hồn

+ Thực tế xã hội phức tạp hơn: Đó là do cái nghèo, cái khổ của cuộc sống

xô bồ của xã hội, do ý thức, đạo đức biến chất tha hóa của một bộ phận người trong xã hội

- Giải pháp:

+ Để giải quyết vấn đề bạo lực gia đình cần có sự kết hợp của các cơ quan đoàn thể, các tổ chức trong xã hội…Đảng và nhà nước cần có biện pháp tích cực như tuyền truyên vận động mọi người giáo dục mỗi

côngdân về hạnh phúc gia đình

+ Phải trừng trị nghiêm khắc những kẻ có hành vi bạo lực gia đình

+ Đưa ra những chính sách bảo vệ cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân * * Rút ra bài học cho bản thân

- Nhận thức: Một gia đình hạnh phúc, một xã hội nhân văn khi giá trị con

người được đặt lên hàng cao nhất

Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thảo mãn lòng ích kỉ

Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ người khác trên vai mình (Đời thừa - nam Cao)

- Hành động: Lên án đấu tranh chống bạo hành trong gia đình; Tu dưỡng,

rèn luyện bản thân để biết chung sống, yêu thương, trân trọng con

người

Kết bài:

Đánh giá ý nghĩa của vấn đề xã hội trong tác phẩm

3.5.2 Phân tích dề, lập dàn ý bài văn nghị luận văn học

3.5.2.1 Nghị luận về bài thơ, đoạn thơ

Trang 25

- Nêu ý khái quát nhất về nội dung và nghệ thuật của bài thơ/đoạn thơ.

- Ghi lại hoặc trích dẫn bài thơ/đoạn thơ

* Thân bài:

- Nêu khái quát nội dung bài thơ/đoạn thơ (Nếu đoạn thơ thì vẫn giớithiệu bài thơ)

- Lần lượt cảm nhận, bình luận từng ý thơ

Lưu ý: Tránh diễn xuôi ý thơ, chú ý chọn lọc và bám sát các phương tiện

nghệ thuật: từ ngữ, hình ảnh, âm điệu, giọng điệu, các biện pháp tu từ…Căn cứ vào cảm nhận ở từng câu, từng khổ, có thể liên hệ so sánh với một

số bài thơ khác có cùng đề tài để làm rõ hơn bài thơ/đoạn thơ đang cảmnhận

- Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ/đoạn thơ

* Kết bài:

- Tóm lược nội dung đã nghị luận

- Đánh giá những giá trị nổi bật về nội dung, tư tưởng và nghệ thuật cảubài thơ/đoạn thơ

c Ví dụ minh họa:

- Đề bài: Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong

tình yêu thể hiện qua bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

- Phân tích đề:

+ Vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu.

+ Thao tác lập luận chính: Cảm nhận (phân tích, chứng minh, bình

luận); Thao tác lập luận hỗ trợ: Giải thích, so sánh

+ Dẫn chứng: Bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh).

- Laapju dàn ý:

Mở bài:

– Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm

– Giới thiệu luận đề: Vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu thể hiện qua bài thơ

Trang 26

– Giới thiệu hình tượng sóng.

– Cảm nhận về bài thơ để thấy được vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu (hệ thống luận điểm, dẫn chứng thơ và phân tích để làm rõ từng luận điểm)

– Bàn luận chung về vấn đề nghị luận

Kết bài:

– Đánh giá chung về giá trị của bài thơ Sóng

– Khẳng định giá trị nhân văn của bài thơ, cảm nghĩ về vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu

3.5.2.2 Dạng đề so sánh hai bài thơ, đoạn thơ

- Giới thiệu 2 tác giả, 2 bài thơ (2 đoạn thơ)

- Giới thiệu vấn đề nghị luận ( nếu có )

* Thân bài:

Lần lượt phân tích các đoạn thơ theo định hướng những điểm tương đồngvới nhau, làm nổi bật vấn đề nghị luận

So sánh hai đoạn thơ:

+ Chỉ ra những điểm tương đồng của hai bài thơ, đoạn thơ ( về nội dung

và nghệ thuật )

+ Chỉ ra những điểm khác biệt của mỗi bài thơ, đoạn thơ( về nội dung và nghệ thuật )

->>Tìm ra nguyên nhân ( lí giải sự khác biệt ) và ý nghĩa

Từ đó khẳng định những nét độc đáo, giá trị riêng của mỗi bài thơ, đoạn thơ

* Kết bài :

– Đánh giá giá trị của mỗi bài thơ, đoạn thơ

– Những cảm nhận về phong cách sáng tác của mỗi nhà thơ

c Ví dụ minh họa:

Cảm nhận của anh/ chị về hai đoạn thơ sau:

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, Một người chín nhớ mười mong một người.

Trang 27

Nắng mưa là bệnh của giời, Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

( Nguyễn Bính, Tương tư )

Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

( Tố Hữu, Việt Bắc )

- Phân tích đề:

+ Vấn đề nghị luận: Nội dung, nghệ thuật của hai đoạn thơ, hình tượngthơ “nỗi nhớ”

+ Các thao tác: phân tích, bình luận, chứng minh, so sánh,…

+ Dẫn chứng: Trong bài thơ Tương tư - Nguyễn Bính, và Việt Bắc - Tố

Hữu và hai đoạn thơ trong đề bài

- Lập dàn ý:

Mở bài:

– Giới thiệu về Nguyễn Bính và bài thơ Tương tư

– Giới thiệu về Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc

Thân bài:

* Phân tích đoạn thơ trong bài “Tương tư”:

– Tâm trạng tương tư của chàng trai quê được bộc lộ thành nỗi nhớ mong

* Phân tích đoạn thơ trong bài “Việt Bắc”.

– Nỗi nhớ thiết tha, sâu nặng cả những người cán bộ kháng chiến

– Hiện lên trong nỗi nhớ là hình ảnh Việt Bắc thân thương…

– Nghệ thuật: thể thơ lục bát, hình ảnh gợi cảm, các phép đối…

* So sánh hai đoạn thơ.

– Tương đồng: Cả hai đoạn thơ đều thể hiện nỗi nhớ da diết, sâu nặng; sửdụng thể thơ lục bát điêu luyện

– Khác biệt:

Trang 28

Bắc Bộ…

+ Đoạn thơ trong Việt Bắc là nỗi nhớ của tình cảm cách mạng, gắn với không gian núi rừng Việt Bắc…

Kết bài:

Đánh giá chung về nét đặc sắc của hai đoạn thơ

3.5.2.3 Dạng đề nghị luận về đoạn trích văn xuôi

Đối tượng của kiểu bài này rất đa dạng: Có thể là giá trị nội dung

và nghệ thuật của đoạn trích nói chung, có thể chỉ là một phương diện, thậm chí một khía cạnh nội dung hay nghệ thuật của đoạn trích đó

a Phân tích đề:

- Vấn đề nghị luận: Nội dung, nghệ thuật của đoạn trích văn xuôi.

- Các thao tác thường sử dụng: Phân tích, bình luận, chứng minh, sosánh,…

- Dẫn chứng: Trong tác phẩm, đoạn trích văn xuôi.

Phân tích những giá trị nội dung, nghệ thuật tác phẩm, đoạn trích để làm

rõ vấn đề cần nghị luận hoặc một số khía cạnh đặc sắc nhất của đoạn trích

Ngày đăng: 25/07/2020, 14:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w