1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ĐẶC ĐIỂM THƠ CAO BÁ QUÁT

58 219 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 63,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TIỂU LUẬN NÀY CUNG CẤP VỀ THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT, THƠ CAO BÁ QUÁT, ĐẶC ĐIỂM THƠ CAO BÁ QUÁT, NHỮNG ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT TRONG THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT. SÁNG TÁC THƠ CAO BÁ QUÁT, NÉT ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT TRONG THƠ ÔNG, THƠ CAO BÁ QUÁT TRUNG ĐẠI

Trang 1

Đề số 2: Liệt kê, nhận xét các kiểu câu chia theo mục đích nói trong thơ chữ Hán của Cao Bá Quát.

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

I MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA 3

1 Mục đích 3

2 Ý nghĩa 3

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

IV CẤU TRÚC TIỂU LUẬN 3

PHẦN NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1: TÁC GIẢ CAO BÁ QUÁT VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC 4

1 Tác giả Cao Bá Quát 4

2 Sự nghiệp sáng tác thơ chữ Hán của Cao Bá Quát 5

CHƯƠNG 2: CÁC KIỂU CÂU CHIA THEO MỤC ĐÍCH NÓI TRONG THƠ CAO BÁ QUÁT 6 1 Câu trần thuật 6

2 Câu nghi vấn 9

3 Câu cầu khiến 12

4 Câu cảm thán 14

PHẦN KẾT LUẬN 17

PHỤ LỤC 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Trang 3

2 Ý nghĩa

Cho thấy được tính đa dạng trong việc sử dụng các câu chia theo mục đích nói trong thơ ông

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Tiểu luận khảo sát 32 bài thơ chữ Hán của Cao Bá Quát

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở những vấn đề liên quan đến văn bản trong một số đặc điểm nghệ thuật được tìm thấy

III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Xuất phát từ đối tượng và mục đích nghiên cứu, bài Tiểu luận này sử dụng kết hợp các phương pháp phân loại, phân tích, tổng hợp… để thấy được nét đặc sắc trong việc sử dụng câu chia theo mục đích nói của Cao Bá Quát

IV CẤU TRÚC TIỂU LUẬN

Cấu trúc gồm có 3 phần:

Phần mở đầu

Phần nội dung

Chương 1: Tác giả Cao Bấ Quát và sự nghiệp sáng tác

Chương 2: Các kiểu câu chia theo mục đích nói trong thơ Cao Bá Quát

Phần kết luận

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: TÁC GIẢ CAO BÁ QUÁT VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC

1 Tác giả Cao Bá Quát

Cao Bá Quát tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, biệt hiệu là Mẫn Hiên, người làng Phú Thị, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc ngoại thành Hà Nội Chu Thần sinh năm nào không rõ

Xuất thân trong một dòng dõi khoa bảng nhưng cha chỉ là một ông đồ hay chữ Ngay từ nhỏ, Cao Bá Quát đã được bố cho theo nghiệp nghiên bút, với mong muốn sẽ đỗ đạt, sống có ích cho đời Cao thông minh, học giỏi, lại sớm có ý thức

về tài văn chương của mình

Không những có tài, Cao Bá Quát còn là một con người có hoài bão, khát vọnglớn Nối chí của thân phụ, ông ôm ấp canh cánh một nỗi niềm thờ vua giúp nước.Cái tâm lớn ấy cùng với bản lĩnh của một nhà nho tràn đầy khí phách luôn háo hứctrên con đường đi tìm vẻ đẹp đời mình

