Nguyên lý thiết kế của Nghệ thuật chữ dựa trên những yếu tố cơ bản gồm: Hệ thống qui định về cấu trúc ngữ pháp, hình ảnh các ký tự, cùng với các nguyên tắc sử dụng, sau đó sẽ bô
Trang 1GIÁO TRÌNH
NGHỆ THUẬT CHỮ Chủ biên: TS Bùi Quang Tiến Thực hiện: HS Đỗ Trung Kiên
LƯU HÀNH NỘI BỘ
Hà Nội, 2018
Trang 2MỤC LỤC
Trang LỜI MỞ ĐẦU 4
MỤC TIÊU CỦA GIÁO TRÌNH 6
QUI ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT 7
Chương 1: KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG CHỮ LATIN 1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CHỮ VIẾT, BẢNG CHỮ CÁI APHABETS VÀ SỰ RA ĐỜI HỆ THỐNG CHỮ LATIN 13
1.1.1 Chữ viết trước thời kỳ cổ Hy Lạp và La Mã khoảng 40.000 năm TCN đến 1000 năm TCN 14
1.1.2 Chữ Hình Vẽ 17
1.1.3 Chữ Diễn Ý 20
1.1.4 Chữ Hình Nêm 21
1.1.5 Chữ Ghi Âm 22
1.2 DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ CỦA HỆ THỐNG CHỮ LATIN 23
1.2.1 Giai đoạn từ thế kỷ VIII TCN đến thế kỷ IV 23
1.2.2 Giai đoạn từ thế kỷ V đến thế kỷ XIV 29
1.2.3 Giai đoạn từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII 32
1.2.4 Giai đoạn từ thế kỷ XIX đến nay 43
1.2.5 Diễn trình lịch sử của bộ chữ số và chữ con Latin 52
1.3 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG CHỮ QUỐC NGỮ 59
1.3.1 Giai đoạn trước năm 1945 59
1.3.2 Giai đoạn sau năm 1945 65
Chương 2: CẤU TRÚC CỦA BỘ CHỮ LATIN VÀ CHỮ QUỐC NGỮ 2.1 CÁC LOẠI KIỂU CHỮ CƠ BẢN 75
Trang 32.1.1 Kiểu chữ không có nét chân 78
2.1.2 Kiểu chữ có nét chân 81
2.1.3 Kiểu chữ viết tay và các kiểu chữ khác 84
2.2 CẤU TRÚC CƠ BẢN CỦA CHỮ 87
2.2.1 Cấu trúc các thành phần của chữ in 87
2.2.2 Cấu trúc bộ chữ con 92
2.2.3 Cấu trúc bộ số 94
2.3 BIẾN ĐỔI DÁNG CHỮ 95
2.3.1 Biến đổi mình chữ 95
2.3.2 Biến đổi bụng chữ 96
2.3.3 Biến đổi nét chữ 98
2.3.4 Biến đổi dấu mũ của chữ 107
2.4 KHOẢNG CÁCH GIỮA CÁC CHỮ, TỪ VÀ DÒNG 114
2.4.1 Khoảng cách giữa các chữ 115
2.4.2 Khoảng cách giữa các từ 119
2.4.3 Khoảng cách giữa các dòng 120
2.5 CÁC KIỂU CĂN HÀNG CƠ BẢN 121
2.5.1 Căn hàng trái 121
2.5.2 Căn hàng phải 121
2.5.3 Căn hàng đều 122
2.5.4 Căn hàng giữa 122
2.5.5 Các kiểu căn hàng khác 122
Chương 3: THIẾT KẾ MỚI VÀ MỘT SỐ NGUYÊN TẮC XỬ LÝ, PHỐI HỢP CHỮ 3.1 PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ MỘT BỘ CHỮ MỚI 124
3.1.1 Phương pháp thiết kế bộ chữ không có nét chân 124
3.1.2 Phương pháp thiết kế bộ chữ có nét chân 127
Trang 43.2 MỘT SỐ NGUYÊN TẮC XỬ LÝ, PHỐI HỢP CHỮ
TRONG THIẾT KẾ 133
3.2.1 Tìm hiểu đặc tính kiểu chữ trong thiết kế 133
3.2.2 Xử lý, phối hợp chữ trong thiết kế 142
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 197
PHỤ LỤC 200
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Nghệ thuật chữ từ lâu đã được thừa nhận là một bộ môn nghệ thuật đặc thù và có ví trị quan trọng ngang bằng với các loại hình nghệ thuật thị giác khác Trên thế giới có hẳn trường phái nghệ thuật đi chuyên sâu vào việc
nghiên cứu giá trị thẩm mĩ tự thân của chữ với tên gọi Typography và được dịch sang tiếng Việt là Nghệ thuật chữ Môn học về Nghệ thuật chữ là môn
học chính thức được giảng dạy trong các trường, các cơ sở đào tạo về Mĩ thuật, Mĩ thuật Công nghiệp, design
Nguyên lý thiết kế của Nghệ thuật chữ dựa trên những yếu tố cơ bản gồm: Hệ thống qui định về cấu trúc ngữ pháp, hình ảnh các ký tự, cùng với các nguyên tắc sử dụng, sau đó sẽ bố cục, sắp xếp, sáng tạo sao cho có được một tác phẩm đẹp, ấn tượng về hình thức Thông qua hình thức để biểu đạt nội dung
Ở Việt Nam, trên thực tế, Nghệ thuật chữ đã xuất hiện từ khá sớm trong tiến trình lịch sử mỹ thuật của dân tộc Cho đến nay nó vẫn đóng vai trò như một yếu tố không thể tách rời đối với một số lĩnh vực nghệ thuật đặc thù gắn liền với các công trình kiến trúc, nội thất (chữ trên hoành phi, câu đối, trên cổng chùa, đình làng, cổng chào, lăng tẩm, văn bia, cột trụ…) Thậm chí các kiểu dáng chữ Đinh, chữ Công hay nội Công ngoại Quốc đã được lấy làm cảm hứng cho kiến trúc mặt bằng của một số ngôi chùa xây trong thời kỳ phong kiến Ngay cả những kiến trúc hiện đại như dinh Thống Nhất (dinh Độc Lập) ở Tp Hồ Chí Minh cũng có sự hiện diện của chữ Ngoài ra chữ còn xuất hiện trên tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống với mục đích làm rõ nghĩa cho tranh, hay còn được nhắm tới như là đối tượng để sáng tạo trong nghệ thuật thư pháp chữ Hán và chữ Quốc ngữ Như vậy, ở các các trường hợp nói trên “chữ” đã trở thành đối tượng của nghệ thuật Nó không chỉ có vai trò làm rõ nghĩa, mà còn có tác dụng như một thành tố làm tăng giá trị thẩm mĩ cho tác phẩm
Trang 6Ngày nay Nghệ thuật chữ được ứng dụng rất đa dạng và có vai trò quan trọng đối với nhiều lĩnh vực như: Thiết kế bao bì, logo, tem, quảng cáo đa phương tiện, phim ảnh, bích chương, poster, graffiti, thiết kế bìa sách Vì vậy việc hiểu rõ và vận dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo Nghệ thuật chữ là một yêu cầu cực kỳ quan trọng của một người làm công việc thiết kế
Giáo trình Nghệ thuật chữ của Trường Đại học Mở Hà Nội có thời lượng 2 tín chỉ kết hợp lý thuyết với thực hành Nội dung nhằm hệ thống hóa
sự ra đời, hình thành, phát triển dòng chữ gốc Latin và chữ Quốc ngữ của Việt Nam theo diễn trình lịch sử Làm rõ vai trò, chức năng của chữ, Nghệ thuật chữ trong đời sống và trong thiết kế Cung cấp các kiến thức căn bản về thẩm mĩ, về nguyên lý sáng tạo của bộ môn Nghệ thuật chữ để người học có thể chủ động nắm bắt, vận dụng và đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn công việc đưa sáng tạo nghệ thuật vào cuộc sống
