1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Qui tắc làm thơ

42 1,1K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Qui tắc làm thơ
Trường học Trường Đại Học
Thể loại bài viết
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 177,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói tóm lại, mỗi câu thơ nên được xếp sao cho mỗi loại tiếng chan hòa với nhau, có nghĩa là cố giữ sao cho câu thơ 8 chữ phải có ít nhất 3 tiếng bằng, 5 tiếng trắc hoặc ngược lại.... Bố

Trang 1

Quy tắc làm thơ

1 Tiếng bằng

Tiếng bằng là những tiếng KHÔNG DẤU, và những tiếng có DẤU HUYỀN, thí dụ như hai chữ "thơ" và "tình", cả hai chữ này đều là tiếng bằng!

Tiếng bằng là những tiếng có giọng ÊM dịu, có thể đọc kéo dài ra được

Tiếng bằng có HAI LOẠI: THƯỢNG BÌNH THANH, và HẠ BÌNH THANH Nói bằng cách khác, thượng bình thanh là tiếng bổng, hạ bình thanh là những tiếng CHÌM hay trầm.

Nhất Lang dùng hai chữ thí dụ trên để nói tiếp: "Thơ" là tiếng KHÔNG CÓ DẤU, ta gọi

là tiếng bổng! "Tình" là tiếng CÓ DẤU HUYỀN, ta gọi là tiếng CHÌM hay trầm!

Tiếng bổng và tiếng trầm chan hòa với nhau tạo ra âm điệu du dương, làm bài thơ hay hơn Nếu ta chỉ dùng 1 loại tiếng trong một câu thơ thì âm điệu sẽ rất ngang và trúc trắc

Mỗi câu thơ đều nên có tiếng bằng và tiếng trắc, và vì hai loại tiếng khác nhau, nên ta

phải xếp sao cho tiếng nọ chế tiếng kia, thì khi đọc sẽ tìm thấy một âm điệu du dương Nói tóm lại, mỗi câu thơ nên được xếp sao cho mỗi loại tiếng chan hòa với nhau, có

nghĩa là cố giữ sao cho câu thơ 8 chữ phải có ít nhất 3 tiếng bằng, 5 tiếng trắc hoặc

ngược lại nếu được 4 tiếng này, 4 tiếng kia thì càng tốt; câu thơ 8 chữ mà chỉ có 1 tiếng

bằng và 7 tiếng trắc, thì câu thơ ấy thiệt là chướng tai ghê lắm.

Cho dù câu thơ có mấy chữ đi nữa, bằng và trắc nên được cân đối với nhau, tuy nhiên

không đòi hỏi phải bằng số!

Văn thơ khác hơn âm nhạc ở chỗ chữ bằng không thể nào hợp VẬN cùng chữ trắc

Trang 2

Nghĩa là chữ TÌNH có thể vần cùng chữ MÌNH, nhưng không thể vần cùng chữ TÍNH

Luật định: bằng vần với bằng, trắc vần với trắc.

4 Kết hợp trầm, bổng

Tiếng bổng và trầm được xếp ra sao thì là do biệt tài của mỗi người, ta không có luật định

rõ Tuy nhiên, trầm và bổng được xem là nhất định ở chữ thứ 6 và thứ 8 trong câu BÁT của thơ lục bát Nếu tiếng bổng được dùng ở vị trí chữ thứ 6 thì tiếng trầm nhất định phải được dùng ở vị trí chữ thứ 8 Và ngược lại, nếu chữ thứ 6 đã là tiếng trầm, thì chữ thứ 8 nhất định phải là tiếng bổng Nếu 1 loại tiếng được dùng ở cả hai vị trí nói trên, thì câu

thơ ấy sẽ bị mất đi âm điệu của thơ

Các bạn đọc thử hai câu thơ này:

Đêm nay trăng tỏ sao mờ,

Đò ngang vĩ tuyến còn chờ em về

Các bạn đọc lại hai câu này:

Đêm nay trăng tỏ sao mờ,

Đò ngang vĩ tuyến còn chờ em tôi

Hai câu trên đọc nghe chướng tai lắm, vì cả hai tiếng trầm đều được dùng ở vị trí thứ 6 và

