1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI THU HOẠCH BDTX module THCS 40, 41 giáo dục hòa nhập trong giáo dục THCS

19 102 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 124,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Về lí luận cũng như trên thực tế cho thấy trong quá trình phát triển nhân cách của mối người, nhất là đối với thể hệ trẻ, luôn bị tác động của bốn yếu tố: + Bẩm sinh di truyền: Là tiền

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -BÀI THU HOẠCH

BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN Module THCS40: Giáo dục hòa nhập trong giáo dục THCS

Năm học:

Họ và tên: Đơn vị:

Hoạt động 1: Phân tích mục đích của sự phối hợp.

- Giáo dục nhà trường phải là nhân tố tác động, điều khiển các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách

- Về lí luận cũng như trên thực tế cho thấy trong quá trình phát triển nhân cách của mối người, nhất là đối với thể hệ trẻ, luôn bị tác động của bốn yếu tố:

+ Bẩm sinh di truyền: Là tiền đề vật chất, tiền đề sinh học, tạo cơ sở ban đầu cho sự phát

triển nhân cách thuận lợi

+ Yếu tố hoàn cảnh: Có ý nghĩa rất quan trọng, đó là môi trường của sự phát triển, luôn tác động và ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách Hoàn cảnh bao gồm các yếu tố tự nhiên

và hoàn cảnh xã hội Trong sự phát triển nhân cách của mối cá thể người và loài người thì yếu tố tự nhiên là yếu tố ban đầu vì con người là sản phẩm của tự nhiên Nhưng nhân cách con người lại bị chế ước, chi phối chủ yếu bởi hoàn cảnh xã hội vì con người có ý thức, luôn tham gia vào các hoạt động xã hội với tư cách là chủ thể của sự phát triển xã hội

+ Giáo dục nói chung, GD nhà trường nói riêng phải được coi là nhân tố định hướng, điều khiển hoạt động của các đối tượng giáo dục, có khả năng cải tạo, tận dựng các yếu tổ tự nhiên và xã hội thuận lợi cho sự phát triển nhân cách thống qua hoạt động giáo dục, có thể tạo ra môi trường, có thể điều chỉnh sự phát triển nhân cách như người làm vưởn điều chỉnh sự phát triển hạt giống và cây cành theo ý muốn của cá nhân, nhưng không phải là áp đặt mà là tạo cơ hội, điều khiển sự phát triển nhân cách của trẻ em theo quy luật của sự phát triển tâm sinh lí

- Hoạt động cá nhân là yếu tổ quyết định hiệu quả của quá trình phát triển nhân cách

- Tất cả các yếu tố trên đều là khách quan, hoạt động nhận thức và rèn luyện của cá nhân,

Trang 2

chủ thể có ý thức của quá trình phát triển nhân cách mới là yếu tố quyết định Thống qua các quá trình tư duy, chủ thể nhận thức những yêu cầu tất yếu của xã hội biến thành nhu cầu của bản thân tạo ra động cơ của hoạt động chiếm lĩnh tri thức, kinh nghiệm của xã hội để phát triển, mối một yếu tố có ý nghĩa nhất định tới sự phát triển nhân cách Song căn cứ vào lứa tuổi, những yếu tố ấy cũng có ảnh hưởng ở mức độ khác nhau, càng ở lứa tuổi nhỏ vai trở của giáo dục càng có ý nghĩa, có ảnh hưởng quan trọng Ở tuổi trường thành, đã có kinh nghiệm sống thì hoạt động của cá nhân chiếm ưu thể Căn cứ vào sự phát triển trí tuệ, các yếu tố cũng có ảnh hưởng khác nhau Những trẻ em nói riêng, mọi người nói chung khi chỉ số IQ (chỉ số đánh giá sự phát triển trí tuệ), thì ai có chỉ số thống minh cao thể hiện sự năng động, sáng tạo tốt thì mức độ ảnh hưởng của các yếu tổ cũng ở mức

