CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI CAO TUỔINỘI DUNG CHÍNHChương 1 : Những vấn đề chung về người cao tuổi1. Tình hình người cao tuổi trên thế giới. 2. Tình hình người cao tuổi ở Việt Nam. 3. Khái niệmChương 2 : Đặc điểm tâm sinh lý và nhu cầu của người cao tuổi.1. Đặc điểm tâm sinh lý của người cao tuổi 2. Nhu cầu của người cao tuổi3. Các bệnh thường gặp ở người cao tuổiChương 3 : Luật pháp và chính sách đối với người cao tuổi1. Những văn kiện quốc tế cơ bản về công tác người cao tuổi.2. Luật pháp Việt Nam liên quan đến người cao tuổiChương 4 : Các mô hình chăm sóc, hỗ trợ người cao tuổi.
Trang 1CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI CAO
TUỔI NỘI DUNG CHÍNH Chương 1 : Những vấn đề chung về người cao tuổi
1 Tình hình người cao tuổi trên thế giới
2 Tình hình người cao tuổi ở Việt Nam
3 Khái niệm
Chương 2 : Đặc điểm tâm sinh lý và nhu cầu của người cao tuổi
1 Đặc điểm tâm sinh lý của người cao tuổi
2 Nhu cầu của người cao tuổi
3 Các bệnh thường gặp ở người cao tuổi
Chương 3 : Luật pháp và chính sách đối với người cao tuổi
1 Những văn kiện quốc tế cơ bản về công tác người cao tuổi
2 Luật pháp Việt Nam liên quan đến người cao tuổi
Chương 4 : Các mô hình chăm sóc, hỗ trợ người cao tuổi.
1 Mô hình chăm sóc tập trung
2 Mô hình chăm sóc tại nhà
Trang 2CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI CAO TUỔI
(3t Lý thuyết+ 2t thực hành + 1t Tự học )
A Nội dung chính
1 Tình hình người cao tuổi trên thế giới
2 Tình hình người cao tuổi ở Việt Nam
3 Khái niệm
- Nắm được thế nào là người cao tuổi theo nhiều khía cạnh
- Hiểu được tình hình NCT trên thế giớ và ở tại VN
- Thực hành các kỹ năng làm việc nhóm
B Câu hỏi thảo luận
1 Anh (chị )hãy trình bày các khái niệm về người cao tuổi?
2 Anh (chị) hãy phân tích tình hình người cao ở việt Nam?
3 Anh (chị) hãy phân tích tình hình người cao ở việt Nam có những điểm gì
khác tình hình người cao tuổi trên thế giới?
C Nội dung chi tiết
1
Tình hình người cao tuổi trên thế giới.
Thế giới hiện nay đang có xu hướng tỷ lệ sinh ngày một hạ thấp, tuổi thọtrung bình ngày một nâng cao, xã hội lão hoá Bên cạnh đó vấn đề già hoá dân sốđụng chạm đến tất cả các quốc gia, đặc biệt nguy cơ lão hoá còn ảnh hưởng đếnsức sống của một quốc gia Hiện nay có nhiều người cao tuổi đang sống độc thân,những người này sẽ dễ bị tổn thương hơn so với nhóm khác Tỷ lệ người cao tuổicần được hỗ trợ rất quan trọng đối với khả năng thanh toán của các hệ thống ansinh xã hội
Theo UB dân số LHQ, tổng số người già từ 60 tuổi trở lên từ 214 triệu ngườivào năm 1950 tăng lên khoảng 400 triệu người vào năm 1982 và đạt khoảng 600triệu người vào năm 2001, khoảng 1,2 tỷ người vào năm 2025 và sẽ là gần 2 tỷngười vào giữa thế kỷ 21 Số người từ 80 tuổi trở lên sẽ tăng nhiều hơn, từ 13 triệu
Trang 3người năm 1950 lên 50 triệu người vào năm 1995 và sẽ tăng lên 137 triệu ngườivào năm 2025 Tỷ lệ NCT trên thế giới sẽ tăng liên tục từ 8% dân số năm 1950 lên
10% vào năm 2000 và sẽ đạt đến mức gần 20% vào năm 2050 Đối với các nước
phát triển cứ 6 người dân thì có 1 người trên 65 tuổi, tỷ lệ này sẽ chỉ còn 4 ngườidân có 1 người cao tuổi vào năm 2025 Với những nước đang phát triển thì tỷ lệngười cao tuổi ước tính tương ứng là 10-1 và 7-1.( Theo tài liệu ” Dan số cao tuổithế giới 1950-2050” của UB dân số LHQ)
Những tiến bộ của y học giúp kéo dài cuộc sống con người, đáp ứng nguyệnvọng chung của nhân loại nhưng cũng đặt ra những đòi hỏi mới đối với XH là làmthế nào để đáp ứng được những nhu cầu của tuổi già để tặng phẩm mà tạo hóa bancho họ không phải là những năm tháng nặng nề, bất lực, cô đơn và do vậy họ tìmthấy rõ lý do để tiếp tục sống và hơn thế sống vui, sống khỏe mạnh và có ích.Tháng 4/2002 Đại hội thế giới vền người cao tuổi do Liên Hiệp quốc tổ chứctại Madrid đã thông qua Chương trình hành động Quốc tế về người cao tuổi (2002
- 2010) Đây là một định hướng quan trọng cho các hoạt động vì người cao tuổitrên toàn thế giới Chương trình hành động quốc tế về người cao tuổi (2002 -2010) đã kêu gọi các quốc gia cần thay đổi thái độ, chính sách, tập quán và nhậnthức về người cao tuổi trong thế kỷ 21 Từ đó, nhận thức đầy đủ về quyền tự do cơbản của người cao tuổi: gắn vấn đề người cao tuổi với các chương trình phát triểnkinh tế – xã hội và quyền con người
Trong Văn kiện Venna về già hóa dân số mà Đại hội đồng Liên hợp quốc đãthông qua 26 năm trước đây (1982) chưa nhận thức được một thực tế rằng phầnlớn người cao tuổi sẽ sống ở các nước đang phát triển chứ không phải là ngược lại.Tính toán thống kê cho thấy số người cao tuổi ở các nước đang phát triển sẽ tănggấp đôi trong vòng 25 năm tới, đạt 850 triệu người vào năm 2025, chiếm 12%tổng dân số các nước này Vào năm 2050 tỷ lệ nói trên sẽ là 2% Khác với sự giàhóa đã là và đang diễn ra trong các nước phát triển, trong phần thế giới đang pháttriển, dân số đang già hóa với một tốc độ chưa từng thấy và phần lớn vẫn còn sốngtrong nghèo khổ
2.