Trang 7MỤC TIÊU CỦA GIÁO TRÌNH
Giáo trình biên soạn những kiến thức cơ bản về Chữ, Nghệ thuật chữ nhằm giúp sinh viên nắm vững kiến thức về lịch sử hình thành, phát triển và những ứng dụng của chữ viết trong sự phát triển văn minh nhân loại
Hiểu rõ được vai trò của chữ Latin, chữ Quốc ngữ trong cuộc sống Biết ứng dụng, sáng tạo các kiến thức được học trong môn Nghệ thuật chữ Cụ thể là biết kết hợp hài hòa chức năng của chữ về mặt ngữ nghĩa với tín hiệu thị giác đồ họa vào đồ án chuyên ngành cũng như các hoạt động chuyên môn có liên quan
Trang 8QUI ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT
PGS Phó giáo sư
Trang 9Chương 1: KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA HỆ THỐNG CHỮ LATIN
MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG 1
Giúp sinh viên nắm được kiến thức về các nội dung sau:
Các thuật ngữ có liên quan đến môn lĩnh vực Nghệ thuật chữ
Sự ra đời của các dòng chữ viết tượng hình và ghi âm đặc biệt là dòng chữ Latin
Quá trình phát triển và thay đổi của dòng chữ Latin
Các dòng chữ được dùng trước khi chữ Quốc ngữ được công nhận chính thức ở Việt Nam
Với kiến thức được học ở chương 1, sinh viên sẽ có những thông tin cơ bản về lịch sử phát triển của chữ từ đó giúp nâng cao khả năng lý luận để có thể tự nghiên cứu, triển khai những dự án thiết kế có nội dung liên quan
Để có thể học, hiểu, vận dụng tốt kiến thức cũng như nâng cao khả năng lí luận liên quan đến lĩnh vực Nghệ thuật chữ, sinh viên cần nắm được các khái niệm sau:
1 Khái niệm Nghệ thuật thư pháp
Thư pháp (Calligraphy) theo Từ điển thuật ngữ mĩ thuật phổ thông do
Đặng Bích Ngân chủ biên được hiểu với nghĩa là:
Nghệ thuật tạo nên những phương pháp làm duyên dáng, trang trí đẹp cho chữ viết Lối viết này làm cho bản thân các chữ có tính chất tạo hình khác nhau Các nét chữ trong thư pháp được uốn lượn, lên xuống, nhấn mạnh, buông nhẹ, đưa nhanh, đưa chậm… bằng loại bút viết tay như bút sắt, bút lông, bút nho Hầu hết các thư pháp viết bằng tay [7, tr.134]
Trang 10Từ điển cũng nhận định: “Cách sắp xếp chữ trên trang giấy cũng nằm trong nghệ thuật thư pháp” [7, tr.134]
Trong Từ điển bách khoa Việt Nam tập 4, thư pháp được coi là: “Phép
viết của người Trung Hoa và người Arập được nâng lên thành một nghệ thuật” về vị trí thì: “Thư pháp là một nghệ thuật độc lập đồng thời là một thành phần trong bố cục của hội họa cổ Trung Hoa” [19, tr.329]
2 Khái niệm Caligraphy
Theo định nghĩa trong Từ điển tiếng Anh Cambridge: “The art of producing
beautiful writing, often created with a special pen or brush” (Nghệ thuật sáng
tạo ra chữ viết đẹp, thường được viết bằng bút hoặc cọ đặc biệt) [36]
3 Khái niệm Typography
Typography là một môn nghệ thuật xuất phát từ châu Âu Có khá nhiều cách giải thích từ này
Về nguồn gốc Typography (một từ ngữ bắt nguồn từ Hy Lạp τύπος (typos) và từ γραφή (graphe) ghép lại với nhau ) là nghệ thuật dùng kỹ thuật sắp xếp, thiết kế, thay đổi hình dạng các ký tự, chữ cái, đồ vật để tạo nên một loại ngôn ngữ hiển thị Sự sắp xếp này liên quan đến việc lựa chọn kiểu chữ (typefaces), kích thước (point size), chiều dài (line length), khoảng cách (leading), điều chỉnh khoảng cách giữa các nhóm ký tự (tracking) và các cặp
ký tự (kerning) đó là các các thuật ngữ quan trọng trong typography
Gần đây định nghĩa cốt lõi mới nhất về Typography của
Encyclopedia Britannica (Từ điển Bách khoa toàn thư số) viết: “The
design, or selection, of letter forms to be organized into words and
sentences to be disposed in blocks of type as printing upon a page” (Thiết
kế, lựa chọn, các hình thức, kiểu dáng chữ để tổ chức thành các từ và câu được xử lý trong những khối chữ trên một trang in) [35] Còn tạp chí Heidelberg thì viết về Typography như sau:
Trang 11Theo nghĩa gốc, trình bày chữ (Typographie) có nghĩa “nghệ thuật trình bày các ấn phẩm theo quan điểm mĩ học” Từ này
xuất phát từ tiếng Hy Lạp typo có nghĩa là đặc tính và graphein
có nghĩa là ghi chép Sau hàng thế kỷ, ý nghĩa này đã thay đổi
và ngày nay trong thời đại truyền thông và bùng nổ thông tin, trình bày chữ đã trở nên chìa khóa của thông tin thị giác Nó làm cho các nội dung và khái niệm được thể hiện và sinh động - trong in ấn cũng như trên màn hình [5, tr.5]
Như vậy Typography chủ yếu là dùng kỹ thuật sắp xếp, thiết kế, thay đổi hình dạng các ký tự, để tạo nên một loại ngôn ngữ mang tính hiển thị Sự sắp xếp này liên quan đến việc lựa chọn kiểu chữ, kích thước, chiều dài, khoảng trống, điều chỉnh khoảng cách giữa các ký tự và nhóm ký tự Ngày nay Typography được đưa vào sử dụng rộng rãi như thiết kế đồ họa, quảng cáo truyền thông, phim ảnh, truyện tranh, graffiti… Typography thường được dịch sang tiếng Việt dưới ý nghĩa là Nghệ thuật chữ
4 Khái niệm Nghệ thuật chữ
Hiện nay ở Việt Nam khái niệm về Nghệ thuật chữ hầu như chỉ gói gọn trong giới hoạt động chuyên môn Ngoài ra nó chưa được đa số các thành phần khác trong xã hội hiểu rõ một cách cặn kẽ vì đây là một khái
niệm bao gồm nhiều nội hàm phức tạp Trong Từ điển Bách khoa Việt
Nam, Nghệ thuật chữ được giải thích là: “Nghệ thuật xử lý chữ viết, chữ in
hoặc các ký hiệu thị giác khác để truyền đạt lời, ý một cách gợi cảm và đẹp mắt” [18, tr.90] Những năm gần đây trong giao tiếp và giáo trình liên quan đến chuyên môn để tránh phải giải thích và hiểu nhầm người ta