độ khác nhau, vì vậy có thể lí giải trong cùng một lớp học, cùng một gia đình, cùng một chế độ xã hội nhưng nhân cách ở mối người có những biểu hiện khác nhau, đôi khi trái ngược nhau

- Hiện nay, sự liên kết các lực lượng trong giáo dục quan trọng hơn bao giờ hết bởi tính phức tạp của quan hệ xã hội Trong lịch sử giáo dục của dân tộc, chưa bao giờ thể hệ trẻ phải sống, hoạt động trong một hoàn cảnh vừa phong phú, đa dạng, vừa phức tạp như hiện nay cùng một lúc đan xen giữa cái tốt cái xấụ cái thìện cái ác, cái tích cực và tiêu cực, giữa cái cao thượng và cái thấp hèn, sự lựa chọn giữa nhu cầu vật chất và đòi thần, giữa truyền thống của dân tộc và những giá trị của thời đại, giữa quyền lợi cá nhân và nghĩa vụ xã hội như hiện nay

- Sự xuất hiện những yếu tổ của nền văn Mình công nghiệp đã làm thay đối rất nhiều quan hệ giáo dục xã hội Trước hết là sự đòi hỏi của sản xuất xã hội đối với giáo dục, mô hình hoá quan hệ đó như sau:

- Từ quy luật biện chứng về mối quan hệ trên đã xuất hiện các lực lượng tham gia vào hoạt động giáo dục khiến hoạt động này trở nên phong phú, đa dạng hơn Sự tham gia của các tổ chức sản xuất xã hội là một đặc trưng của quan hệ giáo dục Ngoài các cơ sở sản xuất xã hội, trong nền văn minh công nghiệp sự có mặt của các tổ chức văn hoá, khoa học kĩ

Trang 3

thuật, các cơ quan công quyền cũng tác động vào quá trình tổ chức hoạt động giáo dục ngày càng rõ rệt hơn

- Ngày nay, nhân loại đang bước vào nền văn minh hậu công nghiệp, thực hiện phát triển kinh tế tri thức trong bối cảnh có những biến đối vô cùng lớn và nhanh chóng, đã làm thay đối các quan hệ trong giáo dục

Hoạt động 2: Phân tích đặc điểm của hoàn cảnh xã hội và đặc trưng của sự liên kết các lực lượng xã hội hiện nay:

- Nhận xét của C Mác “Hoàn cảnh tạo ra con người trong chùng mực con người tạo ra hoàn cảnh"; “Bản chất con người là tông hoà các quan hệ xã hội" cho đển nay còn nguyên giá trị Thực tế ngày nay chúng minh nhận định đó là một chăn lí và đó là sự tông kết thìên tài mối quan hệ biện chúng khách quan giữa các yếu tổ khách quan (tự nhiên, xã hội) Với sự phát triển của mối con người (cá nhân) và sự phát triển của cộng đồng người (cả ở góc độ giống loài) Con người (cả cá nhân và giống loài) vừa là sản phẩm của sự phát triển TN và XH, đồng thời con người lại là chủ thể của chính sự phát triển TN - XH

và chính bản thân người

- Lịch sử đã chúng minh rằng con người không thụ động chịu sự tác động của hoàn cánh một cách thiểu ý thức như các sinh vật khác trên hành đòi này Trải qua hàng triệu năm của các nền văn minh, trải qua nhiều thể hệ, lịch sử nhân loại đã từng chúng kiến biết bao điều kì diệu do chính con người sáng tạo ra trên mọi lĩnh vực làm biến đối hoàn cảnh của

tự nhiên, làm thay đối điều kiện xã hội để phục vụ lợi ích, mong muốn của con người đã thức đẩy nền văn minh nhân loại phát triển với một gia tổc chưa từng có Cách đây mấy thể kĩ, việc khám phá và khai thác những tài nguyên bí mật dưới lòng đất đã đưa loài người sang nền văn minh công nghiệp Ngày nay, loài người đã khám phá những bí hiểm bên ngoài trái đất, con người đã vươn tới mặt trăng và các vì sao, những nơi cách chúng