Tình hình người cao tuổi ở Việt Nam.
Trước năm 1945 bình quân tuổi thọ ở nước ta là 32 tuổi, năm 1980 là 63,năm 1990 là 68 tuổi, năm 2002 bình quân tuổi thọ là 71,3 tuổi và hiện nay là 73
Trang 4tuổi(1) Theo kết quả điều tra dân số năm 19889, người từ 60 tuổi trở lên chỉ có7,15% dân số cả nước (4,6 triệu người), tỷ lệ này đã tăng lên 8,12% vào năm 1999(khoảng 6,2 triệu người); năm 2005 có 7.135.592 người (chiếm 8,82% dân số) vàhiện nay là khoảng 7,9 triệu người (chiếm khoảng 9,45 % dân số) Trong đó có3,98 triệu người từ 60 – 69 tuổi; 2,79 triệu người từ 70 – 79 tuổi, 1,17 triệu người
từ 80 tuổi trở lên (có khoảng 9.830 người từ 100 tuổi trở lên) Dự báo, đến năm
2020 sẽ có khoảng 10,5 – 11 triệu người cao tuổi(1)- Với mức gia tăng như vậy,trong vòng 10 năm tới vấn đề già hóa dân số sẽ trở thành một thách thức lớn trongviệc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe, phụng dưỡng người cao tuổi; đặc biệt làngười cao tuổi thuộc diện đối tượng bảo trợ xã hội
Do đặc điểm kinh tế – xã hội của Việt Nam nên đại bộ phận người cao tuổisống ở khu vực nông thôn (khoảng 72,9% tổng số) và hầu hết sống cùng gia đình(khoảng 79%), chỉ có 21% sống độc thân hoặc chỉ có 2 vợ chồng đều là người caotuổi (8% sống độc thân và 13% chỉ có hai vợ chồng đều là người cao tuổi) Một bộphận người cao tuổi Việt Nam là người có công lao với cách mạng, với đất nước.Đó là những người đã từng trực tiếp tham gia hai cuộc kháng chiến giải phóng dântộc và thống nhất đất nước
Trong tổng số 7,9 triệu người cao tuổi hiện nay có khoảng 2.682.600 ngườicó thu nhập thường xuyên hàng tháng từ các nguồn trợ cấp, lương hưu (chiếm33,96%) bao gồm:
- 1.600.000 người hưởng lương hưu, mất sức lao động;
- 7.100 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng;
- 510.000 người hưởng trợ cấp tuất liệt sĩ;
- 300.000 người hưởng trợ cấp thương binh, người hưởng chính sách nhưthương binh;
- 102.000 người hưởng chế độ bệnh binh;
- 78.000 người hưởng chế độ người tham gia kháng chiến bị tù đày;
- 80.000 người hưởng trợ cấp thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụtrong kháng chiến;
- 5.500 người có công được nuôi dưỡng trong các Trung tâm của ngành Laođộng – Thương binh và Xã hội;
Ngoài ra, còn có một bộ phận người cao tuổi ở các địa phương đang đượchưởng chế độ bảo hiểm xã hộ tuổi già do địa phương tự tổ chức thực hiện chế độ
Trang 5bảo hiểm xã hội tự nguyện áp dụng cho lao động nông nghiệp, ngư nghiệp, diêmnghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
Bên cạnh số người được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, chế độ trợ cấpngười có công thì phần đông người cao tuổi sống chủ yếu nhờ vào con, cháu hoặc
tự hoạt động kinh tế Có gần 30% người cao tuổi vẫn tham gia làm các công việckhác nhau để kiếm sống; 10% làm việc nhà để con cháu đi làm Tỷ lệ này ở nôngthôn là 45%
Người cao tuổi được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (lương hưu, trợ cấp bảohiểm xã hội) có cuộc sống tương đối ổn định Còn lại đa số do tuổi cao, sự tích lũy
từ trước còn ít, nhất là người cao tuổi khu vực nông thôn nên người cao tuổi còngặp nhiều khó khăn trong đời sống vật chất Bên cạnh đó, tuổi cao thường đi liềnvới bệnh tật trong khi khả năng đi lại khó khăn cùng với sự nghèo khó nên một bộphận không nhỏ người cao tuổi chưa tiếp cận được với các dịch vụ xã hội
Về điều kiện sinh hoạt: Ước tính có khoảng 1 triệu người cao tuổi còn đangphải ở nhà tạm và nhiều người chưa đủ ấm vào mùa đông, chủ yếu ở những vùngkinh tế chậm phát triển, mức sống thấp
Cùng với những nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần, phần lớn người caotuổi còn có nhu cầu trang bị thêm những kiến thức cần thiết để tự chăm sóc sứckhỏe cho bản thân, nhất là những người cao tuổi cô đơn Tỷ lệ người cao tuổi cósức khỏe kém (so độ tuổi) chiếm khá cao (22,9%), số có sức khỏe tốt chỉ chiếm5,7% Bình quân 1 người cao tuổi có 2,69 bệnh; tỷ lệ người cao tuổi có các bệnhtật ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày là 56,7%; có 24,9% phải mời bác sĩ đếnnhà khám ít nhất là 1 lần trong tháng.(4)
Các bệnh mà người cao tuổi thường mắc chủ yếu là các bệnh mãn tính Có 4nhóm bệnh thường gặp nhiều nhất ở người cao tuổi là: nhóm bệnh cơ xương khớp(chiếm 53,8%), nhóm bệnh đường hô hấp (41,6%), nhóm bệnh tim mạch (31,3%)và nhóm bệnh về tiêu hóa (27,1%) Có 28,3% số người cao tuổi giảm thị lựcnghiêm trọng và 10,4% bị mù hoàn toàn; 27% nghe rất kém và 9,4% điếc hoàntoàn Ngoài các bệnh trên, các triệu chứng giảm trí nhớ, mất trí nhớ, loạn thầnđang tăng lên (chiếm khoảng 2-3%)5
Người cao tuổi thuộc diện trợ giúp xã hội ở nước ta có 781.935 người bao gồm:
Trang 6- Người cao tuổi cô đơn thuộc hộ gia đình nghèo khoảng 167.000 người;