8 trong câu bát (câu có 8 chữ) Hai câu dưới đọc nghe êm tai, vì hai loại tiếng khác nhau (trầm và bổng) đã được dùng vào vị trí chữ thứ 6 và 8 trong câu bát

5 Vần

VẦN - nghĩa là những tiếng có cùng một âm hưởng; hai tiếng có cùng giọng phát âm thì

VẦN với nhau được hai tiếng không VẦN với nhau thành ra LẠC VẬN, trái luật thơ!Tuy hồn thơ, lời và ý đều quan trọng, nhưng nếu bài thơ không có VẦN thì không gọi là thơ Cho dù là thơ MỚI (không chú trọng đến luật) cũng cần phải có VẦN thì bài thơ mớihay

Tiếng bằng vần với tiếng bằng, tiếng trắc vần với tiếng trắc không điều ngoại lệ!

5.1 Vần chính của vần bằng

A vần với A hoặc À, E vần với E hoặc È, AN vần với AN hoặc ÀN, INH vần với INH hoặc ÌNH

Một thí dụ cho vần chính của vần bằng:

Trang 3

Pháo nổ dồn, pháo nổ dồn,Pháo đang xâu xé tâm hồn lẻ loi.

Trong hai câu LỤC BÁT trên Nhất Lang đã dùng vần chính của âm ÔN

Mắt em hãy nghiền nhắm,Anh tặng một nụ hôn,Cho em ấm cả hồn,Mộng liêu trai chìm đắm

Bốn câu trên được viết theo thể loại thơ mới (5 chữ), hai chữ cuối của câu 2 và 3 phải vầnnhau, và Nhất Lang cũng đã dùng vần chính của âm ÔN NHẮM và ĐẮM chỉ là trùng hợp, hai chữ này không cần phải VẦN nhau

VẦN THÔNG là những tiếng có sự vận động của môi và lưỡi rất giống nhau khi ta phát

âm

Nhất Lang cố gắng đem vào đây hầu hết những VẦN THÔNG mà chúng ta thường gặp Các bạn cố gắng chú ý: CẦN NHẤT LÀ NÊN THUỘC LÒNG những vần THÔNG này, nếu không thì nên dùng chỉ vần chính mà thôi!

Trang 4

VẦN THÔNG của vần bằng:

A và Ơ thông với nhau Ơ và Ư thông với nhau Nhưng A và Ư KHÔNG thông với nhau được!

E, Ê và I thông với nhau O, Ô và U thông với nhau

Khi Nhất Lang bảo là THÔNG thì có nghĩa là những ÂM ấy VẦN với nhau được!

AI thông với AY AI thông với tất cả các ÂM sau đây: OI, ÔI, ƠI, ƯƠI, UI, Nhưng, AY, tuy thông với AI nhưng không thông với các ÂM trên! Tất cả những ÂM trên THÔNG với nhau

AO thông với AU AU thông với ÂU, Nhưng AO không thông với ÂU

AO thông với tất cả các âm sau: EO, ÊU, IÊU, IU, ƯU Nhưng AU và ÂU không thể thông

AM thông với ƠM ĂM thông với ÂM ÊM thông với IM và EM AN thông với ƠN ĂNthông với ÂN và UÂN

EN, IN, IÊN, và UYÊN thông nhau

ON, ÔN và UÔN hoặc UN thông nhau

ANG và ƯƠNG thông nhau

ƯƠNG và UÔNG thông nhau, Nhưng ANG không thông với UÔNG

ĂNG, ÂNG, và ƯNG thông nhau

ONG, ÔNG, và UNG thông nhau

ANH, ÊNH và INH thông nhau

ĂN và ĂNG, ÂN và ÂNG, hay UN và UNG vv không thông nhau

Những chữ có "G" theo sau nhất định chỉ thông với những chữ có G theo sau! Đây là điểm mà Nhất Lang nhìn thấy người có giọng phát âm của miền Nam hay bị lầm vì sơ ý hay theo thói quen (Nhất Lang lắm khi cũng không ngoại lệ)

5.4 Vần thông của vần trắc

Vần thông của vần trắc cũng dựa theo nguyên tắc như những vần thông của vần bằng.

