1. Trang chủ
  2. » Tất cả

a multi-agent based multi-attribute negotiation framework for construction supply chain coordination (1)

7 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 23,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một hệ thống đa yếu tố dựa trên cơ cấu tổ chức đàm phán đa thuộc tính cho sự hợp tác chuỗi cung ứng xây dựng Toàn bài có từ agent có thể hiểu như là đại lý, nhân viên, chất, tác nhân hay

Trang 1

Một hệ thống đa yếu tố dựa trên cơ cấu tổ chức đàm phán đa thuộc tính cho sự hợp tác chuỗi cung ứng xây dựng

Toàn bài có từ agent có thể hiểu như là đại lý, nhân viên, chất, tác nhân hay nhân tố, yếu tố.

Em hiểu là trong một chuỗi cung ứng xây dựng sẽ có nhiều nhân tố, nhiều đơn vị tham gia

như là nhà thầu, đơn vị thiết kế, đơn vị cung cấp…

Abstract

Nhiều nghiên cứu và thực tiễn đã chứng minh rằng vẫn còn nhiều vấn đề, chẳng hạn như phân khúc, vượt quá ngân sách và mức độ lãng phí cao trong quá trình xây dựng, hầu hết là vấn đề về chuỗi cung ứng Những vấn đề này thường gây ra bởi sự thiếu phối hợp giữa các tổ chức trong chuỗi cung ứng Nghiên cứu này liên quan đến chuỗi cung ứng xây dựng như là một hệ thống đa nhân tố tiêu biểu và thiết kế một đa nhân tố dựa trên cơ cấu tổ chức đàm phán đa thuộc tính cho sự hợp tác chuỗi cung ứng xây

dựng (MANCSCC) Cơ cấu tổ chức này kết hợp các yếu tố chuyên ngành (đơn vị

thầu, đơn vị thiết kế, đơn vị cung cấp, chủ đầu tư, ) và yếu tố dịch vụ ( điều phối viên, đơn vị giám sát, name server agent) vào một hệ thống đa yếu tố thông qua internet để nâng cao hiệu quả đưa ra quyết định Bởi vì những thành viên khác nhau trong chuỗi cung ứng xây dựng có những ý kiến khác nhau trong việc đưa ra quyết định chẳng hạn như giá, thời gian, chất lượng, an toàn và môi trường, một cơ chế đàm phán đa doanh nghiệp được thành lập bằng cách mô tả quá trình đàm phán đa thuộc tính và thiết kế hình thức đàm phán đa thuộc tính Việc thiết kế cơ chế này dựa trên lý thuyết đàm phán và lý thuyết về tiện ích, nhằm thúc đẩy sự hợp tác giữa những nhân tố chuyên ngành Một hệ thống mẫu được phát triển và thử nghiệm trên một dự án xây dựng giả định Quá trình thử nghiệm cho thấy rằng MANCSCC cung cấp giải pháp cho việc phối hợp chuỗi cung ứng xây dựng

Key word:

Construction supply chain: chuỗi cung ứng xây dựng

Coordination: hợp tác

Multi-agent system: hệ thống đa nhân tố

Utility: tiện ích

Multi-attribute negotiation: đàm phán đa thuộc tính

Instruction:

Quản lý chuỗi cung ứng (SCM) được định nghĩa là “sự phối hợp của những nhân tố

độc lập để cải thiện hiệu suất của toàn bộ chuỗi cung ứng bằng cách xem xét nhu cầu

cá nhân của họ” (Lau et al.,2004) Định nghĩa này mô tả chức năng chính và nguyên

Trang 2

tắc của SCM, tức là sự phối hợp Phối hợp là “quản lý sự phụ thuộc giữa các hoạt động” (Malone and Crowston, 1994) Đó là một mối quan hệ có lợi và được xác định

rõ ràng, được ký kết bởi 2 hoặc nhiều tổ chức để đạt được các mục tiêu chung Nó cũng đề cập đến sự kết hợp từ những phần khác nhau của một tổ chức hoặc những tổ chức khác nhau trong chuỗi cung ứng để thực hiện toàn bộ nhiệm vụ và đạt được những lợi ích chung SCM được nhắc đến rộng rãi như là một phương pháp quản lý hiệu quả và cần thiết và là chiến lược để cải tiến hiệu suất của ngành xây dựng, khi mà