- Người cao tuổi còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu,người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo khoảng 102.000 người;
- Người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hộikhoảng 500.000 người
- Người cao tuổi bị tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặc khả năng
tự phục vụ thuộc hộ gia đình nghèo chiếm khoảng 20% trong tổng số người tàn tậtnặng (khoảng 4.535 người/22.678 người tàn tật nặng)
- Người cao tuổi bị tâm thần mãn tính: 7.10/35.689 người tâm thần
- Người cao tuổi bị nhiễm HIV/AIDS: 1.300/6.751 người nhiễm HIV/AIDSkhông còn khả năng lao động
Hiện nay có:
- 7.643 người cao tuổi đang được nuôi dưỡng tại cơ sở BHXH
- 233.679 người cao tuổi được hưởng trợ cấp thường xuyên tại cộng đồng(trong đó có 149.281 người 90 tuổi trở lên)
- 250.818 người được cấp BHYT
3 Khái niệm
Theo qui định pháp luật của các nước về người cao tuổi thì thông thườngkhái niệm người cao tuổi được gắn với độ tuổi về hưu Luật người cao tuổi đượcQuốc Hội nước cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp khoá
6, Quốc Hội khoá XII xác định người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi
Trang 7trở lên Định nghĩa của Liên Hợp quốc cũng đồng nhất với Việt Nam, người cao
tuổi là người có độ tuổi từ 60 trở lên
D Phản hồi SV
CHƯƠNG 2 :
ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ VÀ NHU CẦU CỦA
NGƯỜI CAO TUỔI.
(4t Lý thuyết+ 3t thực hành + 1t Tự học )
A Nội dung chính
1 Đặc điểm tâm sinh lý của người cao tuổi
2 Nhu cầu của người cao tuổi
3 Các bệnh thường gặp ở người cao tuổi
- Nắm được đặc điiểm tâm sinh lý của người cao tuổi
- Hiểu được các nhu cầu cơ bản của NCT
- Các cách xử lý các bệnh thường gặp ở NCT
- Thực hành các kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng quan sát, báo cáo, lập
kế hoạch.
B Câu hỏi thảo luận
1 Anh (chị )hãy trình bày đặc điểm tâm sinh lý của người cao tuổi?
2 Anh (chị) hãy phân tích nhu cầu của người cao tuổi?
3 Anh (chị )hãy nêu các bệnh thường gặp ở người cao tuổi? Các biện pháp
nâng cao tuổi thọ của người cao tuổi?
C Nội dung chi tiết
1
Đặc điểm tâm sin h lý của người cao tuổi
Đặc điểm đầu tiên cần quan tâm với người cao tuổi là những thay đổi về sinhlý do thay đổi về tuổi tác Nhận thức của người cao tuổi có suy giảm ví dụ như trí
Trang 8nhớ thay đổi rõ rệt, trí nhớ ngắn hạn giảm sút, trí nhớ dài hạn vãn ở mức cao ,họsống nặng về nội tâm; tư duy kém năng động và linh hoạt; người cao tuổi thườngkhó chấp nhận cái mới và không thích phải thay đổi thói quen.
Bên cạnh đó người cao tuổi cũng có giảm sút về chức năng hoạt động củamột số cơ quan trong cơ thể dẫn đến mắc một số bệnh về hô hấp, tim mạch Việcthay đổi hình dáng bên ngoài cũng là một đặc điểm thay đổi về sinh học có thể gây
ra những khó khăn cho người cao tuổi
Tiếp theo là những thay đổi về đặc điểm tâm lý Về tình cảm, người cao tuổicó phản ứng cảm xúc nhạy bén, vui buồn dễ dàng Người cao tuổi cũng thường cótâm lý tiêu cực như tự ti, có cảm giác mất mát, cô độc và suy giảm khả năng giaotiếp
Xét về nhu cầu của người cao tuổi, người cao tuổi cần được quan tâm, chămsóc, yêu mến; nhu cầu chăm sóc sức khỏe; nhu cầu thấy mình có ích cho xã hội;nhu cầu được học hỏi thêm và vui hưởng tuổi thọ quây quần bên con cháu
Người cao tuổi thường phải đối phó với sự giảm sút về sức mạnh trên nhiềucấp độ:
a Sức khỏe thể chất có xu hướng giảm khi có tuổi, vì vậy người caotuổi phải phụ thuộc vào sự hỗ trợ để tồn tại
b Người cao tuổi thường duy trì sức khỏe tâm thần, tuy nhiều nhiều ngườitrong số họ trải qua "mất trí nhớ tạm thời trong ngắn han, giảm tốc độ trong họctập, phản ứng chậm chạp, và sự đãng trí ở mức độ nhẹ”
c Mất các hệ thống hỗ trợ ví dụ như sức khỏe của các bạn của họ bị suygiảm
d Việc nghỉ hưu cũng có thể khiến người cao tuổi tập thích ứng, đòi hỏi họphải tìm ra cách khác để giết thời gian rảnh rỗi, cảm giác vô dụng khikhông còn đi làm nữa
e Phân biệt đối xử về mặt tuổi tác thể hiện ở các khuôn mẫu gây phươnghại, chẳng hạn như nhấn mạnh vào điểm yếu về thể chất, tâm thần, và kinh tế.Nói tóm lại, một số đặc điểm xã hội đặc thù của người cao tuổi:
Thứ nhất, người cao tuổi là người đã kết thúc giai đoạn lao động chính thức.Nhiều người sau khi nghỉ hưu vẫn tham gia lao động dưới nhiều hình thức (mặc dùcó lương hưu) Họ tiếp tục tạo thu nhập bằng nghề nghiệp cũ, hoặc nhận những
Trang 9công việc mới phù hợp sức lực, hoặc đảm đương công việc nội trợ trong gia đình,quản lý đất đai nhà cửa hoặc trông nom các cháu Những suy nghĩ và việc làm củangười cao tuổi không nhằm vào lợi ích kinh tế mà hướng vào các giá trị xã hộinhằm khẳng định vị thế, sự hữu ích và uy tín với con cháu, với cộng đồng.
