ĐỀ VĂN VỚI TÁC PHẨM CỦA HỒ CHÍ MINH PHẦN 1 Đề 1: Phân tích bài thơ “Cảnh Khuya”(1947) của Chủ tịch Hồ Chí Minh Bài làm 1 Là vị chủ tịch kháng chiến giàu tâm hồn thơ, Bác Hồ thường dùng ngòi bút ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên và bày tỏ lòng mình trước vận mệnh đất nước. “Cảnh khuya” là một trong những bài thơ hay tiêu biểu của Bác, được viết năm 1947 ở Chiến khu Việt Bắc – căn cứ địa Cách Mạng trông thời chống Pháp Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà Chiến khu Việt Bắc, đó là đầu não của cuộc kháng chiến chống xâm lược, là nơi chỉ đạo đấu tranh của Cách mạng. Nhưng không phải vì vậy mà Việt Bắc chỉ trang nghiêm và bận rộn vì những hội nghị quan trọng của trung ương . Đến với Việt Bắc trước hết là đến với núi rừng, với thiên nhiên hoan sơ nhưng rất hào phóng tạo nên những cảnh đẹp diệu kì . Hơn ai hết, Bác của chúng ta hiểu điều đó, và vì vậy trong cảnh khuya, Người đã thể hiện một Việt Bắc đẹp như tranh vẽ: Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa Giữa đêm rừng Việt Bắc thanh vắng, tiếng suối ở đâu cứ róc rách, rì rào… Lúc ấy, tiếng suối ngân vang trong trẻo như chiếm lĩnh cả không gian rừng khuya yên vắng. Hai thanh trắc (tiếng suối) đến hai thanh bằng (trong như) rồi lại tiếp tục như vậy (tiếng hát), câu thơ đầu trong ‘Cảnh khuya” dường như mang cả âm thanh bổng trầm của tiếng suối chảy. Tiếng suối trong đêm ấy làm Bác liên tưởng tới điều gì? Đó chẳng phải là những cung đàn đơn lẻ, mà đối với Bác âm thanh trong ngần ấy như “tiếng hát xa” . Lạ lùng làm sao, nhưng chính liên tưởng mới lạ của Bác đã giúp ta hiểu được rằng dù Việt Bắc có gian lao đến đâu, những tiếng suối – tiếng hát của rừng núi, của các chiến sĩ đồng bào luôn vang xa trong đêm vắng, trong trẻo lạc quan…Âm thanh trong thơ Bác không lẻ loi như tiếng đàn cầm trong thơ Nguyễn Trãi mà vang lên có sức sống , đầy vuii tươi. Trong tiếng vang róc rách, thiên nhiên như phô bày hết vẻ đẹp trong sáng của mình
Trang 1ĐỀ VĂN VỚI TÁC PHẨM CỦA HỒ CHÍ MINH PHẦN 1
Đề 1: Phân tích bài thơ “Cảnh Khuya”(1947) của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Bài làm 1
Là vị chủ tịch kháng chiến giàu tâm hồn thơ, Bác Hồ thường dùng ngòi bút
ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên và bày tỏ lòng mình trước vận mệnh đất nước “Cảnh khuya” là một trong những bài thơ hay tiêu biểu của Bác, được viết năm 1947 ở Chiến khu Việt Bắc – căn cứ địa Cách Mạng trông thời chống Pháp
Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà
Chiến khu Việt Bắc, đó là đầu não của cuộc kháng chiến chống xâm lược, là nơi chỉ đạo đấu tranh của Cách mạng Nhưng không phải vì vậy mà Việt Bắc chỉ trang nghiêm và bận rộn vì những hội nghị quan trọng của trung ương Đến với Việt Bắc trước hết là đến với núi rừng, với thiên nhiên hoan sơ nhưng rất hào phóng tạo nên những cảnh đẹp diệu kì Hơn ai hết, Bác của chúng ta hiểu điều đó,
