1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

cẩm nang du lịch bình thuậnx

50 468 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Du Lịch Bình Thuận
Tác giả Đào Thanh Tuấn
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Mạnh Tiến
Trường học Trường Đại Học Sài Gòn
Chuyên ngành Văn Hóa – Du Lịch
Thể loại Bài Thi Cuối Học Phần
Năm xuất bản 2012
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 4,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tài liệu này được soạn một cách cẩn thận, thông tin đảm bảo được lấy từ các nguồn đáng tin cậy của địa phương, của tỉnh. giới thiệu một cách rõ ràng để cho người đọc có một cái nhìn tổng quát về hoạt động du lịch ở Bình Thuận, cũng như là hệ thống các di tích lịch sử-văn hóa, đời sống tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo,các địa điểm ăn uống, nghĩ ngơi. mong rằng tài liệu này bổ ích cho bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu cũng như là du lịch đến tỉnh Bình Thuận. Chân Thành Cảm Ơn!

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

KHOA VĂN HÓA – DU LỊCH

BÀI THI CUỐI HỌC PHẦN

Trang 2

Mục lục 1

Phần 1 TỔNG QUAN BÌNH THUẬN 3

I Vị trí 3

II Đơn vị hành chính Bình Thuận 4

III Dân cư ở Bình Thuận 4

IV Lịch sử tên gợi tỉnh Bình Thuận 5

Phần 2 DU LỊCH BÌNH THUẬN 6

I Du lịch biển 6

II Di tích lịch sử, văn hóa – danh thắng ở Bình Thuận 7

1 Di tích lịch sử, văn hóa của người Chăm ở Bình Thuận 7

1.1 Bộ sưu tập văn hóa Hoàng tộc Chăm 7

1.2 Đền tháp Pô – Sha – Nư 9

1.3 Đền tháp Pô – đam 10

1.4 Đền thờ vua Pooklong Mơh Nai 11

2 Di tích lịch sử, văn hóa người Việt 12

2.1 Đình làng Xuân Hội – Chợ Lầu, Bắc Bình, Bình Thuận 12

2.2 Chùa Cổ Thạch 14

2.3 Núi Tà Cú, chùa Linh Sơn Trường Thọ, tượng Phật Nhập Niết Bàn 15

2.4 Chùa Linh Sơn Cổ Tự - Vĩnh Hảo, Tuy Phong 17

2.5 Dinh Thầy Thím 19

2.6 Di tích trường Dục Thanh 21

2.7 Dinh Vạn Thủy Tú 22

3 Danh thắng ở Bình Thuận 23

3.1 Hòn Rơm 23

3.2 Mũi Né 23

3.3 Hòn Lao Câu 24

3.4 Mũi Kê Gà – Ngọn hải đăng 25

3.5 Gành Son 26

3.6 Hồ Hàm Thuận – Đa My, Hàm Thuận Bắc 26

3.7 Hòn Bà 27

3.8 Bàu Trắng – xã Hòa Thắng, Bắc Bình 28

Trang 3

3.9 Đảo Phú Quý 29

3.10 Núi Ông – Thác Bà 29

4 Lễ hội 30

4.1 Lễ Tảo Mộ 30

4.2 Lễ Hội Ka – Tê 32

4.3 Lễ hội Dinh Thầy Thím 32

4.4 Lễ hội Nghinh Ông 32

4.5 Lễ hội Cầu Ngư 33

4.6 Lễ hội đua thuyền 34

5 Ẩm thực, khu du lịch, nghỉ dưỡng ở Bình Thuận 34

5.1 Ẩm thực 34

5.1.1 Trái thanh long 34

5.1.2 Bánh rế 35

5.1.3 Bánh Căn 36

5.1.4 Chả lụi 37

5.1.5 Dông 7 món 37

5.1.6 Các món gỏi 38

5.1.7 Bánh hỏi lòng heo – Phú Long 38

5.1.8 Bánh canh chả cá 39

5.2 Khu du lịch, nghỉ dưỡng ở Bình Thuận 40

5.2.1 Sea Lion Beach Resort & Spa 40

5.2.2 Ocean Star resort Bình Thuận 41

5.2.3 Khu du lịch Đồi Sứ Bình Thuận 43

5.2.4 Khu nghỉ mát Novotel Ocean Dunes 44

5.2.5 Khu du lịch Non Nước 45

6 Bình Thuận với những kỉ lục Việt Nam 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

Phần 1

Trang 4

TỔNG QUAN BÌNH THUẬN

I VỊ TRÍ ĐỊA LÍ

Bình Thuận là tỉnh cuối của cực Nam Trung Bộ, nằm trải dài từ 10033’42’’ đến

11033’18’’ vĩ độ Bắc và 107023’41’’ đến 108052’42’’ kinh độ Đông; phía Đông Bắc

và Bắc của tỉnh giáp với tỉnh Ninh Thuận, phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng,phía Tây giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây Nam giáp với Bà Rịa – Vũng Tàu, phía Đông

và Đông Nam giáp biển Đông với chiều dài bờ biển 192 km Đây cũng là nơi nhậnnhững nhánh cuối cùng của dãy Trường Sơn Nam chạy dọc biển Với điều kiện nênđịa hình Bình Thuận bao gồm: đồi núi thấp, gò đồi, đồng bằng, đồi cát và cồn cát venbiển ngoài khơi có một số đảo, trong đó có 10 đảo của huyện Phú Quý cách thành phốPhan Thiết 120 km Trên địa bàn tỉnh có một số núi cao như: Đa Mi (1.642 m), DangSruin (1.320 m), Núi Ông Trao(1.222 m), Gia Bang (1.136 m), núi Ông (1024m), ChiKét (1017m), một số nhánh mũi chạy ra sát biển tạo nên các mũi như mũi La Gàn, Kê

Gà, Mũi Né, Hòn Rơm, Mũi Nhỏ

Chạy xuyên suốt theo chiều dài của tỉnh Bình Thuận là hệ thống giao thông củatuyến quốc lộ 1 và đường sắt Bắc Nam giúp nối liền Bình Thuận với các tỉnh miềnĐông và miền Trung Vị trí nằm giữa các trung tâm kinh tế phát triển phải kể đến nhưthành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Nha Trang đây tạo điều kiện thuậnlợi cho việc thiết kế các chuyến du lịch phù hợp với từng loại nhu cầu du lịch như

Trang 5

tham quan, nghĩ dưỡng, kết hợp tham quan các tỉnh, thành như: thành phố Hồ ChíMinh – Bình Thuận, thành phố Hồ Chí Minh – Nha Trang… một phần không thểthiếu trong tài nguyên du lịch là các tài nguyên nhân văn bao gồm các khu du lịch, ditích văn hóa, lịch sử, nghệ thuật, … phân bố đều các huyện, thành phố, thị xã và phân

bố chạy dọc theo hai tuyến đường giao thông chính của quốc gia Cộng với tài nguyên

tự nhiên sẵn có và khá phong phú hấp dẫn của tỉnh như núi, biển xanh đẹp, nắng, gió,đến các mũi ven biển, những đồi, cồn cát đẹp, các đảo ngoài khơi, văn hóa ẩm thựcđặc sắc … đã góp phần hòa vào nhau để tạo nên một sức hấp dẫn đặc biệt

II ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CỦA TỈNH BÌNH THUẬN

Với tổng diện tích là 7.830 km2 bao gồm một thị xã LaGi, thành phố trực thuộc

là Phan Thiết, 8 huyện: huyện Hàm Tân, huyện Tánh Linh, huyện Đức Linh, HàmThuận Nam, Hàm Thuận Bắc, huyện Bắc Bình, huyện Tuy Phong, huyện đảo PhúQuý

Nhiệt độ trung bình 270C, độ ẩm 79 % cùng với tổng số giờ nắng trong mộtnăm khoảng 2.459 giờ Với điều kiện như vậy nên Bình Thuận một trong những tỉnh

có khí hậu khô hạn nhất cả nước, số giờ nắng cao tạo điều kiện để du lịch tỉnh không

bị gián đoạn, những hoạt động vui chơi, du lịch, thể thao biển diễn ra thường xuyên.III DÂN CƯ

Tính đến tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh có 1.169.450 người, đó là tổng số củacác dân tộc anh em cùng sinh sống trên mảnh đất Bình Thuận Cùng với sự hình thành

và phát triển của địa phương là sự cư trú của các cộng đồng dân tộc để tạo ra nhữngnét văn hóa khác nhau Xét về quá khứ, vùng đất này xưa kia là địa bàn sinh sống củangười Chăm và một số ít dân tộc Raglai, Cơ Ho… Nửa đầu thế kỉ XVII, các nhómngười Việt từ đàng Ngoài vào bằng đường biển phần đông làm nghề nông, nghề biển,thủ công như đóng thuyền … khi đến vùng đất này họ đã sóng ven các bãi ngang, cửasông dọc theo bờ biển để làm ăn, ổn định cuộc sống cùng với đó, người Hoa ở cáctỉnh như : Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam vào Bình Thuận bằngđường biển, phần đông họ làm nghề buôn bán, dịch vụ Cho đến thời gian chiến tranhchống đế quốc xâm lược, có thêm các đồng bào miền Bắc, miền Trung bị cưỡng épvào Bình Thuận, trong đó có một số dân tộc ít người như : Tày, Nùng, Dao, Thái,Mường

Trang 6

IV LỊCH SỬ TÊN GỌI CỦA TỈNH BÌNH THUẬN

Trước khi thành lập, Bình Thuận là một trấn có tên là Thuận Thành Năm 1697,chúa Nguyễn đã đổi ra phủ Bình Thuận sau này đổi thành dinh, tên Bình Thuận ra đời

từ lúc này

Năm 1832, dưới triều vua Minh Mạng, dinh Bình Thuận được đổi thành tỉnh BìnhThuận với hai phủ là Ninh Thuận bao gồm hai huyện An Phước, Tuy Phong và phủHàm Thuận gồm huyện Hòa Đa và Tuy Định

Đến năm 1976, Bình Thuận, Ninh Thuận và Bình Tuy (Bình Tuy bao gồm huyện HàmTân, Hoài Đức, Tánh Linh, Nghĩa Lộ và thị xã La Gi) sáp nhập thành tỉnh Thuận Hải.Lúc này Thuận Hải bao gồm các đơn vị hành chính như: huyện Ninh Hải, An Sơn,Bắc Bình, Hàm Thuận, Hàm Tân, Đức Linh và thị xã Phan Thiết Năm 1977, thànhlập huyện Phú Quý

Từ năm 1979 đến 1983, tỉnh Thuận Hải chia tách một số huyện, thị trấn như: thị trấnPhan Rang tách khỏi huyện Ninh Hải cùng với thị trấn Tháp Chàm của huyện An Sơnthành lập thị xã Phan Rang – Tháp Chàm; huyện An Sơn chia thành hai huyện NinhSơn và Ninh Phước; Hàm Thuận chia thành Hàm Thuận Nam và Hàm Thuận Bắc;huyện Đức Linh chia thành huyện Đức Linh và Tánh Linh; huyện Bắc Bình chia rahuyện Bắc Bình và Tuy Phong

Tháng 4 năm 1992, tỉnh Thuận Hải chia thành hai tỉnh là Ninh Thuận và Bình Thuận.lúc này, tỉnh Bình Thuận có các huyện, thị xã như: huyện Phú Quý, Bắc Bình, TuyPhong, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân, Đức Linh, Tánh Linh và thị xãPhan Thiết

Đến năm 1999, thị xã Phan Thiết được nâng lên thành phố; tháng 11 năm 2005, huyệnHàm Tân chia thành thị xã La Gi và huyện Hàm Tân và từ đây đơn vị hành chính củatỉnh Bình Thuận được hoàn chỉnh như ngày nay

Phần 2

DU LỊCH BÌNH THUẬN

Trang 7

I DU LỊCH BIỂN

Tình yêu luôn là đề tài muôn thưở của nhân loại Người ta ví tình yêu như là biển,

vì chỉ có biển mới dạt dào, mênh mông và chỉ có biển mới thể hiện được sự bao lakhông bờ bến, như tình yêu vậy

Đến với biển mọi người sẽ được thả hồn theo mây nước, vui đùa trên bãi cát mịn vàdòng nước mát lạnh mơn trớn dưới bàn chân Sóng biển mãi vỗ bờ và vô tình mangtheo những dấu chân trần vừa in trên cát, để lại lòng ta một chút ngỡ ngàng, lâng lâng.Những rặng dừa xanh mướt

biển, mang theo bao điều hân

hoan không tả xiết Đứng

trước biển để nhìn mặt trời mọc chắc chắn bạn sẽ có thể trở thành thi sĩ của tình yêu Đêm với biển dặt dìu theo tiếng sóng, bạn sẽ nhìn thấy vô số những đốm sáng đèn củanhững ghe chài ngư dân bập bềnh trên sóng biển, theo ánh trăng dìu dịu phía trên caotạo cảm giác như bức tranh thủy mạc đầy ý thơ

Trang 8

Vua Pôklong Mơ HNai

Vương quốc Chămpa kể từ khi hình thành, tồn tại và phát triển với tư cách là một Nhànước độc lập, có một vương triều được chuyển tiếp qua nhiều thế hệ với hàng chụcđời vua chính thống và sau này là một số đời vua được “phiên vương” Mỗi triều đại

có một cách trị vì đất nước khác nhau, nhưng đều giữ được bản sắc văn hoá củangười Chăm Đặc biệt trong các vương triều của Vương quốc Chămpa đều sử dụngcác loại phương tiện sinh hoạt, vũ khí, trang phục triều chinh hoàn toàn khác các nước

và các vương quốc trong khu vực

Mặc dù Vương quốc Chămpa trong tiến trình phát triển của lịch sử, đã qua nhiều triềuđại khác nhau nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, chủ yếu là do chiến tranh nênkhông còn lưu giữ lại được những đồ dùng sinh hoạt trong triều chính Chỉ còn lại mộtsưu tập duy nhất của triều vua PôKlong Mơ HNai và hoàng hậu Ôbia Sơm là tươngđối đầy đủ nhưng không phải tất cả đều của triều vua này mà vương miện, vũ khí vàmột số đồ quý hiếm khác phải có nguồn gốc từ các vương triều trước