Chuộng tự do, cởi mở nên Cao Bá Quát hay quan sát, tìm tòi, khám phácuộc sống xung quanh mình Ông đi nhiều nơi, trải qua những cảnh sóng gió trênquê hương mình, nước ngoài Những dịp này đã giúp Cao Bá Quát có cái nhìn sâusắc hơn về đời sống của nhân dân mình, về những giá trị tinh thần của dân tộcđồng thời cũng nới rộng một tầm nhìn, một cách nghĩ trước những cái lạ mắt.Những cái mới tiến bộ ở nước ngoài đã tác động và ngấm ngầm lay chuyển ý nghĩ,tình cảm, thái độ trong Cao Bá Quát Ông nhận thấy những mối nguy cơ đe dọa từphương Tây Ông hưởng ứng những cái tiến bộ, sẵn sàng cởi bỏ những ràng buộc

có hại… Ở Cao Bá Quát có sự phá vỡ cách sống, cách nghĩ của một tri thức Nhogia Chính lẽ đó, về sau, ông dám đứng lên đấu tranh, hi sinh vì dân, vì nước

Cuộc đời không như ý nguyện nhưng Cao Bá Quát vẫn cứ lạc quan trướcmọi hoàn cảnh dù khi thất chí, khi nghèo đói, khi bị tù đày, tra trấn Bản lĩnh củacon người giàu nghị lực, có lý tưởng sống cao đẹp đâu chịu khuất phục trước mọihoàn cảnh, lúc nào cũng phấn đấu vươn lên, lúc nào cũng canh cánh tâm sự lo đờithái bình, người người no ấm

Cao Bá Quát sống trong cảnh bần hàn ngay từ thuở nhỏ nên ông biết quýtrọng những tình cảm thân thuộc từ phía gia đình, bạn bè, quê hương Đó cũngchính là cái nôi để nuôi dưỡng ở ông những tình cảm tốt đẹp sau này đối với những

Trang 5

đồng bào cùng khổ, những ai bị áp bức và bất hạnh trên đời Quả thật, Cao Bá Quát

có những phẩm chất tốt đẹp tiêu biểu cho con người Việt Nam: vì dân vì nước,trung dũng, kiên cường giàu nghị lực mà vẫn đậm tình người, tình đồng loại Conngười ngoài đời và con người trong văn chương Cao Bá Quát luôn nhất quán trong

ý nghĩ và hành động, trước sau như một: Tất cả vì cơm no áo ấm, vì hạnh phúc củanhân dân

2 Sự nghiệp sáng tác thơ chữ Hán của Cao Bá Quát

Cao Bá Quát sáng tác bằng chữ Nôm lẫn chữ Hán, với số lượng lớn, thể loại phong phú Nhưng đáng lưu ý là ở thể loại thơ, nhất là thơ chữ Hán với số lượng

1267 bài

Thơ Cao Bá Quát phong phú nội dung cảm hứng Trước hết, văn thơ của ông

là tiếng nói của một cá nhân trước cuộc đời, trước thời đại Một cá nhân ý thức về

mình, có trách nhiệm với đời, lòng tràn ngập tư tưởng nhập thế tích cực với khátvọng cống hiến tài năng cho đất nước Một cá nhân muốn vươn mình lên trongcuộc sống, lạc quan, kiên trì, giàu nghị lực trong mọi hoàn cảnh Cá nhân đó còn làmột con người có tinh thần tự do, khí phách Thơ văn ông còn bộc lộ tâm hồnphóng khoáng và một trí tuệ sáng suốt tiếp nhận những hương vị, những màu sắc

xa lạ với cái nhìn truyền thống Không chỉ vậy, trong thơ Cao Bá Quát còn chothấy tình cảm tha thiết gắn bó với quê hương xứ sở, với gia đình, bạn bè và nhữngcon người cùng khổ; niềm tự hào với quá khứ lịch sử dân tộc và thái độ phê phánmạnh mẽ triều chính đương thời

Cao Bá Quát đã tỏ rõ khí phách hiên ngang, tư thế hào hùng vượt hoàn cảnhtrong không khí thơ ca của nhiều người nặng mang màu sắc bi quan, mang nặngtinh thần chán nản và uể oải, do sự thống trị nặng nề của tư tưởng thần quyền vàthế quyền Ngoài những bài thơ thể hiện tâm sự cá nhân của mình, Cao Bá Quátviết nhiều bài thơ về thiên nhiên, thể hiện tình yêu, tình cảm gắn bó với nét trữ tìnhsâu lắng, mạnh mẽ, hào hùng