và vì vậy trong cảnh khuya, Người đã thể hiện một Việt Bắc đẹp như tranh vẽ:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa Giữa đêm rừng Việt Bắc thanh vắng, tiếng suối ở đâu cứ róc rách, rì rào… Lúc ấy, tiếng suối ngân vang trong trẻo như chiếm lĩnh cả không gian rừng khuya yên vắng Hai thanh trắc (tiếng suối) đến hai thanh bằng (trong như) rồi lại tiếp tục như vậy (tiếng hát), câu thơ đầu trong ‘Cảnh khuya” dường như mang cả âm thanh bổng trầm của tiếng suối chảy Tiếng suối trong đêm ấy làm Bác liên tưởng tới điều gì? Đó chẳng phải là những cung đàn đơn lẻ, mà đối với Bác âm thanh trong ngần ấy như “tiếng hát xa” Lạ lùng làm sao, nhưng chính liên tưởng mới lạ của Bác đã giúp ta hiểu được rằng dù Việt Bắc có gian lao đến đâu, những tiếng suối – tiếng hát của rừng núi, của các chiến sĩ đồng bào luôn vang xa trong đêm vắng, trong trẻo lạc quan…Âm thanh trong thơ Bác không lẻ loi như tiếng đàn cầm trong
Trang 2thơ Nguyễn Trãi mà vang lên có sức sống , đầy vuii tươi Trong tiếng vang róc rách, thiên nhiên như phô bày hết vẻ đẹp trong sáng của mình
“Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa”
Hình ảnh “Trăng lồng cổ thụ” mang nét truyền thống của thơ cổ, khi kết hợp với hoa, hình ảnh ấy đã tạo nên vẻ đẹp đầm ấm, quấn quýt của thiên nhiên Hai từ
“lồng” liên kết ba sự vật khác xa nhau, khác hẳn nhau nhưng không tạo tương phản
mà dường như chúng hòa quyện lại, vẻ đẹp này tôn nét đẹp kia vẽ nên một bức tranh trong sáng Đọc câu thơ, ta có cảm giác như đang lạc vào chốn tiên, tận hưởng những đường nét, ánh sáng kì diệu mà thiên nhiên Việt Bắc vẽ nên, và ta còn có cảm giác tiếng suối cũng hay bổng, quấn quýt với hình ảnh “Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa” Cảnh vật trong thơ Bác sao mà tha thiết với nhau đến thế! Mỗi nét đều nâng vẻ đẹp của những nét khác lên, cái tĩnh hòa với cái động, cái động làm nổi bật cái tĩnh, mảng sáng chen mảng tối tạo thành 1 tổng thể hoàn hảo
lạ lùng Đâu phải ai cũng nhìn thấy được điều ấy Bác đã nghe và ngắm cảnh vật Việt Bắc trong đêm khuya bởi Bác thức cùng Việt Bắc
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà
Câu thứ ba trong bài thất ngôn tứ tuyệt là 1 câu chuyển Ở đây, nhà thơ đã tạo ra một hình thức chuyển tiếp mới giữa những ý thơ rất uyển chuyển, độc đáo
“Cảnh khuya như vẽ ” Với bốn chữ đầu câu này, Bác muốn nói gì? Cảnh vật như muốn vẽ nên cái gì đó ngoài vẻ đẹp của chính mình? Có lẽ điều ấy không quan trọng, bởi vì ta có bao nhiêu là cách hiểu về những ý thơ “gợi mở” của Bác Điều quan trọng là câu thơ đã chuyển từ tả cảnh sang tả tình “Người chưa ngủ” trong một cảnh khuya tuyệt vời đến như vậy phải chăng chỉ là cùng sống với thiên