Sưu tập di sản của Hoàng tộc Chăm còn lại hiện nay do các Vua Chăm truyền lại chocác thế hệ hậu duệ lưu giữ Người được quyền thừa kế và lưu giữ lâu nhất là bàNguyễn Thị Thềm, hậu duệ của dòng Vua PôKlong Mơ HNai, bà là một trong nhữngngười có uy tín và được người Chăm tin yêu, gọi bà là “công chuá” Năm 1995 bả đãqua đời và người thừa kế tiếp theo là bà Nguyễn Thị Đào cháu gái bà Nguyễn ThịThềm Sưu tập di sản Hoàng tộc Chăm hiện bảo lưu tại thôn Tịnh Mỹ - xã Phan Thanh

- huyện Bắc Bình cách thành phố Phan Thiết 62 km về hướng Bắc

Trang 9

Sưu tập bao gồm hơn 100 hiện vật là phương tiện, đồ dùng, trang phục trong cungđình, đa phần là loại độc bản quý hiếm như vương miện của Vua là loại vương miệnđúc bằng vàng, chạm trổ điêu khắc tinh vi và công phu, theo nghệ thuật truyền thốngcủa người Chăm xưa dành cho nhà vua Khác với vương miện của Vua Trung Quốc

và Vua Việt biểu tượng là rồng, còn ở đây trên vương miện là 2 con Makara quấn quýttrên vương miện thể hiện uy quyền của Nhà vua Vương miện của Hoàng hậu Chămcũng bằng vàng và có hình dạng nhỉ, đẹp với trang trí nghệ thuật tiêng Cạnh đó lànhiều loại trang phục của Nhà vua: áo mặc trong triều, áo trận, hài, bộ vũ khí gươngđao và một số đồ dùng bằng bạc và sứ có nguồn gốc từ Trung quốc, Nhật Bản Trangphục và trang sức của Hoàng Hậu Chăm có hình dạng lạ và trang trí đẹp theo phongtục truyền thống, trang phục của Công Chúa và Hoàng tử Chăm cũng khác lạ Nhiềuloại hiện vật khác bằng bạc như đồ đựng trầu cau, bằng đồng như bộ nhạc cụ cùngnhiều loại tài liệu khác liên quan đến đất

đai và sinh hoạt triều chính, một số sắc

phong của các vua triều Nguyễn ban tặng

cho vua PôKLong MơHNai, dấu ấn

Vương miện vua Chăm

Đây là sưu tập duy nhất còn lại của

vương triều Chămpa sau gần 2 thiên niên

kỷ tồn tại, và rất có giá trị về mặt lịch sử

văn hoá, hiện sưu tập đang được trưng

bày tại kho mở tại gia đình bà Nguyễn

Thị Đào, hậu duệ nhiều đời vua Chămpa

tại xã Phan Thanh, huyện Bắc bình

Với giá trị lịch sử nghệ thuật của bộ sưu tập, Nhà nước đã xếp hạng công nhận là ditích lịch sử - nghệ thuật cấp quốc gia cùng với nhiều đền thờ PơKlong MơHNai vàonăm 1993

1.2 Đền tháp Pô – Sha – Nư

Trang 10

Vị trí: Nhóm di tích tháp cổ Pô-Sha-Nư, hay còn gọi là tháp Phú Hải, thuộc

phường Thanh Hải, Tp Phan

Thiết, tỉnh Bình Thuận

Đặc điểm: Nhóm di tích

tháp cổ Pô-Sha-Nư là cả một tổng

thể kiến trúc đền tháp của người

Chăm - thờ các tiểu tiên nữ con

gái thần mẹ Pô Nagar

Đây là tuyệt tác của dân tộc

Chăm để lại cho nhân loại Nhóm

tháp này gồm 3 tháp và nhiều

tháp bị đổ khác nay chỉ còn lại phế tích và nền móng Ba ngôi tháp hiện còn phân bổ

trên 2 tầng đất, quay mặt về hướngđông Cả ba ngôi tháp đều là thápvuông nhiều tầng, có niên đại thế

kỷ 8, ở phong cách Mỹ Sơn E1(phong cách kiến trúc Chăm cổ)

Có một số yếu tố kiến trúc như cộttrụ tròn ở các cửa giả, micửa tương tự như ở các đền thápKhmer

Nhóm tháp Chàm Pô-Sha-Nư toạlạc trên một ngọn đồi có tên "Lầu Ông Hoàng", cách thành phố Phan Thiết 6km vềphía đông bắc

Hàng năm vào tháng giêng âm lịch, các lễ hội Rija Nưga, Poh Mbăng Yang được tổchức dưới chân tháp Nhân dân làm lễ cầu mưa, cầu xin những điều tốt lành

Bên cạnh khu tháp Pô-Sha-Nư là các di tích "Lầu Ông Hoàng", chùa Bửu Sơn, núi Cốnơi có mộ nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông Tiếp tục cuộc hành trình dọc bãi biển đến

đá Ông Địa, biển Mũi Né du khách sẽ bị lôi cuốn vào bức tranh giàu hương vị biểnmặn mà, độc đáo

1.3 Đền tháp PôĐam :

Trang 11

Vị trí: Tọa lạc dưới chân núi có tên là núi Ông Xiêm thuộc địa phận xã Phú

Lạc, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận nằm về hướng Tây Bắc, cách thành phố PhanThiết khoảng 110 km

Niên đại: Tương tự như

nhóm tháp Pôshanư cả về kỹ

thuật xây dựng và nghệ thuật

kiến trúc, và có niên đại nửa

cuối thể kỷ VIII đầu thế kỷ IX

thuộc phong cách kiến trúc

nghệ thuật Hòa Lai, một phong

là Trà Duyệt, ông có công giúp dân làm các hệ thống thủy lợi nổi tiếng trong vùng,hiện nay còn phát huy tác dụng ở vùng Tuy Phong, Bắc Bình

Thông thường các tháp Chăm đều xây cửa chính trổ về hướng Ðông như một nguyêntắc bắt buộc, nhưng 6 tháp trong nhóm PôÐam tất cả các cửa chính đều quay vềhướng Nam, trong lòng hẹp hơn, dài hơn Ðây là trường hợp ngoại lệ đặc biệt khôngtuân thủ nguyên tắc cũ do có nhiều nguyên nhân về địa lý và tôn giao mà đến naychưa có sự phân tích, giải nghĩa nào rõ ràng Ðiều đặc biệt khác là cả 6 tháp trong

Trang 12

nhóm PôÐam đều nhỏ và thấp hơn các tháp Chăm khác Tháp cao nhất khoảng 7 - 8m,mỗi cạnh đáy khoảng 3 - 3,50m.