Vần thông có nguyên âm đứng cuối:

Trang 5

É, Í, Ẻ, Ỉ, Ẽ, Ĩ, Ẹ, Ị thông với nhau

Cũng như vần bằng tất cả những âm I có dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNG đều có thể thông

với những âm Y có dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNG,

nhưng Y không thông được với E

Ổ, Ũ, Ó, hay Ộ, Ú, Ọ thông nhau

Ọ và ỦA thông nhau (tất cả các âm O và UA có dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNG đều thông)

ĨA và UỆ thông nhau

ÁO, IỄU, ẢO, YẾU, ÉO, ỈU, ỮU và tất cả các đồng âm có dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNGđều vần được

ÓI, ẢI, Ội, ỠI, ƯỢI, ÚI và các đồng âm có các dấu SẮC, HỎI, NGÃ, NẶNG đều vần nhau được

Sau đây là các điều đáng nhớ trong sự GIEO VẦN:

1 A, Ă, Â rất thường được GHÉP với một phụ âm khác như C, M, N, P, T để tạo thành

âm GHÉP như: AC, ĂC, ÂC AM, ĂM, ÂM AN, ĂN, ÂN AP, ĂP, ÂP AT, ẮT,

ẤT vv Những vần GHÉP nói trên CHỈ thông được với nhau khi có cùng một phụ âm đứng trước!

Thí dụ: BÁT thông được với BẮT hay BẤT, mà KHÔNG thông được với CẮT hay CẤT

Trang 6

hoặc MẮT hay MẤT tuy nhiên BÁT thông được CÁT hay MÁT vì chúng đều có âm GHÉP "AT" theo sau.

TAM thông với TĂM hay TÂM, mà KHÔNG thông với CĂM hay CÂM, cũng không thông được với TRĂM hay TRÂM tuy nhiên TAM thông được với CAM, TRAM, vì chúng có cùng âm GHÉP "AM" theo sau

TAN thông với TĂN hay TÂN, mà không thông với VĂN hay VÂN vv

2 Khi có vần GHÉP bằng 2 hoặc 3 chữ nguyên âm với một phụ âm đứng cuối: IÊN, UYÊN, UÂN, UÔN, ta nên lấy 2 chữ cuối cùng làm VẬN CĂN, Có nghĩa là dựa theo haichữ cuối cùng mà gieo vần

Thí dụ: EN, IN, vần với YÊN hay UYÊN

ÂN vần với UÂN

ƠN vần với OAN

ON vần với UÔN

VẦN GHÉP bằng 2 HAY 3 NGUYÊN ÂM VỚI 2 PHỤ ÂM:

Thí dụ như chữ ƯƠNG thì ta nên lấy 3 chữ cuối mà làm VẬN CĂN để GIEO VẦN.CHO NÊN: ƯƠNG vần với ANG,

CŨNG NÊN nhớ: ƯƠNG vần với UÔNG, nhưng UÔNG không vần với ANG vì Ô không vần với A

3 VẦN GHÉP bằng 2 hay 3 NGUYÊN ÂM:

Khi có loại âm này thì ta nên theo âm điệu mà lấy 1 hay 2 chữ mà làm VẬN CĂN

Thí dụ: OA, OE, UÊ, UY thì vận căn là A, E, Ê, Y; nên OA vần với A, OE vần với E,

UÊ vần với Ê, UY vần với I hay Y

UÂY vần với ÂY

THÍ DỤ: IA, UYA, UA, ƯA vận căn là I, Y, U, Ư, mà chữ A đứng cuối không ảnh hưởng chi cả

I vần với IA

Ư vần với ƯA

Trang 7

Ô vần với UA vv

4 Hai tiếng ĐỒNG ÂM và ĐỒNG NGHĨA thì không vần được!!!

Hai tiếng ĐỒNG ÂM mà KHÁC NGHĨA thì vần được!!!

Các bạn và các em đọc lại tất cả các bài đã "POSTED" để làm quen và có gì thắc mắc, cứhỏi Nhất Lang sẽ cố gắng trả lời theo khả năng của mình

Sau khi mọi người thông qua từ bằng & trắc, bổng & trầm, VẦN CHÍNH & THÔNG thì

mình sẽ bắt đầu nói đến THƠ LỤC BÁT!