nhiên? Câu trả lời thật đơn giản nhưng mang bản sắc riêng của vị lãnh tụ kháng chiến cao cả: “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà” Hai từ “chưa ngủ” được lặp lại một lần nữa, nối tiếp và nhấn mạnh câu thơ trên Cảnh khuya đẹp thật đấy, và con mắt Bác đã thu gọn cảnh vật ấy vào tâm hồn mình, nhưng trong lòng Bác còn có một nỗi niềm thao thức lớn hơn, đó là “nỗi nước nhà”, là vận mệnh của cả dân tộc, là cuộc chiến còn vô vàn thử thách gian lao Dấu ngã trong từ “nỗi” tạo một điều gì
đó rất day dứt, trăn trở kéo dài, và tuy không xoáy vào tâm trí ta như dấu hỏi
nhưng thể hiện tâm trạng băn khoăn, day dứt, dìu dặt, trong hình ảnh quấn quýt
Trang 3đầm ấm của đêm rừng Việt Bắc, nỗi thao thức của Người như lớn dần lên, ngày càng day dứt không nguôi
Tấm lòng Người dành cho đất nước là vậy Những gì thuộc vê Tổ quốc đã trở thành nỗi lo, thành tình thương của Bác Bác bày tỏ lòng mình trong “Cảnh khuya”, như muốn nói : Cảnh vật thiên nhiên của chúng ta diệu kì như vậy đấy; và chính vẻ đẹp của núi rừng càng làm cho niềm thao thức của Người lớn hơn, canh cánh trong lòng – làm sao để gìn giữ vẻ đẹp ấy, làm sao để giang sang mãi bình yên như bức tranh Việt Bắc trong đêm? Nỗi lo không làm cho những vần thơ tả cảnh mất đi nét lung linh trong sáng Điều đó thể hiện con người Bác, tâm hồn thơ
và tâm hồn lãnh tụ luôn hòa hợp
“Cảnh khuya” là một trong những bài thơ hay nhất nói về Việt Bắc và là một trong những bài thể hiện tâm tư của Bác rõ ràng, sâu sắc nhất Chỉ trong một bài thơ ngắn nét truyền thống và nét hiện đại song hành với nhau mang đậm phong cách thơ Hồ Chí Minh
Có lẽ , ai đã từng một lần đến Việt Bắc sẽ cảm nhận về bài thơ 1 cách tường tận hơn, nhưng dù ta có đến đấy hay không “Cảnh khuya” cũng vẫn giúp ta hình dung rõ cảnh vật Việt Bắc và hiểu được tấm lòng của Bác Hồ kính yêu trong
những năm đầu kháng chiến gian nan Bài thơ là một thành công lớn về cả nghệ thuật lẫn nội dung và chắc chắn sẽ ghi đậm dấu ấn trong mỗi người chúng ta về cái đẹp trong sáng của thiên nhiên Việt Bắc, về tấm lòng cao cả của vị lãnh tụ của dân tộc ta
Bài làm 2
Mở đầu bài thơ, Bác đi ngay vào vấn đề: tả tiếng suối đêm khuya
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa”
Thiên nhiên với Bác đã hát lên tiếng hát tâm tình Tiếng suối trong thơ Bác gợi nhớ tiếng suối thơ xưa:
Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai
(Nguyễn Trãi)
Trang 4Ngày xưa thường nói “đàn suối” chứ có lẽ chưa ai đem so sánh tiếng suối với tiếng hát bao giờ Nhưng ở đây, Bác đã tả một chi tiết rất thực , không hề mang bút pháp ước lệ mà vẫn đầy chất thơ “Tiếng suối trong như tiếng hát”, thật trong trẻo, thật êm dịu! Có lẽ nhờ vào cách so sánh độc đáo này mà có nhạc sĩ đã phổ nhạc bài thơ, và thi sĩ đã ca ngợi:
“Bác là ai? Ngày hôm nay Bác là vị tướng Trong cõi trường sinh tiếng hát trong của Người là một tiếng suối xa”
(Chế Lan Viên)
“Tiếng suối trong” của Bác dường như gợi lên không khí sinh hoạt vui tươi đầm ấm của cán bộ, chiến sĩ kháng chiến Ở đây, người và thiên nhiên hòa cả vào nhau: tiếng hát của thiên nhiên hay của những con người cách mạng?