Thứ hai, đối với người cao tuổi là có sự thay đổi các vai trò, chức năng tronggia đình: Dù trong gia đình truyền thống hay gia đình hiện đại, vai trò, chức năngcủa người già đều được điều chỉnh lại phù hợp với sức khoẻ và tuổi tác của họ Sựquan trọng của người cao tuổi đối với gia đình không phụ thuộc quá nhiều vào việc
họ có sống cùng con cháu hay không Trong cuộc sống gia đình, người cao tuổivừa muốn sống độc lập không phụ thuộc con cháu (nhất là về kinh tế), song họ đềumuốn gần gũi cháu con, để tránh sự cô đơn, để được sự chăm nom, săn sóc lúc
“trái nắng , trở giời”
Thứ ba là các mối quan hệ xã hội được điều chỉnh: Từ mối quan hệ gia đình,
họ hàng, láng giềng, đến quan hệ đồng niên trong các hội người cao tuổi, ngườicao tuổi luôn lấy cái tình, cái nghĩa làm trọng Những tác động của đời sống kinhtế xã hội tạo ra những thay đổi quan trọng trong đời sống xã hội, gia đình nóichung và đời sống người cao tuổi nói riêng Người cao tuổi tự cảm thấy mình đangmất dần các uy thế và quyền lực Quan hệ với con cháu trước đây được coi nhưmột nhu cầu tình cảm, thì bây giờ là sự phân công, sắp đặt, là bổn phận đối với concái Do tuổi cao, sức yếu, người cao tuổi thường là từ chối, ngại tham gia các hoạtđộng xã hội mang tính tập thể Hạnh phúc nhất của tuổi già chính là sự thanh thảnvới những sở thích cá nhân Quan hệ giao tiếp xã hội thường giới hạn ở nhữngnhóm nhỏ, như hội người cao tuổi, hội dưỡng sinh, các câu lạc bộ, hoặc tham giacác sinh hoạt lễ hội, chùa chiền (nhất là ở các cụ bà) Quan hệ xã hội ở người caotuổi đã được thu hẹp lại, họ mãn nguyện trong sự hoà thuận, xum vầy với concháu, hoặc tự ái, sống cô đơn trong sự bất lực, giận dỗi với người thân
2 Đặc điểm tâm sin h lý của người cao tuổi khu vực nông thôn và khu vực thành thị
a Người cao tuổi ở khu vực nông thôn
Đời sống người cao tuổi ở khu vực này khép kín trong các cộng đồng, làng, xã vàcó những đặc thù riêng trong điều kiện kinh tế nhất định và với những mức độ khác nhaunhưng tựu chung vẫn trong tình trạng lạc hậu Có nhiều gia đình sống chung hai, ba thếhệ khá phổ biến và người già ở nông thôn vẫn giữ vai trò rất quan trọng
Trang 10Trong nhiều thập kỷ qua, với những khó khăn lớn do hậu quả của chiến tranh kéo dài vàmột nền kinh tế lạc hậu, tự cung, tự cấp, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách xãhội để bảo đảm đời sống vật chất của người cao tuổi và đối tượng người nghỉ hưu Ởnông thôn, chế độ trợ cấp bằng lương thực đã đáp ứng cơ bản điều kiện sống cho ngườigià, cùng với nó là những bảo đảm về y tế và xã hội khác cho dù còn hạn hẹp nhưng đãlàm cho người cao tuổi cảm thấy mình đang sống một cách hữu ích cho cháu con và cộngđồng Họ tỏ ra yên tâm khi đời sống được dần dần cải thiện, nhưng vẫn chưa thoát ra khỏi
sự ràng buộc về kinh tế đối với con cháu khi tuổi thọ của họ ngày một cao và sức lựcngày một giảm sút
Đối với những người cao tuổi được hưởng chính sách xã hội (gia đình thươngbinh, liệt sỹ, có công với cách mạng) thì sự bất hợp lý trong việc điều chỉnh chế độ xã hộivới việc giá cả tăng cao như hiện nay thì những khoản trợ cấp của họ thật bé nhỏ
Người cao tuổi ở khu vực nông thôn rất cần gìn giữ gia phong trong quan hệ gia đình,làng, xã và coi đó là chuẩn mực của lối sống có văn hoá nhưng trên thực tế, nhiều giađình, làng, xã, người cao tuổi vẫn chưa được đối xử công bằng, họ bị thúc ép làm nhữngviệc ngoài ý muốn do con cháu có tranh chấp về ruộng vườn, nhà cửa như vấn đề tranhchấp đất đai, chia thừa kế, vấn đề bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dân sự, kinhtế - lao động…
b Người cao tuổi ở khu vực thành thị
Đa số người cao tuổi vẫn phải tự phục vụ mình cũng do lối sống công nghiệp,theo cơ chế thị trường, trong khi đa phần họ cũng có nhiều con cháu, nhưng do phân cônglao động xã hội, con cháu của họ mỗi người có trách nhiệm, vị thế nhất định của mìnhtrong xã hội như làm việc tại các công sở, cơ quan nhà nước, các cháu đang trong độ tuổi