Những bước trên là những điều căn bản mà các anh chị, các bạn, và các em cần phải hiểu khi bắt đầu tập làm thơ

Nhất Lang mong rằng những điều ghi trên giúp ích được cho các anh chị, các bạn, và em muốn làm quen cùng nguyên tắc làm thơ Bài kế tiếp Nhất Lang sẽ bắt đầu nói đến nhữngloại thơ

Thơ lục bát

Lục Bát là 1 trong 2 thể loại thơ chính tông của Việt Nam Thơ Lục Bát khác hơn Ngũ Ngôn hoặc Thất Ngôn của Hán văn ở chỗ Ngũ Ngôn và Thất Ngôn chỉ có CƯỚC VẬN (vần ở cuối câu), còn Lục Bát có cả CƯỚC VẬN & YÊU VẬN (CƯỚC VẬN là vần ở cuối câu, còn YÊU VẬN là vần ở giữa câu, nghĩa là vần của chữ thứ 6 của câu Bát) Vần Cước còn gọi là vần CHÂN, chân thì ở cuối, và Vần Yêu còn gọi là vần LƯNG, lưng thì ở giữa

Lục Bát là thể loại thơ cứ 1 câu 6 chữ rồi đến 1 câu 8 chữ, cứ như thế mãi

Vì có YÊU VẬN cho nên cứ 3 câu lại đổi vần 1 lần, bắt đầu từ câu Bát (câu thứ nhì củabài) Vì có thể đổi vần, loại thơ này mỗi bài có thể viết đến hàng ngàn câu Những bài Lục Bát dài ta gọi là Lục Bát Trường Thiên hay Lục Bát Tràng Thiên

Thông thường, trong thơ LỤC BÁT, chúng ta chỉ dùng mỗi vần bằng tuy nhiên, vẫn

có trường hợp người ta dùng vần trắc.

Nhất Lang xin phép dùng bài Lục Bát nắn của nhà thơ TÚ XƯƠNG để làm mẫu:

NHỚ BẠN

Ai về còn nhớ ai KHÔNG?

Trời mưa một mảnh áo BÔNG che ĐẦU

Nào ai có tiếc ai ĐÂU,

Trang 8

Áo bông ai ướt, khăn ĐẦU ai KHÔ?

Người đi Tam Đảo Ngũ HỒ,

Kẻ về khóc trúc, than NGÔ một MÌNH

Non non, nước nước, tình TÌNH,

Vì ai ngơ ngẩn, cho MÌNH ngẩn ngơ

Lắng nghe giới trẻ trầm TRỒ ngợi KHEN

Ngày đêm lắm kẻ bon CHEN,

Ôi thôi đủ cả sang HÈN ăn QUEN

Bài cào, xì dách, đỏ ĐEN,Bảy lửa, bảy trắng, chớp ĐÈN reo VANG

Từ chữ KHEN cho đến chữ ĐÈN, tác giả đã dùng liên tục 6 chữ cùng 1 vần tuy thơ

có ý, nhưng cách dùng chữ và VẦN đã làm giảm đi âm điệu của bài thơ Ở vị trí chữ thứ 6 và thứ 8 của câu Bát, ta không thể dùng 2 chữ có cùng một vần, đọc nghe không xuôi lại không thể gieo vần mới

Trang 9

Thơ Lục Bát khởi ở tiếng bằng, nên thông thường trong câu thơ nào tiếng thứ nhì cũng

là tiếng bằng Tuy nhiên, vẫn có trường hợp người ta dùng tiếng trắc, như khi dùng

TIỂU ĐỐI (tiểu đối là cách đối trong câu chia câu thơ ra hai đọan bằng nhau thành hai vế đối) hoặc trường hợp người ta gặp phải danh từ đặc biệt như:

Hà Nội băm sáu phố phường,

Ta cũng có thể đổi thành:

Hà Thành băm sáu phố phường, Thế nhưng người ta vẫn muốn giữ nguyên hai chữ Hà Nội, nên đành phải dùng cách ngoại lệ!

Còn một cách ngoại lệ khác, thường gặp trong CA DAO như:

Trai khôn tìm vợ chợ ĐÔNG, Gái khôn tìm CHỒNG giữa chốn ba QUÂN.Thay vì chữ cuối của câu LỤC vần cùng chữ thứ 6 của câu BÁT, nhưng trường hợp nàylại trái hẳn, chữ cuối của câu LỤC này lại vần cùng chữ thứ 4 của câu BÁT theo sau, và

cấu kết của câu BÁT cũng thay đổi thay vì chữ thứ 4 là trắc và thứ 6 là bằng, nhưng

ở đây lại trái ngược Tuy không sai, nhưng chúng ta không nên dùng cách này nhiều trong 1 bài thơ!!!