thường dùng thẳng từ Typography để chỉ Nghệ thuật chữ
Qua trích dẫn từ các tài liệu ở trên, đầu tiên có thể khẳng định Nghệ thuật chữ là một thành tố quan trọng thuộc lĩnh vực nghệ thuật thị giác nói chung và mĩ thuật nói riêng Nói như vậy bởi dựa trên các định nghĩa và
Trang 12nguyên lý thiết kế của Nghệ thuật chữ có thể thấy nó bao hàm hai yếu tố chính:
Một là hệ thống qui định về cấu trúc ngữ pháp, hình ảnh các ký tự, cùng các nguyên tắc sử dụng
Hai là yếu tố mĩ thuật trong đó bao gồm các thành tố như bố cục, cấu trúc, nhịp điệu, đường nét, mảng, khối, khoảng cách, biểu tượng, hình ảnh, màu sắc…
Nghệ thuật chữ chính là một loại hình nghệ thuật kết hợp giữa thẩm mĩ thị giác và ngữ nghĩa Thông qua hình thức chữ để diễn đạt nội dung Khái niệm Nghệ thuật chữ mà chúng ta sử dụng ở Việt Nam có thể hiểu theo nghĩa rộng nhất bao gồm Typography (nghệ thuật sắp xếp chữ in, kỹ thuật số ) và Calligraphy (nghệ thuật thư pháp - bao gồm nghệ thuật viết bằng ngòi sắt áp dụng cho hệ thống chữ Latin và nghệ thuật viết bằng bút lông áp dụng cho hệ thống chữ tượng hình như chữ Hán, chữ Nhật, chữ Quốc ngữ…) Hiện nay Nghệ thuật chữ không chỉ giới hạn ở đồ họa mặt phẳng mà còn được ứng
Trang 131.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CHỮ VIẾT, BẢNG CHỮ CÁI (APHABETS ) VÀ SỰ RA ĐỜI HỆ THỐNG CHỮ LATIN
Từ khi thoát thai khỏi loài vượn nhờ biết chế tạo công cụ lao động, con người đã sống có tổ chức thành bầy đàn Với trình độ sản xuất thấp kém, của cải làm ra quá ít ỏi nên con người còn làm chung ăn chung, lúc này xã hội chưa có giai cấp Xã hội nguyên thủy chia làm các giai đoạn đồ đá cũ (khoảng 40.000 năm TCN), đồ đá mới (10.000 năm – 3000 năm TCN) và đồ đồng (2.500 năm TCN) Cuộc sống của con người theo thời gian cũng dần dần tiến bộ hơn, do yêu cầu của cuộc sống cộng đồng và qua giao tiếp tiếng nói dần hình thành và phát triển
từ những từ ngữ đơn giản đến phức tạp… Từ khi xuất hiện những tiếng nói đầu tiên (khoảng 40.000 năm TCN), con người đã không ngừng hoàn thiện nó nhưng qua thời gian ngôn ngữ đã dần dần bộc lộ những nhược điểm như: Không thể truyền tải mọi nội dung một cách liên tục
Bị hạn chế bởi không gian, thời gian Không có sự lưu trữ ghi nhớ tuyệt đối Sau một thời gian người ta có thể quên hay diễn đạt sai lệch, không chính xác một nội dung nào đó Hơn nữa quá trình phát triển của lịch sử loài người là một quá trình tìm tòi tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, kế thừa và bổ sung phát triển nên nhu cầu lưu trữ lại thông tin là vô cùng cần thiết
Vì vậy do nhu cầu đòi hỏi của thực tế cuộc sống, loài người phải tìm ra một hình thức diễn đạt khác với tiếng nói và có khả năng khắc phục được những nhược điểm trên của ngôn ngữ nói để giúp họ có thể lưu trữ, truyển tải thông tin từ người này đến người khác, từ vùng này đến vùng kia và từ thế hệ trước đến các thế hệ sau… Từ đó chữ viết manh nha xuất hiện Giống như tiếng nói, chữ viết cũng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp và quá trình này trải qua hàng chục nghìn năm cho tới ngày nay
Trang 14Theo ghi nhận từ các nhà chuyên môn, định nghĩa và khái niệm về chữ viết có rất nhiều Nhưng định nghĩa sau có vẻ như được số đông mọi người chấp nhận:
Chữ viết là những ký hiệu ước định của ngôn ngữ để diễn tả những
tư tưởng, tình cảm, ước muốn của con người
“Chữ viết là lời nói thuộc thị giác Quyền năng lặng lẽ của nó là
truyền đạt ý tưởng Nó cho phép trí tuệ của con người du hành qua thời gian, không gian, nó cho phép con người tìm hiểu được nhiều điều mới lạ…”[13,
tr.6] Ngoài việc mang lại cho người đọc thông tin, thay cho lời nói thì sự thay đổi về cách cấu tạo, kiểu dáng của chữ viết có liên quan mật thiết dến trình độ văn minh, phong cách nghệ thuật của từng thời kỳ phát triển của xã hội loài người Thiết nghĩ cũng cần giải thích thêm là do có những đặc điểm nhất định khác với kiến trúc, hội họa và điêu khắc nên từng thời kỳ phát triển và hình thức nghệ thuật của chữ viết có phần hơi khác so với các thể loại trên Ví dụ,
có những thời kỳ đặc điểm kiến trúc, hội họa và điêu khắc thay đổi nhưng lại không được biểu hiện tương tự ở chữ viết Nguyên nhân là do thay đổi phong cách hội họa, điêu khắc hay kiến trúc thì chỉ cần một thời gian ngắn, còn chữ vì bị ràng buộc bởi những qui định về tạo hình thị giác nên sự biến đổi không rõ ràng và khó nhận biết
Theo các thông kê chưa đầy đủ, hiện nay thế giới có khoảng 5000 ngôn ngữ và đi cùng nó là hàng trăm hình thái chữ viết khác nhau Nhìn chung các
hệ thống chữ đều bắt nguồn từ hình vẽ và về sau tùy từng dân tộc mà phát triển thành hệ thống chữ tượng hình hay hệ thống chữ ghi âm
1.1.1 Chữ viết trước thời kỳ cổ Hy Lạp và La Mã khoảng 40.000 năm TCN đến 1000 năm TCN
Trong giai đoạn này cuộc sống của loài người chủ yếu phụ thuộc vào thiên nhiên Lúc đầu họ sống trong hang động sẵn có Sau đó tiến bộ hơn là trong các hang động có gia công rồi đến những công trình xây
Trang 15dựng bằng đá hoặc kết bằng cành cây Những công trình bằng đá được xây tròn như tổ ong còn công trình bằng cành cây thường được buộc túm lại phía trên - đa số cũng là hình tròn và đôi khi được miết thêm đất sét Sang thời kỳ đồ đá mới (10.000 năm - 3000 năm TCN) do nông nghiệp và chăn nuôi phát triển, con người từ bỏ cuộc sống di cư Họ định cư lại thành những thôn xóm, làng mạc Qui hoạch trong kiến trúc của con người thời kỳ này bắt đầu có tính qui luật cao hơn Việc hình thành những không gian riêng về kiến trúc khiến tất yếu nảy sinh nhu cầu trang trí, làm đẹp cho nhà cửa và bản thân vì lúc này họ có nhiều thời gian hơn trước do cuộc sống được ổn định Từ những bức họa trên vách đá con người đã tìm ra các họa tiết để trang trí đồ gốm, thân thể