Trang 6

CHƯƠNG 2: CÁC KIỂU CÂU CHIA THEO MỤC ĐÍCH NÓI TRONG THƠ

CAO BÁ QUÁT

Ngữ pháp tiếng Hán xét về hình thức có hai kiểu câu: câu đơn và câu phức Xét về mặt ý nghĩa thì có câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến và câu cảm thán Như vậy, ngữ pháp tiếng Hán cũng giống ngữ pháp tiếng Việt, chỉ có điểm khác nhau về trật tự câu, nhất là phần bổ ngữ

Qua việc khảo sát những bài thơ của Cao Bá Quát thì câu trần thuật xuất hiện nhiềunhất, kế đến là câu nghi vấn, câu cảm thán và câu cầu khiến

1 Câu trần thuật

Câu trần thuật xuất hiện nhiều trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát Bởi chúng cóchức năng thông báo, rất tiện lợi trong miêu tả và trần thuật, miêu tả những điều mắt thấy tai nghe trên những chặng hành trình đi thi, làm quan Cao Bá Quát muốnphơi tả hiện thực cuộc sống cho mọi người biết, cả những thực tế tích lũy từ vốn sống của bản thân, ông cũng không che giấu Chính vì thế mà câu trần thuật chiếm

đa số, kế đến là câu trần thuật quá khứ, câu trần thuật tương lai

Có thể là sự việc liên quan đến bản thân:

Khả dục đồ Nam dục kí tiên

(Nhĩ phố tảo hồng)

(Lại tính chuyện về Nam toan gửi thư)

Lai giả khả truy dư!

(Tương đáo cố hương)

(May ra sau này có thể không lỡ nữa)

Có thể là những mong ước bạn bè:

Tảo báo thử giang xuân

(Tống Sơn Tây học Chính Nguyễn Đài chi ly)

(Sớm báo tin xuân ở ngã ba sông này)

Có thể là niềm mong ước cho nhiều người:

Ký thủ lai thời xuân sắc hảo

Dữ nhân cộng tác họa đồ khan

(Tài mai)

Trang 7

Sẽ thành một bức tranh cho mọi người xem chung)

Câu trần thuật quá khứ trong thơ chữ Hán của Cao Bá Quát thường dùng

để miêu tả những sự việc liên quan đến bản thân, hoặc những sự kiện có tác động

đến bản thân đã trôi qua theo thời gian Câu trần thuật quá khứ dễ tìm thấy qua sự

xuất hiện của các từ dĩ, thành, ký… Một số câu khác mang ý nghĩa quá khứ, người

đọc nhận biết qua cách trình bày của tác giả Ông chỉ mượn việc quá khứ để đề cậpđến cái hiện tại của cuộc sống

Đó là những kỉ niệm đẹp của thời trẻ cùng vui chơi, cùng thưởng ngoạn:

Cựu du hảo tại liên đồng bệnh

(Để ngụ bệnh trung giản chư hữu)

(Cuộc chơi ngày trước vui thú vì cảm thông người đồng bệnh)

Ký đắc đăng cao túy kỷ hồi

(Cửu nhật họa Di Xuân kiến ký thứ vận)

(Còn nhớ lên cao say bao lần)

Có khi hối tiếc về công mài bút, văn chương:

Thập thế ác bút phí quang tâm

(Phục giản Phương Đình)

(Mười năm cầm bút phí cả thời giờ)

Tảo tín văn chương bất trị tiền

(Thuật hoài)

(Ta đã sớm tin rằng văn chương là điều chẳng đáng giá)

Có khi là nỗi đau khi nhìn lại những sự việc đã qua theo thời gian:

Tư lượng vãng sự thiêm trù tướng

(Khách hộ cảm hoài)

(Đắn đo suy nghĩ việc đã qua thêm buồn)

Thiên ly quan san sự dĩ phi

(Mộ xuân tức cảnh hoài nhân)

(Nơi quan san ngàn dặm việc đã sai rồi)

Có khi than thở thương cho mình, cho bạn:

Dữ quân linh lạc cộng thương hoài

(Cửu nhật họa Di Xuân kiến ký thứ vận)

(Ta với bác đã suy yếu mà cùng thương nhớ nhau)

Cộng thán phùng tương vãn

(Du Hội An phùng vị thành ca giả)

Trang 8

(Cùng than thở gặp nhau đã muộn)Hay diễn tả ý định lui về ẩn dật trước đó:

Dĩ ước điền viên lưu ngã nhật

(Họa Lục Phóng Ông chinh nguyệt ngũ)

(Đã hẹn ngày lưu lại chốn điền viên)

Ngô nghi dĩ quyết thập niên sơ

(Hạ dạ vấn bốc đồng Hành Phủ)

(Ý ngờ của ta đã quyết từ mười năm trước)

Có khi hướng đến chuyện xưa với những vị anh hùng:

Anh hùng vãng sự ủy thương ba (Du Nam Tào sơn tự, lâu thượng ký vọng đề bích trình Thúc Minh – kỳ nhất)

(Chuyện cũ của các anh hùng, đã gửi cho làn sóng biếc)

Dao tưởng đương niên hành lạc xứ (Hoa Thận Tư xuân nhật đồng chư hữu đăng Trấn Vũ

quán lâu vọng hồ kiến ký thứ vận)

(Vời vợi nhớ lại nơi hành lạc năm xưa)

Câu trần thuật hiện tại ở dạng phủ định, với sự xuất hiện của các chữ vô

(không), bất (không), phi (không), nan (khó)… Có nhiều dạng phủ định.

Chẳng hạn, như những câu miêu tả cảnh vật, sự việc hay con người ở trạng thái không của nó Loại câu này chiến khá nhiều

(Mặt trời u ám, ban mai không có ánh nắng)

Có khi là ao ước chưa làm hoặc việc đó chưa thực hiện được:

Phỏng đạo danh sơn nguyện vị thù

(Du Nam Tào sơn tự, lầu thượng ký vọng

đề bích trình Thúc Minh – kỳ nhị)

(Ước nguyện hỏi đạo ở núi nổi tiếng chưa được đền đáp)

Vô hạn hảo sơn du vị biến

(Vãn quy)

Trang 9

(Biết bao núi đẹp chưa dạo chơi khắp)

Một khía cạnh khác của câu trần thuật hiện tại, đó là các loại câu theo các mặt quan hệ Có quan hệ điều kiện (nếu…thì…), quan hệ nguyên nhân- kết quả

(vì…nên…), quan hệ nhượng bộ (tuy…nhưng…) Những quan hệ này được hiểu ngầm, vì thế các từ chỉ quan hệ thường không xuất hiện nhưng người đọc vẫn hiểu

Chẳng hạn, có thể kể đến quan hệ điều kiện (nếu…thì…)

Bất tác quá đáng ngộ thiên thuyền (Di Xuân dĩ bồn liên vi thu phong sở tồi hữu thi kiến ký,

nhân thứ kì vận, ca dĩ họa chi)

(Không có sự gì quá đáng thì bản tính ta vẫn vẹn toàn)Quan hệ nhượng bộ (tuy…nhưng…)

Bất tài diệc nhân dã

Trang 10

Tâm nạm độc tự do

(Thuật hoài)

(Sự đã chưa như ýLòng cũng khó mà được tự do)

2 Câu nghi vấn

Thơ chữ Hán của Cao Bá Quát sử dụng nhiều câu nghi vấn Dấu hiệu để

nhận biết câu nghi vấn là căn cứ vào dấu câu hay sự xuất hiện của các từ thùy, kỷ,

hà, hà nhân, vị, vấn, …Trong các câu nghi vấn, Cao Bá Quát luôn cần một lời giải

đáp, một câu trả lời từ chính hình thức nghi vấn này, thậm chí ông hỏi để tự mình nghĩ ngợi, tự mình tìm đường cho mình Bởi vậy, đối tượng nghi vấn của ông rất rộng, Cao Bá Quát không chỉ hỏi người, mà còn hỏi cả trời, đất, cỏ, cây, hoa lá, …Câu hỏi của Cao Bá Quát luôn hướng đến những sự vật hiện tượng cụ thể gió, trăng, hoa, hiệm tượng mưa, sấm chớp…

Mê dương hà sự nệ ngô hành?

