NỘI DUNG ÔN TẬP MÔN HỌC PHÁP LUẬT KINH TẾ HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CAO HỌC ĐẠI HỌC Câu 1: Thực trạng hệ thống pháp luật kinh tế tài chính ở Việt Nam hiện nay (Trang 1 – 4) Câu 2: Phân tích ưu nhược điểm nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Tại sao pháp luật là công cụ hiệu quả nhất được nhà nước sử dụng để quản lý nhà nước về kinh tế (Trang 4 – 6) Câu 3: So sánh những vấn đề pháp lý giữa công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên và công ty cổ phần. So với công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên thì công ty cổ phần có lợi thế gì hơn trong quá trình kinh doanh? (Trang 6 – 10) Câu 4: Những điểm mới của Luật kế toán năm 2015 với Luật kế toán 2003. Tại sao kinh doanh dịch vụ kế toán kiểm toán là ngành kinh doanh có điều kiện? Giải thích tại sao kinh doanh trong ngành phải tuân theo những điều kiện đó? (Trang 10 – 13) Câu 5: Hệ thống pháp luật thuế ở Việt Nam (Trang 13 – 17) Câu 6: Nội dung quyền tự chủ về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập có thu bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư. Tại sao phải tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công lập này theo NĐ 162015CP (Trang 17 – 20) Câu 7: Thực trạng pháp luật về quyền tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam. Định hướng và các giải pháp hoàn thiện. (Trang 20 – 23)
Trang 1Đề bài:
Câu 1: Thực trạng hệ thống pháp luật kinh tế tài chính ở Việt Nam hiện nay (Trang 1 – 4)
Câu 2: Phân tích ưu nhược điểm nền kinh tế thị trường ở Việt Nam Tại sao pháp luật là công cụ hiệu quả nhất được nhà nước sử dụng để quản lý nhà nước về kinh tế (Trang 4 – 6)
Câu 3: So sánh những vấn đề pháp lý giữa công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên và công ty cổ phần So với công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên thì công ty cổ phần có lợi thế gì hơn trong quá trình kinh doanh? (Trang 6 – 10)
Câu 4: Những điểm mới của Luật kế toán năm 2015 với Luật kế toán 2003 Tại sao kinh doanh dịch vụ kế toán kiểm toán là ngành kinh doanh có điều kiện? Giải thích tại sao kinh doanh trong ngành phải tuân theo những điều kiện đó? (Trang 10 – 13) Câu 5: Hệ thống pháp luật thuế ở Việt Nam (Trang 13 – 17)
Câu 6: Nội dung quyền tự chủ về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập có thu bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư Tại sao phải tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công lập này theo NĐ 16/2015/CP (Trang 17 – 20)
Câu 7: Thực trạng pháp luật về quyền tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam Định hướng và các giải pháp hoàn thiện (Trang 20 – 23)
- Pháp luật, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các nguồn lực kinh tế đang được sử dụng như công cụ chủ yếu
để quản lý nhà nước kinh tế Đại hội Đảng lần thứ XI tiếp tục chủ trương sử dụng pháp luật, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các nguồn lực kinh tế trong quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việc nhấn mạnh vai trò của pháp luật, cơ chế, chính sách trước các công cụ chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các nguồn lực kinh tế cho thấy sự thay đổi trong nhận thức của Đại hội Đảng lần thứ XI
- Nhà nước đã hình thành cơ sở pháp lý cần thiết để tổ chức, vận hành, quản lý nền kinh tế thị trường với hệ thống các quy phạm pháp luật về sở hữu, quyền tự do kinh doanh, về cạnh tranh và chống độc quyền, về các loại thị trường, về bình đẳng giữa các doanh nghiệp… Hệ thống pháp luật kinh tế hiện hành đã thay thế hoàn toàn cơ sở pháp lý của nền kinh tế kế hoạch hóa, quan liêu,bao cấp Ngoài các quy định do Nhà nước ban hành, một số nguyên tắc cho phép sử dụng quy tắc, chuẩn mực xã hội về/hoặc liên quan đến kinh tế, kể cả các quy tắc hay chuẩn mực phi chính thức đã được thừa nhận Đại hội Đảng lần thứ IX chính thức đưa ra khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” và khái quát những nhân tố cấu thành cơ bản của nó Đại hội Đảng lầnthứ XI đã làm rõ thêm nội dung của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Theo đó, “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đây là một hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của kinh
tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế thị trường phải được vận dụng đầy đủ, linh hoạt để phát huy mạnh mẽ và có hiệu quả mọi nguồn lực…” Đến Đại hội lần thứ XII, Đảng ta xác định rõ hơn yêu cầu xây dựng nền tảng pháp lý cho nền kinh tế thị trường Theo đó, đến năm 2020, nước ta phấn đấu cơ bản hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế
- Hệ thống pháp luật, chính sách kinh tế đã được xây dựng tương đối đồng bộ, cơ bản phù hợp với cơ chế thị trường và đáp ứng được ở mức độ nhất định yêu cầu, đòi hỏi của sự phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
1
Trang 2- Trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, hoạt động lập pháp, lập quy tập trung tạo cơ sở pháp lý cho việc cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, bảo đảm trật tự quản lý hành chính nhà nước, đấu tranh chống tội phạm Cùng với quá trình đổi mới chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, pháp luật hướng nhiều hơn vào việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực thương mại, dân sự, hội nhập kinh tế quốc tế và giải quyết vấn đề xã hội, phát triển bền vững.