Câu thơ vừa mang phong vị dân tộc, vừa chất chứa tính trẻ trung hiện đại như một chiếc đàn bầu, chỉ một dây mà ngân lên cả thế giới âm thanh
Nhưng phải đến câu thơ thứ hai, ta mới nhận thấy được phong cách thơ, nhất
là đối với trăng Có lẽ tâm hồn Á Đông rất đa dạng phù hợp với vẻ đẹp duyên dáng mặn mà của chị Hằng chăng? Trăng trong ca dao, trong thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến, trăng trong khúc ngâm Chinh phụ, trong truyện Kiều, thơ Bác cũng sáng ánh trăng, trăng mỗi nơi một khác Trăng ấm áp tròn trong Nguyên tiêu, trăng tri
kỷ trong Vọng nguyệt, ánh trăng soi lạnh trong Dạ lãnh, rồi ánh trăng lung linh trong Đối nguyệt …nhưng có lẽ ở Cảnh khuya đã nổi bật bút pháp trữ tình với ánh trăng quấn quýt say lòng người
Hai câu đầu Cảnh khuya, Bác tái tạo, sáng tạo một thế giới thực và mộng: thế giới của âm thanh, của màu sắc, của tình người Thật vậy, còn gì đẹp hơn một đêm khuya giữa rừng ngồi nghe thiên nhiên hát, dưới ánh vàng mơ của bóng trăng tròn? Còn gì đậm tình hơn, yêu mến hơn cảnh trăng, cây , hoa, quấn quýt như đan vào nhau, như quyện lấy nhau Chỉ hai câu mà có đủ độ gần, độ xa; chiều cao chiều thấp; khoảng sáng, khoảng tối và bao trùm một ánh trăng rất sáng đẹp, cứ lung linh nhấp nháy qua tàn lá Câu thơ đầu ngân vang thanh trắc ở “tiếng suối”, “tiếng hát”, câu thứ hai trầm giọng ở những thanh bằng mở, khép “Trăng lồng…lồng hoa” Hai câu thơ vang ca như khúc nhạc, hay như tiếng suối Chỉ có Bác, con người yêu thiên nhiên lắm, hiểu thiên nhiên lắm mới miêu tả, kết hợp
Trang 5hình ảnh, chất liệu thực hay đến như vậy Có phải chăng, tâm hồn Người cũng
trong trẻo như tiếng suối, cũng thanh cao như vầng trăng và bao la rộng lớn như cảnh khuya
Bài làm của bạn Hoàng Kim Yến Trường PTTH chuyên Lê Quý Đôn
Đề 2: Phân tích bài thơ “Mới ra tù tập leo núi” trong tập Nhật ký trong tù của
Hồ Chí Minh
Bài làm
Nhật ký trong tù! Tập thơ của một bậc đại trí đã biến cái dũng thành sức mạnh trào lộng trong gian nguy:
“Rồng quấn vòng quanh chân với tay Trông như quan võ quấn tua vai Tua vai quan võ bằng kim tuyến Tua của ta bằng một sợi gai…”
Nhưng khi vừa được tự do, Bác đã làm bài thơ Tân xuất ngục học đăng sơn (Mới ra tù tập leo núi) để khép lại cuốn nhật ký suốt “mười bốn trăng tê tái gông cùm”
Câu phát đề của bài tứ tuyệt này như hé một cánh cửa, cho trời mây ngập vào hồn người đọc:
“Núi ấp ôm mây, mây ấp núi”