ta không phải tính bằng km mà tính bằng tốc độ năm ánh sáng

- Cũng cách đây không lâu, sự phát triển nhân cách bị tác động của những quan hệ trực tiếp khi cùng lao động, cùng sống, học tập, hoạt động như cha mẹ con cái, thầy trở, thủ trường và nhân viên, cộng đồng, họ hàng, láng giềng Ngày nay ngoài những quan hệ trực tiếp phức tạp hơn trước, còn có tác động rất lớn của các phương tiện truyền thống (PTTT), của việc nối mạng toàn cầu, của công nghệ thông tin có thể trong môi trường

xã hội, tác động của môi trường vi mô và vi mô đan xen tồn tại, giao thoa và tác động đển sự phát triển nhân cách với một mức độ chưa từng có trong lịch sử

- Trở về cội nguồn của lịch sử nhân loại ở nền văn Mình mông muội, con người chỉ gắn

bó với nhau trong quan hệ “bầy", nối liên kết với nhau trong thị tộc, bộ lạc là đủ để mối

Trang 4

cá thể tồn tại Ở nền văn Mình nổng nghiệp, gia đình, họ hàng, hàng xóm láng giềng, tổ chức nhà nước cùng với những khế ước của làng xã là những yếu tổ ảnh hưởng chủ yếu tới sự phát triển nhân cách Khi chuyển sang văn minh công nghiệp, hoàn cảnh có những thay đối rất lớn Sự phát triển nhân cách ở con người không chỉ chịu tác động của quan

hệ con người trong gia đình, luỹ trẻ làng mà còn bị ràng buộc trong quá trình sản xuất tập thể, giáo dục nhà trường và những quy định của Nhà nước (Nhà nước pháp quyền thực

sự ra đời, quản lí nhà nước bằng pháp luật chứ không chỉ bằng đạo lí như văn Mình nổng nghiệp)

- Hiện nay và tương lai, môi trường xã hội ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách đã vượt

ra khói phạm vi quốc gia Thế giới đang dùng những tiêu chuẩn quốc tế về mọi mặt Trong lịch sử chưa bao giờ các quổc gia lại thống nhất quy định các chuẩn quốc tế từ sản phẩm tiêu dùng, máy móc, quy trình sản xuất và đương nhiên kể cả chuẩn đánh giá giáo dục, đánh giá trình độ người lao động ở các lĩnh vực sản xuất, hoạt động xã hội như ngày nay

- Xây dựng một môi trường giáo dục xã hội lành mạnh là yêu cầu, xu thể tất yếu khách quan Nhưng để thực hiện được, các quốc gia các dân tộc còn đang tìm lởi giải đáp có thể nói cho đển nay chưa có một cơ chế thật hiệu quả từ vi mô đển vi mô nhằm phát huy được sự thống nhất toàn xã hội, phát huy đa tiềm năng tích cực của xã hội, hạn chế tổi đa những ảnh hưởng tiêu cực, tạo không gian, thời gian, phương tiện tốt nhất cho mọi người được phát triển

- Liên kết các lực lượng trong giáo dục là một đòi hỏi cấp thìết hiện nay Khái niệm

"liên kết” trong giáo dục ngày nay: Trong các văn bản và trên thực tế chúng ta vẫn dùng một số thuật ngũ “kết hợp"; “phối hợp" để chỉ sự thống nhất về nhận thức, hành động trong công tác giáo dục và trong nhiều văn bản của ngành giáo dục vẫn dùng khái niệm

“ba kết hợp" để chỉ sự kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội Đã có không ít các văn bản, các công trình nghiên cứu nói về ba kết hợp Nhưng trên thực tế sự kết hợp đó chưa có các văn bản hướng dẫn, chưa có cơ chế đảm bảo cho sự kết hợp ấy được thực hiện có hiệu quả