và công cụ…
Cùng trình độ kiến trúc và thẩm mĩ phát triển thì những nhu cầu, khái niệm về một loại “ngôn ngữ mới” cũng manh nha xuất hiện Trước khi hình thành những ký hiệu bằng hình đầu tiên thì loại “ngôn ngữ mới
- chữ viết” cũng phải trải qua nhiều bước quá độ Thường nó hay kết hợp giữa ngôn ngữ và các động tác chân tay cũng như vẻ mặt Các nhà nghiên cứu gọi là “ngôn ngữ bằng điệu bộ” hay “ngôn ngữ trong không khí” Loại ngôn ngữ này đã được sử dụng từ thời sơ khai Ngoài tiếng nói loài người còn dùng điệu bộ, vẻ mặt, cử chỉ chân tay… đi kèm để diễn đạt, biểu lộ thêm về mức độ thông tin Thổ dân Bắc Mỹ đã phát minh ra một phương pháp ngôn ngữ bằng điệu bộ cực kỳ chính xác Nó bao gồm hàng trăm dấu hiệu và cử chỉ Một trong số đó đã được chấp nhận trên toàn Bắc Mỹ Chẳng hạn, muốn diễn tả về mặt trời người ta
sẽ dùng tay tạo ra một vòng tròn trong không khí Muốn tỏ lòng thân thiện với một ai đó thì người ta hơi cúi mình và đặt tay lên ngực… Thổ dân ở Bắc Mỹ về sau còn sử dụng vết khắc trên thanh gỗ, hoặc cành cây mà người ta gọi là những “thanh gỗ biết nói” Người gửi
Trang 16tạo những vết khắc trên thanh gỗ và giải thích cho người đưa tin biết điều mà nó hiển thị Sau đó trao gậy cho người đưa tin Người đưa tin dựa vào những vết khắc trên thanh gỗ “đọc” lại cho người nhận tin nghe Nhờ có những vết khắc này mà người đưa tin có thể nhớ chính xác từng nội dung và thứ tự thông điệp cần chuyển một cách đầy đủ, chứ không phải thuộc lòng như trước kia
H.1 Gậy có khắc dấu của thổ dân Bắc Mỹ (Nguồn: TGGT)
Những hiện vật khảo cổ còn ghi nhận các bộ lạc ở miền đông Hoa
Kỳ đã chế tạo ra những dây thắt lưng bằng vỏ sò mà họ gọi là Wampoums Loại dây thắt lưng này không chỉ dùng để làm đồ trang trí hoặc trao đổi trong quan hệ mua bán mà chúng còn biểu thị những lời truyền đạt bằng hình vẽ và màu sắc trên đó
Người Incas (thổ dân thuộc đế quốc Quichua ở Nam Mỹhttps://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A2u_M%E1%BB%B9 - khoảng thế kỷ XVI TCN) có một loại văn tự gọi là văn tự dây nút (Quipus) Tất cả các sợi dây có nút thắt được buộc vào một đoạn thừng
to, nằm ngang Một Quipus có thể có tới hàng trăm dây và hàng nghìn nút Màu sắc của dây, độ to nhỏ của nút, khoảng cách dài ngắn giữa các nút đóng vai trò như các “con chữ” Chúng ghi lại các sự việc, sự kiện
và thông báo tin tức theo qui ước Ví dụ nút càng to - sự việc càng quan trọng; nút càng gần đoạn thừng ngang - sự việc càng cấp bách; nút dây màu đen - tượng trưng cho chết chóc; nút dây màu đỏ - tượng trưng cho
Trang 17chiến thắng; nút màu xanh - tượng trưng cho lương thực, ngũ cốc… Việc bện tết và minh giải các Quipus này thuộc về tầng lớp riêng biệt (được huấn luyện công phu) đảm nhiệm
H.2 Một loại văn tự dây nút (Quipus) của người Incas (Nguồn: TGGT)
1.1.2 Chữ Hình Vẽ
Qua thời gian khi con người thời tiền sử đã đạt tới một độ khéo tay nhất định Sự nhận biết, quan sát thế giới tự nhiên cũng tăng lên Loài người tiến tới một hình thức chữ viết mới gọi là chữ hình vẽ và dấu hiệu Những loại chữ này được phát hiện năm 1879 ở một hang động thuộc vùng Altamira (Bắc Tây Ban Nha) bởi Don Marcelion de Sautuola và Maria - con gái ông
Trang 18H.3 Hình vẽ tiền sử ở hang Altamira - Tây Ban Nha (Nguồn: Internet) Các nhà khảo cổ đồng thời cũng phát hiện ra những hình vẽ tương
tự như vậy ở châu Phi và Ai Cập Có khá nhiều ý kiến khác nhau về những hình vẽ này Một số cho rằng đó đơn thuần chỉ là những bức tranh đầu tiên của người nguyên thủy, hoặc chỉ đơn thuần là nhu cầu về thẩm mĩ, trang trí hay phục vụ cho nghi lễ, tín ngưỡng nào đó như tô-tem Về sau các nhà nghiên cứu nhận thấy, phải chăng ngoài những giả thiết như trên thì có thể người họa sĩ thời nguyên thủy đang tìm cách kể lại câu chuyện nào đó thông qua hình vẽ Những hình vẽ này sẽ dùng để minh họa cùng với lời kể chuyện của người cao tuổi nhất trong bộ tộc bên cạnh đống lửa chung hay trong lúc thực hành các nghi lễ về tôn giáo (giống như truyện tranh kết hợp lời kể dành cho lứa tuổi nhà trẻ bây giờ)
H.4 Hình vẽ trong một hang động ở châu Phi (Nguồn: Internet)
Về sau một trong những hệ thống “chữ hình ảnh” nói trên đã phát triển thành dòng chữ tượng hình ở sông Nil (Ai Cập) (5000 năm TCN) Người ta
có thể tìm thấy chúng trên vỏ ốc, núi đá, vỏ cây, da thú Những chữ viết sử dụng hình ảnh này có điểm khác biệt lớn so với những hình vẽ thời hang động Nó đã tách ra thành một dòng riêng, chuyên dùng với mục đích chuyển
Trang 19tải và lưu trữ thông tin chứ không lẫn lộn với hình vẽ như trước nữa Loại chữ này cô đọng hơn nhờ hình ảnh được chọn lọc để ít gây nhầm lẫn nhất về thông tin Chúng được đơn giản hóa và qui ước chặt chẽ dựa trên sự quan sát tinh tế các hiện tượng, hình ảnh của thế giới tự nhiên
H.5 Kiểu chữ tượng hình của Ai Cập (Nguồn: Internet) Theo những nhà chuyên môn đây chính là sự thay đổi mạnh mẽ tư duy sáng tạo của nhân loại để chuyển từ diễn đạt thông tin bằng hình vẽ
tả thực thành hình ảnh ước lệ mang tính ký hiệu, tín hiệu Ví dụ muốn diễn tả mặt trời người ta vẽ một hình tròn với những tia sáng Còn muốn diễn tả mặt trăng thì hình tròn vẫn được dùng làm tín hiệu nhưng không có các tia sáng Lí giải theo quan sát của con người lúc đó thì cả mặt trời và mặt trăng đều có hình tròn nhưng do mặt trời phát sáng mạnh nên có tia sáng còn mặt trăng thì không