Kỹ thuật xây dựng và nghệ thuật trang trí tập trung chủ yếu ở tháp Chính (tháp Cnhóm Bắc) ở đây tuy thời gian đã làm tàn lụi phần đỉnh nhưng thân tháp còn nguyênvẹn những hình tượng, nghệ thuật trang trí đều và dày đặc trên thân, vòm cuốn, trụ áptường Những hình thù kỳ quái, những bông hoa xoắn xít nhau, hình tượng Makara vịThần canh giữ đền tháp là nét đặc trưng của phong cách Hòa Lai cổ

Tháp PôÐam là nơi thực hiện nghi lễ, thờ cúng Vua Chăm hàng năm của người ChămPhú Lạc và các vùng lân cận Hiện những dòng tộc là hậu duệ của Vua còn lưu giữ 8sắc phong do các Vua Triều Nguyễn từ Minh Mạng đến Khải Ðịnh phong tặng VuaPôÐam, chúng được cất giữ đặc biệt như báu vật của dòng tộc và trách nhiệm của hậuduệ Vua

Nhóm đền tháp PôÐam đã được Nhà nước xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấpQuốc gia năm 1996

1.4 Đền thờ vua Pôklông – MơhNai

Vị trí: Nằm trên đỉnh đồi cát thuộc thôn Lương Bình, xã Lương Sơn, huyện Bắc

Bình, tỉnh Bình Thuận, cách thành phố Phan Thiết khoảng 60km về phía bắc

Đặc điểm: Ðền thờ được xây dựng để thờ vua Chăm Pôklông - Mơh Nai, một

trong những vị vua cuối cùng của Vương quốc Chămpa trước khi Vương quốc này tan

rã Ðối lập với nền nghệ thuật

và kỹ thuật xây dựng thápChăm từ thế kỷ 17 trở về trước,

từ thế kỷ 17 trở về những thế kỷsau khi đất nước bị suy kiệt,nhân tài vật lực và kỹ thuật bịthất truyền mà việc thờ phụng

tổ tiên và tôn giáo vẫn là nhucầu thường trực nên ngườiChăm chuyển sang xây dựngdạng kiến trúc đền thờ như một ngôi chùa đương thời và sử dụng vật liệu gỗ, ngói, vôi

Trang 13

như người Việt Tiêu biểu cho dạng kiến trúc này là đền thờ vua Chăm Pôklông - MơhNai

Ðền thờ gồm có 5 gian thờ xây dựng theo hình chữ T Dãy nhà 3 gian dùng để thờphụng: gian giữa thờ tượng vua Pôklông - Mơh Nai; gian bên phải thờ tượng bà thứphi người Việt, công chúa con của một vị chúa Nguyễn, cùng một số tượng Kút concủa bà; bên trái là gian thờ hoàng hậu Popia Sơm, vợ cả của vua, cùng một số tượngKút chạm khắc đẹp là con của bà Dãy nhà trước gồm 2 gian lớn để trống dùng làmnơi chờ đợi và thực hiện nghi lễ bên ngoài trước lúc vào đền thờ

Tượng vua Pôklông - Mơh Nai được các nghệ nhân Chăm tạc bằng một khối đá xanhxám với nghệ thuật điêu khắc tinh tế Pho tượng tả cảnh nhà vua đang ngự ở triềuđình, đầu đội vương miện oai nghiêm Ðây là một trong những pho tượng Chăm cókích thước lớn còn tồn tại nguyên vẹn đến ngày nay

Hàng năm gia đình, dòng tộc hậu duệ nhà vua cùng đồng bào Chăm tổ chức nhiềunghi lễ tại đền thờ Lớn nhất là dịp lễ hội Katê tổ chức vào tháng 7 Chăm lịch Vào dịp

lễ hội này tượng vua được đội vương miện thật bằng vàng, mặc áo đại lễ Tượnghoàng hậu và thứ phi cũng được tắm rửa mặc áo, đội mũ

Ðền thờ Vua Chăm Pôklông Mơh Nai đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử nghệ thuật cấp Quốc gia vào năm 1991

-2 Di tích lịch sử, văn hóa của người Việt

2.1 Đình làng Xuân Hội ( Chợ Lầu – Bắc Bình – Bình Thuận)

Niên đại: Đình làng Xuân Hội kiến tạo vào năm Quý Hợi 1803 năm Gia Long

thứ hai và hoàn chỉnh vào một thời gian sau đó Đình được xây dựng trên vị trí đãchọn lựa cao ráo, thuận lợi và đảm bảo các yếu tố về phong thủy địa lý, đình xoay mặt

về hướng Nam, trước đó là khúc quanh của Sông Lũy Đầu triều Nguyễn, đình XuânHội thuộc huyện Hoà Đa - phủ Hàm Thuận, nay là thôn Xuân Hội thuộc thị trấn ChợLầu - huyện Bắc Bình – cách thành phố Phan Thiết 65km về phía Bắc

Lịch sử - đặc điểm – kiến trúc: Đầu thế kỷ XIX đình Xuân Hội được hoàn tất

và đây là một trong những ngôi đình cổ đồ sộ nhất của tỉnh thành Bình Thuận cũ.Đình bao gồm 9 nóc ; đình thờ Thần, Đình thờ Tiền Hiền, Hậu Hiện, nhà Thanh minh,nhà nhóm, nhà khách, nhà ống, nhà âm công, nhà trù và cổng tam quan Ngoài ra còn

có những kiến trúc phụ : Cổng tiền, án phong, vòng thành, cổng hậu, cột cờ Đình

Trang 14

Xuân Hội có kiểu kiến trúc nhà kép, dân gian gọi là “Trùng thiềm điệp ốc” là lối kiếntrúc cổ truyền được xây dựng để thờ phụng Thần Thánh, không ai dùng làm nhà ở.Ngoại thất của Đình Xuân Hội trên nóc gắn 2 con rồng đắp nổi bằng kỹ thuật dângian, mảnh sứ, trên bờ nóc, bờ quyết cũng được gắn hình tượng giao long làm cho nócđình vừa đẹp, vừa tăng tính oai nghiêm.

Nội thất đình sử dụng nguyên liệu là các loại gỗ quý, hệ thống các hàng cột chínhđược chú trọng, đây là những cột trụ lớn, từ đây liên kết với hệ thống kèo, quyết, kèođâm, trính, xà ngang tỏa rộng ra tòan bộ ngôi đình tạo thành một khối liên kết vữngchắc để nâng đỡ bộ mái bên trên Tất cả các chi tiết kiến trúc đều được chạm trổ, trangtrí nghệ thuật, đặc biệt là những cột trốn chạm khắc công phu tạo nên hình tượng hổphù sắc nét

Đình chính nối với Tiền đường là nóc nhà trước bằng hệ thống trần thừa lưu, nhờ kiếntrúc này làm cho ngôi đình rộng rãi hơn, cao hơn, tránh được sự nặng nề của phầnmái Nội thất đình bài trí 10 khám thờ bằng gỗ, đã được chạm khắc, trang trí nghệthuật, sơn son thiếp vàng, nổi lên với hình “Tứ linh” : Long , Lân, Quy, Phụng Trêncác khám thờ còn trang trí nhiều loại hoành phi, liễn đối cổ khắc bằng chữ Hán, nộidung ca ngợi công đức các bậc tiền bối của làng trong đó có những bức hoành, khámthờ có niên đại từ ngày tạo dựng đình

Nhà thờ Tiền Hiền, Hậu Hiền có diện tích tương đối rộng với 36 cột chia thành 5 gianthờ Tiền Hiền của làng là ông Lê Thái người có công lớn trong việc khai khẩnlậplàng và dựng đình Nhìn tổng thể nội dung thờ phụng trong đình Xuân Hội, thực sựđây là một bảo tàng truyền thống của một ngôi làng cổ của người Việt, với đầy đủnhững gì liên quan đến đời sống văn hoá tinh thần, tín ngưỡng dân gian Đồng thời ởđây còn lưu giữ nhiều di sản văn hoá và tư liệu quý của nhiều thế hệ trước, trong đó có

cả một số hiện vật của người Chăm gởi gắm thờ phụng ở đây, 12 điệu sắc thần của cácTriều Nguyễn ban tặng cho các vị thần ở đình Làng Xuân Hội