- Ba kết hợp là một chủ trường đứng đắn, hợp quy luật với sự phát triển giáo dục, nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi, thống nhất cho các hoạt động giáo dục, nhất là đối với quá trình giáo dục, rèn luyện nhân cách của HS, SV ngày nay Song, việc thực hiện ba kết hợp chưa đạt hiệu quả cao vì “chưa có một cơ chế đảm bảo sự thống nhất trong hoạ tđộng, chưa có những quy định ràng buộc xác định rõ mục đích chung, nhiệm vụ, trách nhiệm, nội dung giáo dục, phương pháp phối hợp, cách thức tổ chức điều hành hoạt động giáo dục” Vì thiểu những quy định cụ thể nên hiệu quả giáo dục, hiệu quả phối hợp đạt thấp,

Trang 5

đôi khi còn triệt tiêu nhau, chẳng hạn ở trường thầy cô giáo dạy các em trung thực, hướng thìện, phải đoàn kết, giữ gìn môi trường nhưng có bộ phận gia đình vô tình hay hữu ý làm ăn phi pháp nên đã ảnh hưởng xấu đển con em Nhiều ảnh hưởng xấu của xã hội như các hiện tượng tham nhũng, buổn bán hàng quốc cấm, phá hoại môi trường, nghiện hút, trộm cắp, cướp giật, đâm thuê, chém mướn Không ít người lớn đã vi phạm các chuẩn mực đạo đức, pháp luật không bị xử lí kịp thời nghiêm khắc đã làm giảm hiệu quả giáo dục tích cực của nhà trường

- Mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội chủ yếu là dựa vào “sự nhở vả", vào

“lòng tốt", “ban ơn" của những người có chức, có quyền Còn đối với gia đình chủ yếu là dựa vào khả năng cảm hoá, thuyết phục của các thầy cô giáo làm công tác chủ nhiệm lớp hay phụ trách trường học Các cơ chế nhở vả, ban ơn, cảm hoá, thuyết phục dựa vào sự thống cảm, tình thương là cần thìết, nhưng sẽ không đảm bảo vững chắc, lâu dài, thiểu sự ràng buộc trách nhiệm trong hoạt động, vì thể ta thưởng thấy ở nơi nào thìết lập được

“quan hệ thân quen" thì ở nơi đó nhà trường được giúp đỡ tốt Ở những nơi cán bộ quản

lí giáo dục thiểu năng động “chạy chọt" không gây được thìện cảm với các tổ chức xã hội

ở địa phương nơi trường đóng, ở nơi nào cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền, các đoàn thể xã hội không có con em học tập ở các trường học thì trường ít được quan tâm chúng

ta từng chúng kiến không ít địa phương, không ít trường học khi thay đối người lãnh đạo sau mối nhiệm kì quản lí thì mối quan hệ của ba kết hợp cũng thâng trầm theo các đồng chí lãnh đạo

- Trên thực tế, việc kết hợp trong hoạt động giáo dục có thể được mô tả bằng mô hình sau:

Mô hình chỉ sự phối kết hợp 3 môi trường

- Đã đển lúc sự phối hợp phải ở mức chặt chẽ hơn Đó là LIẾN KẾT Liên kết là một khái

NT

Trang 6

niệm thể hiện tính chất liên Mình của các lực lượng tham gia hoạt động: Trước hết thể hiện cùng, không rởi nhau và diễn ra cả quá trình

- Liên kết trong hoạt động giáo dục thể hiện sự thống nhất từ nhận thức đển hành động giữa các thành viên tham gia liên kết trong giáo dục Liên kết thể hiện sự ràng buộc, gắn

bó chặt chẽ với nhau về mục tiêu, về quyền lợi, quyền hạn, trách nhiệm và sát cánh bên nhau trong mọi hoàn cảnh dù khó khăn hay thuận lợi Liên kết đòi hỏi tính tự giác, tự nguyện, sự nỗ lực vượt khó với nhận thức sâu sắc mục tiêu chung phải đạt được đôi khi phải tạm gác quyền lợi cá nhân hay lợi ích bộ phận