đi học nên phải đến trường Do vậy, vị thế của người cao tuổi là lực lượng quan trọng đểhội tụ con cháu xung quanh họ, góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc
Trong những thập niên gần đây cho thấy tỷ lệ người già ở khu vực thành thị ngàycàng tăng, đang trở thành một vấn đề nan giải trong khi việc đô thị hoá lại diễn ra hết sứcnhanh chóng Cư dân ở nông thôn rời bỏ ruộng vườn ra thành phố kiếm sống tại cácthành phố lớn lại rất đông, chưa thể kiểm soát được (trong đó có cả nhóm người già,người cao tuổi)
với nhóm người cao tuổi sống ở nông thôn, người cao tuổi sinh sống tại các đôthị, thành phố lớn, họ có cuộc sống vật chất khá đầy đủ về các nhu cầu như: ăn, mặc, ở, đilại cùng các phương tiện thông tin giải trí khác Qua số liệu khảo sát tại một số thành phốcho thấy, tỷ lệ 70% người cao tuổi ở thành thị sống trong các khu tập thể, khu trung cư,30% là sống ở các khu phố trên địa bàn thành phố
Cùng với sự phát triển của cơ chế mới, tốc độ phát triển nhanh của các khu đô thị trongthời gian gần đây cho thấy những phức tạp của tình hình xã hội, người cao tuổi sinh sốngtại các đô thị cũng hình thành một lối sống khác biệt với những đặc trưng như: Đa sốngười cao tuổi là nhàn rỗi, thừa thông tin, quan hệ láng giềng không gắn bó mật thiết nhưngười già ở khu vực nông thôn Vì vậy, nhiều người cao tuổi ở nông thôn khi lên thànhphố sống với con cháu phần lớn họ không thích nghi với điều kiện sống ở khu vực thànhthị, nhiều người trong số họ phải bỏ về quê hương, mặc dù biết rằng chính quê hươngmình còn đang thực sự khó khăn
Đối tượng người cao tuổi là cán bộ, công nhân viên chức ở khu vực này chiếmtrên 60% Sinh hoạt của họ chủ yếu tại các Tổ hưu trí, các Câu lạc bộ dành cho người cao
Trang 11tuổi và Hội người cao tuổi ở xã, phường Tỷ lệ người già, người cao tuổi phải sống cuộcsống lang thang, không nơi nương tựa chiếm tỷ lệ tương đối cao 13,5%.[1]
Qua khảo sát Trung tâm nuôi dưỡng tại một số thành phố thì số lượng người già là ngườicao tuổi đến xin được vào các trung tâm ngày một tăng[2], mặc dù trong số họ nhiềungười có gia đình, có lương hưu nhưng do bị người thân, con cháu ngược đãi, quyền vàlợi ích của họ bị xâm hại nên họ muốn thoát khỏi sự bế tắc bằng cách tìm đến các Trungtâm nuôi dưỡng để mong được sự giúp đỡ từ chính cộng đồng, xã hội
Thực trạng người cao tuổi ở nước ta hiện nay có khoảng 9 triệu người, chiếm 12% dânsố Thực tế điều tra xã hội học cho thấy người cao tuổi đạt mức 70 tuổi trở lên cao gấpđôi số người dưới 70 tuổi Do một bộ phận người già còn mù chữ, không biết đọc, biếtviết, số người cao tuổi có học vấn cao tập trung chủ yếu ở khu vực đô thị (70% người giàcòn phải lao động kiếm sống, trong đó 38% vẫn đóng vai trò chính trong gia đình ở cảkhu vực nông thôn và thành thị)
Từ thực trạng trên cho thấy người cao tuổi ở nước ta trong những năm gần đâyphát triển ngày càng tăng, trung bình mỗi năm tăng khoảng 5%, chính vì vậy Đảng vàNhà nước ta thực sự quan tâm đến đối tượng này và ngày 28/04/2000 Uỷ Ban Thường vụQuốc hội đã ban hành Pháp lệnh về người cao tuổi Đây là văn bản pháp lý có hiệu lựccao để điều chỉnh toàn diện vấn đề người cao tuổi ở nước ta, bên cạnh đó để điều chỉnhmột cách cụ thể các chính sách, pháp luật đối với người cao tuổi, Chính phủ đã ban hànhNghị định số 30/2002/NĐ-CP ngày 26/03/2002 Quy định và hướng dẫn thi hành một sốđiều của Pháp lệnh người cao tuổi
Cục Trợ giúp pháp lý thuộc Bộ Tư pháp qua 15 năm hình thành và phát triển đãkhẳng định được vai trò, vị trí của mình trong đời sống xã hội là giúp đỡ pháp luật miễnphí cho người nghèo, đối tượng chính sách trong đó có nhóm người cao tuổi khi họ gặpvướng mắc về pháp luật cần được sự trợ giúp từ phía các cơ quan Nhà nước để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp cho họ