- Dân chủ trong lĩnh vực kinh tế đã được phản ánh và bảo đảm trong pháp luật Tính chất dân chủ của pháp luật ở nước ta thể hiện
ở sự ghi nhận trong pháp luật các lợi ích đa dạng của các nhóm xã hội, thành phần và khu vực kinh tế; giữa trung ương và địa phương; giữa các địa phương và vùng lãnh thổ… Cơ chế xây dựng pháp luật ngày càng dân chủ, công khai, tạo cơ hội và thu hút
sự tham gia thảo luận, đóng góp của các tầng lớp nhân dân, doanh nghiệp Các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước ở trungương và địa phương ban hành đã được đăng tải thường xuyên trong Công báo của trung ương và địa phương Các quyết định giámđốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã được công bố công khai Các luật về thủ tục hành chính, thủ tục pháp lý và thủ tục tố tụng đã được ban hành và thường xuyên sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, tạo cơ sở cho sự phát triển của hệ thống tài phán ở nước ta
- Pháp luật kinh tế đã tạo ra mặt bằng pháp lý chung cho các loại hình doanh nghiệp, đảm bảo sự bình đẳng về pháp lý trong kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Sự hiện diện của Luật Đầu tư năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014 áp dụng chung cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế là minh chứng cho điều đó
- Các quyền con người, quyền công dân về kinh tế làm nền tảng cho chế độ kinh tế đã được quy định trong Hiến pháp, đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất và được cụ thể hóa trong nhiều đạo luật và văn bản dưới luật Có thể kể đến các quyền con người, quyềncông dân quan trọng trong lĩnh vực kinh tế đã được pháp luật ghi nhận, bảo đảm và bảo vệ như quyền tư hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền lao động, quyền tự do nghề nghiệp, quyền tham gia công đoàn Hiến pháp ghi nhận quyền bình đẳng trong các quan hệ kinh tế; bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế…
- Pháp luật đã tác động đến nhận thức xã hội, làm cho đại bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, người dân và doanh nghiệp hiểu
rõ hơn giá trị và hạn chế của kinh tế thị trường, định hướng hành vi theo nhu cầu của thị trường Nhận thức, ý thức tôn trọng, tuân thủ, chấp hành, thực hiện pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức, doanh nghiệp và người dân đã cao hơn Sự chuyển biến nhận thức này cũng là kết quả của đổi mới nhận thức về nhà nước pháp quyền và vai trò của pháp luật trong nhà nước pháp quyền
- Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, và quan hệ đặc biệt với nhiều nước Thể chế hóa quan điểm của Đảng trong Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 40/QĐ-TTg ngày 07/01/2016 về việc phê duyệt Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Việc ký kết nhiều điều ước, hiệp định song phương và đa phương về thương mại, đầu tư, tránh đánh thuế hai lần, đặc biệt là việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới đã tạo cơ sở pháp lý và tiền đề, điều kiện quan trọng về thể chế để nền kinh tế nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn diện vào nền kinh tế quốc tế; để pháp luật trong nước phù hợp và tương thích với pháp luật quốc tế; đồng thời, đảm bảo tính quốc tế của sự phát triển kinh tế thị trường nướcta
- Nhiều quan hệ xã hội mới đã được pháp luật điều chỉnh Chẳng hạn, khái niệm quyền tài sản theo nghĩa bao gồm quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt và hưởng lợi từ sử dụng tài sản đã được quy định trong Hiến pháp Kinh tế tư nhân đã được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế Đây sẽ là tiền đề chính trị, pháp lý hình thành các quan hệ pháp luật mới Ngoài những thành tựu nói trên, những cải cách pháp luật kinh tế trong thời gian qua tiếp tục được nói đến qua việc cải cách pháp luật vềthủ tục kinh doanh, đầu tư theo hướng đơn giản hơn Phân cấp trong quản lý kinh tế ngày càng rõ ràng và mức độ phân cấp cho chính quyền địa phương ngày càng nhiều hơn
* Nhược điểm
- Công tác thể chế hóa và ban hành chính sách, pháp luật cụ thể hóa đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, cũng như cụ thể hóa, hướng dẫn thi hành luật, trong đó có pháp luật kinh tế vẫn còn chậm Việc thường xuyên phải điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh chưa được khắc phục Việc chuẩn bị một số dự án luật chưa bảo đảm tiến độ và chất lượng trình Quốc hội Điều này ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu của đường lối, chính sách
- Chất lượng hệ thống chính sách và pháp luật kinh tế chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của Nhà nước pháp quyền Hệ thống
pháp luật, cơ chế, chính sách chưa hoàn chỉnh và đồng bộ, chất lượng không cao, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện ba đột phá chiến lược:
2
Trang 3+ Hiến pháp và một số đạo luật chưa thể áp dụng nếu không có các văn bản dưới luật cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành Các văn bản dưới luật vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Nhiều văn bản pháp luật kinh tế cần có số lượng lớncác văn bản hướng dẫn thi hành Điều này chưa thực sự phù hợp với yêu cầu đảm bảo tính tối thượng của Hiến pháp và của các đạo luật trong Nhà nước pháp quyền Đồng thời, việc văn bản luật cần có nhiều văn bản hướng dẫn thi hành ít nhiều gây khó khăncho việc đảm bảo tính thống nhất và tính pháp chế của pháp luật Thực trạng này là do các văn bản luật thường có phạm vi và đối tượng điều chỉnh rộng.
+ Cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chức năng định hướng, kiểm soát, giám sát, điều tiết, khuyến khích và trợ giúp của Nhà nước đối với thị trường và doanh nghiệp chưa đầy đủ và chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường Điều này có thể thấy qua sự thiếu vắng luật quy hoạch
+ Nội dung của một số văn bản pháp luật chưa sát với thực tế, chưa theo kịp nhu cầu xây dựng và phát triển kinh tế thị trường Không ít quy định của luật còn nặng về nguyên tắc chung, thiếu tính ổn định, chưa xác định được nguồn lực để triển khai thực hiện; thiếu tính khả thi trong pháp luật trọng tài thương mại
- Kết quả cải cách hệ thống pháp luật, cải cách hành chính và cải cách tư pháp chưa đồng bộ và theo kịp yêu cầu phát triển kinh tếthị trường
- Sự hiểu biết và ý thức pháp luật của các doanh nghiệp, nhất là pháp luật về cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, hội nhập quốc tế còn thấp Nguyên nhân là do hiệu quả tuyên truyền pháp luật chưa cao và doanh nghiệp chưa thực sự coi trọng việc tìm hiểu pháp luật
- Việc ưu tiên nguồn lực cho hoạt động xây dựng chính sách, lập pháp trong lĩnh vực kinh tế là cần thiết, nhưng điều này ít nhiều ảnh hưởng đến việc đảm bảo tính cân đối và đồng bộ của hệ thống pháp luật trong điều chỉnh các lĩnh vực khác
- Chi phí thực thi pháp luật còn cao, chẳng hạn chi phí kinh doanh, tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích của công dân trong các tranhchấp kinh tế
- Công tác điều hành, tổ chức thực thi pháp luật có những mặt còn yếu Cơ chế thực thi và phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong quán triệt, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật còn kém hiệu lực, hiệu quả Hiệu quả kiểm tra, giám sát, hiệu quả “hậu kiểm”, xử lý vi phạm còn hạn chế Quy định về thủ tục hành chính trong kinh doanh đã cải cách, nhưng trong một số lĩnh vực chuyên ngành vẫn còn phức tạp, chưa đồng bộ với thủ tục do pháp luật doanh nghiệp và pháp luật đầu tư quy định
- Năng lực phân tích, dự báo và điều chỉnh chủ trương, cơ chế, chính sách còn hạn chế
* Giải pháp hoàn thiện những hạn chế, nhược điểm
- Tiếp tục thể chế hóa quan điểm về định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường vào thể chế, chính sách pháp luật
Cùng với đó, giải quyết hài hòa giữa vai trò điều tiết của Nhà nước trong đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa với sự vận động theo quy luật kinh tế khách quan của thị trường (Về định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường ở nước ta, Đại hội Đảng lần thứ XII xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điềutiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội”)
- Giải quyết mối quan hệ giữa tôn trọng những giá trị chung mang tính phổ biến với những yếu tố đặc thù của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Cần phân định vai trò chính trị, hành chính của Nhà nước (tổ chức quyền lực công) với vai trò kinh tế của Nhà nước (chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu nhà nước và là đại diện của sở hữu toàn dân)
3
Trang 4- tiếp tục cải cách và đổi mới thể chế để tạo động lực phát triển Phấn đấu đến năm 2020 cơ bản hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế.
- Cần đẩy mạnh hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2020, nước ta về cơ bản trở thành nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại là thách thức rất lớn đối với Đảng và Nhà nước ta, trước hết là nhu cầu vốn để đầu tư phát triển
- Nâng cao vai trò của Nhà nước trong quá trình phát triển Hiện nay, nước ta đang đứng trước những thách thức rất lớn của yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, đưa nước ta đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp; khắc phục mặt trái củakinh tế thị trường; phát triển kinh tế đi đôi với đảm bảo công bằng xã hội Vai trò của Nhà nước có xu hướng ngày càng tăng trongđiều hành chính sách vĩ mô và phối hợp giải quyết các vấn đề quốc tế
- Hạn chế nguy cơ tụt hậu và rơi vào bẫy thu nhập trung bình Tuy Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng GDP trên đầu người khá cao
và đã ở vào nhóm cuối của những nước thu nhập trung bình thấp Nhưng khoảng cách từ nước có thu nhập trung bình thấp lên nhóm nước có thu nhập trung bình cao, chưa nói đến nhóm có thu nhập cao, còn khá xa Trong khi đó, tăng trưởng hiện nay của nước ta chưa bền vững và chưa có dấu hiệu tăng đột biến Do đó cần xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng vững mạnh, đẩy mạnh thị trường chứng khoán hoạt động tốt, hiệu quả đầu tư so với vốn tăng cao, năng suất tăng cao, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, chi phí sản xuất tăng, tăng mạnh giá trị tiền đồng Việt Nam từ đó ảnh hưởng rất lớn đến sức cạnh tranh của nền kinh tế
- Cải cách thể chế pháp lý đáp ứng yêu cầu về nâng cao năng lực cạnh tranh và quản trị quốc gia, cũng như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, và giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài
- Tạo nền tảng pháp lý để đáp ứng cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia và ứng phó với những tác động tiêu cực của quá trình
và đòi hỏi chi phí cao trong quá trình ra các quyết định
- Cơ chế thị trường kích thích đổi mới kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất Sức ép của cạnh tranh buộc những người sản xuất phải giảm chi phí sản xuất cá biệt đến mức tối thiểu bằng cách áp dụng phương pháp sản xuất tốt nhất như không ngừng đổi mới kỹ thuật và công nghệ sản xuất, đổi mới sản phẩm, đổi mới tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh, nâng cao hiệu quả