- Liên kết các lực lượng giáo dục đòi hỏi có hai yêu cầu cơ bản: Hình thành một tổ chức chỉ đạo chung cho hoạt động và xây dựng một kế hoạch hoạt động thống nhất nhằm khép kín không gian, thời gian tổ chức các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường Hai yếu tổ trên nhằm sử dựng hợp lí những điều kiện có sẵn, phát huy tính đa sức mạnh tông hợp các hoạt động của các lực lượng XH, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực, tận dựng thìết lập các hoạt động lành mạnh, tạo ra cơ hội thuận lợi nhất cho thể hệ trẻ đuợc rèn luyện

- Liên kết phải thể hiện ở sự thống nhất về nhận thức muc tiêu, nội dung giáo dục toàn diện theo yêu cầu giáo dục XH đối với các cấp học trong giai đoạn CNH, HĐH đất nước

- Thống nhất nhận thức về trách nhiệm tham gia hoạt động giáo dục căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, điều kiện của mỗi tổ chức XH

- Thống nhất cả về tiêu chí đánh giá, hiệu quả hoạt động giáo dục thể hệ trẻ và hiệu quả của hoạt động liên kết

Module THCS41: Tổ chức hoạt động tập thể cho học sinh THCS

Năm học:

Họ và tên: Đơn vị:

Hoạt động 1: Hiểu đặc trưng tâm lí HS THCS để tổ chức các hoạt động tập thể.

- Sự biến đối về mặt giải phẫu sinh lí:

+ Đây là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ nhưng không đồng đều về các mặt của cơ thể Tầm vóc của các em lớn lên khá nhanh Trung bình một năm các em cao lên được 5 – 6 cm, các em gái có độ tuổi 12, 13 phát triển chiều cao nhanh hơn các em nam cùng độ tuổi, cá biệt một số trường hợp mới chỉ học lớp 8, lớp 9 các em đã có tầm vóc như một thiếu nữ,

Trang 7

nghĩa là các em có thể cao tới lm55 đến 1m60 Nhưng đến 10, 20 tuổi thì sự phát triển chiều cao của các em gái chững lại, đến 22 tuổi thì dừng hẳn sự phát triển chiều cao Các

em trai ở độ tuổi 15, 16 tuổi thì cao đột biến, vượt hẳn các em gái và đến 24,25 tuổi mới dừng lại Tuy nhiên, hiện nay do có hiện tượng gia tốc phát triển nên sự phát triển của các

em có thể sớm hơn 1-2 năm Trọng luợng cơ thể của thiếu niên có thể tăng từ 2,4kg đến 3kg trong một năm Nhiều em trai có tầm vóc như những thanh niên trưởng thành

+ Sự phát triển của hệ xương, mà chủ yếu là sự phát triển các xương ống, xương ống chân rất nhanh, nhưng xương ngón tay, ngón chân lại phát triển chậm Hệ cơ phát triển chậm, không kịp với sự dài ra nhanh chóng của các xương ống Vì thể, ở lứa tuổi này các

em thường cao, cơ thể thiếu cân đối; các em có vẻ lóng ngóng vụng về, không khéo léo khi làm việc, thiếu thận trọng hay làm đổ vỡ, nếu dùng dao hay cắt phải tay mình, điều đó gây cho các em một biểu hiện tâm lí khó chịu Các em ý thức được sự lóng ngóng vụng