đã bị phân khúc mạnh, lãng phí lớn, năng suất thấp, vượt quá ngân sách và thời gian, xung đột và tranh chấp trong nhiều năm (Briscoe et al., 2004; Formoso et al., 2002)

Sự phối hợp chuỗi cung ứng dựa trên các nhân tố đã được chứng minh là một cơ chế hiệu quả để cải thiện hiệu suất của SCM (Lou et al., 2004) Theo như Gupta et al (2001), công nghệ nhân tố (agent technology) cung cấp một công cụ tiện lợi để tăng cường giao tiếp và hợp tác trong một hệ thống phân phối để đảm bảo đưa ra quyết định

1 cách hiệu quả Kwon and Lee (2002) cũng tin rằng hệ thống đa nhân tố (MAS) nơi

mà các nhân tố làm việc chung để giải quyết các vấn đề liên tổ chức cụ thể, cung cấp một nền tảng hiệu quả để phối hợp giữa các tổ chức trong chuỗi cung ứng

Một số nhà nghiên cứu đã khảo sát việc áp dụng các nhân tố thông minh để phối hợp

các vấn đề trong chuỗi cung ứng xây dựng (CSC) (Anumba et al 2002; Pena-Mora and

Wang, 1998; Min and Bjornsson, 2000; Ren et al., 2003; Kim and Paulson, 2003) Tuy nhiên, rất ít nhà nghiên cứu đã xem xét SCM là phối hợp đưa ra quyết định liên tổ chức trong chuỗi cung ứng và áp dụng công nghệ nhân tố đối với toàn bộ SCM từ quan điểm hệ thống Hầu hết các dự án nghiên cứu có khuynh hướng xem xét việc phối hợp nội bộ dựa vào nhân tố của một tổ chức, tập trung vào một trong số những giai đoạn của CSC, chẳng hạn như là phối hợp thiết kế, phối hợp thay đổi tiến độ dự

án, khiếu nại và giải quyết mâu thuẫn xây dựng Những cách tiếp cận này dẫn đến việc tối ưu hóa một số hệ thống con, tuy nhiên, tổng của các hệ thống con được tối ưu hóa

có thể gây ra vấn để đối với việc tối ưu hóa hệ thống như một toàn thể

Bởi vì một số yếu tố, như là chi phí, thời gian, chất lượng, an toàn, môi trường cần được xem xét trong quá trình đưa ra quyết định của CSC management, nghiên cứu của chúng tôi thông qua công nghệ đàm phán đa thuộc tính để điều phối CSC Những nhân

tố này được coi là các thuộc tính liên quan đến đưa ra quyết định của CSC

Nghiên cứu này thông qua công nghệ đa nhân tố để cải thiện sự phối hợp của việc đưa

ra quyết định của CSC Hệ thống quản lý chuỗi cung ứng xây dựng là một MAS điển

hình Trong loại MAS này, các đối tác, ví dụ như nhà thầu tổng hợp (GC), chủ sở hữu,

nhà thiết kế, nhà thầu phụ và nhà cung cấp được ủy quyền cho các nhân tố tương ứng Những đơn vị này được thiết kế và được thực hiện trong ZEUS, một môi trường phát triển tiên tiến cho hệ thống đa nhân tố được phân hạng Công nghệ đa nhân tố được tích hợp với lý thuyết đàm phán và lý thuyết tiện ích đa thuộc tính trong bài nghiên

Trang 3

cứu này Mỗi nhân tố sở hữu mối quan tâm riêng và tự động đàm phán những tiện ích với những doanh nghiệp khác Vì vậy các nhân tố có thể làm việc chung và hiệu quả như một xã hội, hợp tác để đạt được những mục tiêu của riêng mình cũng như mục tiêu chung của toàn bộ quản lý chuỗi cung ứng xây dựng