- Cơ chế thị trường thực hiện phân phối các nguồn lực kinh tế một cách tối ưu Trong nền kinh tế thị trường, việc lưu động, di chuyển, phân phối các yếu tố sản xuất, vốn đều tuân theo nguyên tắc của thị trường; chúng sẽ chuyển đến nơi được sử dụng với hiệu quả cao nhất, do đó các nguồn lực kinh tế được phân bố một cách tối ưu
- Sự điều tiết của cơ chế thị trường mềm dẻo hơn sự điều chỉnh của cơ quan nhà nước và có khả năng thích nghi cao hơn trước những điều kiện kinh tế biến đổi, làm thích ứng kịp thời giữa sản xuất xã hội với nhu cầu xã hội
- Phân công lao động ngày càng xã hội hoá cao Mở rộng quan hệ nhiều loại thị trường từ thị trường địa phương, thị trường dân tộc và khu vực, thi trường quốc tế Tạo xu thế liên doanh, liên kết đẩy mạnh giao lưu kinh tế, các nước đang phát triển có cơ hội được tiếp xúc được chuyển giao công nghệ sản xuất, công nghệ quản lý từ các nước phát triển để thúc đẩy công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế ở nước mình Kinh tế thị trường góp phần thúc đẩy giao lưu giữa các nước dưới sự thể hiện qua cac sản phẩm dịch vụ mang bản sắc riêng của từng dân tộc, từng địa phương, từng quốc gia
- Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế tự do cạnh tranh Doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường phải luôn luôn đổi mới về sản phẩm, về tổ chức quản lý Do vậy, nó luôn tạo ra lực lượng sản xuất cho xã hội, tạo ra dư thừa hàng hóa để cho phép thỏa mãn nhu cầu ở mức tối đa
4
Trang 5* Nhược điểm:
- Cơ chế thị trường chỉ phát huy tác dụng đầy đủ khi có cạnh tranh hoàn hảo, khi xuất hiện cạnh tranh không hoàn hảo, thì hiệu lực của cơ chế thị trường bị giảm Chẳng hạn xuất hiện độc quyền, các nhà độc quyền có thể giảm sản lượng, tăng giá để thu lợi nhuận cao, mặt khác, khi xuất hiện độc quyền, thì không có sức ép của cạnh tranh đối với việc đổi mới kỹ thuật
- Mục đích hoạt động của các doanh nghiệp là lợi nhuận tối đa, vì vậy họ có thể lạm dụng tài nguyên của xã hội, gây ô nhiễm môi trường sống của con người, do đó hiệu quả kinh tế - xã hội không được bảo đảm
- Phân phối thu nhập không công bằng, vì vậy sự tác động của cơ chế thị trường sẽ dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo, sự phân cực
về của cải, tác động xấu đến đạo đức và tình người
- Một nền kinh tế do cơ chế thị trường thuần tuý điều tiết khó tránh khỏi những thăng trầm, khủng hoảng kinh tế có tính chu kỳ và
thất nghiệp Do cơ chế thị trường có một loạt các khuyết tật vốn có của nó, nên trong thực tế không tồn tại cơ chế thị trường thuần
tuý, mà thường có sự can thiệp của Nhà nước để sửa chữa những thất bại của cơ chế thị trường, khi đó nền kinh tế, như người ta gọi, là nền kinh tế hỗn hợp
- Kinh tế thị trường phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển, lúc đó vai trò của kinh tế nhà nước bị giảm sút và chịu sức ép mạnh mẽ tư các thành phần kinh tế khác
- Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh trạnh gắt gao giã các nhà sản xuất, các nhà phân phối dẫn đến thất nghiệp tăng cao hoạt động phúc lợi xã hội bị giảm sút
- Nền kinh tế thị trường do các nhà sản xuất hàng hoá dịch vụ chạy theo lợi nhuận gây ra hậu quả về môi trường sinh thái làm giảm tốc độ tăng trưởng bền vững của quốc gia
- Mặt trái của nền kinh tế thị trường đem lại là các tệ nạn xã hội mới nảy sinh cang ngày càng gia tăng Nền kinh tế thị trường với bản chất của nó là lợi nhận tối đa thì việc cần định hướng cho các thành phần kinh tế là rất quan trọng, nếu không sẽ có nguy cơ đichệch hướng xã hội chủ nghĩa đối lập với bản chất của nhà nước ta
Hiện nay nền kinh tế thị trường của nước ta còn ở trình độ kém phát triển, bởi lẽ cơ sở vật chất - kỹ thuật của nó còn lạc hậu, thấp kém, nền kinh tế ít nhiều còn mang tính tự cấp tự túc Tuy nhiên, nước ta không lặp lại nguyên vẹn tiến trình phát triển kinh tế củacác nước đi trước: kinh tế hàng hoá giản đơn chuyển lên kinh tế thị trường tự do, rồi từ kinh tế thị trường tự do chuyển lên kinh tế thị trường hiện đại, mà cần phải và có thể xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại, định hướng xã hội chủ nghĩa theo kiểu rút ngắn Điều này có nghĩa là phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá để phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất, trong một thời gian tương đối ngắn xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại để nền kinh tế nước ta bắt kịp với trình độ phát triển chung của thế giới; đồng thời phải hình thành đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Nhà nước có vai trò đặc biệtquan trọng trong việc quản lý kinh tế vĩ mô và thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa
* Tại sao pháp luật là công cụ hiệu quả nhất được nhà nước sử dụng để quản lý nhà nước về kinh tế
Hệ thống pháp luật là một công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước, nó tạo ra khuôn khổ pháp luật cho các chủ thể kinh tế hoạt động, phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Hệ thống pháp luật bao trùm mọi hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm những điều luật cơ bản về hoạt động của các doanh nghiệp (Luật Doanh nghiệp), về hợp đồng kinh tế, về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, bảo vệ môi trường, v.v Các luật
đó điều chỉnh hành vi của các chủ thể kinh tế, buộc các doanh nghiệp phải chấp nhận sự điều tiết của Nhà nước
Do tính tự phát vốn có, kinh tế thị trường có thể mang lại không chỉ có tiến bộ mà còn cả suy thoái, khủng hoảng và xung đột