Nhưng Người chẳng làm thơ dễ dãi như vươn tay mở then cửa đâu Để có câu thơ này, ta cũng đã hiểu rằng Bác đã trải qua những ngày gian khổ, không được đi lại trong bốn bức tường của bọn Tưởng Giới Thạch:
“Nghỉ lâu chân tựa bông mềm nhũn
Đi thử hôm nay muốn ngã quay…”
(Nhật ký trong tù)
Trang 6Thế mà bây giờ, Bác đã ung dung leo núi… leo mãi cho đến một đỉnh cao chót
vót… để khi dừng chân lại nhìn bốn phương trời, chỉ thấy “núi ấp ôm mây, mây ấp núi” Tại sao lúc âm thầm leo núi, Bác chẳng sáng tác, mà lại bắt đầu àm thơ khi đã đến đỉnh? Có phải chăng khi thân hình và tâm hồn đã hòa lẫn với mây trời Bác mới xúc động… tức cảnh sinh tình? Con người Bác lúc này đã ngang tầm với mây rộng, núi cao, trùng điệp quanh Bác Một bức tranh thần kỳ đã được vẽ nên với những tính chất vô cùng tương phản: tĩnh và động, tính thực và tính ảo của núi và mây Thế mà chúng lại quyện vào nhau:
“Núi ấp ôm mây, mây ấp núi
(Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân) Nghệ thuật điệp từ, đảo từ đã được sử dụng thật tài tình để khắc họa thêm rõ bức tranh huyền ảo đầy thơ mộng ấy theo nguyên bản Toàn câu thơ gồm bảy tiếng, nhưng năm tiếng đã dành để tả núi và mây Từ “ủng” lập lại hai lần, dịch ra
là “ấp, ôm” lại càng diễn tả nét duyên dáng, đằm thắm hữu tình của bức tranh thiên nhiên không có bốn đường khung giới hạn Vâng! Người họa sĩ nào cũng vẽ trang trên một cái khung có bốn cạnh, nhưng bức tranh của Bác là bức tranh tâm trạng của một người vừa trải qua “mười bốn trăng tê tái gông cùm”, suốt đời khát vọng
tự do Không phải tự do chỉ riêng mình, mà là tự do cho cả dân tộc Niềm khao khát tự do này làm sao có thể là một bức tranh bị giới hạn bởi một cái khung có bốn cạnh?
Trong thơ cổ, hình tượng nhân vật trữ tình “đăng cao, đăng sơn hay thượng lâu”
để một mình đứng trước vũ trụ, đối diện đàm tâm với nhật nguyệt càn khôn Nhưng ở lúc này, Bác đã “đối diện đàm tâm” chỉ với mây núi cao vời, mà mắt vẫn không rời mảnh đất, dòng sông Phải chăng khi lên cao, đi xa ta lại càng nhớ về mặt đất mặt đất dưới kia với bao nhiêu đường nét: này cỏ hoa, nọ núi rừng, và kia…nhà cửa… Bà huyện Thanh Quan khi dừng chân ở đèo Ngang, nhìn xuống cũng xa xôi đặc tả:
“Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông, chợ mấy nhà”
Ở đây, Bác không cho bất kì một sắc lá, một ngôi nhà nào vào bài thơ ngoại trừ một:
Trang 7“Lòng sông gương sáng, bụi không mờ”.