(Du Đằng giang dữ hữu nhân đăng Kim Chung tự,

túy hậu lưu đề, tính tự)

(Cỏ mê dương cớ sao vướng bước ta đi?)

Dương hoa vô lực vị thùy mang?

(Du mỗ cố trạch, dạ thính đàn tranh)

(Hoa dương liễu yếu ớt, vì ai mà tất tả bay?)Câu hỏi hướng đến bạn bè, người thân, người quen, người xưa:

Vấn quân phụ hà chi?

(Trấn An lệnh Lê Tử chi nhiệm, đặc lai tương phỏng,

kỳ hữu sở tặng, thư dĩ dữ chi)

(Hỏi bác: bây giờ lại đi đâu?)

Tiếu sát Tầm Dương túy Tư Mã,

Trang 11

Thanh sàm hà sự lệ tung hoành?

(Đằng Châu ca giả Phú Nhi ký hữu sở dữ,

Nam hành giả thùy thị, Nhật yến phục hà cầu?

(Chí gia)

(Người đi về phía Nam là ai vậy?

Mặt trời chiều rồi mà còn tìm gì?)

Thử biệt hựu an chi?

(Phó Nam cung, xuất giao môn, biệt chư đệ tử)

(Lần này lại từ biệt để đi đâu nhỉ?)

Si tâm tương chiếu nại khanh?

(Ký hận – kỳ nhị)

(Lòng ngây thơ đã thấu nhau rồi, nhưng biết phải làm thế

nào hỡi mình?)

Nhất ban phong nguyệt nhân hà tại?

(Mộ xuân tức cảnh hoài nhân)

(Gío trăng vẫn thế, còn người ở đâu?)Hỏi để chia sẻ cảm thông với nỗi niềm của người xưa:

Vô tửu thùy kiêu Nguyễn Bộ binh?

Trang 12

(Du Đằng giang dữ hữu nhân đăng Kim Chung tự,

túy hậu lưu đề, tính tự)

(Không có rượu, ai tưới cho Bộ binh họ Nguyễn?)

Ỷ lâu hà sự thiếu Thiếu Lăng ông

(Đại vũ – kỳ nhị)

(Ông lão Thiếu Lăng việc gì mà đứng tựa lầu?)

Phiêu lưu nhữ hạt cổ?

(Cái tử)

(Nhà ngươi phiêu bạt như thế, nào có tội gì?)

Có khi hỏi để khẳng định một điều muốn nói:

Hoan thưởng na khả đình?

(Đề Trần Thận Tư học quán, thứ vận Phương Đình vận

- kỳ bát)

(Vui mừng thưởng ngoạn dừng sao được?)

Thùy năng liễu thông tắc

(Đắc gia thư, thị nhật tác)

(Ai lại có thể không có sự may rủi)

3 Câu cầu khiến

Câu cầu khiến trong thơ Cao Bá Quát ta thường ít gặp Dấu hiệu để nhận

biết loại thơ này là sự xuất hiện của các từ tu, mạc, thỉnh, khuyến…; còn lại là căn

cứ vào nghĩa của câu Trong thơ Thánh Quát rất ít khi giáo dục ai mà thường chỉ

là khuyên và yêu cầu mà thôi

Đối tượng của ông khuyên là các trẻ con, là quý ngài, là bạn bè:

Nhi nữ mạc kiêu du

(Cái tử)

Trang 13

(Các trẻ em đừng nên trêu chọc!)

Chư quân mạc tiết thiên đình sự

(Đặng xuân mộng quán)

(Qúy ngài chớ tiết lộ chuyện thiên đình)

Mạc uống cô chu thử dạ tâm

(Túy hậu túng bút thị Bùi Nhị)

(Chớ để phí tấm lòng đêm nay nơi con thuyền lẻ)Khuyên mọi người thành thật với lòng mình ngay cả trong cách sống:

Sinh nhân vô dĩ tục tình lưu

(Lưu vận họa Hoán Phủ)

(Sống với nhau không nên giữ cái tình theo thế tục)

được thể hiện qua các từ mạc, tu, thỉnh.