Đình Xuân Hội đã trải qua một số lần tu bổ, nhưng về cơ bản vẫn giữ nguyên được giátrị kiến trúc ban đầu và nội dung thờ phụng, di sản văn hoá bên trong vẫn được bảotồn trọn vẹn Nhà nước đã xếp hạng đình Xuân Hội là di tích kiến trúc nghệ thuật cấpQuốc gia năm 1995

Trang 15

2.2 Chùa Cổ Thạch

Vị trí: Chùa Cổ Thạch (Chùa Hang) tọa lạc ở xã Bình Thạnh, huyện Tuy

Phong, tỉnh Bình Thuận, trên ngọn núi cao 64m, kề bên bãi biển Cà Dược Chùa cách

Tp Phan Thiết 105km về

hướng bắc

Đặc điểm:Chùa Hang

được dựng trong hang đá lớn

đã có từ hơn 100 năm nay,

bên cạnh những bãi đá bảy

màu tuyệt đẹp

Lúc đầu chùa chỉ là một thảo

am nhỏ do Thiền sư Bảo

Tạng khai sơn vào khoảng

giữa thế kỷ 19 Về sau chùa được xây dựng lại khang trang với tên gọi chùa CổThạch Sau đó chùa lại nhập với chùa Bình Phước và được trùng tu mở rộng Chùađược trùng tu nhiều lần từ 1956 đến 1964 Đứng trên chùa Hang, du khách có thểphóng xa tầm mắt chiêm ngưỡng cả vùng bãi biển mênh mông xanh biếc với rất nhiềutảng đá xếp chồng lên nhau tạo thành nhiều hình thù đẹp mắt

Cách chùa Hang không xa là Hang Gió Từ đây nhìn ra biển, bạn có thể thấy được bãi

Cà Dược, bãi sỏi bảy màu (những viên sỏi trơn nhẵn có nhiều màu sắc khác nhau: từtrắng muốt, đen tuyền,

xanh, vàng nhạt đến xám,

nâu, rồi tím sẫm) uốn cong

theo bờ biển xanh Một

làng du lịch Cổ Thạch mới

được dựng lên với nhiều

ngôi nhà xinh xắn theo

kiểu nhà sàn để đón du

khách về viếng chùa và

thưởng ngoạn thắng cảnh

Bãi biển Cổ Thạch

Trang 16

2.3 Núi Tà Cú

– chùa Linh Sơn Trường Thọ - tượng Phật nhập niết bàn

Vị trí: Núi Tà Cú

(cao 649m ) nằm ven

Quốc lộ 1A, thuộc xã Tân Lập, huyện Hàm Thuận Nam, cách Phan Thiết 28 km vềphía Nam Chùa Núi Tà Cú (chùa Linh Sơn Trường Thọ) tọa lạc trên sườn núi Tà Cú

ở độ cao 400 m Phía sau chùa là tượng Phật Thích Ca Nhập Niết Bàn, dài 49m.Núi

Tà Cú (cao 649m ) nằm ven Quốc lộ 1A, thuộc xã Tân Lập, huyện Hàm Thuận Nam,cách Phan Thiết 28 km về phía Nam Chùa Núi Tà Cú (chùa Linh Sơn Trường Thọ)tọa lạc trên sườn núi Tà Cú ở độ cao 400 m Phía sau chùa là tượng Phật Thích CaNhập Niết Bàn, dài 49m Phong cảnh nơi đây thật hữu tình với bờ biển trải dài, đá núimuôn hình thù, rừng xanh bao quanh, tạo cho Tà Cú thêm nét hùng vĩ, uy nghiêm.Chùa tọa lạc trên đỉnh núi Tà Cú nên gọi là Chùa Núi Tà Cú để phân biệt với một sốchùa trên các núi khác ở Bình Thuận Chùa Núi xây dựng từ năm 1897 nhưng trước

đó nhiều năm đã có chùa thờ Phật bằng mái tranh vách đất Chùa thuộc địa phận xãTân Lập huyện Hàm Thuận Nam cách Phan Thiết khoảng 30 km về hướng ĐôngNam

Lịch sử - đặc điểm – kiến trúc: Chùa Núi do nhà sư Trần Hữu Đức trụ trì, nơi xây

dựng chùa do nhà Sư chọn hiện ở đỉnh cao 457m, ở đó quanh năm có cây xanh, suốichảy, chim vượn ở ngay cạnh chùa Về sau có nhiều lý do khác nhau, chùa tách thànhhai, chùa cũ vẫn ở chỗ cũ gọi là chùa trên với tên gọi là Linh Sơn Trường Thọ và chùadưới có tên là Linh Sơn Long Đoàn, gọi chung là Chùa Núi

Năm 1872 nhà Sư Trần Hữu Đức ( 1812-1887) pháp danh Thông Âm, pháp hiệu HữuĐức từ miền trung một mình vượt núi, xuyên rừng rậm, thú dữ, đường đi khó khăn

Trang 17

hiểm trở lên đỉnh núi Tà Cú tìm nơi an tịnh để tu hành Nơi tu hành của nhà sư banđầu là một hang đá (về sau gọi là hang Tổ) Mãi 7 năm sau những người đi rừng mớiphát hiện ra hang đá nơi tu hành của nhà sư góp công của để xây dựng thảo am chonhà sư tu hành Vừa tu hành vừa bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân được 16 năm thìTrần Hữu Đức viên tịch ngày 5/10/1887.

Lúc còn sống, nhà sư còn là thầy thuốc giỏi, tương truyền “ vào năm Tự Đức thứ 33Canh Thìn ( 1880) nhà sư đã cứu Hoàng Thái Hậu thoát khỏi bệnh hiểm nghèo bằngthuốc của mình Vua Tự Đức đã ban sắc và đặt tên chùa là “Linh Sơn Trường Thọ”

và nhà sư Trần Hữu Đức là “Đại lão Hoà thượng” cũng từ đó chùa có tên Linh SơnTrường Thọ Ngôi chùa dưới “Linh sơn Long đoàn” xây dựng vào cuối thế kỷ XIXtheo ý nguyện của nhà sư trước lúc viên tịch

Chùa Núi Tà Cú kết hợp, xen kẽ với núi rừng làm nên khu danh lam thắng cảnh từxưa Toàn thể cảnh chùa là 1 tổng thể kiến trúc bao gồm : Cổng tam quan, điện thờ,tượng Phật, tháp mộ, hang tổ ẩn mình dưới rừng cây cổ thụ xanh tươi 4 mùa

Từ dưới chân núi, leo lên hàng trăm bậc tam cấp theo những con đường ngoằn ngoèogiữa rừng già mới đến chùa Ở đây không khí mát lạnh, trong lành, hơi nước toát ra từnúi đá với không

Trang 18

kính, các nghệ nhân đã tạo nên pho tượng hiếm có trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam.tác phẩm do kỹ sư Trương Định Ý chủ trì vào năm 1962.