xã hội nên cần phải có sự can thiệp của Nhà nước Sự can thiệp của Nhà nước sẽ đảm bảo hiệu quả cho sự vận động của thị trườngđược ổn định, nhằm tối đa hóa hiệu quả kinh tế, bảo đảm định hướng chính trị của sự phát triển kinh tế, sửa chữa khắc phục nhữngkhuyết tật vốn có của kinh tế thị trường, tạo ra những công cụ quan trọng để điều tiết thị trường ở tầm vĩ mô Bằng cách đó nhà nước mới có thể kiềm chế tính tự phát của kinh tế thị trường, đồng thời kích thích đối với sản xuất thông qua trao đổi hàng hóa dưới hình thức thương mại
Quản lý nhà nước không chỉ là sự tác động mà là sự phối hợp hoạt động nhiều mặt, Đó là việc thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của nhà nước, là việc thực hiện các chính sách của nhà nước Hoạt động quản lý nhà nước được thực hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau: an ninh, quốc phòng, văn hóa, giáo dục, đối ngoại, kinh tế,… trong đó, hoạt động quản lý của nhà nước về kinh tế giữ
vị trí hết sức quan trọng đối với đời sống xã hội
Quản lý nhà nước về kinh tế là tạo môi trường thông thoáng, ổn định, hỗ trợ, thúc đẩy các quan hệ kinh tế phát triển sôi động nhưng có trật tự nhằm giải quyết hài hòa các lợi ích Nhà nước chủ động tham gia kinh tế thị trường nhằm bảo hộ cho hình thức tổchức sản xuất chứa đựng các yếu tố của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và tạo điều kiện cho chúng phát huy ưu thế của mình;
5
Trang 6tạo vị thế cho kinh tế nhà nước có sức mạnh định hướng xây dựng mô hình kinh tế cho phép giải phóng con người; ngăn chặn các
xu hướng phát triển kinh tế không có lợi cho quảng đại người lao động
Để thực hiện các mục tiêu đó, điều quan trọng nhất là Nhà nước tạo lập khung khổ pháp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra hiệu quả Chỉ duy nhất nhà nước có được chức năng này Hệ chuẩn pháp luật kinh tế của nhà nước càng được xây dựng
đồng bộ, đúng đắn, nhất quán và kịp thời bao nhiêu, càng có tác động tích cực tới sự vận hành của nền kinh tế bấy nhiêu Song, tự
nó, pháp luật kinh tế không gây ra những biến đổi trong hiện thực kinh tế Để cho các luật kinh tế trở thành tác nhân kích thích phát triển kinh tế, chúng phải được đưa vào vận hành Nhà nước chính là thiết chế chủ yếu đảm đương nhiệm vụ này Năng lực điều hành kinh tế bằng pháp luật là một thước đo đánh giá sự trưởng thành và vai trò của nhà nước trong kinh tế
Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng thể hiện ở việc nhà nước góp
phần đắc lực vào việc tạo môi trường cho thị trường phát triển, như tạo lập kết cấu hạ tầng kinh tế cho sản xuất, lưu thông hàng
hóa; tạo lập sự phân công lao động theo ngành, nghề, vùng kinh tế qua việc nhà nước tiến hành quy hoạch phát triển kinh tế theo lợi thế từng vùng, ngành và nhu cầu chung của xã hội… Là chủ thể trực tiếp sở hữu hoặc quản lý, khai thác những cơ quan truyền thông mạnh nhất của quốc gia, nhà nước góp phần cung cấp thông tin thị trường cho các chủ thể kinh tế để các chủ thể này chủ động lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh, đối tác kinh tế, thời điểm thực hiện các giao dịch kinh tế, cách thức sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhất trong điều kiện cụ thể của mình…
Muốn sản xuất phải có an toàn về môi trường xã hội, môi trường kinh doanh, môi trường an ninh – trật tự, an toàn trong quan
hệ giữa người và người, giữa doanh nghiệp và các cơ quan công quyền… Ngoài những nỗ lực của nhà nước trong sự đồng tình của nhân dân, không lực lượng nào khác có thể tạo lập được những yêu cầu an toàn như vậy
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, sự giao lưu kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế của mọi quốc gia chỉ có hiệu quả cao, khi có tác nhân khởi thủy từ phía nhà nước, được hỗ trợ đắc lực từ phía nhà nước Bằng chính sách hội nhập đúng đắn và năng lực tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách đó, nhà nước góp phần khởi đầu và có tác động tích cực vào quá trình thiết lập quan hệ quốc tế Đại diện cho đất nước tham gia vào các quá trình soạn thảo và thông qua chuẩn mực luật pháp kinh tế, các hiệp định kinh
tế, các nghị định thư…, Nhà nước ta góp phần tạo cho chủ thể kinh tế của đất nước vị trí có lợi trong quan hệ kinh tế quốc tế Sự kiện đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thành công là chứng minh rõ rệt cho điều này
Câu 3: So sánh những vấn đề pháp lý giữa công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên và công ty cổ phần So với công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên thì công ty cổ phần có lợi thế gì hơn trong quá trình kinh doanh?
- Công ty cổ phần: là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ
phần, người sử hữu cổ phần là cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà họ sử hữu
- Công ty TNHH 2 thành viên trở lên là loại hình công ty gồm tối thiểu 2 thành viên và tối đa không quá 50 thành viên góp vốn thành lập và chỉ chịu trách nhiệm về khoản nợ công ty tương ứng với phần góp vốn của mình
* So sánh những vấn đề pháp lý giữa công ty TNHH 2 TV trở lên và công ty cổ phần:
* Giống nhau:
- Đều chịu sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp
- Đều là loại hình công ty đối vốn
- Chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi góp vốn của công ty
- Đều được phát hành trái phiếu và có quyền chuyển nhượng vốn theo quy định của pháp luật
- Cả 2 loại hình doanh nghiệp quy định thành viên là tổ chức, cá nhân
- Cả 2 loại hình doanh nghiệp đều có tư cách pháp nhân từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
* Khác nhau:
- Số lượng thành viên:
+ Công ty TNHH 2 TV trở lên: 2 – 50 thành viên
6
Trang 7+ Công ty Cổ phần: Tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa.