Có người cho rằng nếu chữ thứ 2 là tiếng trầm, thì chữ thứ 6 nên là tiếng bổng, nhưng

theo Nhất Lang thì trường hợp này không phải là vấn đề quan trọng (nếu ta bố trí chữ

được như thế thì hay, còn không thì câu thơ vẫn không bị trúc trắc), mà chỗ quan trọng

là chữ thứ 6 và 8 trong câu BÁT, như Nhất Lang đã nói qua trong bài nói về VẦN Giờ viết lại thí dụ để nhắc nhỡ các bạn và các em:

ĐÚNG:

Đêm nay trăng tỏ sao MỜ, Đò ngang vĩ tuyến còn CHỜ em TÔI

SAI:

Đêm nay trăng tỏ sao MỜ, Đò ngang vĩ tuyến còn CHỜ em VỀ

Các bạn và các em đọc kỷ xem nơi nào trong câu thơ có vấn đề!!!

Để nhắc lại: Tiếng bổng của vần bằng là những tiếng KHÔNG CÓ DẤU HUYỀN, và tiếng trầm là những tiếng CÓ DẤU HUYỀN.

Luật trầm và bổng chỉ nhất định áp dụng ở chữ thứ 6 và thứ 8 của câu BÁT trong thơ LỤC BÁT!!! Nếu chữ thứ 6 là trầm thì chữ thứ 8 PHẢI là bổng, nếu chữ thứ 6 là bổng thì chữ thứ 8 nhất định PHẢI là trầm.

Xem lại:

Trang 10

Đêm nay trăng tỏ sao MỜ, Đò ngang vĩ tuyến còn CHỜ em TÔI

SAI:

Đêm nay trăng tỏ sao MỜ, Đò ngang vĩ tuyến còn CHỜ em VỀ

CHỜ và TÔI - 1 là tiếng trầm và 1 là tiếng bổng, hai chữ không bị chõi nhau

CHỜ và VỀ - cả 2 đều là tiếng trầm, làm mất di âm điệu của thơ.

Thêm một thí dụ:

SAI:

Cỏ lay khẻ gọi chân NGƯỜI, Đừng đi nhanh nhé bỏ RƠI tình TÔI

Nghe qua lời thơ rất khá, nhưng cấu kết có trục trặc

Nếu ta sửa lại vài chữ thế này thì câu thơ đọc nghe êm tai hơn

Cỏ lay khẻ gọi chân NGƯỜI, Đừng đi nhanh quá, đừng RỜI xa TÔI

Tuy vậy, khi gieo vần mới bằng chữ TÔI, thì chúng ta nên cẩn thận, cần phải dùng vần chính, vì nếu dùng vần thông chúng ta lại có thể lập lại âm ƠI, thành ra lại bị trùng vần liên tục

1 Luật bằng trắc

1.1 LUẬT ĐỊNH CHO CÂU LỤC

Tiếng thứ 2 bằng, tiếng thứ 4 trắc, tiếng thứ 6 bằng và VẦN

Đây là "công thức" mà các bạn và các em có thể học thuộc và dựa theo khi làm thơ LụcBát:

Trang 11

1.2 LUẬT ĐỊNH CHO CÂU BÁT:

Tiếng thứ 2 bằng, tiếng thứ 4 trắc, tiếng thứ 6 bằng và VẦN, tiếng thứ 8 bằng và VẦN.

Những điều trên là LUẬT bằng trắc nhất định cho thể thơ LỤC BÁT; làm thơ không

đúng theo luật ấy là trái luật!