Trang 20H.6 Núi Mặt trời Dòng suối
(Nguồn: TGGT)
1.1.3 Chữ Diễn Ý
Cùng với thời gian, qua lao động và sáng tạo con người nhận ra
loại Chữ Hình Vẽ vẫn không hoàn toàn đáp ứng đầy đủ những nhu cầu
ghi chép, diễn đạt ý tưởng của mình Nó chỉ thể hiện được những ý cụ thể và đơn giản Các thông tin đa nghĩa, hoặc trừu tượng như niềm vui,
nỗi buồn, tình yêu… thì Chữ Hình Vẽ hoàn toàn bế tắc, không thể diễn
tả Vì vậy, các nghệ sĩ và các nhà thông thái lúc đó đã giải quiết vấn đề bằng cách nghĩ ra một loại ký hiệu ghi ý Tức là tạo ra sự phối hợp những hình vẽ với nhau để diễn tả một ý tưởng nào đó Loại chữ này
được các nhà chuyên môn gọi là Chữ Diễn Ý hay Chữ Ghi Ý Đây là
một trong những bước ngoặt quan trọng nhất của lịch sử phát triển chữ viết Nhờ những ký hiệu ghi ý, người viết không chỉ cho thấy một đồ vật cụ thể mà còn cho thấy ý tưởng liên quan với đồ vật ấy Ví dụ, để diễn tả một chuyến đi núi, người ta dùng hai chữ hình vẽ kết hợp với nhau là hình dãy núi và đặt chiếc ủng ở bên cạnh Cũng như kết hợp một cái đầu có miệng há to với hình dòng suối để diễn tả khái niệm uống nước
H.7 Đi qua núi = chiếc ủng + núi Uống nước = đầu há miệng + dòng suối
(Nguồn: Internet)
Trang 21Người Ai Cập cổ cịn diễn tả được những khái niệm phức tạp hơn như thời gian (cụ thể ở đây là 1 tháng) bằng cách dùng mợt hình vuơng đặt nghiêng so với phương ngang của mặt đất ở trong cĩ các dấu gạch Mợt dấu gạch tượng trưng cho mười ngày Tổng cợng 3 dấu gạch tương đương 30 ngày (mợt tháng) tính theo lịch mặt trời
Mặttrờ i =
10 ngà y = <
Mặttrờ i + 3 lần 10 ngà y = 1 tháng
H1.10 Chữ tượng hình chỉ một tháng
H.8 Chữ Ghi Ý của người Ai Cập cổ chỉ thời gian 1 tháng (Nguồn: TGGT)
Ở chữ chỉ “tháng” người Ai Cập đã đưa vào mợt sớ ký hiệu dạng biểu tượng qui ước (dấu ‹‹‹) Nó khơng nhằm diễn tả mợt hình ảnh nào cụ thể, khơng cĩ tính chất thuần túy thị giác mà là các yếu tớ ngồi thị
giác do con người qui định Cách ghép những Chữ Tượng Hình và mợt
sớ ký hiệu ước định với nhau để diễn ý đã khiến loại chữ viết mới cĩ thể diễn tả được mợt sớ khái niệm trừu tượng Tiến bợ hơn nhiều so
với Chữ Tượng Hình thời kỳ trước đó Loại chữ này xuất hiện phổ
biến ở Ai Cập năm 2500 TCN và ở vùng tiểu Á khoảng năm 2000 TCN
1.1.4 Chữ Hình Nêm
Khoảng 2000 năm TCN loại Chữ Tượng Hình lan rợng ra khắp
vùng Trung Đơng Qua những hiện vật khảo cổ cho thấy chúng được ghi trên những tấm thẻ làm bằng đất sét - mợt chất liệu khá phổ biến ở vùng này Người ta dùng mợt cái bút sạn có đầu hình tam giác hoặc
Trang 22cây sậy đã vót nhọn rồi viết bằng cách ấn lõm xuống đất sét thành những dấu hình Kết hợp các dấu ngang, nghiêng, thẳng và những
nét với nhau để tạo thành ký hiệu mà giới chuyên môn gọi là Chữ
Hình Nêm
H.9 Chữ Hình Nêm (Nguồn: Internet)
1.1.5 Chữ Ghi Âm
Dù là một bước tiến bộ trong quá trình ghi lại thông tin của xã
hội loài người lúc đó nhưng Chữ Ghi Ý vẫn còn có những mặt hạn chế
Người ta có thể “đọc” các ký hiệu theo suy diễn cá nhân và dễ gây ra những lầm lẫn về mặt nội dung… Chính vì nguyên nhân đó mà về sau
con người đã nghĩ ra một loại chữ mới - Chữ Ghi Âm Nhà nghiên cứu Đặng Đức Siêu giải thích về Chữ Ghi Âm như sau:
Qua trực giác và kinh nghiệm hoạt động ngôn ngữ, người xưa
đã nhận thức được hiện tượng đồng âm khác nghĩa của từ Một cấu kết ngữ âm nhất định có thể thể hiện hàng loạt từ có
ý nghĩa khác nhau Và rất may trong hàng loạt từ này thường thường bao giờ cũng có một số từ biểu đạt những vật thực thể, hữu hình, có thể vẽ ra được - cũng có nghĩa là dễ dàng dùng chữ tượng hình để biểu thị” [14, tr.21]
Như vậy là Chữ Hình Vẽ, Chữ Tượng Hình, Chữ Ghi Ý giờ đây
chỉ được sử dụng ở một mặt - mặt biểu thị âm đọc Còn ý nghĩa của nó
Trang 23thì sẽ tùy theo ngữ cảnh mà xác định Chữ Ghi Âm là loại chữ tiên tiến
nhất, nó có khả năng bám sát ngôn ngữ nói, ghi lại mọi từ nhằm biểu
thị vật thể, khái niệm, dù có trừu tượng đến đâu đi nữa Loại Chữ Ghi
Âm hoàn chỉnh được tìm thấy ở những văn bia của người Phénicie
(Phoenicia) có niên đại vào 1100 năm TCN
H.10 Chữ viết trên văn bia của người Phénicie – 1100 năm TCN
(Nguồn: Internet) 1.2 DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ CỦA HỆ THỐNG CHỮ LATIN
1.2.1 Giai đoạn từ thế kỷ VIII TCN đến thế kỷ IV
Phénicie (Phoenicia) là một nền văn minh cổ đại với trung tâm nằm dọc vùng eo biển Liban, Syria và bắc Israel ngày nay Người Phénicie nói tiếng Phénicie, một thứ tiếng thuộc nhóm ngôn ngữ Canaan trong ngữ hệ Semitic Quốc gia này là xã hội cấp nhà nước đầu tiên sử dụng bảng chữ cái một cách rộng rãi Đặc biệt nhất là bảng chữ cái của họ không chứa nguyên âm Người Phénicie chủ yếu làm nghề đi biển và buôn bán Do đó họ thường xuyên
Trang 24tiếp xúc với người Hy Lạp và những dân tộc khác trong vùng biển Địa Trung Hải trong suốt thời kỳ từ năm 1550 TCN tới năm 300 TCN
Nhờ vào giao thương, buôn bán nên vào khoảng thế kỷ thứ VIII TCN người Hy Lạp đã biết sử dụng bảng chữ cái của người Phénicie
mà họ cho là rất thuận tiện trong ghi chép và giao dịch
H.11 Bảng chữ cái (22 kí tự) của người Phénicie – 1100 năm TCN
(Nguồn: Internet)
Do hai dân tộc ngôn ngữ khác nhau nên người Hy Lạp chỉ mượn