2
Nhu cầu của người cao tuổi
Ở tuổi này, có người tỏ ra sức yếu lực tàn, song có người vẫn còn nhanh nhẹn, khoẻmạnh về thể chất và minh mẫn về trí tuệ Tuy nhiên, cũng như ở những lứa tuổi khác,người già cũng cần có một số nhu cầu cơ bản, phù hợp với lứa tuổi:
1 Nhu cầu về ăn, ở: Do ảnh hưởng về sức khoẻ, người già cần phải có một chế độ ăn
uống riêng, phù hợp với tuổi tác và một số bệnh tật (do sự lão hoá của tuổi già gây nên)
Sự vận động của người già cũng thường chậm chạp, kém phần nhanh nhẹn và linh hoạt Vì vậy, người thân trong gia đình nên sắp xếp nơi ở phù hợp cho người già, khôngnên ở những nơi cao tầng, phải leo nhiều cầu thang
2 Nhu cầu an toàn: Đây là nhu cầu rất quan trọng của người già Sự an toàn của người
già không chỉ thể hiện ở việc cần được đảm bảo sức khoẻ thông qua chế độ chăm sóc sứckhoẻ định kỳ, khám chữa khi ốm đau, bệnh tật, mà còn thể hiện ở việc cần có một môitrường sống lành mạnh, ít căng thẳng
Vì vậy, con cháu không chỉ quan tâm về mặt thể chất mà cần phải quan tâm về mặttinh thần cho người già, tạo bầu không khí vui vẻ, yên bình cho các cụ
3 Nhu cầu tình cảm: Ở độ tuổi này, do không còn tham gia hoạt động lao động thường
xuyên nên mối quan hệ, giao lưu của người già trở nên thu hẹp Bên cạnh đó, con cáitrưởng thành thường có cuộc sống riêng, độc lập, công việc bận rộn nên ít dành thời gianquan tâm tới ông bà Nếu thiếu những mối quan hệ tình cảm của người thân và bạn bè,
Trang 12người già thường cảm thấy cụ đơn, trụ́ng vắng, thọ̃m chớ có thờ̉ ảnh hưởng thờm tới sứckhoẻ Vì vọ̃y, người già rất cõ̀n sự quan tõm, chăm sóc thường xuyờn của người thõn đồngthời cũng nờn tìm một sự cõn bằng thụng qua những hoạt động xó hội, giao lưu tại cácCõu lạc bộ.
Những hoạt động này giỳp người già mở rộng mụ́i quan hợ̀ xó hội và đảm bảo sức khoẻ cả vờ̀ thờ̉ chất lẫn tinh thõ̀n
4 Nhu cõ̀u được tụn trọng, được chṍp nhận, được thṍy mình cú ớch Do sự giảm sỳt
năng lực và trớ tuợ̀ có phõ̀n thiờ́u minh mẫn, một sụ́ người già cảm thấy mất quyờ̀n tự chủ
Dự khụng cũn trực tiờ́p tham gia hoạt động đóng góp cho xó hội, nhưng họ vẫn cõ̀n được
sự cụng nhọ̃n những giá trị, những thành quả mà họ đó đạt được Họ vẫn cõ̀n được khẳng định, rằng họ khụng phải là người thừa, người vụ ớch mà ngược lại họ vẫn là người có ớch, là người quan trọng trong xó hội và trong gia đình Vì vọ̃y, các thành viờn trong gia đình cũng cõ̀n khuyờ́n khớch, động viờn ụng bà cha mẹ mình tham gia các hoạt động mang tớnh xó hội, đồng thời cũng thường xuyờn ghi nhọ̃n cụng lao của họ thụng qua những hoạt động trong gia đình
3 Các bợ̀nh thường gặp ở người cao tuụ̉i
CHƯƠNG 3 :
LUẬT PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH Đễ́I VỚI NGƯỜI CAO TUễ̉I
(5t Lý thuyết+ 2t thực hành + 2t Tự học )
A Nội dung chớnh
1 Những văn kiợ̀n quụ́c tờ́ cơ bản vờ̀ cụng tác người cao tuụ̉i
2 Luọ̃t pháp Viợ̀t Nam liờn quan đờ́n người cao tuụ̉i
- Nắm được những văn kiện quụ́c tế cơ bản về cụng tác người cao tuụ̉i.
- Tìm hiểu những quy đinh dành cho NCT tại VN
- Thực hành các kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng quan sát, báo cáo, lọ̃p
kế hoạch.
B Cõu hỏi thảo luận
1 Anh (chị )hóy trình bày quyờ̀n và nghĩa vụ của người cao tuụ̉i được quy
định trong Hiờ́n Pháp nước CHXHCN Viợ̀t Nam 1992?
2 Anh (chị )hóy trình bày Thông t số 36/2005/TT-BLĐTBXH ngày
26/12/2005 hớng dẫn thực hiện các nghị định 30 và nghị định
120 của chính phủ và các qui định khác có liên quan đến chế
độ, chính sách trợ giúp ngời cao tuổi
3 Anh (chị) hóy phõn tớch những điờ̉m chưa hợp lý trong các quy định dành
cho người cao tuụ̉i trong các trung tõm bảo trợ?
Trang 134 Anh (chị )hãy trình bày một số vướng mắc pháp lý mà người cao tuổi
thường gặp phải hiện nay?