đoạn thơ sau Nếu vần cuối này không được thay đổi mà cứ tiếp tục kéo dài thêm như thí dụ trên thì bài thơ sẽ trở nên nhàm chán và mất đi âm hưởng của thơ

3 Đối

Thơ Lục Bát có 2 câu dài và ngắn khác nhau, cho nên khi ta muốn đối, phải dùng TIỂUĐỐI, tiểu đối là cách đối trong một câu, mà không dùng BÌNH ĐỐI như trong thơ THẤT NGÔN hoặc BÁT NGÔN, hai câu đối nhạu Khi dùng tiểu đối, người ta chia đềucâu thơ ra hai đoạn như trong câu LỤC, người ta chia ra thành 3 và 3, mỗi vế có 3 chữ đối nhau như trong câu Bát, người ta chia ra thành 4 và 4, hai vế đối nhau

Trang 12

"Khi gió gác, khi trăng sân,"

Để nhắc lại về điều ngoại lệ mà Nhất Lang đã nói ở trên là ngoài danh từ riêng, khi đối

người ta có thể dùng chữ trắc ở chữ thứ 2 trong câu như câu đối thứ 3 trên.

Thêm một thí dụ:

"Trăng xanh gửi mộng, lan vàng hòa thơ."

Có rất nhiều cách đối: đối chữ, như: mẹ và cha, anh và chị, anh và em đối vần: trắc và bằng, đối ý: nghịch và thuận vv

LỤC BÁT còn có các loại BIẾN THỂ, những loại này thường gặp trong Ca Dao, Bài Hát, Hò Vè vv

Đây là 1 thí dụ mà chúng ta đã nghe từ nhỏ:

"Con cò, cò bay lả, lả bay la,Bay qua, qua cửa Phủ, Phủ bay về, về Đồng Đăng."

Đây là thí dụ cách dùng chữ trắc trong thơ LỤC BÁT:

Yêu là thương, yêu là HẬN, Là đợi chờ, là hờn GIẬN vu VƠ

Tới trang web của aag

Tìm bài gởi bởi aag

#3

11-06-2005

Trang 13

Dưới đây là thí dụ của thể Song Thất Lục Bát:

*Chú ý và ghi nhớ các chữ viết "HOA"

NIỀM ĐAU CỦA CÁT Đâu ai HIỂU niềm ĐAU, của CÁT,

Cứ âm THẦM rào RẠT thâu ĐÊM

Sóng ra biển, cát lại CHÌM,Muốn đi tìm sóng, biết TÌM nơi ĐÂU!

Đâu ai HIỂU niềm ĐAU của CÁT,

Cã một ĐỜI sóng TẠT mưa TRÔI

Đêm qua được sóng trao LỜI,Đêm này lại ngóng ánh NGỜI lao XAO

Đâu ai HIỂU niềm ĐAU của CÁT,Vẫn âm THẦM rào RẠT thâu ĐÊM

Trang 14

Sóng ơi, cứ tạt, cứ DÌM,Miễn sao ta được sóng TÌM đến THĂM.

Ta yêu SÓNG từ TRĂM vạn KIẾP,Đừng như THUYỀN nối TIẾP ra ĐI

Thuyền rời cát chẳng buồn CHI,Sóng xa, cát sẽ phế ĐI kiếp này!

Hai câu Lục Bát thì theo luật của Lục Bát mà chúng ta đã biết qua

Trong câu THẤT trên của đoạn 2 và các đoạn theo sau, mọi điều vẫn giữ nguyên, nhưng chữ thứ 5 phải theo vần của chữ thứ 8 trong câu BÁT trên (chữ cuối của đoạn đoạn trên, hay khổ trên

"Đâu ai HIỂU niềm ĐAU của CÁT,"

Câu Thất dưới (câu số 2), tiếng thứ 3 là chữ bằng, tiếng thứ 5 là chữ trắc và VẦN với tiếng thứ 7 của câu trên, tiếng thứ 7 của câu 2 này lại là chữ bằng và VẦN cùng chữ cuối

của câu 3, tức câu LỤC theo sau

"Cứ âm THẦM rào RẠT thâu ĐỆM"

***Song Thất Lục Bát không giống như Thất Ngôn Luật theo lối Hán văn, vì luật bằng trắc được áp dụng trong Song Thất ở chữ thứ 3, thứ 5, mà trong Thất Ngôn Luật thì chữ

thứ 3 và chữ thứ 5 lại có thể theo lệ BẤT LUẬN

Sau hai câu Thất là hai câu Lục Bát, theo luật của Lục Bát chữ cuối của câu LỤC vần với chữ THẤT của câu THẤT dưới (câu THẤT thứ nhì):

"Sóng ra biển, cát lại CHÌM,

Trang 15

Muốn đi tìm sóng, biết TÌM nơi ĐÂU!"

