Mở đầu: Trong bối cảnh, xu thế phát triển của thế giới hiện nay, khu vực Châu Á Thái Bình Dương (CATBD) đang nổi lên là khu vực phát triển năng động nhất, chi phối tốc độ phát triển của thế giới, tất cả các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, EU, Nga,… đều có sự điều chỉnh chiến lược phát triển về khu vực này. Thực tế bối cảnh hiện nay cho thấy, nước nào có quyền lực, chi phối được khu vực năng động này nước đó sẽ tận dụng được thời cơ và phát triển nhanh chóng. Về cấu trúc quyền lực trong khu vực CATBD, có khá nhiều thế lực chi phối, và một trong những thế lực đó là tổ chức ASEAN. Qua quá trình hình thành và phát triển của mình, ASEAN ngày càng thể hiện được vai trò trung tâm, có tiếng nói mạnh mẽ trong sự phát triển của khu vực CATBD. Điều đó mở ra cơ hội lớn để các nước thành viên ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng tận dụng để đưa nước mình hội nhập và phát triển. Với bối cảnh, xu thế đó, việc nghiên cứu về vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc quyền lực ở Châu CATBD để có những giải pháp thúc đẩy hội nhập quốc tế của Việt Nam nói chung và các địa phương nói riêng là rất cần thiết. Tại tỉnh Bình Định, quán triệt và thực hiện chính sách mở cửa kinh tế Đảng và Nhà nước, đã không ngừng đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tăng cường giao lưu kinh tế, thương mại với nhiều quốc gia trên thế giới. Với quyết tâm tạo môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch, tỉnh đã vận dụng linh hoạt, hiệu quả chính sách mở rộng quan hệ đối ngoại, mời gọi các nhà đầu tư lớn đến đầu tư tại tỉnh. Nhờ vậy, việc thu hút đầu tư trực tiếp vào tỉnh trong thời gian qua có sự chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập gây cản trở lớn cho việc thực hiện có hiệu quả cho việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, giao lưu kinh tế thương mại của tỉnh Bình Định trong thời gian vừa qua. Chính vì lý do đó, tôi chọn vấn đề “Vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc quyền lực ở Châu Á Thái Bình Dương và việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, giao lưu kinh tế thương mại của tỉnh Bình Định trong điều kiện hội nhập khu vực hiện nay” làm bài thu hoạch kết thúc môn Quan hệ quốc tế của Lớp hoàn chỉnh Chương trình cao cấp lý luận chính trị.
Trang 1A MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh, xu thế phát triển của thế giới hiện nay, khu vực Châu Á -Thái Bình Dương (CA-TBD) đang nổi lên là khu vực phát triển năng động nhất, chi phối tốc độ phát triển của thế giới, tất cả các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc,
EU, Nga,… đều có sự điều chỉnh chiến lược phát triển về khu vực này Thực tế bối cảnh hiện nay cho thấy, nước nào có quyền lực, chi phối được khu vực năng động này nước đó sẽ tận dụng được thời cơ và phát triển nhanh chóng
Về cấu trúc quyền lực trong khu vực CA-TBD, có khá nhiều thế lực chi phối,
và một trong những thế lực đó là tổ chức ASEAN Qua quá trình hình thành và phát triển của mình, ASEAN ngày càng thể hiện được vai trò trung tâm, có tiếng nói mạnh mẽ trong sự phát triển của khu vực CA-TBD Điều đó mở ra cơ hội lớn
để các nước thành viên ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng tận dụng để đưa nước mình hội nhập và phát triển
Với bối cảnh, xu thế đó, việc nghiên cứu về vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc quyền lực ở Châu CA-TBD để có những giải pháp thúc đẩy hội nhập quốc tế của Việt Nam nói chung và các địa phương nói riêng là rất cần thiết
Tại tỉnh Bình Định, quán triệt và thực hiện chính sách mở cửa kinh tế Đảng
và Nhà nước, đã không ngừng đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tăng cường giao lưu kinh tế, thương mại với nhiều quốc gia trên thế giới Với quyết tâm tạo môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch, tỉnh đã vận dụng linh hoạt, hiệu quả chính sách mở rộng quan hệ đối ngoại, mời gọi các nhà đầu tư lớn đến đầu tư tại tỉnh Nhờ vậy, việc thu hút đầu tư trực tiếp vào tỉnh trong thời gian qua có sự chuyển biến tích cực Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập gây cản trở lớn cho việc thực hiện có hiệu quả cho việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, giao lưu kinh tế thương mại của tỉnh Bình Định trong thời gian vừa qua