về của mình và che giấu nó bằng cách cố tạo ra các điệu bộ tự nhiên, từ vẻ mạnh bạo, can đảm để người khác không chú ý tới vẻ bề ngoài của mình Nhưng người lớn phải hiểu điều này để không chê bai, chế giễu các em Vì chỉ cần một sự chê bai, chế giễu nhẹ nhàng về hình thể, tư thế đi đứng của các em có thể khiến các em phản ứng rất gay gắt + Sự phát triển của hệ thống tim mạch cũng không căn đối Thể tích của tim tăng rất nhanh, hoạt động của tim mạnh mẽ hơn, nhưng kích thước của mạch máu lại phát triển chậm Do đó, các em có thể có một số rối loạn tạm thời của hệ tuần hoàn, tăng huyết áp, tim đập nhanh, hay gây nhức đầu, chóng mặt khi đứng lên, ngồi xuống, mệt mỏi khi làm việc Cần lưu ý ở các em gái thời kỳ này thường có biểu hiện giống như thiếu máu: ngồi xuống đứng lên thấy hơi chóng mặt điều đó có thể do sự phát triển không căn đối của hệ tim mạch gây ra Kích thước mạch nhỏ nên khi có các vận động mạnh thì lượng máu đưa đến các cơ quan không kịp, gây ra hiện tượng thiếu máu cực bộ tại thời điểm đó Vì thế, các em và các bậc phụ huynh không phải lo lắng Hiện tượng đó sẽ mất khi trẻ vượt qua thời kì này Tuy nhiên, nếu hiện tượng này kéo dài thì cần đến các cơ sở y tế để được thăm khám

+ Hệ thần kinh nhìn chung đã phát triển khá hoàn thìện Trọng lượng não gần đạt trọng lượng của người trường thành Tuy nhiên, hoạt động của hệ thần kinh thì chưa thật hoàn thiện, chưa thật sự căn bằng giữa hai quá trình hưng phấn và ức chế Quá trình hưng phấn

có phần trội hơn ức chế nên khả năng kiềm chế của các em học sinh THCS còn yếu + Sự thay đổi về thể chất của lứa tuổi học sinh THCS đã làm cho các em có những đặc điểm nhân cách khác với các em ở lứa tuổi học sinh tiểu học Ở lứa tuổi này, các em đã

có nghị lực dồi dào, có tính tích cực cao, có nhiều dự định lớn lao Những bậc cha mẹ, các thầy cô giáo và các anh chị phụ trách cần thấy đuợc đặc điểm này để tổ chức các hoạt

Trang 8

động cho phù hợp, hiệu quả, tránh định kiến với các em.

+ Một đặc điểm quan trọng của lứa tuổi này mà chúng ta cần quan tâm, đó là sự dậy thì ở các em Sự dậy thì ở lứa tuổi học sinh THCS là một hiện tượng bình thường diễn ra theo quy luật sinh học và chịu ảnh hưởng rất nhiều của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Ở tuổi dậy thì, với sự phát triển sinh lí của tuyến yên và tuyến sinh dục, cơ thể trẻ diễn ra hàng loạt những thay đổi về hình dạng, tâm sinh lí Đặc biệt là cơ quan sinh dục, phân biệt rõ giới tính là nam hay nữ và bắt đầu có khả năng tình dục, khả năng sinh sản + Dậy thì ở các em trai vào khoảng 15, 16 tuổi, ở các em nữ vào khoảng 13, 14 tuổi Biểu hiện của thời kì này là các cơ quan sinh dục ở các em phát triển và xuất hiện những dấu hiệu phụ của giới tính (các em trai có ria mép, các em gái ngực bắt đầu phát triển) Thời

kì dậy thì sớm hay muộn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có đặc điểm dân tộc, đặc điểm địa lí tự nhiên và môi trường xã hội Các em sống ở xứ nóng thường dậy thì sớm hơn các em sống ở xứ lạnh Các em sống ở thành phố dậy thì sớm hơn các em sống ở nông thôn, vùng sâu vùng xa Dậy thì còn phụ thuộc vào chế độ sinh hoạt của cá nhân, sức khoẻ và chế độ ăn uống, lao động, nghỉ ngơi, đòi sống tĩnh thần của các em, Hiện này do điều kiện xã hội có nhiều thay đổi, nên gia tốc phát triển thể chất và tuổi dậy thì

có thể sớm hơn Các em gái có thể dậy thì ở tuổi 12 - 13 chủ không hẳn là tuổi 13 - 14 Các em trai cũng vậy, các em có thể dậy thì sớm hơn tuổi 15 - 16