Cơ cấu tổ chức đàm phán đa thuộc tính dựa trên đa nhân tố cho sự hợp tác chuỗi cung ứng xây dựng

CSC liên quan đến việc ngày càng có nhiều người tham gia do việc tăng quy mô và tính phức tạp của các dự án xây dựng Kết quả là, sự hợp tác giữa những đơn vị tham gia trở thành những thách thức đối với hiệu suất của chuỗi cung ứng và giá trị cho khách hàng Những yêu cầu này đòi hỏi MANCSCC có một cấu trúc thích hợp và cơ chế hợp tác thích hợp để thúc đẩy giao tiếp hiệu quả giữa tất cả các bên Cơ cấu tổ chức này cũng phải ổn định, linh hoạt và thân thiện với người dùng Dựa trên những điều cần cân nhắc này, chúng tôi đã thiết kế MANCSCC như hình 1

Trong cơ cấu tổ chức này, những nhân tố miền bao gồm cả nhân tố dịch vụ (ví dụ như nhân tố điều phối, monitor agent và name server agent) và nhân tố đặc biệt (như là chủ

sở hữu, nhà thiết kế, đơn vị GC, nhà thầu phụ, nhà cung cấp) Các nhà cung cấp bao gồm nhà cung cấp của nhà thầu chính và nhà thầu phụ Ở đây chúng tôi giả sử rằng nhà thầu chính hoặc nhà thầu phụ bố trí tất cả nguồn vật liệu và nguồn nhân công và không có nhà cung cấp của chủ sở hữu trong cơ cấu tổ chức này Tất cả nhân tố giao tiếp và hợp tác thông qua internet Tất cả quá trình hợp tác được dựa trên đàm phán đa thuộc tính (“MNegotiation” as shown in Figure 1) giữa những nhân tố chuyên ngành

Cơ chế đàm phán đa thuộc tính cho việc hợp tác đưa ra quyết định giữa các tổ chức trong chuỗi cung ứng là thành phần quan trọng của MANCSCC

Hình 1: Những từ trong hình này đều được nhắc đến trong bài rồi nên em không liệt kê

ra nữa nhé 

Cơ chế đàm phán đa thuộc tính dựa trên lý thuyết lợi ích

Quá trình đàm phán đa thuộc tính

Theo như Jonker and Treur (2001), quá trình đàm phán đa thuộc tính bao gồm 5 bước sau:

1 Đánh giá các thuộc tính của giải pháp ban đầu do đơn vị tham gia thực hiện

2 Những đánh giá này được tổng hợp thành các tiện ích tổng quan của những giải pháp ban đầu này

3 Cung cấp những tiện ích mục tiêu

4 Dựa vào những tiện ích mục tiêu và việc phân bổ những thuộc tính, những giá trị của thuộc tính mục tiêu được xác định, dẫn đến một vòng đưa ra quyết định mới

Trang 4

5 Đối với mỗi thuộc tính mục tiêu, một giá trị thuộc tính được chọn có giá trị được đánh giá càng gần với giá trị mục tiêu càng tốt

Trong mô hình đàm phán đa thuộc tính nói trên, quá trình đàm phán đa thuộc tính gồm

5 bước được xác định gồm 3 quá trình: Đánh giá thuộc tính, xác định lợi ích thầu, quy hoạch thuộc tính

Đánh giá thuộc tính:

Nhiều thuộc tính tham gia vào quá trình đưa ra quyết định phối hợp của chuỗi cung ứng Việc đánh giá giá trị của những thuộc tính dựa trên sự ưu tiên của những đơn vị tham gia trong chuỗi cung ứng Tất cả những đánh giá và tiện ích có thể được chia theo 2 khía cạnh: đánh giá kinh tế và lợi ích kinh tế (EU) và đánh giá phi kinh tế và tiện ích phi kinh tế (NEU) Các khía cạnh kinh tế bao gồm sự hợp lý mang tính kinh tế trong hành vi của nhân tố, chẳng hạn như là giá và lợi nhuận của công việc Khía cạnh phi kinh tế mô hình tất cả những khía cạnh khác trong việc đưa ra quyết định của chuỗi cung ứng chẳng hạn như thời gian, an toàn, chất lượng và môi trường Sự cân bằng giữa 2 khía cạnh này trong những đánh giá tổng thể được xác định bởi nhân tố mang tính hợp lý về mặt kinh tế (ERF) Nếu ERF là 1 thì chỉ có EU mới được tính đến, nếu là 0 thì chỉ có NEU Bất kỳ yếu tố trong khoảng từ 0 đến 1 xác định trọng lượng tương đối của khía cạnh kinh tế so với khía cạnh phi kinh tế trong việc đưa ra quyết định

Bid utility determination: Xác định lợi ích thầu (?)

(Công thức)

(công thức)

Trong đó, n là số thuộc tính (công thức)

Xem xét việc gán trọng lượng cần tính đến các dải mà những giá trị thuộc tính có thể khác nhau, các thuộc tính có thể được biểu hiện trong điều kiện kinh tế nên được diễn

(Công thức)

Trong đó, điều kiện đầu tiên là tổng các thuộc tính và điều kiện thứ 2 là tổng các thuộc tính không được biểu đạt trong những điều kiện kinh tế Ở đây, tiện ích tổng thể được

Trang 5

xác định như là giá trị tổng được tính dựa trên EU và NEU Trọng lượng được dựa trên ERF

(Công thức)

Quy hoạch thuộc tính:

Quá trình quy hoạch thuộc tính liên quan đến việc đánh giá mục tiêu và xác định cấu

(Công thức)

vậy khi mà (công thức) là giá trị đánh giá thuộc tính thứ j của nhân tố khác t là viết tắt của dung sai cấu hình Xác định cấu hình cho việc ra quyết định tiếp theo gồm có 3 bước Đầu tiên, giá trị thuộc tính được xác định bằng một đánh giá càng gần với giá trị đánh giá mục tiêu càng tốt Sau đó một phần cấu hình (ngoại trừ thuộc tính định lượng chẳng hạn như là chi phí và thời gian) được chọn từ giá trị gần nhất của thuộc tính Bước cuối cùng là đánh giá lại thuộc tính định lượng (Jonker and Treur, 2001)

Hình thức đàm phán đa thuộc tính:

Hình thức đàm phán (NP) chỉ định những loại giao dịch mà các nhân tố có thể thực hiện, cũng như là chuỗi cung cấp và đơn chào giá có tính cách triệt hạ một đơn chào giá khác được cho phép (Ren et al., 2003) Nó cũng kiểm soát sự tương tác giữa các nhân tố bằng cách hạn chế những cách thức mà các nhân tố tương tác (Kim and Paulson, 2003) Chúng ta gọi NP multi-attribute NP, như hình 2, trong bài báo này, được chuyển thể từ Barbuceanu and Lo (2000)

Mỗi nhân tố cung cấp giải pháp tốt nhất hiện tại của nó được lưu tại địa phương Sau

đó, giải pháp được gửi đến những nhân tố khác Người gửi đợi thông điệp từ những nhân tố khác Nếu thông điệp là chấp nhận lời đề nghị, nó cho thấy rằng giải pháp được gửi đi là phù hợp với giải pháp của những nhân tố khác và đàm phán thành công Nếu thông điệp là NoMoreSolution, nó có nghĩa là những nhân tố khác đã hết các giải pháp Nếu kết quả tương tự cho nhân tố ban đầu thì đàm phán kết thúc không thành công, nếu không nhân tố đó sẽ tiếp tục tạo ra các giải pháp mới Nếu thông điệp bao gồm một giải pháp được thay đổi từ nhân tố khác, giải pháp này được kiểm tra tính tương thích với bất kì giải pháp nào trong quá khứ được tạo ra bởi doanh nghiệp này Nếu một sự giao nhau được tìm thấy, nó cho thấy 1 giải pháp được chấp nhận, quyết