C Nội dung chi tiết
1 Những văn kiện quốc tế cơ bản về công tác người cao tuổi.
Với xu hướng số lượng người cao tuổi trên thế giới ngày càng gia tăng, Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế đã thông qua một số văn kiện và thực hiện nhiều các chương trình hành động quốc tế liên quan đến hỗ trợ người cao tuổi,
Quyền của người cao tuổi
- Bản tuyên bố về sự phát triển và tiến bộ xã hội năm 1969 đã đề cập cụ thểđến người cao tuổi như là một nhóm đối tượng đích
- Năm 1980, Hiệp hội quốc tế người cao tuổi – FIAPA – được thành lập Đếnnăm 1992 FIAPA đã có thành viên là các Hiệp hội NCT tại 37 quốc gia đại diệncho trên 100 triệu NCT trên thế giới Đến nay, FIAPA trở thành tổ chức quốc tếlớn gồm 150 Hiệp hội NCT từ 60 quốc gia đại diện cho khoảng 300 triệu NCT trênthế giới
- Năm 1982 liên hiệp quốc đã đưa ra Chương trình hành động quốc tế đầutiên về NCT Văn kiện quan trọng này đã trở thành định hướng hữu ích của cácquốc gia thành viên để đảm bảo quyền của NCT trong khuôn khổ các quyền conngười đã được thừa nhận qua bản tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm
1948 Cho đến nay, Chương trình vẫn là một văn kiện pháp lý quốc tế chuẩn mựcvà tiếp tục định hướng các văn bản tiếp theo về công tác NCT
- Tháng 11/ 1991 Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã thông qua các nguyên tắcđối với NCT, các nguyên tắc này dược chia thành 5 nhóm:
+ Không phụ thuộc
+ Đảm bảo sự tham gia hoạt động XH
+ Chăm sóc sức khỏe
+ Bản sắc
+ Phẩm giá
Trang 14Năm 1992, LHQ tiếp tục thông qua 8 mục tiêu toàn cầu về NCT cho hoạtđộng quốc gia đến năm 2001 và một bản hướng dẫn vắn tắt về việc xác định cácmục tiêu quốc gia, thể hiện quan điểm toàn diện trong công tác chăm sóc NCT.Cũng năm 1992, trong lễ kỷ niệm 10 năm Chương trình hành động quốc tế vìNCT, Đại hội đồng LHQ thông qua một bản tuyên bố về NCT trong đó kêu gọiủng hộ các sáng kiến quốc gia trong công tác NCT dể những người phụ nữ caotuổi có quyền được hỗ trợ đầy đủ vì những cống hiến to lớn chưa được thừa nhậncủa họ đối với XH, đồng thời để những nam giới cao tuổi tiếp tục phát triển nănglực về XH, văn hóa mà chưa được phát huy trong những năm phải lo sinh kế
- Năm 1995 hội đồng quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa đã thông qua ởđiều 6 về kinh tế, xã hội và quyền về văn hóa của người già
- Liên hiệp quốc đã tuyên bố năm 1999 là năm quốc tế của người cao tuổi vàphát triển khung lý thuyết dựa trên bốn lĩnh vực ưu tiên
- 1) tình trạng của người già,
- 2) sự phát triển suốt cuộc đời của cá nhân,
- 3) mối quan hệ giữa các thế hệ
- 4) mối quan hệ giữa dân số, tuổi và phát triển
- Năm 2002, kế hoạch hành động Madrid Plan of Action đã giải quyết đượcthực trạng của người cao tuổivà hội đồng phát triển xã hội đã hỗ trợ tài chính choviệc thực hiện kế hoach này
Chính sách quốc tế về người cao tuổi của Liên đoàn quốc tế của nhân viên xã hội
Theo Liên đoàn quốc tế của nhân viên xã hội (1991), nghiên cứu gần đâykhuyến cáo rằng nhóm người cao tuổi thích nghi tốt hơn với các can thiệp và đốimặt với tuổi già một cách khỏe mạnh hơn Với những tiến bộ y học và tuổi thọ kéodài, nghiên cứu cũng bắt đầu phản ánh rằng khoảng thời gian yếu thế và suy nhược
đã được rút ngắn lại ở giai đoạn cuối của cuộc đời Liên đoàn quốc tế của nhânviên xã hội (1999) cho rằng việc đáp ứng được nhu cầu của nhóm người này là cần
thiết cho phúc lợi xã hội và bản thân cá nhân người cao tuổi Trong chính sách
quốc tế về người cao tuổi(1999), Liên đoàn quốc tế của nhân viên xã hội đã nóirằng “can thiệp quan trọng là thông qua một nhóm chăm sóc được đào tạo chuyên
Trang 15môn, tỏ lòng kính trọng và coi trọng nguyên tắc tự quyết” Vì thế Liên đoàn quốctế của nhân viên xã hội đã khuyến nghị rằng các nguyên tắc sau cần phải đượcnhấn mạnh trong chính sách xã hội với người cao tuổi:
- Một bản tuyên ngôn chính sách xã hội đối với người cao tuổi cần phải tínhđến các nhu cầu khác biệt của nhóm đối tượng này khi họ trải qua tiến trình giàhóa
- Tiến trình già hóa ở các quốc gia là giống nhau, vì thế vấn đề người caotuổi là một vấn đề xã hội và mối quan tâm toàn cầu Trong hầu hết các quốc gia,người cao tuổi thường được định nghĩa là những người đến tuổi nghỉ hưu, đượcchấp nhận bởi một số dất nước và nền văn hóa
- Mỗi chính sách cần phải phản ảnh quyền của người cao tuổi tiếp tục làmviệc nếu họ muốn được làm việc Tuy nhiên, cơ hội đến từ những việc được trảlương và những việc tình nguyện để tăng cường cuộc sống của cá nhân và đónggóp cho xã hội…
- Bất kỳ chính sách nào cũng sẽ phải bảo vệ quyền của người cao tuổi trongviệc thực hiện sự tự do để họ được sống theo cách của họ, theo nhịp độ của họ vàvới những phong cách sống riêng…
- Người cao tuổi cần được lựa chọn sự phụ thuộc về mặt thể chất, trên cơ sở tôntrọng quyền của cá nhân trong việc chấp nhạn hay muốn thay đổi dịch vụ
Liên đoàn quốc tế của nhân viên xã hội (1999) hỗ trợ các chính sách xã hội và kinh tế cho người cao tuổi để:
- Đảm bảo việc cung cấp các dịch vụ để duy trì và thúc đẩy chất lượng cuộcsống của người cao tuổi trong cộng đồng hay người cao tuổi sống trong trung tâm;
- Hỗ trợ nhu cầu nhà ở cho người cao tuổi trong cộng đồng, bằng cách tậptrung theo nhóm hay sống tại trung tâm; và
- Cung cấp mức thu nhập đảm bảo người cao tuổi có thể thỏa mãn các nhucầu cá nhân và duy trì tiêu chuẩn cuộc sống phù hợp với xã hội mà họ đang sống,nhằm:
+ Đảm bảo tiếp cận với giao thông, các dịch vụ sức khỏe, giáo dục chongười lớn và các hoạt động văn hóa giải trí; và
Trang 16+ Giải quyết các tình huống bất lợi của phụ nữ đặc biệt là những người góachồng hoặc đang phải sống đơn thân, khuyết tật, bị tác động bởi sự nghèo đói.