Tiếng thứ 5 của câu Thất theo kế vần với tiếng cuối của câu Bát trên: (tức câu THẤT thứ nhất của đoạn sau và là câu thứ năm trong bài):

"Muốn đi tìm sóng, biết TÌM nơi ĐÂU!

"Đâu ai HIỂU niềm ĐAU của CÁT,"

Tiếng cuối của câu Thất này lại tiếp tục vần với tiếng thứ 5 của câu Thất theo sau như lúcbắt đầu

ĐỐI: Thơ Song Thất Lục Bát có hai câu Thất, cho nên nếu người ta muốn đối, thì có thể dùng bình đối, như:

"Quê hương BẠN kề BÊN biển BẮC,

Đất nước TÔI xa LẮC trời NAM."

BÌNH ĐỐI là một cách đối một câu chọi một câu (không như TIỂU ĐỐI: hai vế của một câu đối nhau trong Lục Bát)

ĐIỀU NGOẠI LỆ: Thông thường chữ thứ 3 của câu Thất trên là chữ trắc, nhưng trong

trường hợp KHÔNG CÓ ĐỐI ở câu THẤT dưới, thì chữ thứ 3 của câu Thất trên có thể là

chữ bằng Ở đây chúng ta lại có thể dùng chữ thứ 3 này theo vần chữ cuối của khổ trên,

thay vì phải là chữ thứ 5 như luật bình thường

*Điều giúp các bạn và các em dễ nhớ luật SONG THẤT là "cấu kết của 2 câu này đối nghịch nhau":

trắc, bằng, trắc (luật của câu trên)

bằng, trắc, bằng (luật của câu dưới)

Trang 16

VẦN và kiểu cách ra sao là do biệt tài của mỗi người, của mỗi thi nhân.

(Ở đây Nhất Lang chỉ nói đến loại thơ thông dụng nhất trong lãnh vực tình yêu là loại thơBát Ngôn - 8 chữ - Các loại khác xin các bạn xem ở bài nói về Thơ Tự Do.)

Một trong những loại Thơ Mới là thể loại thơ 8 chữ, một thể loại thơ mang đầy tư tưởng lãng mạn, phát xuất từ văn học Tây phương, đã được du nhập và Việt hóa từ loại thơ "vầncuối câu" của Pháp thành loại thơ 8 chữ vào khoảng những năm 1930-1940

Thơ Mới không có chiều sâu bằng Thi Ca dân tộc; tuy nhiên nó đặc biệt "quan tâm" nhiều đến lãnh vực tình yêu!

Qua cái tên chúng ta cũng hiểu được Thơ Mới hãy còn non nớt lắm, thế nhưng Nhất Langtin rằng trong tương lai, ở thế hệ mai sau, Thơ Mới sẽ được biến hóa hay hơn và được xử dụng trong những tác phẩm lớn

Với tin thần yêu mến nghệ thuật văn thơ, Nhất Lang xin được ghi lại đây những gì mình học hỏi được và kinh nghiệm được trong những năm qua Nếu gọi là hiểu biết thì thời gian ấy hãy còn chưa đủ, Nhất Lang chỉ mong được làm một việc gì nhỏ nhoi để gọi là góp phần gìn giữ những gì cha anh mình đã tìm tòi và để lại cho con em đời sau

Thông thường thì loại thơ này mỗi câu có 8 chữ, thỉnh thoảng cũng có những câu có đến

9, 10 hoặc cả những 11 chữ Vì cũng là thể loại tự do nên khi làm thơ BÁT NGÔN ta có

thể bắt đầu bằng bất cứ hình dạng nào, hoặc chữ bằng ở cuối câu đầu, hoặc chữ trắc ở

cuối câu đầu

Trước khi đi vào cách làm thơ, Nhất Lang xin gửi đến các bạn một vài điều cần nhớ:Cho dù là thể loại tự do, không theo khuôn khổ, trong thơ BÁT NGÔN có một điểm cần

xem như luật định - Nếu chữ cuối câu được xếp bằng chữ bằng thì chữ thứ 6 của câu nhất định phải là chữ trắc, và ngược lại, nếu chữ cuối câu là chữ trắc thì chữ thứ 6 của câu nhất định phải là chữ bằng Không theo luật định này thì bài thơ rất là trúc trắc khó đọc

vì bị mất đi âm điệu

Ngoài ra, chúng ta nên chọn chữ sao cho bằng và trắc khá cân bằng nếu một câu thơ có đến 6 hoặc 7 chữ cùng loại (6 - 7 chữ bằng hoặc 6 - 7 chữ trắc) thì nên cẩn thận kẻo âm