19 trên 22 biểu tượng có trong bảng chữ cái của người Phénicie và thực hiện một vài thay đổi để cho nó thích hợp hơn với dân tộc mình Họ lấy chữ aleph (con bò) của người Phénicie để đọc là alpha và biến nó thành chữ đầu trong bảng chữ cái Beta thay cho beth (cái nhà)… Bằng cách phối hợp hai từ alpha, beta người Hy Lạp cho ra đời từ “alphabet”- bảng chữ cái Ngoài ra họ còn thêm vào một số chữ và âm mới trong ngôn ngữ tiếng Hy Lạp mà bảng chữ cái của người Phénicie không có
cho phù hợp Chẳng hạn như âm phi và spi (người Hy Lạp bổ sung
thêm 5 nguyên âm) Tổng cộng bảng “alphabet” của người Hy Lạp bao gồm tất cả 24 chữ cái Người Hy Lạp cũng tiến hành thay đổi hướng viết Ban đầu họ viết từ phải sang trái Về sau - khoảng năm 500 TCN -
do ảnh hưởng mạnh mẽ của việc viết trên chất liệu da thuộc và phát minh ra ngòi bút chấm mực nên chữ được viết từ trái sang phải Chính
sự thay đổi hướng viết dẫn đến việc một số hình dạng của chữ cái cũng
Trang 25phải thay đổi theo cho thuận tay và phù hợp với thế cầm bút Bảng chữ cái Hy Lạp được hoàn thiện và công nhận rộng rãi vào năm 403 TCN
H.12 Bảng chữ cái của người Hy Lạp (Nguồn: Internet)
Chữ Hy Lạp về sau phân hóa thành 2 nhánh: nhánh phía Đông phát triển thành chữ Hy Lạp cổ điển và chữ Bizantin (cơ sở của chữ Slaves, Gothic…) Nhánh phía Tây thì khởi nguồn cho sự hình thành chữ Latin và một số chữ khác
Vào thế kỷ thứ VIII TCN, đế quốc cổ La Mã mới chỉ là một số vùng đất nhỏ chật hẹp ở quanh Roma, lúc bấy giờ ở trên bán đảo Apennin này có ba vùng lãnh thổ: vùng Italia ở phía tây bán đảo là của người Éturie, vùng Latium thuộc về người Latin và vùng Sabina (phía nam) với phần đông là cư dân Hy Lạp Do tác động, ảnh hưởng lẫn nhau của nhiều dân tộc cùng với các quan hệ trao đổi giữa các khu vực khác ở Địa Trung Hải vì thế đã tạo nên ở đây một vùng văn hóa khá đa dạng, phức tạp Roma ra đời vào thế kỷ thứ VIII TCN, giữa lúc người Latin còn sống trong chế độ thị tộc gia trưởng và bị người Éturie đô hộ Đầu thế kỷ thứ VI TCN người Latin nổi dậy đánh đuổi người Éturie và dựng nên chế độ cộng hòa nô lệ Quốc gia thành bang Roma bắt đầu
Trang 26tiếp thu văn hóa của người Hy Lạp Đến thế kỷ thứ III TCN, Italia thống nhất và lãnh thổ của nhà nước La Mã phủ một diện tích rộng lớn khắp cả vùng Địa Trung Hải Do chịu sự ảnh hưởng của nền văn hóa
Hy Lạp nên người La Mã lấy chữ viết theo bảng chữ cái của người Hy Lạp Họ bỏ bớt vài chữ không hợp với âm tiết của dân tộc mình, đưa thêm vào 2 chữ Q, F nên tổng cộng có 23 chữ cái Latin tất cả
H.13 Sự thay đổi dáng chữ của người Phénicie > Hy Lạp > Latin
(Nguồn: Internet) Người La Mã cũng có những phát minh cải tiến riêng cho bảng chữ cái Họ sáng tạo ra kiểu chữ có nét đậm, nét mảnh cũng như vạch thêm một nét ngang ở trên đầu và dưới chân các chữ cái và con số Sáng tạo này không chỉ làm cho chữ đẹp hơn mà cũng khiến việc đọc trở nên dễ dàng Loại chữ có thêm nét gạch của người La mã được các nhà chuyên môn gọi là chữ có nét chân (serif) Nó là hệ thống những chữ hoa (chữ lớn) thường được khắc trên đá và trở nên thông dụng dưới triều của hoàng đế La Mã Trajan (từ năm 98 đến năm 117) Lúc bấy giờ chưa có các chữ con Theo các nhà chuyên môn có sự thay đổi trên là do chữ viết ở thời kỳ này được coi như là biểu tượng cho sự tôn vinh, cao quý Vì thế nó được khắc, chạm ở những nơi linh thiêng,
uy nghiêm như nhà thờ, cổng chào, công trình công cộng và bị ảnh hưởng của kiểu dáng các thức cột…
Trang 27Xuất phát từ lý do trên nên từ thời điểm này, các dáng chữ qua từng thời kỳ thường có những thay đổi hoặc lấy cảm hứng dựa theo phong cách thẩm mĩ của nghệ thuật kiến trúc thịnh hành
H.14 Chữ Latin khắc trên các công trình bằng đá (Nguồn: Internet)
Ở thời kỳ La Mã, kiểu thức kiến trúc cột trụ và các công trình khác đều
đồ sộ, phóng khoáng nhưng không nặng nề dẫn tới chỉ có chữ lớn nét chân được ưa chuộng Kiểu chữ này có đặc điểm tỉ lệ giữa nét thanh và nét đậm khá hợp lý Mình chữ rộng làm cho dáng chữ nhẹ nhàng, thanh nhã ảnh hưởng rõ phong cách của các kiểu thức cột Dorich, Ionich, Corinth, Totscan…
Trang 28H.15 Kiểu thức cột trụ của La Mã (Nguồn: Internet)
Đẹp nhất trong các thể loại chữ là kiểu chữ Roman với dáng phong nhã, vững chãi, tỉ lệ giữa nét nhỏ và to phù hợp thị giác Độ rộng dài của chữ khá lớn, mang tính chất đồ sộ nhưng cũng nhẹ nhàng Điển hình là bộ chữ được khắc trên cột kỷ niệm vua Trajan ở La Mã năm 113
H.16 Một mảng chữ của bản khắc trên cột trụ Trajan (Nguồn: Internet)
Trang 29Theo bước chân chinh phục của đội quân La Mã cùng sức mạnh của kẻ thống trị đã tạo điều kiện cho hệ thống chữ Latin ngày càng phổ biến và ảnh hưởng rộng rãi trên khắp thuộc địa của đế chế Đây là nguyên nhân khiến bảng chữ cái mà người La Mã sử dụng trở thành
“mẹ” của tất cả các bảng chữ cái Âu Mỹ sau này
Những điều chỉnh về tỉ lệ nét và thêm cấu trúc cho bộ chữ Roman
vô tình khiến người La Mã trở thành dân tộc khởi nguồn cho bộ môn Nghệ thuật chữ Khác với trước kia chữ chỉ mang một tính năng duy nhất
là công cụ ghi chép, lưu giữ thông tin thì bây giờ “họ thấy giá trị nghệ thuật của dáng chữ, thấy chữ cũng là một yếu tố trang trí” [2, tr.18] Vì vậy trên những cáo thị và bảng hiệu họ bắt đầu thêm vào chữ một vài họa tiết như hoa lá, màu sắc về sau trong các văn bản cũng có áp dụng cách này… Từ đó nghệ thuật trang trí chữ không ngừng phát triển và được gọi dưới cái tên Calligraphy (dạng thư pháp viết bằng ngòi áp dụng cho chữ ghi âm)
1.2.2 Giai đoạn từ thế kỷ V đến thế kỷ XIV