Liên đoàn quốc tế của nhân viên xã hội cũng xác nhận rằng:
- Củng cố quyền của người cao tuổi để họ có thể dễ dàng tiếp cận các cơ sởchăm sóc sức khỏe phòng ngừa và chữa trị, bao gồm bệnh viện, chăm sóc lâu dàivà các dịch vụ khác phục vụ trong cộng đồng và tạ gia đình;
- Quyền của người cao tuổi được tiếp tục sống trong nhà của họ và đượcquyền tiếp cận với các lựa chọn khác về chỗ ở tùy theo các điều kiện và nhu cầu
cụ thể của họ;
- Các chính sách đảm bảo rằng người cao tuổi trong các cơ sở chăm sóc lâudài cần phải được đối xử một cách tôn trọng và hỗ trợ thực hiện quyền tự quyết vàviệc tự lựa chọn Những người cao tuổi mắc chứng Alzheimer và các chứng bệnhkhác cần phải được nhận các cơ hội chăm sóc đặc biệt;
- Sự bảo vệ, trao quyền, hỗ trợ của luật pháp xã hội nhằm tăng cườngvà bảo vệ quyền của người cao tuổi, bảo vệ họ khỏi sự lạm dụng, bóc lột và saonhãng
2 Luật pháp Việt Nam liên quan đến người cao tuổi
Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến người cao tuổi Ở Việt Nam đã có nhiều vănbản luật và dưới luật quan trọng quy định và hướng dẫn chăm sóc và hỗ trợ người cao tuổi
- Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992 điều 64
- Luật Hôn nhân và gia đình VN năm 2000, tại khoản 2 điều 36
- Luật Bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã dành một chương riêng ” Bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ NCT”
- Luật Lao động sửa đổi bổ sung năm 2002 qui định tại điều 124
- Điều 37, Bộ Luật dân sự
- Điều 151 Bộ luật hình sự năm 1999
- Luật người cao tuổi VN, ban hành ngày 23/11/2009
- Chỉ thị 59/CT- TW ” Về chăm sóc NCT”
- Chỉ thị 117/CP, 1996 của Thủ tướng Chính phủ ” Về chăm sóc NCT và hỗ trợ hoạt động cho Hội NCT VN”
Trang 17- Pháp lợ̀nh người cao tuụ̉i được Uỷ ban Thường vụ Quụ́c hội nước Cộng hoà
xó hội chủ nghĩa Viợ̀t nam khoá X thụng qua ngày 28/4/2000 và được chủ tịch nước ban lợ̀nh cụng bụ́ ngày 12/5/2000
- Quyờ́t định của Thủ tướng Chớnh phủ sụ́ 141, năm 2004 ” Vờ̀ viợ̀c thành lọ̃p
Uỷ ban Quụ́c gia vờ̀ NCT VN”
- Quyờ́t định sụ́ 47 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chớnh ” Vờ̀ viợ̀c ban hành qui chờ́ quản lý và sử dụng Quĩ chăm sóc NCT”
- Quyết định 167/TTg, ngày 8/4/1994 về việc bổ sung, sửa
đổi một số chế độ trợ cấp đối với đối tợng cứu trợ xã hội
- Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 9/3/2000, về chính sáchcứu trơ xã hội trong đó có quy định: Ngời già cô đơn không nơi
nơng tựa, không có nguồn thu nhập để đảm bảo cuộc sống đợc
hởng chế độ trợ cấp thờng xuyên tại cộng đồng hoặc đợc nuôi
d-ơng tập tung tại cơ sở bảo trợ xã hội
- Nghị định số 30/2002/NĐ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2002của Chính phủ
- Nghị định số 120/2003/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2003hớng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh ngời cao tuổi; quy
định về chế độ chăm sóc sức khoẻ chế độ trợ cấp, nuôi dỡng vớingời cao tuổi
Bộ Lao động-Thơng binh và Xã hội đã ban hành
- Thông t số 16/2002/TT-BLĐTBXH ngày 9/12/2002
- Thông t số 24/2003/TT-BLĐTBXH ngày 6/11/2003
- Thông t số 36/2005/TT-BLĐTBXH ngày 26/12/2005 hớng dẫnthực hiện các nghị định 30 và nghị định 120 của chính phủ
và các qui định khác có liên quan đến chế độ, chính sách trợgiúp ngời cao tuổi thay thế 2TT Trên, quy định:
Ngời cao tuổi cô đơn không nơi nơng tựa không có nguồnthu nhập đợc hởng trợ cấp xã hội hàng tháng tại cộng đồng hoặcdợc nuôi dỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội thuộc Nhà nớc quản lí; mức trợcấp bằng các đối tợng xã hội qui định tại Nghị định số168/2004/NĐ- CP ngày 20/9/2004 của Chính Phủ sửa đổi, bổsung một số điều của Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày9/3/2000 của Chính phủ về chính sách cứu trợ xã hội(sau đây