Cách pho tượng Phật nằm chừng 50m là nhóm Tam Thế Phật : ADi Đà, Quan Âm Bồtát, Đại Thế Chí Cả 3 pho tượng có chiều cao khoảng 7m, với nét mặt hiền hoà đangnhìn bao quát thế gian như để sẵn sàng cứu nhân độ thế

Vào các mùa trong năm lúc nào cũng có khách thập phương đến viếng Phậtngắm cảnh chùa và rừng núi, nhất là dịp Xuân sang Tết đến có hàng vạn người kéođến chùa, rồng rắn nối nhau leo núi Những năm gần đây năm nào cũng tổ chức hội thileo núi thu hút thanh niên từ các tỉnh miền Đông tham gia Chùa Núi cùng với nhữngcánh rừng trong khu Bảo tồn thiên nhiên đã được Nhà nước xếp hạng thắng cảnh quốcgia năm 1993

2.4 Chùa Linh Sơn Cổ Tự - Vĩnh Hảo, Tuy Phong

Vị trí: Tổ Đình Linh Sơn cổ tự tọa lạc giữa lưng chừng núi Linh Sơn Vĩnh Hảo,

do Tổ Hải Bình Bảo Tạng khai sơn vào khoảng năm 1938 – 1939

Lịch sử - đặc điểm – kiến trúc: Khởi nguyên của ngôi Chùa là một hang đá bên dòng

suối, xưa kia Tổ Bảo Tạng từ Trà Can vào để ẩn thân tu thiền, do cảm ân đức của Tổnên dân làng dựng lên ngôi Chùa bằng tranh để thờ phụng Tam bảo và làm nơi hành

đạo cho Tổ Bảo Tạng Dân làng thỉnh Tổkhai sơn trụ trì và được Tổ đặt hiệu là LinhSơn Tự Tổ Bảo Tạng trụ xứ nơi đây mộtthời gian, Ngài đã dùng định lực để nhiếp

độ quần sinh trong ấy có cả loại cọp beo quiphục Con người và cầm thú sống quanhquần bên nhau mà chẳng có một ác niệmnào

Bên cạnh Chùa có suối Hàm Rồng đến mùamưa nước lớn, nước trên cao trong đá HàmRồng phun ra tọa thành một luồng nướcmạnh, mới nhìn chúng ta thấy như rồngđang phun nước Phía dưới suối Hàm Rồng

là hang Tổ Trong hang tôn trí bảo tượng Tổ

Trang 19

Bảo Tạng và long vị của Ngài Hang Tổ nằm bên bờ suối Đá chồng chất lên nhau làmcho cảnh quan thêm hùng tráng Bên cạnh hang có xây một bảo tháp và bia đá támthán công đức của Tổ Bảo Tạng (Bảo tháp này do Đại Đức Nguyên Thận và Phật Tửxây dựng vào năm 1995).

Đời Hòa Thượng Thiện Minh trụ trì Ngài đúc một Đại Hồng Chung Tượng Tổ BảoTạng, tượng Phật và Bồ Tát bằng đồng hiện nay vẫn còn bảo quản ở tại Chùa Sau đóHòa Thượng Thiện Minh về trụ trì Chùa Cổ Thạch, Ngài giao lại cho Đại Sư ThiệnHạnh trông coi, Sư Thiện Hạnh húy Thị Thông cùng với các cư sĩ Nguyễn Lăng,Nguyễn Ôn, Phan Để, Phạm Hành suốt đời hy sinh để bảo vệ ngôi Chùa lịch sử này.Đặc biệt cụ Phạm Hành trong khi cuốc đất trồng chuối đã tìm thấy một chiếc ấn bằngđồng đen trong thời Quang Trung Nguyễn Huệ, đây cũng là một bảo vật của Chùa.Năm 1948 kháng chiến bùng nổ, nhân dân đã chọn ngôi Chùa này làm nơi che chởcách mạng, từ đó phong trào chống Pháp được dấy lên mạnh mẽ, bao nhiêu tình cảmđói no, sướng khổ của nhân dân trong thời kháng chiến đều được che chở dưới máiChùa Tổ Linh Sơn qua bài thơ:

41 năm trở lại cảnh này Điêu tàn xơ xác thật đắng cay Còn đâu gốc mít ngày hai bữa

Đỡ dạ no lòng lúc chống Tây Mái Chùa che chở khi mưa nắng Nay chỉ thay vào mấy tấm tranh Căm thù lũ giặc gây tang tóc Xây dựng nâu thiền ta chung tay.

Trong thời chiến tranh, Linh Sơn cổ tự bị triệt hạ toàn bộ Đến năm 1993, Đại ĐứcNguyên Thận được bổ nhiệm trụ trì, Thầy đã vận động Phật Tử trùng tu lại toàn bộngôi Chùa trên nền cũ, Chùa được xây dựng lại cổng Tam Quan và đặc biệt tạo thêmnhững cảnh quan theo tín ngưỡng dân gian, như Tề Thiên Đại Thánh, Dinh Ngũ Hành,miếu Sơn Thần…Trước chánh điện xây chiếc thuyền Bát Nhã, trên tôn trí tượng BồTát Quán Thế Âm, giữa cảnh núi rừng thâm u, ẩn hiện trong tàn cây hóc đá nhữngđiện thờ nghi ngút khói hương khi Phật Tử đến chiêm bái tưởng chừng như mình lạctrong cảnh Tây Phương Tịnh Độ

Trang 20

Điện Phật cũng như những ngôi Chùa trong Tỉnh, chính giữa thờ Đức Bổn Sư, phía tảthờ Bồ Tát Quán Thế Âm, phía hữu thờ Quan Thánh, hậu Tổ thờ tượng Tổ Đạt Ma,tượng Tổ Bảo Tạng và long vị các Hòa Thượng.

+ Khai sơn Lâm Tế đời 40 húy Hải Bình Bảo Tạng Hòa Thượng

+ Kế truyền Lâm Tế đời 41 húy Trừng

Quang Thiện Minh Hòa Thượng

Đặc biệt Chùa còn giữ được một số bảo

vật như Ấn Đồng, quả Đại Hồng Chung

và nhất là pho tượng Tổ Bảo Tạng bằng

đồng rất có giá trị về mặt lịch sử

2.5 Dinh Thầy Thím

Vị trí: Nếp nhà ấy bình dị như

một mái nhà quê luôn trông ngóng

người ở xa trở về Dinh Thầy Thím thuộc xã Tân Tiến, thị xã La Gi, Bình Thuận vẫn

như một mái ấm của cả dân làng TamTân từ hàng trăm năm qua, và rồi đểnhững ai trở về đây như tìm về mộtchốn bình yên cho tâm hồn

Huyền thoại - kiến trúc: Người

dân truyền tai nhau truyền thuyết, rằngngày xưa, ở Quảng Nam có một đạo sĩgiàu lòng nhân ái, võ thuật hơn người,thường có những nghĩa cử cao đẹp rấtđược dân làng mến mộ Vì bị nhà vua xử oan ức, đạo sĩ cùng vợ phiêu dạt vào phươngNam lánh nạn Làng Tam Tân trù phú trở thành nơi dừng chân của nhà đạo sĩ có tài vàchuyên cứu giúp dân lành

Cũng vì giúp dân làng dời ngôi đình khang trang thờ thần hoàng ở làng kế bên về màthầy bị vua xử phạt "tam ban triều điển" (chém chết, uống thuốc độc hoặc treo cổ),phải rời làng quê cũ lưu lạc vào làng Tam Tân, thuộc xã Tân Tiến, thị xã La Gi, BìnhThuận ngày nay Dân gian còn lưu truyền rằng, thầy - thím rời làng quê cũ bằng dải

Trang 21

lụa vua ban để khép tội chết mà khi đến tay thầy bỗng hóa thành rồng mang hai vợchồng Thầy bay vào phương Nam.