- Trách nhiệm của thành viên:
+ Công ty TNHH 2 TV trở lên: Chịu trách nhiệm về nợ và nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi vốn góp Trừ: trường hợp có thành viên chưa góp hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và phần vốn góp của thành viên
+ Công ty Cổ phần: Chịu trách nhiệm về nợ và nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi vốn góp
- Chuyển nhượng vốn góp:
+ Công ty TNHH 2 TV trở lên: Chỉ được chuyển nhượng theo quy định trong trường hợp: mua lại phần vốn góp (thành viên có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình nếu thành viên đó đã bỏ phiếu không tán thành đối với nghị quyết của Hội đồng thành viên, nếu công ty không mua lại phần vốn góp thì thành viên có quyền tự do chuyển nhượng phần vốn góp cho thành viên khác hoặc người khác không phải là thành viên); chuyển nhượng phần vốn góp (thành viên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo quy định: phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp họ trong công ty với cùng điều kiện; nếu thành viên còn lại không mua hoặc không mua hếttrong thời hạn 30 ngày kể từ ngày chào bán, thành viên có thể chuyển nhượng với cùng điều kiện trên với người không phải là thành viên); xử lý phần vốn góp trong một số trường hợp đặc biệt
+ Công ty cổ phần: Có quyền tự do chuyển nhượng vốn góp (cổ phần) trừ 02 trường hợp:
Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền
tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó
Điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng
- Vốn điều lệ
+ Công ty TNHH 2 TV trở lên: Các thành viên đóng góp các phần khác nhau tùy vào khả năng của mình
+ Công ty Cổ phần: Được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần
Có 2 loại mô hình công ty Cổ phần được quyền chọn:
Đại hội cổ đông, hội đồng quản trị, ban kiểm soát ( trường hợp có dưới 11 cổ đông và cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có ban kiểm soát), giám đốc hoặc tổng giám đốc
Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc tổng giám đốc (ít nhất 20% số thành viên hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty) Ngoài ra còn thêm trường hợp sau: Chỉ
có một người đại diện theo pháp luật, thì Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty; trường hợp Điều lệ không có quy định khác thì Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại
7
Trang 8diện theo pháp luật của công ty Trường hợp có hơn một người đại diện theo pháp luật, thì Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đương nhiên là người đại diện theo pháp luật của công ty.
- Nghĩa vụ của thành viên
Trường hợp có thành viên chưa góp hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết, công ty phải đăng ký điều chỉnh, vốn điều
lệ, tỷ lệ phần vốn góp của các thành viên bằng số vốn đã góp trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày cuối cùng phải góp vốn đủ phần vốn góp theo quy định trên Các thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết phải chịutrách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và phần vốn góp của thành viên
Không được rút vốn đã góp ra khỏi công ty dưới mọi hình thức trừ trường hợp sau:
Mua lại phần vốn góp
Chuyển nhượng phần vốn góp
Xử lý phần vốn góp trong một số trường hợp đặc biệt
Thay đổi vốn điều lệ
Tuân thủ điều lệ công ty
Chấp hành nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên
Chịu trách nhiệm cá nhân khi nhân danh công ty để thực hiện các hành vi:
Vi phạm pháp luật
Tiến hành kinh doanh hoặc giao dịch khác không nhằm phục vụ lợi ích của công ty và gây thiệt hại cho người khác
Thanh toán khoản nợ chưa đến hạn trước nguy cơ tài chính có thể xảy ra đối với công ty
Thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định
+ Công ty cổ phần:
(Đề cập đến nghĩa vụ của cổ đông phổ thông)
Thanh toán đủ và đúng thời hạn số cổ phần cam kết mua
Không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần Trường hợp có cổ đông rút một phần hoặc toàn bộ vốn cổ phần đã góp trái với quy
định tại khoản này thì cổ đông đó và người có lợi ích liên quan trong công ty phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các
khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần đã bị rút và các thiệt hại xảy ra
Chấp hành nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị.
- Quyền của thành viên
+ Công ty TNHH 2 TV trở lên:
Tham dự họp Hội đồng thành viên, thảo luận, kiến nghị, biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên
Có số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp, trừ trường hợp thành viên công ty góp vốn phần vốn góp cho công
ty bằng các tài sản khác với loại tài sản đã cam kết (nếu được sự tán thành của đa số thành viên còn lại)
Được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định pháp luật
Được chia giá trị tài sản còn lại của công ty tương ứng với phần vốn góp khi công ty giải thể hoặc phá sản
Được ưu tiên góp thêm vốn vào công ty khi công ty tăng vốn điều lệ
Định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ, tặng cho và cách khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty
Tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật và cán bộ quản lý khác theo quy định
8
Trang 9 Trừ trường hợp công ty có một thành viên sở hữu trên 90% vốn điều lệ và Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác
nhỏ hơn, thành viên, nhóm thành viên sở hữu từ 10% số vốn điều lệ trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn do Điều lệ công
ty quy định còn có thêm các quyền:
Yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên để giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền
Kiểm tra, xem xét, tra cứu sổ ghi chép và theo dõi các giao dịch, sổ kế toán, báo cáo tài chính hằng năm
Kiểm tra, xem xét, tra cứu và sao chụp sổ đăng ký thành viên, biên bản họp và nghị quyết của Hội đồng thành viên
và các hồ sơ khác của công ty
Yêu cầu Tòa án hủy bỏ nghị quyết của Hội đồng thành viên trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày kết thúc họp Hội đồng thành viên, nếu trình tự, thủ tục, điều kiện cuộc họp hoặc nội dung nghị quyết đó không thực hiện đúng hoặc không phù hợp với quy định của Luật này và Điều lệ công ty
Trường hợp công ty có một thành viên sở hữu trên 90% vốn điều lệ và Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định trên thì nhóm thành viên còn lại đương nhiên có quyền theo quy định trên
Các quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty
- Công ty cổ phần:
(Đề cập đến quyền cổ đông phổ thông)
Tham dự và phát biểu trong các Đại hội đồng cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện
theo ủy quyền hoặc theo hình thức khác do pháp luật, Điều lệ công ty quy định Mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu
biểu quyết
Tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ 02 trường hợp:
Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó
Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần Trường hợp này, các quy định tại Điều lệ công ty chỉ
có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng
Khi công ty giải thể hoặc phá sản, được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần tại công ty
Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết Yêu cầu phải bằng văn bản; phải có họ, tên,
địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân
hợp pháp khác đối với cổ đông là cá nhân; tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký doanh nghiệp đối với cổ đông là tổ chức; số lượng cổ phần và thời điểm đăng ký cổ phần của từng cổ đông, tổng số cổ phần của cả nhóm cổ đông và tỷ lệ sở hữu trong tổng số cổ phần của công ty; vấn đề cần kiểm tra, mục đích kiểm tra
Cổ đông hoặc nhóm cổ đông theo quy định trên yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông phải được lập bằng văn bản
và phải có họ, tên, địa chỉ thường trú, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực
cá nhân hợp pháp khác đối với cổ đông là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc số quyết định thành lập, địa chỉ trụ sở
chính đối với cổ đông là tổ chức; số cổ phần và thời điểm đăng ký cổ phần của từng cổ đông, tổng số cổ phần của cả nhóm cổ đông và tỷ lệ sở hữu trong tổng số cổ phần của công ty, căn cứ và lý do yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông Kèm theo yêu cầu triệu tập họp phải có các tài liệu, chứng cứ về các vi phạm của Hội đồng quản trị, mức độ vi phạm hoặc về quyết định vượt quá thẩm quyền
Trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì việc đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát được thực hiện như sau:
Các cổ đông phổ thông hợp thành nhóm để đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải thông báo về việc họp nhóm cho các cổ đông dự họp biết trước khi khai mạc Đại hội đồng cổ đông
Căn cứ số lượng thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, cổ đông hoặc nhóm cổ đông được quyền đề cử 01 hoặc 01 số người theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông làm ứng cử viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát
Trường hợp số ứng cử viên được cổ đông hoặc nhóm cổ đông đề cử thấp hơn số ứng cử viên mà họ được quyền đề
cử theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông thì số ứng cử viên còn lại do Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và các
cổ đông khác đề cử
* So với công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên thì công ty cổ phần có lợi thế gì hơn trong quá trình kinh doanh?