+ Cuối cấp THCS, giai đoạn dậy thì ở các em gái kết thúc Các em trai thì muộn hơn nên

có thể đển cấp THPT các em mới kết thức giai đoạn dậy thì Ở lứa tuổi này khả năng hoạt động tình dục của các em đã có Nhưng các em chưa trường thành một cách đầy đủ về mặt cơ thể và đặc biệt là các em chưa có sự trưởng thành về mặt xã hội Vì thế, một số nhà khoa học cho rằng ở lứa tuổi thiếu niên không có sự cân đối giữa những tình cảm và ham muốn đượm màu sắc tình dục với mức độ trường thành về mặt xã hội và tâm lí Nhiều khó khăn trở ngại ở lứa tuổi này chính ở cho các em chưa biết đánh giá, chưa biết kìm hãm và hướng dẫn những ham muốn của mình một cách đứng đắn; chưa biết kiểm soát tình cảm và hành vi, chưa biết dựng mối quan hệ đứng đắn với người bạn khác giới

vì thể, các thầy cô giáo và anh chị phụ trách cần phải giúp đỡ các em một cách tế nhị, khéo léo để các em hiểu đứng vấn đề, tránh làm cho các em băn khoăn, lo ngại, chúng ta cũng phải giúp các em có các kĩ năng sống cần thiết để phân biệt, nhận biết thế nào là sự yêu thương, sự lạm dụng nhằm tránh được sự lạm dụng Đồng thời cũng cánh báo cho tất

cả những người có ý đồ lạm dụng các em biết rằng: Quan hệ tình dục với vị thành niên là phạm pháp, giao cấu với trẻ em dưới 13 tuổi dưới bất kì hình thức nào đều là hiếp dâm trẻ em

+ Sự thay đổi của điều kiện sống

Trang 9

+ Đời sống gia đình của thiếu niên.

+ Đời sống trong nhà trường của học sinh THCS

+ Sự thay đổi nội dung dạy học

+ Sự thay đổi về phương pháp và hình thức học tập

+ Đời sống của học sinh THCS trong xã hội

+ Học sinh THCS đều là đội viên Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ chí Mình Sự trưởng thành của lứa tuổi và trách nhiệm của người đội viên ở các em được xã hội thừa nhận như một thành viên tích cực trong các hoạt động xã hội Các em được giao một số công việc nhất định trên nhiều lĩnh vực khác nhau như tuyên truyền cổ động, giữ trật tự đường phố, giúp đỡ gia đình thương binh liệt sĩ và các hoạt động xã hội khác nhau do Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Mình tổ chức Các em rất hào hứng tham gia các hoạt động xã hội vì: + Các em đã có sức lực, hiểu biết nhiều, muốn đuợc mọi người thừa nhận mình là người lớn, muốn làm những công việc được mọi người biết đến, nhất là những công việc làm cùng với người lớn

+ Các em cho rằng, hoạt động xã hội là việc làm của người lớn và có ý nghĩa lớn lao Do

đó, được tham gia các hoạt động xã hội là thể hiện mình đã là người lớn Muốn được thừa nhận là người lớn là một nhu cầu của các em, vì thể nhiều khi các em bỏ công việc gia đình, học tập để tham gia hoạt động xã hội một cách tích cực

+ Hoạt động xã hội là hoạt động có tính tập thể Ở lứa tuổi này các em thích tham gia những hoạt động có tính tập thể, những công việc liên quan đển nhiều người, được nhiều người cùng tham gia và đánh giá sự tích cực của mình

+ Do tham gia hoạt động xã hội mà quan hệ của học sinh THCS được mở rộng, các em được tiếp xúc với nhiều người, nhiều vấn đề của xã hội Do đó, tầm hiểu biết của các em được mở rộng, kinh nghiệm sống phong phú hơn Tính tích cực xã hội ở các em cũng phát triển mạnh mẽ nhằm lĩnh hội những giá trị, những chuẩn mực xã hội để biến đối bản thân cho phù hợp với vị thế mới của các em trong các quan hệ xã hội Đây là tiền đề quan trọng để tổ chức các hoạt động tập thể cho học sinh THCS