Những ngày đến lập nghiệp ở làng Tam Tân, Thầy ở trọ nhà ông Hộ Hai làm nghềđốn củi, đóng ghe, bốc thuốc chữa bệnh cứu người Điều lạ lùng là lúc nào thầy cũngmang theo bên mình quả bầu khô Một lần Thầy vội vã vào rừng không mang theo quảbầu, chủ nhà bèn lén lấy mở ra xem, bỗng lửa phụt ra thiêu rụi cả căn nhà

Từ đó thầy - thím dời hẳn vào rừng sâu, dùng phép thuật để chữa bệnh, đóng ghethuyền cho ngư dân, trấn áp bọn gian thương và nhà giàu cứu giúp dân nghèo Quanhkhu rừng cả ngày vang lên tiếng đục đẽo gỗ như có cả một đội quân cùng đóng ghethuyền, nhưng chưa bao giờ dân làng thấy một người giúp việc nào của thầy

Có một mạch nước nhỏ dài hơn 3 km chảy từ cánh rừng Thầy đóng ghe ra đến biển

mà dân làng truyền tụng do Thầy tạo ra bằng cây gậy phù phép của đạo sĩ để đưa ghe

ra biển Lạch nước ấy ngày nay vẫn còn, dân gian gọi là "đường lướt ván" Còn nhiềucâu chuyện về lòng nhân ái

của thầy như trừng phạt bọn

buôn gạo lợi dụng năm mất

mùa bóp chẹt dân nghèo, cứu

giúp dân chài trong cơn sóng

to, gió dữ Thầy còn cảm hóa

cả thú rừng vốn là nỗi lo sợ

của những người khai phá

thiên nhiên hoang dã thời ấy

Một ngày mùa thu, được tin

thầy - thím qua đời, dân làng

vội vã tìm đến thì đã thấy hai ngôi mộ bằng cát trắng tinh do thú dữ vun đắp thành ởkhu rừng Bàu Thông Hàng năm cứ đến mùng 5 tháng giêng âm lịch, người ta thườngthấy có đôi bạch hổ - hắc hổ thường về nằm phủ phục canh gác mộ Khi đôi hổ quađời, dân làng cũng an táng ngay sau mộ thầy - thím để tưởng nhớ hai con vật tận trungvới người

Nhớ công đức Thầy - Thím, những người đã có công khai phá vùng đất mới, ngườidân địa phương lập đền thờ ở khu rừng Bàu Cái gần nơi hai người tạ thế Ngày 15-9

Trang 22

âm lịch hàng năm là ngày lễ Tế Thu thầy - thím Đến đời Thành Thái năm thứ 18, nhàvua đã xem lại án xử trước đây và ban sắc phong cho Thầy - Thím là "Chí đức tiênsinh, chí đức nương nương tôn thần".

Huyền thoại về thầy - thím còn lưu truyền mãi giữa dân gian ý nghĩa và giá trị của lẽphải, đạo lý, sự công bằng và chuẩn mực xã hội, lưu lại cho mọi thế hệ nét đẹp nhâncách, tuần phong mỹ tục của nếp làng xưa Ngày nay khi đến tham quan quần thểthắng tích này, người ta vẫn còn tìm gặp được nhiều di tích gắn với những truyềnthuyết về vợ chồng đạo sĩ như gốc cây thầy ngồi đẽo thuyền, đường lướt ván, bốnngôi mộ bằng cát trắng phau của thầy - thím và đôi bạch hổ - hắc hổ nằm không xadinh, tượng đôi hổ ngồi chầu

Dinh Thầy - Thím ban đầu được làm bằng tranh lá đơn sơ vào đầu thế kỷ thứ 19, vềsau dân làng mới xây dựng lại khang trang hơn Những dòng Hán văn cổ chạm khắctrên xà cò chính điện cho thấy dinh được xây dựng vào ngày 25-12-1879 (nhằm năm

Tự Đức thứ 32) Từ ngày ấy đến nay, dinh đã được trùng tu, tôn tạo nhiều lần

Các công trình kiến trúc với nghệ thuật điêu khắc chạm trổ các đường nét trang trí nội

- ngoại thất thể hiện rõ nét kiểu cách kiến trúc cung đình Đôi tượng đá bạch hổ - hắc

hổ, các phù điêu tứ linh, bát tiên được bố trí hài hòa mang lại cảm giác trang nghiêm

và gần gũi Giá trị văn hóa, lịch sử của Dinh Thầy Thím đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia vào ngày 27-9-1997

Người vào Sài Gòn để ra

đi tìm đường cứu

nước Nhà thơ, nhà yêu

nước Nguyễn Thông đã

xây trên một khu đất của

Trang 23

xóm chài nghèo một ngôi nhà gọi là Ngọa Du Sào để đọc sách, ngâm thơ, gặp gỡ vàđàm đạo với bạn thơ, bạn cùng chí hướng yêu nước Khi Nguyễn Thông qua đời nhiềuchí sĩ nổi tiếng vãn thường lui tới Ngọa Du Sào trong đó có Phan Chu Trinh, HuỳnhThúc Kháng, Trần Quý Cáp Được Phan Chu Trinh gợi ý, con trai của nhà yêu nướcNguyễn Thông là Nguyễn Quý Anh đã xây dựng tại đây ngôi trường tiểu học, đặt tên

là Dục Thanh với chí hướng giáo dục thanh niên, nâng cao dân trí cho con em trongvùng và truyền bá tinh thần yêu nước cho thế hệ trẻ

Năm 1909 Nguyễn Tất Thành (tên Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó) trên đường vào nam

đã tìm tới nhà yêu nước Trương Gia Mô ở Bình Thuận, người vừa mới được ra khỏinhà tù thực dân Pháp Trương Gia Mô giới thiệu Nguyễn Tất Thành với Nguyễn QuýAnh lúc đó đang làm hiệu trưởng trường tiểu học Dục Thanh Số phận và con đườngcách mạng buổi bình minh của cuộc đời đi tìm đường cứu nước đã đưa Người đến vớingôi trường nhỏ Dục Thanh nằm kín đáo sát con sông Cà Ty để giờ đây Dục Thanhtrở thành một di tích lịch sử mà có lẽ không người Việt Nam nào không biết tới Năm 1910 Nguyễn Tất Thành trở thành thầy giáo trẻ nhất Năm đó Người tròn 20tuổi Tại đây Nguyễn Tất Thành đã nhận dạy Quốc Văn, Hán Văn và kiêm nhiệm mônthể dục Ngoài ra thầy còn nhận dạy tiếng Pháp khi giáo viên Pháp văn vắng mặt Ngày nay trong khu trường Dục Thanh còn giữ lại được gần như nguyên vẹn những

kỷ vật cách đây gần ngót thế kỷ Trong đó có nhà Ngự - nơi các thầy giáo và học trò

ăn ở nội trú; Ngọa Du Sào; cây khế sau vườn - nơi thầy Thành hay tưới nước chovườn cây vào những buổi chiều