9
Trang 10- Năng lực cạnh tranh: Do việc tiếp cận nguồn vốn của công ty cổ phần ít bị hạn chế hơn công ty TNHH nên nguồn lực về tài chính của công ty cổ phần có lợi thế hơn, dễ huy động hơn Cũng từ nguyên nhân đó mà các đối tác nước ngoài khi muốn tham gia vào thị trường Việt Nam, đầu tư vào các công ty cổ phần dễ dàng hơn từ đó họ đem những cái mới của công nghệ, khoa học, trang thiết bị hiện đại tiên tiến làm tăng năng lực sản xuất, giá trị sản phẩm cho công ty được đầu tư Đồng thời, khi tiềm lực của công ty cổ phần có lợi thế hơn cũng mang đến cho công ty nhiều cơ hội, nhân viên được đào tạo, trình độ tay nghề chuyên môn ngày càng được nâng cao chú trọng, năng lực quản lý tiên tiến, chiến lược kinh doanh cũng được thiết lập rõ ràng, mở rộng.
+ Kinh doanh: Khả năng hoạt động của công ty cổ phần rất rộng, trong hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề
- Khả năng tạo lập huy động vốn điều lệ: Vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần còn vốn của công ty TNHH không được chia ra thành từng phần mà tính theo tỉ lệ phần trăm vốn góp của từng thành viên Khả năng huy động vốn của công ty cổ phần cao hơn công ty TNHH thông qua việc phát hành cổ phần ra công chúng dưới dạng chứngkhoán (cổ phiếu) hoặc phát hành trong nội bộ công ty.Chính vì vậy cơ cấu vốn của công ty cổ phần hết sức linh hoạt Việc phát hành cổ phiếu ra công chúng giúp công ty huy động được nguồn vốn lớn
- Tính chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần: Việc chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên công ty TNHH cho người ngoài công ty bị hạn chế gắt gao Phải chào bán phần vốn góp cho các thành viên trong công ty trước, nếu công ty hoặc các thành viên của công ty không mua hoặc mua không hết trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày chào bán, thì mới được chào bán ra bên ngoài Quy định này đã hạn chế được sự thâm nhập của người ngoài vào công ty nên hoạt động của công ty TNHH cũng như các
bí mật kinh doanh của công ty được bảo mật cao Trong khi đó, các cổ đông của công ty cổ phần được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình trừ trường hợp chuyển nhượng cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập cho người không phải là cổ đông sáng lập trong 3 năm đầu tiên kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
- Hoạt động kinh doanh rất nhiều những ngành nghề bao gồm cả ngành nghề đặc thù
Câu 4: Những điểm mới của Luật kế toán năm 2015 với Luật kế toán 2003 Tại sao kinh doanh dịch vụ kế toán kiểm toán
là ngành kinh doanh có điều kiện? Giải thích tại sao kinh doanh trong ngành phải tuân theo những điều kiện đó?
* Những điểm mới của Luật kế toán 2015 với luật kế toán 2003:
- Nguyên tắc kế toán: Vẫn áp dụng nguyên tắc giá gốc, nhưng có bổ sung thêm được ghi nhận theo giá trị hợp lý tại thời điểm cuối
kỳ lập báo cáo tài chính Việc bổ sung nguyên tắc “giá trị hợp lý” giúp cho công tác xác định giá trị tài sản, nợ phải trả tại thời điểm lập báo cáo tài chính đảm bảo tính chính xác hơn hiện nay vẫn còn quy định tính giá gốc theo Luật kế toán 2003 Cũng tại luật này giao cho Bộ Tài Chính quy định cụ thể các loại tài sản và nợ phải trả được ghi nhận và đánh giá lại theo “giá trị hợp lý”, phương pháp kế toán ghi nhận vá đánh giá lại theo “giá trị hợp lý”
- Hình thức kế toán: Luật kế toán năm 2015 nêu rõ chỉ chấp nhận hình thức kế toán quản trị và kế toán tài chính, không chấp nhận các hình thức kế toán khác
- Bổ sung chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán: Những quy định, hướng dẫn về nguyên tắc, nội dung áp dụng các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp đối với người làm kế toán, kế toán viên hành nghề, doanh nghiệp và hộ kinh doanh dịch vụ kế toán được quyđịnh tại Điều 7 của Luật Với các quy định mới về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán góp phần đảm bảo tính tuân thủ khi hành nghề kế toán của người làm kế toán, kinh doanh dịch vụ kế toán Luật cũng giao Bộ Tài Chính quy định chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán trên cơ sở chuẩn mực quốc tế phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam
- Đơn vị tiền tệ được rút gọn và làm tròn số khi lập hoặc công khai báo cáo tài chính: Nghị định số 129/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kế toán năm 2003 quy định chỉ các báo cáo tài chính tổng hợp, báo cáo tài chính hợp nhất hoặc báo cáo tài chính dùng để công khai có số liệu báo cáo trên 9 chữ số thì được lựa chọn sử dụng đơn vị tiền tệ rút gọn là nghìn Đồng hoặc triệu Đồng Điều 10 Luật kế toán năm 2015 cho phép đơn vị kế toán được làm tròn số, sử dụng đơn vị tính rút gọn khi lập hoặc công khai báo cáo tài chính Tuy nhiên, Luật kế toán 2015 không nói rõ liệu tất cả các loại báo cáo tài chính được phép sử dụng đơn vị tiền tệ rút gọn hay chỉ một số loại báo cáo tài chính như quy định tại Nghị định 129/2004/NĐ-CP mới được phép
10
Trang 11- Quy định chữ viết và chữ số sử dụng trong kế toán: Chữ viết sử dụng trong kế toán là tiếng Việt Trường hợp phải sử dụng tiếng nước ngoài trên chứng từ kế toán, sổ kế toán và báo cáo tài chính tại Việt Nam thì phải sử dụng đồng thời tiếng Việt và tiếng nước ngoài.