Thỉnh quân bắc vọng, khan tích nhân

(Dữ thi hữu Phan Long Trân du Côn Sơn,

nhân tác Côn Sơn hành vân)

(Anh hãy quay về phía bắc mà nhìn người thuở trước)

Trang 14

(Đừng nghĩ viễn vong chi nữa)

Tu tín thử ông thái điềm đạm

(Lưu vận họa Hoán hoán phủ)

(Phải tin rằng ông này quá điềm đạm)

4 Câu cảm thán

Dấu hiệu để nhận biết loai câu này qua hình thức dấu chấm than cuối câu hay sự

xuất hiện của các từ ô hô, liên, thán, thảm thê, vô hạn… Câu cảm thường diễn tả

những lời than, những thương xót, nuối tiếc hay những xúc động tình cảm

Đó là những lời than về tình cốt nhục sinh ly tử biệt, lời than về nỗi mất con, về trách nhiệm của những kẻ chăn dân chưa thật “cẩn thận”:

(Sao tôi thảm thiết!)

Ô hô! Ngã hữu dân, Thân tai tại sát mi!

(Đồng tử mục đường lang)

(Than ôi! Những người có trách nhiệm chăn dân của chúng ta!

Trang 15

Phải cẩn thận, xét đến vẻ lông mày của mọi người)

Có khi là nỗi ngậm ngủi của bản thân vì bị thói đời lôi cuốn, vì ở hoàn cảnh đất nước nhớ quê hay nỗi uất ức không thể trút bỏ

Tự thán du du ủy tục tình!

(Đăng Sơn Hoành)

(Ngậm ngùi cho mình cứ để thói đời lôi cuốn mãi)

Khởi thức Nam nhân hữu biệt ly!

(Dương phụ hành)

(Đâu biết có một người Nam đang ở cảnh biệt ly!)

Bất khan đề oán mãn giang thành

(Ký hận- Kỳ nhị)

(Không nỡ đem nỗi oán hờn mà đề khắp chốn giang thành!)

Có khi là một nỗi đau thể xác lẫn tâm hồn vì thương nhớ bạn, vì không thể kìm nén cảm xúc:

Hà xứ tương tư bất đoạn hồn!

(Trệ vũ chung dạ cảm tác)

(Đã nhớ nhau thì tâm hồn ở đâu mà chẳng tan nát!)

Bạch giả chính dương cuồng!

(Văn Lưu Nguyệt Trì Bắc hành khuyết vi diện biệt phụng kí

- Kỳ nhất)

(Rằng: Lý Bạch lúc này đang giả điên!)

Có khi diễn tả nỗi băn khoăn, day dứt của con người hay tình thế bi đát của con

người qua từ thán, hỹ và hình thức dấu câu:

Nhất bộ nhất hồi thán!

(Phụ tương tử)

Trang 16

(Mỗi bước lại ngập ngừng than thở)

Lệ phục chiếu tăng ngô tử hỹ!

(Phúc lâm lão)

(Lại còn chiếu lệ tăng thêm, thì tôi chết mất)

Hu ta lão hy! Chỉ bại tường

(Phúc lâm lão)

(Nhưng than ôi! Tôi già mất rồi)

Trang 17

đời và thế giới xung quanh

Trang 18

Muôn dặm sông hồ, đầy trời thóc lúa, Lại tính chuyện về Nam toan gửi thư; Cuối năm, quê cũ người chưa về đến,Cầu ngọc lối về chỉ thấy gió và khóiDịch thơ:

Muôn dặm nước non đầy thóc lúa,

Về Nam đã chực nhắn tin nhàn;

Cuối năm, làng cũ, người chưa lại,Cầu ngọc, đường về sương khói lan.2

Phiên âm: Tương đáo cố hương

Cao cao mộc miên thụ,

Cổ cán hà thanh sơ!