Khu di tích trường Dục Thanh đã trở thành một trong những nơi gắn liền với thân thế

và sự nghiệp của chủ tịch Hồ Chí Minh,

một con người đã trở thành danh nhân

văn hóa thế giới, vô cùng gần gũi thân

yêu đối với mỗi người Việt Nam

2.7 Dinh Vạn Thủy Tú

Niên đại – vị trí : Dinh Vạn Thủy

Tú thành lập từ năm 1762, tọa lạc tại

đường Ngư Ông, TP Phan Thiết, Bình

Thuận

Trang 24

Đặc điểm: Qua cổng tam quan về phía tả là Ngọc Lân thánh địa, về phía hữu là

nhà trưng bày cốt ông Nam Hải Dinh chính có khu chánh điện thờ thần Nam Hải, bênphải thờ bà Thủy, bên trái thờ ông Thủy Phía sau chánh điện thờ những người cócông khai phá dựng làng, lập vạn Nhà võ ca nằm trước dinh chính là nơi để hát bội vàdiễn chèo Bả Trạo vào 5 kỳ lệ cúng trong năm Theo truyền thuyết, sau khi xây xongdinh Vạn có một ông cá voi lớn dài 22m nặng 65 tấn trôi dạt vào bờ (phía trước dinh).Ngư dân tại đây phải mất mấy ngày để đưa ông vào mai táng trong dinh Sau 3 năm,cốt ông được đưa vào thờ trong dinh Vạn Đến tháng 5/2003, bộ cốt cá ông rất lớn này(dài 22m nặng 10 tấn) đã được phục chế, trưng bày tại dinh và đây là bộ cốt cá ônglớn nhất ở Đông Nam Á Ngoài ra, tại đây còn lưu giữ chiếc chuông đồng được đúcvào thời Vua Tự Đức (1872) và 24 điều sắc thần của các vị vua bằng giấy có niên đạihơn 150 năm

3 Danh thắng ở Bình

Thuận

3.1 Hòn Rơm

Vị trí: Hòn Rơm thuộc địa

phận phường Mũi Né, Tp Phan

Thiết, tỉnh Bình Thuận, cách trung

tâm Tp Phan Thiết 26km về

hướng đông bắc

Đặc điểm: Hòn Rơm - khi

mùa khô đến, dưới cái nắng chói

chang, cỏ dại trở nên vàng úa, nhìn từ xa giống như những đống rơm khổng lồ Bờbiển sạch đẹp, nước biển trong xanh, êm ả lời ru của gió mơn man qua những rặngdừa mát rượi, trĩu quả Những đồi cát vàng, cát trắng nối tiếp nhau nhấp nhô, gợn sóng

và đồi cát thì biến dạng từng giờ Tất cả đã tạo nên vẻ hoang sơ quyến rũ du kháchđến đây để thưởng thức và khám phá vẻ đẹp tuyệt vời của cát những nhà nghỉ làmbằng tre mới mọc lên trên đồi cát ở Hòn Rơm với loại hình du lịch mới như trượt cát,tắm biển, đêm có đốt lửa trại hoặc theo ghe kéo lưới, câu mực trên biển

3.2 Mũi Né

Trang 25

Vị trí: Mũi Né thuộc địa

phận phường Mũi Né, Tp Phan

Thiết, tỉnh Bình Thuận, cách trung

tâm Tp Phan Thiết 22km về hướng

đông bắc

Đặc điểm: Mũi Né - nàng

công chúa ngủ trong rừng Địa

danh Mũi Né đồng nghĩa với hình

ảnh những cồn cát có một không

hai ở Việt Nam

Mũi Né là tên một làng chài và cũng là một điểm du lịch quen thuộc Dọc theo tỉnh lộ

706, từ trung tâm Tp Phan Thiết đến Mũi Né là một dãy đồi đất thoai thoải và bãi cát

ven biển rộng, thoáng mát với nhữngrặng dừa tuyệt đẹp Bãi biển nôngthoải, nước sạch và trong, nắng ấmquanh năm, không có bão, là nơi tắmbiển, nghỉ ngơi lý tưởng dành cho dukhách Mũi Né có nhiều bãi biểnhoang sơ nguyên thủy, chưa có sựkhai thác của con người, cảnh quanhùng vĩ, môi trường thiên nhiên tronglành, như bãi Ông Ðịa, bãi Trước và bãi Sau

Ðến Mũi Né, du khách có thể tắm biển, nghỉ dưỡng, chơi thể thao, du thuyền trênbiển, dã ngoại kết hợp săn bắn, câu cá, chơi golf Tại Mũi Né còn có Ðồi Cát, nơi từbao năm qua đã trở thành đề tài sáng tác của nhiều nghệ sĩ nhiếp ảnh Ngoài các bãibiển và cồn cát, khu vực này còn có nhiều cảnh đẹp như suối Tiên, lầu Ông Hoàng,tháp Chàm Pô-Sha-Nư Dọc bãi cát ven biển là các làng du lịch, các khách sạn, biệtthự và nhiều công trình thể thao, giải trí

Ngày đăng: 26/09/2013, 11:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Vương quốc Chămpa kể từ khi hình thành, tồn tại và phát triển với tư cách là một Nhà nước độc lập, có một vương triều được chuyển tiếp qua nhiều thế hệ với hàng chục đời vua chính thống và sau này là một số đời vua được “phiên vương” - cẩm nang du lịch bình thuậnx
ng quốc Chămpa kể từ khi hình thành, tồn tại và phát triển với tư cách là một Nhà nước độc lập, có một vương triều được chuyển tiếp qua nhiều thế hệ với hàng chục đời vua chính thống và sau này là một số đời vua được “phiên vương” (Trang 8)
đền tháp PôÐam bao gồm 6 tháp, hiện nay chỉ còn lại 3 tháp tương đối nguyên vẹn hình dạng, còn 3 tháp khác bị sụp đổ và chỉ còn lại phần đế - cẩm nang du lịch bình thuậnx
n tháp PôÐam bao gồm 6 tháp, hiện nay chỉ còn lại 3 tháp tương đối nguyên vẹn hình dạng, còn 3 tháp khác bị sụp đổ và chỉ còn lại phần đế (Trang 11)
Ðền thờ gồm có 5 gian thờ xây dựng theo hình chữ T. Dãy nhà 3 gian dùng để thờ phụng: gian giữa thờ tượng vua Pôklông - Mơh Nai; gian bên phải thờ tượng bà thứ phi người Việt, công chúa con của một vị chúa Nguyễn, cùng một số tượng Kút con của bà; bên trá - cẩm nang du lịch bình thuậnx
n thờ gồm có 5 gian thờ xây dựng theo hình chữ T. Dãy nhà 3 gian dùng để thờ phụng: gian giữa thờ tượng vua Pôklông - Mơh Nai; gian bên phải thờ tượng bà thứ phi người Việt, công chúa con của một vị chúa Nguyễn, cùng một số tượng Kút con của bà; bên trá (Trang 13)
Cầu ngư là một loại hình lễ hội dân gian gắn liền với tín ngưỡng và đời sống cư dân ven biển miền Trung, miền Nam nước ta  - cẩm nang du lịch bình thuậnx
u ngư là một loại hình lễ hội dân gian gắn liền với tín ngưỡng và đời sống cư dân ven biển miền Trung, miền Nam nước ta (Trang 36)
Bánh có có màu nâu đỏ, hơi giống mầu cánh gián, hình dáng giống thứ đồ mà người ta dùng để đặt xoong, nồi nhưng nhỏ nhắn hơn rất nhiều, với vô số những sợi rất mảnh xoắn xuýt, đan bện vào nhau - cẩm nang du lịch bình thuậnx
nh có có màu nâu đỏ, hơi giống mầu cánh gián, hình dáng giống thứ đồ mà người ta dùng để đặt xoong, nồi nhưng nhỏ nhắn hơn rất nhiều, với vô số những sợi rất mảnh xoắn xuýt, đan bện vào nhau (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w