Vào khoảng thế thế kỷ III do những biến động về đời sống kinh tế,
xã hội, mâu thuẫn giữa các tầng lớp hết sức nặng nề dẫn tới việc đế quốc
La Mã bị phân liệt thành Đông La Mã và Tây La Mã Đế quốc Tây La
Mã bị diệt vong vào thế kỷ thứ V bởi các bộ tộc đến từ phương bắc như German, Vandal, Đông Goth, Gaul… Còn đế quốc Đông La Mã rời thủ
đô đến Constantinople (Tức Istambul - Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) Năm 330 Đông La Mã dần trở nên một nhà nước hùng mạnh, tồn tại suốt 10 thế kỷ (đế quốc Byzantine) Vào thời kỳ này có một sự kiện đặc biệt xảy ra Năm 313 hoàng đế Constantinus cải đạo và công nhận đạo Kitô là tôn giáo chính thức của đế quốc La Mã Sự kiện trên tạo ảnh hưởng to lớn đến việc hình thành các phong cách nghệ thuật ở châu Âu nói chung và phong cách Nghệ thuật chữ nói riêng (phong cách Nghệ thuật tôn giáo)
Trang 30Do hai nhà nước La Mã nằm ở vị trí địa lý bị ảnh hưởng văn hóa của cả phương Đông và phương Tây nên tới thời kỳ Trung đại, nghệ thuật kiến trúc ở châu Âu có tính giao thoa Nghĩa là kết hợp giữa phong cách hào hoa, tinh tế của phương Đông và qui mô, hoành tráng của phương Tây Các trường phái nghệ thuật Tôn giáo thời kỳ Trung Cổ được ghi nhận gồm có: Byzantine (395-1460), Arab (Hồi giáo) (622-1258), Roman (thế kỷ IX-XI), Gothic (1150-1500)
Bị ảnh hưởng của phong cách kiến trúc nên hình dáng các chữ cái thời Trung Cổ cũng biến đổi theo Lúc này tiếp cận chữ là một đặc quiền nên chữ chủ yếu chỉ được phổ biến trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc Nó được dùng cho việc phục vụ nhà thờ như ghi chép kinh thánh, chú thích trên các bức tranh… Vì vậy tuy trải qua một thời gian khá dài nhưng thời Trung Cổ ngoài kiểu chữ Roman đã xuất hiện trước đó thì chỉ có thêm mấy kiểu chữ tiêu biểu sau:
- Kiểu chữ Quadrata
Lấy cảm hứng từ kiến trúc Byzantine Kiểu chữ này không khác kiểu chữ Roman mấy nhưng có nét chữ mập hơn, dáng vuông vức hơn, góc chữ có phần mềm mại
H.17 Kiểu chữ Quadrata (Nguồn: Internet)
- Kiểu chữ Rustica
Trang 31Cũng xuất xứ từ kiểu chữ Roman viết tháu (nhanh), có nét thanh mảnh, ngay ngắn, dáng chữ thon dài, mình hẹp Với kiểu chữ này người ta có thể viết nhanh hơn
H.18 Kiểu chữ Rustica (Nguồn: TGGT)
- Kiểu chữ Onciale
Hình thành trên kiểu chữ Quadrata, kiểu chữ Roman và cảm hứng từ phong cách kiến trúc Hồi giáo Chữ Onciale tròn trịa, nét mập đều, là kiểu chữ được thông dụng nhất trong sách chép tay gần 600 năm từ thế kỷ III đến thế kỷ
IX ở châu Âu
H.19 Kiểu chữ Onciale (Nguồn: Internet)
- Kiểu chữ Gothic
Trang 32Có cảm hứng xuất phát từ kiểu chữ Roman và phong cách kiến trúc cùng tên Kiểu chữ này thân dần dần co hẹp lại, dài ra, ép sát vào nhau, có góc cạnh sắc nhọn, có nét thanh, nét mảnh Nó được sử dụng rộng rãi suốt 3 thế
kỷ và lấn át hoàn toàn các kiểu chữ có trước đó, đến nỗi ở Đức tới thời kỳ Cận đại vẫn còn ưa chuộng
H.20 Kiểu chữ Gothic (Nguồn: Internet) Ngoài ra còn có kiểu chữ Caroline xuất hiện dưới triều đại Charlemagne ở Pháp Sau đó nó được phổ biến khắp châu Âu và thay dần các kiểu chữ có trước đó rồi chiếm địa vị thống trị gần 200 năm Bộ chữ này có cả chữ con…
Trang 33H.21 Kiểu chữ Caroline (Nguồn: Internet)
1.2.3 Giai đoạn từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII
Trong hai thế kỷ XV và XVI ở châu Âu và đặc biệt là Italia xuất hiện một phong trào văn hóa có tên gọi: văn hóa Phục Hưng Phong trào gắn liền với bối cảnh lịch sử của giai đoạn chuyển tiếp từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản Nền công nghiệp tư bản lớn dần lên dẫn đến sự hình thành giai cấp tư sản và vô sản Lúc này người ta không những muốn khôi phục lại nền văn hóa Hy Lạp - La Mã mà còn muốn phát huy giá trị văn hóa tốt đẹp của nhân loại đã bị giáo hội và các triều đại phong kiến kìm hãm gần 10 thế kỷ
Trang 34Cũng trong trào lưu ấy, cùng với sự manh nha xuất hiện của giai cấp tư bản ngành in ấn ra đời và phát triển mạnh với cải tiến phát minh công nghệ in chữ rời bằng kim loại (1448) của Johann Gutenberg (Johannes Gensfleisch Zum Gutenberg) (1397-1468) Ngoài ra nghề làm giấy do người Ả Rập học được của người Trung Quốc truyền sang Tây Âu từ giữa thế kỷ XII đến thế kỷ XV thì đã phát triển phổ biến khắp ở các nước như Đức, Pháp, Anh… Tất cả những điều này đã tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển chữ viết Các họa sĩ đã cố gắng hoàn thiện những điểm còn hạn chế của những bộ chữ thời kỳ trước bằng tư duy và cách làm việc khoa học Họ chú ý đến tỉ lệ hài hòa của con người và áp dụng triệt để số học, hình học vào việc xây dựng bộ chữ
H.22 Bảng sắp chữ in thời Phục Hưng (Nguồn: Internet) Ngành in ra đời đòi hỏi phải có bộ chữ thích hợp cho việc đúc hàng loạt để sắp vào khuôn nên kiểu dáng chữ đã được cải tiến Chữ loại này cần có nét trơn tru, không có góc cạnh sắc nhọn, dễ đúc, dễ đọc, mang
Trang 35phong cách trang trọng, thanh thoát Vì thế đã có hẳn công thức cấu trúc cho kiểu chữ in Roman (chữ cơ giới) Khác với trước kia những bộ chữ thường không rõ ai là tác giả thì đến thời kỳ này mỗi bộ chữ đã được gắn liền với tên tuổi của người sáng tạo ra chúng Có khá nhiều mẫu chữ được thiết kế trong thời kỳ Phục Hưng nhưng nổi tiếng nhất là những bộ chữ sau:
- Bộ chữ của Leonard de Vinci (1452-1519) (Ý)
Leonard de Vinci là nhà họa sĩ kiêm bác học, phương pháp của ông