Gương sáng – đó là dòng sông phẳng lặng không một gợn sóng, chói lòa như một tấm gương không một hạt bụi vấy nhòa Nếu đọc vào nguyên tác
“Giang tâm như kính tĩnh vô trần”
Ta sẽ thấy hai tiếng “như kính” vang lên cao vút, như một tấm gương có sức sáng rỡ ràng Vì sao thế? Vì tấm gương lòng sông ấy đã phản chiếu tấm lòng trong sáng của Người Tấm lòng thủy chung với lý tưởng cách mạng, thủy chung với dân tộc Lạc Hồng Tấm lòng sắc son của một con người bôn ba bốn biển năm châu để cuối cùng đi tìm lại dấu chân Lênin trên tuyết lạnh nước Nga, luôn xem mọi hình phạt ngục tù của kẻ thù như những hạt bụi nhơ bẩn
Tóm lại, nửa bài thơ dành trọn cho việc khắc họa một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ và nên thơ với chập chùng núi, chập chùng mây trên dòng sông sáng rực Toàn cảnh tạo cho người đọc tưởng tượng ra một bức tranh bao la vô tận và rực rỡ ngời ngời Đó chính là tình yêu thiên nhiên mãnh liệt Đó cũng là khát vọng tự do khôn cùng của Người – vị lãnh tụ tôn kính của dân tộc Việt Nam
Nhưng thiên nhiên trong thơ Bác không phải là những “mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông” để người thi sĩ trốn vào đó, chẳng dám tung mình ra biển đời mênh mông sóng gió Trong thơ Bác luôn đồng thời có phong thái cổ thi của một thi nhân trầm mặc hòa quyện với tấm lòng của người lãnh tụ luôn nung nấu tâm can vì dân, vì nước Chính vì thế, nửa sau bài thơ là là một bức tranh nội tâm rạo rực
“Bồi hồi dạo bước Tây Phong Lĩnh”
Đến đây ta không thấy mắt sáng ngời của Bác quay nhìn bốn phương mây núi,
ta cũng không còn thấy Bác thanh thản lặng yên nhìn xuống dòng sông loang loán ánh gương Mà lại hiện ra với dáng đi nôn nao của một người vừa sung sướng trong tự do, vừa canh cánh bên lòng niềm mơ ước “hai tay xây dựng một sơn hà” Hai từ “bồi hồi” càng cho ta hiểu thấu tâm trạng vui mừng của một cánh chim xen lẫn với nỗi nhớ nhung giữa bầu trời to rộng mà quê hương thì còn xa xôi quá Bốn phương mênh mông, chim trời có thể tung bay rồi đấy nhưng Tây Phong Lĩnh vẫn
là Tây Phong Lĩnh ở tận Trung Hoa, đâu phải Hồng Lĩnh hay Pác Pó Việt Nam
Trang 8Một mình dạo bước trên ngọn núi chót vót, lòng bồi hồi giữ vui mừng và nôn nao, Bác lại hướng về một gọc trời:
“Trong lại trời Nam, nhớ bạn xưa”
Bài thơ đã mở ra với cảnh trời mây Trung Quốc mênh mông Và đến đây khép lại với cảnh “trời Nam” thương nhớ và ánh mắt trông mông vời vợi
Hóa ra Người “mới ra tù” còn đang “học leo núi” mà lòng dạ đã về “trời Nam”
Khi “thân thể ở trong lao” tâm hồn Bác đã ở ngoài lao thì khi ở Tây Phong Lĩnh, hồn Bác đã về với “trời Nam” với đất cũ, bạn xưa Đó hẵn là một điều rất dĩ nhiên nới tâm hồn của một người vì dân tộc, suốt đời vì cách mạng
Nhớ bạn! Đó là bạn bè – đó cũng là những đồng chí, là Đảng từng sát vai bên Bác Nhưng có phải suốt mười bốn tháng ngục tù, khi được tự do, Bác mới nhớ đến bạn không? Không! Một mùa gặt, một luống cày chợt nhìn thấy trên đường bị giải đến nhà giam mới cũng đã gợi nhớ trong Bác