Thiều thiều vọng thử bang,Quyết hữu cao nhân lư

Trúc mật phú dư kính,Thảo phong nhiễu tiền trừ:

Bích chiểu hý tiêm lân,Lục đẳng tú gia sơ

Y tích truyền kinh xứ,

Trang 19

Yển tức thứ hữu dư!

Thanh nhàn duy thủ chuyết,Ngô khế tại huyền hư

Tự bão khuê tổ thượng

Cây gạo cao cao kia,Gốc già mà ngọn thanh đẹp sao!

Xa xa trông vào trong làng,Nơi có nhà bậc “cao nhân” ở Tre rậm che kín lối đi,

Từ khi ôm ấp chí hướng cầm ngọc khuê đeo dây ấn,Mới xa rời nơi gò hang

Đã lâu năm chưa về,Chỉ vì sợ mệnh lệnh nhà vua

Bơ phờ nay lại về đây

Ấm ức không biết nghĩ sao

Ước ao không phụ tấm lòng xưa,May ra sau này có thể không thể lỡ nữa

3 Tài mai

Trang 20

Chữ Hán:

栽梅

施將梅 籽擲山間一握清姿寄碧巒寄此來時春色好與人共作畫圖看Phiên âm: Tài mai

Thi tương mai tử trịch sơn gian,Nhất ác thanh tư kỳ bích loan

Ký thủ lai thời xuân sắc hảo

Dữ nhân công tác họa đồ khan

Dịch nghĩa:

Trồng maiThử đem hạt mai ném lên trên núi,Một nắm giống thanh tao gửi lên ngọn đá xanh.Hãy nhớ lấy: Sau này, khi vẻ xuân tươi tốt,

Sẽ thành một bức tranh cho mọi người soi chung

Dịch thơ:

Đầu non nắm hạt mai gieoGiống thanh gửi chốn núi đèo xanh tươiNữa mai xuân điểm bầu trời

Bức tranh tuyệt tác cho đời soi chung

4 Trệ vũ chung dạ cảm tác

Chữ Hán:

滯雨終夜感作細雨霏霏夜閉門,

孤燈明滅悄無言。

Trang 21

何處相思不斷魂。

Phiên âm:

Trệ vũ chung dạ cảm tác

Tế vũ phi phi dạ bế môn,

Cô đăng minh diệt tiễu vô ngôn,Thiên biên chinh khách khuê trung phụ,

Hà xứ tương tư bất đoạn hồn!

5 Ký hận cổ ý kì 2

Chữ Hán:

寄恨古意其二余生羇绊只微名,

Trang 22

Hàn diệp thu vân vô hạn sự,Bất kham đề oán mãn giang thành.

Hoa vàng đẫm sương, tưởng nhớ ngấn lệ ngày trước,Nhạn trắng kêu trước gió, mơ màng tiếng bạn gọi mình

Lạ rụng mây thu, kể ra biết bao nhiêu chuyện,Không nỡ đem nỗi oán hờn mà đề khắp chốn giang thành!

6 Dương phụ hành

Chữ Hán:

洋婦行 西洋少婦衣如雪,

Trang 23

Bả duệ nam nam hướng lang thuyết

Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì,

Dạ hàn vô ná hải phong xuy

Phiên thân cánh thiến lang phù khởi, Khởi thức Nam nhân hữu biệt ly!

Dịch nghĩa:

Người thiếu phụ phương Tây áo như tuyếtTựa vai chồng dưới bóng trăng thanhNhìn thuyền người Nam thấy đèn lửa sángKéo áo chồng thì thầm nói

Tay cầm uể oải một chén sữaĐêm lạnh à đây gió biển thổiNghiêng mình đòi chồng đỡ dậyBiết chăng có người Nam đang chịu cảnh biệt ly

7 Đăng Hoành Sơn

Chữ Hán:

登橫山

山外青山萬里程,

山邊野草送人行 。英雄莫挽千年國,

Trang 24

Sơn ngại thanh sơn vạn lý trình,Sơn biên dã thảo tống nhân hành.Anh hùng mạc vãn thiên niên quốc,Chinh chiến không tồn nhất luỹ danh.Bắc lĩnh đoạn vân thu túc vũ,

Nam trang sơ hiểu đới tân tình,

Há sơn phản giác đăng sơn khổ,

Đồng tử khởi bất trí,

Sở thất phi nhĩ tri

Ô hô! ngã hữu dân,

Trang 25

Dịch nghĩa: Chú bé chăn con bọ ngựa

Chú bé chăn con bọ ngựaBuộc nó bằng sợi tơ trắng

Bị tơ trắng chằng chịt vào mình

Bọ ngựa chết ở trên cành cây khôChú bé không phải là không khônNhưng hỏng ở chỗ nào, chú không biết tớiThan ôi! Những người có trách nhiệm chăn dân của chúngta!

Phải cẩn thận, xét đến vẻ lông mày của mọi người

9 Khách lộ cảm hoài

Chữ Hán:

客路感懷 楊柳青旗賣酒家,

Trang 26

Khách lộ na kham hoàn trở vũ,

Ly nhân chỉ thị phạ khan hoa

Tư lường vãng sự thiêm trù trướng,Vân thụ thiên nhai nhất mộng soa (sai)

Dịch nghĩa:

Dương liễu, cờ xanh, quán bán rượu,Tạm dừng xe cạnh quán giữa khoảng râm xanh biếc

Oanh vàng cùng đứng (trong lồng) hót đón gió,

Én tía bay ngược chiều nhau lướt nhẹ mé nước

Đường xa nhà quá sức lại còn bị mưa ngăn trở,Người lìa nhà chỉ sợ phải xem hoa

Đắn đo suy nghĩ việc đã qua thêm buồn phiền,Mây (chiều) cây (xanh) nơi chân trời cùng mộng ước không thành

10 Mộng vong nữ

Chữ Hán:

夢亡女 親遠吾當病,

Trang 27

Hốt nhiên trung dạ mộng,Sậu kiến lệ như thôi.

Y phục hàn nhưng phá,Dung nhan thảm bất khai

Thái diêm bần vị khuyết,Tân khổ nhữ quy lai!

Dịch nghĩa: Mơ thấy người con gái đã mất

Cha mẹ xa, mình thì đang ốmNhớ con mà vẫn phải nén đau thươngBỗng nhiên trong giấc mơ lúc nửa đêmNhác trông thấy con mà nước mắt giàn giụa

Áo quần đã không đủ ấm lại ráchNét mặt buồn bã không tươi(Con ạ!) Nhà ta tuy nghèo nhưng dưa muối vẫn không thiếu

Dù có đói khổ thì con hãy cứ trở về!

11 Cửu nhật họa Di Xuân kiến ký thứ vận

Chữ Hán:

九日和怡春見寄次韻 黃花灼灼似金杯,

Cửu nhật hoạ Di Xuân kiến ký thứ vận

Trang 28

Hoàng hoa chước chước tự kim bôi,

Ký đắc đăng cao tuý kỷ hồi

Thái trích vị tri hà nhật hảo,Tiêu điều bất kiến cập kim khai

Nhất thu vũ khổ nhân thuỳ kiện,Tam kính sương thâm mộ chuyển thôi.Trù trướng tây phong giang thượng khách,

Dữ quân linh lạc cộng thương hoài

12 Du Hội An phùng Vị thành ca giả

Chữ Hán:

遊會安逢渭城歌者 共歎相逢晚,

Quản huyền kim dạ nguyệt,Hương quốc kỷ thu phong

Lệ tận tôn nhưng lục,Tâm hôi chúc tự hồng,Cựu du phương lạc lạc,

Trang 29

13 Du Nam Tào sơn tự, lâu thượng ký vọng đề bích trình Thúc Minh kỳ 1

Chữ Hán:

遊南曹山寺,樓上寄望題壁呈叔明其一廿年風景卻重過,

尖削垂空庭。

Ngày đăng: 19/05/2020, 16:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w