Trang 6

định đàm phán thành công Nếu không, điều này cho thấy rằng khoảng cách tiện ích vẫn còn giữa nhân tố ban đầu và những nhân tố khác Vòng lặp này có thể được lặp lại.Ưu điểm chính của hình thức này là đảm bảo việc tìm ra tối ưu Pareto

Hình 2: từ vựng đã có và được giải thích rõ trong đoạn văn nên em không list lại nữa nha

Phát triển hệ thống nguyên mẫu của MANCSCC.

Hệ thống nguyên mẫu của MANCSCC được phát triển bằng cách sử dụng ZEUS xây dựng bộ công cụ dựa trên một dự án xây dựng giả định: tòa nhà văn phòng ICP Nó liên quan đến nững thành phần tham gia sau đây: chủ sở hữu, đơn vị thiết kế, thầu chính, thầu phụ nền tảng, thầu phụ dân dụng và kết cấu, thầu phụ dịch vụ xây dựng, thầu phụ hoàn thiện, đơn vị cung cấp bê tông và đơn vị cung cấp vật liệu hoàn thiện ZEUS là một bộ công cụ phát triển tiên tiến để xây dựng các ứng dụng đa nhân tố và được sử dụng để phát triển hệ thống phối hợp dựa trên doanh nghiệp trong xây dựng (Nwana et al., 2003; Ren et al., 2003; Anumba et al., 2002)

Hình 3 cho thấy ảnh chụp màn hình của hệ thống nguyên mẫu Nó hiển thị cấu trúc của ICP CSC và quá trình trao đổi thông tin và giao tiếp giữa nhân tố dịch vụ và nhân

tố chuyên ngành Khi chạy nguyên mẫu, các cửa sổ đàm phán sẽ hiển thị trên màn hình chờ cho những người đưa ra quyết định nhập vào những yếu tố ưu tiên và relative weightiness của thuộc tính Trong trường hợp ICP, chúng ta chỉ xem xét 5 thuộc tính đàm phán: chi phí, thời gian, chất lượng, an toàn và môi trường, thể hiện những ưu tiên

và lợi ích khác nhau của những người đưa ra quyết định, hình 4

Kết luận:

Bài báo này liên quan đến quản lý chuỗi cung ứng như là sự phối hợp giữa các tổ chức đưa ra quyết định trong CSC và sự tích hợp của những quá trình kinh doanh xây dựng trọng điểm và các thành viên chủ chốt tham gia vào CSC Để giải quyết các vấn đề trong CSC và cải thiện hiệu suất của xây dựng, một cơ cấu tổ chức đàm phán đa thuộc tính dựa trên đa nhân tố cho CSC đã được thiết kế, dựa trên công nghệ doanh nghiệp

và lý thuyết đàm phán đa thuộc tính, lý thuyết tiện ích Cơ cấu này cung cấp giải pháp

Trang 7

cho CSC thông qua việc áp dụng cơ chế đàm phán đa thuộc tính Sự phát triển của hệ thống nguyên mẫu cung cấp một nền tảng hiệu quả để mô phỏng quá trình phối hợp trong CSC

Nghiên cứu này là nỗ lực ban đầu Có một số vấn đề cần được tiếp tục giải quyết Ví

dụ, làm thế nào để các nhân tố có thể gợi lên vấn đề ưu tiên của mỗi đơn vị tham gia

và các chức năng tiện ích liên quan đến việc đưa ra quyết định liên quan đến việc đàm phán Quá trình xây dựng thực sự liên quan đến nhiều người tham gia và nhiều hoạt động, vì vậy, làm sao sử dụng các nhân tố để mô phỏng 1 cách hiệu quả các hành vi của việc đưa ra quyết định là 1 thách thức thực sự

Ngày đăng: 28/03/2020, 07:56

w