điệu của bài thơ bị lạc, đọc nghe không giống thơ nữa Tuy thế, ta không nhất định phải

Trang 17

Cách thức trên cũng gọi là Tứ Tuyệt và theo dạng cách vận - cách vận nghĩa là vần cách

1 câu hay vần xen kẽ (chữ trắc cuối câu 1 vần cùng chữ trắc cuối câu 3, chữ bằng cuối câu 2 vần cùng chữ bằng cuối câu 4 Nếu muốn làm bài Trường Thiên thì các bạn cứ theo

kiểu mẫu trên mà chọn vần mới và làm tiếp theo

Thí dụ cho cách thứ 2:

QUÊN

Đã hẹn với em rồi, không tưởng TIẾCQuãng đời xưa, không than khóc vì ĐÂUHãy buông lại gần đây làn tóc BIẾCSát gần đây, gần nữa, cặp môi NÂU

Đêm nay lạnh, tìm em trên gác TỐI

Trang 18

Trong tay em dâng cả tháng năm THỪA

Có lẽ đâu tâm linh còn chọn LỐI

Để đi về cay đắng những thu XƯA

Trên nẻo ấy, tơi bời, em đã BIẾT,Những tình phai, duyên úa, mộng tan TÀNH

Trên nẻo ấy, sẽ từ muôn đáy HUYỆT

Ái ân xưa vùng dậy níu chân ANH

Không, em ạ, không còn can đảm NỮAKhông, nguồn yêu suối lệ cũng khô RỒI

Em hãy đốt giùm anh trong mắt LỬAChút ưu tư còn sót ở đôi MÔI

Hãy buông lại gần đây làn tóc RỐI,Sát gần đây, gần nữa, cặp môi ĐIÊN

Rồi em sẽ dìu anh trên cánh KHÓIĐưa hồn say về tận cuối trời QUÊN

Trang 19

"nhiệm vụ" gieo vần và tạo mối liên quan cho đọan theo sau, nghĩa là chữ này sẽ phải vần

cùng chữ trắc cuối câu 1 của đọan theo sau Cứ như thế mà làm dài ra cho đến khi bài được kết thúc chữ trắc cuối câu sau cùng sẽ không vần cùng chữ nào cả!

Dưới đây là thí dụ cho cách thức trên:

GIÃ BIỆT NÀNG THƠ

Giã biệt nhé, nàng thơ thanh nhã,Ánh trăng vàng, anh xin trả cho em

Cứ những đêm gió mát với trời êm,Đình vọng nguyệt, trăng kia soi gót ngọc

Đường lữ thứ, anh một mình cô độc,Kiếp phiêu bồng nhớ mãi bạn tình thơ

Nắm thơ kia, anh góp nhặt từng tờ,Mang theo cả, làm hành trang kỷ niệm

Nhất Lang

Ta cũng có thể đổi ngược lại như sau:

td td td td td T td B

Trang 20

Tin không nè, Nhỏ cầu phúc cho anh?

Tâm Nhỏ đó sẽ luôn dành riêng chỗNhư biển kia quen rồi nghe sóng vỗHình bóng anh, Nhỏ giữ mãi chẳng mờ

Trang 21

Nhỏ nguyện mang tâm sự của cát bờNằm lặng lẽ nghe trùng dương trách cứCất giùm anh những ngày sầu cô lữGiữ toàn vui anh đẹp mộng song hành.

Giữ nụ cười cho đời đẹp như tranhNhỏ tiếp tục đi kiếm tìm hạnh phúc

Để cho anh mai này còn có lúcNhớ thật nhiều cô nhỏ thích chiêm bao

Ngày đăng: 11/10/2013, 06:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w