Chữ số sử dụng trong kế toán là chữ số Ả-rập, sau chữ số hàng nghìn, hàng triệu, hàng tỷ phải đặt dấu chấm (.), khi còn ghi chữ sốsau chữ số hàng đơn vị thì sau chữ số hàng đơn vị phải đặt dấu phẩy (,)
Đối với doanh nghiệp, chi nhánh của doanh nghiệp nước ngoài hoặc của tổ chức nước ngoài phải chuyển báo cáo tài chính về công ty mẹ, tổ chức ở nước ngoài hoặc sử dụng chung phần mềm quản lý, thanh toán giao dịch với công ty mẹ, tổ chức ở nước ngoài được sử dụng dấu phẩy (,) sau chữ số hàng nghìn, hàng triệu, hàng tỷ; khi còn ghi chữ số sau chữ số hàng đơn vị thì sau chữ
số hàng đơn vị được đặt dấu chấm (.) và phải chú thích trong tài liệu, sổ kế toán, báo cáo tài chính Trong trường hợp này, báo cáo tài chính nộp cơ quan thuế, cơ quan thống kê và cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác phải sử dụng dấu chấm (.) sau chữ số hàngnghìn, hàng triệu, hàng tỷ và dấu phẩy (,) sau chữ số hàng đơn vị
- Nghiêm cấm một số hành vi kế toán: Tại điều 13 của Luật kế toán 2015 bổ sung một số hành vi bị nghiêm cấm trong công tác kế
toán, nhằm bao quát được các hành vi sai phạm, gian lận trong kế toán góp phần tạo cơ sở cho việc xử lý vi phạm, nâng cao tính chặt chẽ khi thi hành luật Cụ thể, Luật quy định 15 hành vi bị cấm như sau:
+ Giả mạo, khai man hoặc thỏa thuận, ép buộc người khác giả mạo, khai man, tẩy xóa chứng từ kế toán hoặc tài liệu kế toán khác.+ Cố ý, thỏa thuận hoặc ép buộc người khác cung cấp, xác nhận thông tin, số liệu kế toán sai sự thật
+ Để ngoài sổ kế toán tài sản, nợ phải trả của đơn vị kế toán hoặc có liên quan đến đơn vị kế toán Hủy bỏ hoặc cố ý làm hư hỏng tài liệu kế toán trước khi kết thúc thời hạn lưu trữ
+ Ban hành, công bố chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán không đúng thẩm quyền
+ Mua chuộc, đe dọa, trù dập, ép buộc người làm kế toán thực hiện công việc kế toán không đúng với quy định
+ Người có trách nhiệm quản lý, điều hành đơn vị kế toán kiêm làm kế toán, thủ kho, thủ quỹ, trừ doanh nghiệp tư nhân và công
ty trách nhiệm hữu hạn do một cá nhân làm chủ sở hữu
+ Bố trí hoặc thuê người làm kế toán, người làm kế toán trưởng không đủ tiêu chuẩn, điều kiện quy định
+ Thuê, mượn, cho thuê, cho mượn chứng chỉ kế toán viên, Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán dưới mọi hình thức
+ Lập hai hệ thống sổ kế toán tài chính trở lên hoặc cung cấp, công bố các báo cáo tài chính có số liệu không đồng nhất trong cùng một kỳ kế toán
+ Kinh doanh dịch vụ kế toán khi chưa được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán hoặc hành nghề dịch
vụ kế toán khi không bảo đảm điều kiện quy định của Luật này
+ Sử dụng cụm từ “dịch vụ kế toán” trong tên gọi của doanh nghiệp nếu đã quá 06 tháng kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mà vẫn không được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán hoặc doanh nghiệp đã chấm dứt kinh doanh dịch vụ kế toán
+ Thuê cá nhân, tổ chức không đủ điều kiện hành nghề, điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán cung cấp dịch vụ kế toán cho đơn vị mình
+ Kế toán viên hành nghề và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán thông đồng, móc nối với khách hàng để cung cấp, xác nhậnthông tin, số liệu kế toán sai sự thật
+ Các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong hoạt động kế toán
- Quy định về chứng từ điện tử: Theo điều 16, chứng từ điện tử được coi là chứng từ kế toán khi được thể hiện dưới dạng dữ liệu
điện tử, được mã hóa mà không bị thay đổi trong quá trình truyền qua mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc trên vật mang tin như băng từ, đĩa từ, các loại thẻ thanh toán Trường hợp khi chứng từ bằng giấy được chuyển thành chứng từ điện tử để giao dịch, thanh toán hoặc ngược lại thì chứng từ điện tử có giá trị để thực hiện nghiệp vụ kinh tế, tài chính đó, chứng từ bằng giấy chỉ có giá
11