là chỉ dùng compa và thước kẻ để xây dựng những hình của chữ, cụ thể là chữ sẽ được qui định nằm trong ô vuông hay đường tròn Diện tích ô vuông sẽ được chia thành 100 ô vuông nhỏ để qui định các điểm trung tâm của chữ Cách làm việc này đã trở thành một nguyên tắc cho việc sáng tác chữ từ trước tới nay
H.23 Bản thiết kế chữ cái của Leonard de Vinci (Nguồn: Internet)
- Bộ chữ của Luca Paxioli (1445-1517) (Ý)
Trang 36Ông cũng là nhà họa sĩ kiêm bác học Thời gian từ 1485-1490 ông
có hợp tác với Leonard de Vinci để cùng nghiên cứu những nguyên tắc, tỉ lệ thân người nhằm dựng nên một công thức chung về thẩm mĩ Từ đó
áp dụng và đưa ra một chuẩn định cho cái đẹp Năm 1529 ông xuất bản
cuốn Tỉ lệ thần kỳ Trong sách ông bảo vệ và nêu ra các qui luật toán học
có liên quan tới sự chính xác của tỉ lệ cơ thể người (những tỉ lệ, con số vàng)
Cấu trúc chữ cái của Paxioli cũng được bố cục trong ô vuông Đường trung tâm đứng, đường trung tâm ngang của ô vuông là trung tâm chính của các chữ Các hình để kẻ chữ được chia ra làm 9 phần bằng nhau Bộ chữ gồm 3 cỡ nét: nét mập bằng 1/9 cạnh ô vuông; nét vừa (ngang) bằng 1/2 nét mập; nét thanh (nét giữa chữ E) bằng 1/3 nét mập Chính vì có tỉ lệ 3 cỡ nét đẹp, hợp lý nên bộ chữ mang lại cảm giác cân đối với đặc điểm chung là tất cả nét ngang giữa chữ đều nằm trùng với đường trung tâm ngang của ô vuông lớn Những nét lượn ở góc chữ được vẽ là một đoạn của đường tròn - vị trí này trước kia thường được vẽ theo cảm giác
Trang 37- Bộ chữ của Albert Durer (1471-1528) (Đức)
Albert Duyre là người sáng tạo ra kiểu chữ Fractura được nhà vua
và Hoàng gia Đức chọn làm bộ chữ tiêu chuẩn của quốc gia Về chữ Roman, ông đã đưa ra công thức cấu trúc bằng cách chia mỗi cạnh ô vuông chứa các chữ làm 10 phần bằng nhau Có một số chữ không sử dụng hết cả 10 phần nên khi nhìn ta thấy thoáng và linh hoạt Bộ chữ có nét mập bằng 1/10 ô vuông, nét vừa, nét thanh bằng 1/2 nét mập và 1/3 nét mập Các thiết kế của Albert Duyre có nhiều cách biến đổi khác nhau ở đầu, chân và hướng bụng chữ
H.25 Kiểu chữ của Albert Durer (Nguồn: Internet)
- Bộ chữ của Geoffroy Tori (Pháp)
Thoạt nhìn cách cấu trúc bộ chữ do Geoffroy Tori thiết kế (chữ I, chữ K) dễ làm liên tưởng đến cách nghiên cứu tỉ lệ thần kỳ của Leonard de Vinci
và Paxioli Geoffroy Tori cũng chia ô vuông chứa chữ ra 100 ô vuông nhỏ Nét mập bằng 1/10 cạnh ô vuông, nét vừa, nét thanh bằng 1/2 và 1/3 nét mập
Trang 38Đặc điểm riêng biệt của kiểu chữ này là nét ngang của chữ A bằng nét mập, nét đứng của chữ N… thì lại là nét thanh
H.26 Kiểu chữ của Geoffroy Tori (Nguồn: Internet)
Trang 39Ngoài những kiểu chữ tiêu biểu kể trên còn có nhiều bộ chữ nổi tiếng khác của các nhà thiết kế người Pháp: Claude Garamont, Le Bé… Đặc biệt ở Ý lần đầu tiên xuất hiện kiểu chữ với nét thanh nhã, hơi nghiêng về phía phải và được gọi theo tên quốc gia mà nó sinh ra Italic Cái tên này về sau trở thành danh từ dùng chung cho tất cả các kiểu chữ có hướng nghiêng
H.27 Kiểu chữ nghiêng Italic (Nguồn: TGGT) Thời kỳ Phục Hưng với phát minh, cải tiến kỹ thuật làm giấy và công nghệ in chữ rời bằng kim loại đã đưa lịch sử phát triển của chữ sang một giai đoạn mới Nó chấm dứt thời kỳ Cổ tự học - Paleographic (từ khi chữ viết ra đời đến thế kỷ XVI) và mở ra thời kỳ Tân tự học - Paleographic moderne, còn gọi là thời kỳ nghệ thuật chữ cơ giới (từ thế
kỷ XVI trở về sau) Từ đây các kiểu chữ in Roman và các kiểu chữ in mới được sử dụng rộng rãi thay thế kiểu chữ Gothic Cái tên Typography cũng được hiểu theo nghĩa khác là nghệ thuật sắp xếp, sử dụng chữ in Nguyên nhân là do Gutenberg gọi các con chữ rời đúc từ đồng mô của mình là Type vì vậy từ đó đến giờ người ta vẫn gọi nghề
in là Typography
Cũng từ thời kỳ Phục Hưng song song với các bộ chữ mang phong cách của kiểu dáng công trình kiến trúc đã xuất hiện thêm nhiều bộ chữ có phong cách mới Những phong cách này lấy cảm hứng từ tỉ
lệ, chi tiết con người, hoa lá Có thể nói từ thời điểm này kiểu dáng chữ được giải phóng trở nên đa dạng và phong phú
Trang 40Từ cuối thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVII Giáo hội châu Âu bước vào một thời kỳ hà khắc và nghiệt ngã Bên cạnh đó giáo hội đã cho xây dựng nhiều công trình kiến trúc như nhà thờ, lâu đài, biệt thự, quảng trường… để hưởng thụ vật chất và khoa trương tôn giáo Trong hoàn cảnh đó nghệ thuật Baroque ra đời như một loại nghệ thuật cung đình chuyên phục vụ cho trào lưu ưa chuộng sự hào hoa, nghi thức bề
ngoài
Baroque là một danh từ có nguồn gốc Bồ Đào Nha Nghĩa của nó chỉ những viên ngọc không có qui luật, méo mó, không đều hoặc có thể hiểu là viên ngọc thô, xấu
Nghệ thuật Baroque chú trọng đến những cảm giác mạnh; biến hóa dẫn đến những hiệu quả thần bí và qui mô khác thường: nhỏ trông thành to, tĩnh mà như động cùng với lối điêu khắc trang trí tỉ mỉ công phu; khối uyển chuyển; đường nét uốn lượn gây cảm giác mạnh; gây kích thích bất ngờ; tạo những không gian phức tạp; cường điệu sự tương phản sáng tối; gây ảo giác tăng mạnh hiệu quả về bóng đổ; phô trương sự cầu kỳ
Kiểu chữ trong thời kỳ nghệ thuật Baroque chịu ảnh hưởng nặng nề của phong cách kiến trúc Sự chuyển biến rõ rệt về kiểu dáng đã tạo ra đặc điểm riêng cho phong cách các bộ chữ Nét chữ dần dần được thay bằng dáng lá, cành cây, hoa, chim cùng những đường nét chạm trổ khá cầu kỳ mang nặng tính trang trí Song song với việc tạo ra dáng chữ mới, các nhà thiết kế vẫn liên tục nghiên cứu phát triển các kiểu chữ có từ thời Phục Hưng trước đây và cũng cho ra mắt một số mẫu chữ đẹp