“Ngày đi Bạn tiễn đến bên sông Hẹn bạn khi về lúa đỏ đồng Nay gặt đã xong, cày đã khắp Quê người tôi vẫn chốn lao lưng
(Nhớ bạn – Nhật ký trong tù) Cũng một tâm trạng “nhớ bạn” nhưng có giống nhau chăng? Khi chưa được tự
do, nỗi nhớ nhung bạn bè đồng chí của Bác gắn với lòng ray rứt trễ hẹn, thất hẹn, với nỗi buồn âm thầm
“Quê hương người tôi vẫn chốn lao lưng”
Nhưng ở bài thơ này, nỗi nhớ thương gắn liền với bầu trời nước Việt: “Vọng Nam Thiên // Ức cố nhân” đã trở thành hai vế đối thật hoàn chỉnh Nỗi nhớ quê hương ở đây đã thoát khỏi nỗi buồn rầu Mà… nhớ nhung ở đây là nỗi nhớ tràn trề giữa bầu trời rộng, với tất cả lòng khao khát mênh mông, lòng trông chờ ngày họp mặt để cùng nhau sát cánh, lái con thuyền cách mạng sớm đến bến bờ chiến thắng
Trang 9Nửa bài thơ sau đã được đúc kết với các từ “bồi hồi”, “trông nhớ” diễn tả tâm trạng Bác khi vừa ra tù Ôi… dường như Người quên rằng có khi:
“Răng rụng mất một chiếc Tóc bạc thêm mấy phần Gầy đen như quỷ đói Ghẻ lở mọc đầy thân…”
Thế mà khi vừa ra khỏi nơi chốn ấy, Bác không dành lấy một ngày, một tháng
để lo lắng sức khỏe của mình, để nghỉ ngơi sau bao nhiêu ngày cực nhọc Thật chẳng ngạc nhiên khi Tố Hữu nói rằng Bác là một dòng sông, mà dòng sông thì chẳng bao giờ dừng lại:
Chỉ biết quên mình, cho tất cả Như dòng sông chảy nặng phù sa
Nếu nói đến thói quen của các nhà thơ cổ khi “đăng cao” hẳn chúng ta không quên bài Hoàng Hạc Lâu:
Hạc vùng bay mất từ xưa Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay Thì trong thơ Bác vẫn có cái phong cách cổ điển với mây cao, với quê hương xa xăm… Nhưng trong bài thơ tứ tuyệt của Bác lại có hình ảnh rất cụ thể, rất Việt Nam và rất hiện đại, đó chính là câu kết:
Dao vọng Nam thiên ức cố nhân
Câu kết này đã chấm dứt một bài thơ “đăng sơn” của Người Một cách “kết” rất mới mẻ so với các bài thất ngôn xưa nhưng rất thường thấy và rất dễ hiểu ở thơ Người
Thường thức văn học không thể tách rời hoàn cảnh sáng tác và hình thức phổ biến của một tác phẩm Đặc biệt là với bài thơ này Ai trong chúng ta mà không thấy thú vị và nể phục Bác khi được nghe kể rằng sau khi sáng tác, Bác đã chép nguyên văn bài thơ này lên một tờ Nhật báo Trung Quốc, không ký tên và gửi về
Trang 10đất Việt Tờ báo đã tránh khỏi bao nhiêu con mắt của bọn mật thám và lọt vào tay các đồng chí cách mạng… Và… Dưới những câu thơ tả cảnh , tả tình lấp lánh ánh giương và lòng thương nhớ…thì…một bức mật thư đã hiện ra trong trí mọi người:
“Địch ở giữa ta… ta giữa địch Lòng Bác sắt son, chẳng chuyển dịch Một mình bồi hồi Tây Phong Lĩnh Trông về nước Nam, chờ thân thích…
Đến hôm nay, nhân dân cả nước và nhân dân toàn thế giới vẫn tôn kính Nguyễn
Ái Quốc – Hồ Chí Minh – vị anh hung dân tộc, vị lãnh tụ sáng suốt chí ái nhân dân – đồng thời lại là một nhà thơ lỗi lạc Tất cả hào khí anh hùng và tất cả tinh hoa văn hóa của bốn ngàn năm văn hiến đã hun đúc nên Người, rọi sáng vào bài thơ long lánh nhiều góc cạnh này
Mộc Lan