Tóm lại, do có sự thay đối điều kiện sống, điều kiện hoạt động trong gia đình, nhà trường

và xã hội, mà vị trí của học sinh THCS được nâng lên Các em ý thức được sự thay đổi này và tích cực hoạt động cho phù hợp với sự thay đối đó Do đó tâm lí, nhân cách của thiếu niên được hình thành và phát triển phong phú hơn ở học sinh tiểu học

- Những đặc điểm tâm lý cơ bản của lứa tuồi học sinh THCS cần quan tâm khi tổ chức

Trang 10

hoạt động tập thể:

+ Sự phát triển nhận thức của học sinh THCS đã có sự thay đối về chất so với học sinh tiểu học Các em có khả năng phân tích, tổng hợp phức tạp hơn khi tri giác các sự vật, hiện tượng Khối lượng tri giác ở các em tăng lên, tri giác có mục đích, có kế hoạch và ngày càng hoàn thiện hơn Trí nhớ của các em phát triển mạnh, đặc biệt là trí nhớ có chủ định Tốc độ ghi nhớ và khối lượng tài liệu ghi nhớ đuợc tăng lên Ghi nhớ máy móc nhường chỗ cho ghi nhớ lôgic, ghi nhớ ý nghĩa Điều này rất cần thiết cho việc năng cao kết quả học tập của các em

+ Khả năng tư duy của học sinh THCS đã có những biến đối cơ bản Do yêu cầu học tập,

tư duy của học sinh THCS phát triển ở mức độ cao hơn học sinh tiểu học rất nhiều Khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá ở các em phát triển rất mạnh Tuy nhiên, những thành phẩm hình tượng- cụ thể của tư duy bộ phận không giảm xuống

mà vẫn tồn tại và phát triển

+ Khả năng tưởng tượng của học sinh THCS cũng đã phát triển mạnh Các em có óc tưởng tượng phong phú và đa dạng Đã hình thành ra những hình ảnh phức tạp và đã có những ước mơ tốt đẹp cho bản thân

+ Mong muốn thay đổi quan hệ là đặc điểm tâm lí nổi bật của lứa tuổi học sinhTHCS + Nhu cầu tự khẳng định ở học sinh THCS phát triển rất mạnh mẽ Các em rất muốn được thể hiện mình trước mọi người, đặc biệt đuợc tuyên dương khen thưởng về những thành tích vươn lên trong các hoạt động Vì thế, học sinh THCS thích thi đua trong các hoạt động để đuợc khẳng định bản thân

+ Học sinh THCS coi quan hệ bạn bè cùng tuổi là quan hệ riêng của những cá nhân Các

em cho rằng các em có quyền hành động độc lập trong quan hệ này và bảo vệ quyền đó của mình

+ Đối với học sinh THCS, căn cứ để kết bạn là những phẩm chất về tình bạn Đó là những tiêu chuẩn như: Sự tôn trọng lẫn nhau, quan hệ bình đẳng và giúp đỡ lẫn nhau, lòng trung thành, tính trung thực Nhiều người cho rằng: học sinh THCS đề ra các tiêu chuẩn khá chi tiết để chọn bạn, các quy tắc khá cụ thể trong quan hệ nên có thể gọi đó là

“bộ luật tình bạn" ở các em “Bộ luật" này điều tiết rất mạnh mẽ quan hệ bạn bè của học sinh THCS

+ Học sinh THCS đã bắt đầu quan tâm đển bạn khác giới Ở lứa tuổi này, các em đã bắt đầu quan tâm lẫn nhau, ưa thích nhau Lúc đầu sự quan tâm giới khác ở các em còn có tính chất tản mạn và biểu hiện bằng phương thức đặc thù của trẻ con, như trêu chọc các

Ngày đăng: 22/04/2020, 08:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w