Chính vì lý do đó, tôi chọn vấn đề “Vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc quyền lực ở Châu Á - Thái Bình Dương và việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, giao lưu kinh tế thương mại của tỉnh Bình Định trong điều kiện hội nhập khu vực hiện nay” làm bài thu hoạch kết thúc môn Quan hệ quốc tế của Lớp hoàn
chỉnh Chương trình cao cấp lý luận chính trị Khóa 4
Trang 2B NỘI DUNG
1 Một số khái niệm
1.1 Quyền lực quốc gia
Đứng ở giác độ khác nhau có thể hiểu quyền lực quốc gia mang tính khác nhau:
- Quyền lực mang tính tĩnh, theo đó, quyền lực quốc gia là tổng hòa tất cả các nguồn lực bên trong của một quốc gia như kinh tế, quân sự, khoa học – công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, diện tích lãnh thổ,…từ đó cho phép một quốc gia có khả năng duy trì độc lập và thực hiện một khả năng nào đó trong quan hệ quốc tế
- Quyền lực mang tính động, đặt quyền lực của một quốc gia trong tương quan với các quốc gia khác, theo đó, quyền lực của một chủ thể được đánh giá bằng cách đặt khả năng của chủ thể đó trong quan hệ với các khả năng của các chủ thể khác và quyền lực từ đó có tính tương đối
Có thể hiểu, quyền lực quốc gia là khả năng của quốc gia đó trong việc gây ảnh hưởng lên hành vi của quốc gia khác phù hợp với mục đích của mình
1.2 Cấu trúc quyền lực khu vực
Cấu trúc quyền lực khu vực được hiểu là hình thái quan hệ quốc tế trong một khu vực nhất định, bao gồm các quốc gia, các tổ chức khu vực hợp tác và đấu tranh với nhau trên các lĩnh vực an ninh - chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ…, trong đó nổi lên vai trò dẫn dắt của những nước lớn, những tổ chức có tiếng nói quyết định đối với sự vận động của khu vực
2 Vài nét khái quát về Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations,
viết tắt là ASEAN) là tổ chức liên chính phủ được thành lập ngày 8/8/1967 tại Băng-cốc, Thái Lan trên cơ sở Tuyên bố Băng-cốc với 5 thành viên ban đầu, với mục tiêu tăng cường hợp tác chính trị, an ninh, kinh tế và văn hoá - xã hội giữa các nước thành viên, tạo điều kiện hội nhập sâu hơn với khu vực và thế giới
Qua quá trình phát triển, ASEAN đã mở rộng bao gồm 10 quốc gia ở Đông Nam
Á là Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Brunei, Việt Nam, Lào, Myanma và Campuchia (Đông Timor hiện đang là quan sát viên của ASEAN)
Trang 3Tổng diện tích các nước ASEAN vào khoảng 4,7 triệu km2, với dân số gần
651 triệu người, chiếm khoảng 8,59% dân số thế giới (2017)1
Hợp tác ASEAN ngày càng được mở rộng và đi vào chiều sâu, bao gồm nhiều lĩnh vực từ chính trị - an ninh đến kinh tế thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục, y
tế, môi trường, khoa học công nghệ… ASEAN cũng đã thiết lập được quan hệ hợp tác nhiều mặt với các Đối tác trong và ngoài khu vực thông qua các tiến trình như ASEAN+1 (hợp tác ASEAN với từng Đối tác); ASEAN+3 (với 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc); Cấp cao Đông Á (với 3 nước Đông Bắc Á và Ấn
Độ, Ôx-trây-lia, Niu Di-lân); Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF),…
Sau hơn 5 thập kỷ tồn tại và phát triển, ASEAN đã lớn mạnh thành một thực thể chính trị - kinh tế gắn kết, có vai trò quan trọng đóng góp cho hòa bình, ổn định
và hợp tác ở khu vực và là đối tác không thể thiếu của các nước và các tổ chức lớn trên thế giới Trên nền tảng đó, ASEAN đã nhất trí đẩy mạnh hợp tác và tăng cường liên kết, xây dựng một Cộng đồng ASEAN vững mạnh dựa trên ba trụ cột là Chính trị - An ninh, Kinh tế và Văn hóa - Xã hội
3 Vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc quyền lực ở CA - TBD
3.1 Đối tác không thể thiếu trong hợp tác, liên kết kinh tế khu vực
Từ một tổ chức hợp tác có tính tiểu khu vực của Đông Nam Á, ASEAN đã trở thành “hạt nhân” và đóng vai trò “trung tâm” trong các cơ chế, cấu trúc hợp tác khu vực ở Châu Á - Thái Bình Dương ASEAN quy tụ được sự can dự của tất cả các nước lớn, các nước trong khu vực và trên thế giới trong các cơ chế do ASEAN chủ trì Đặc biệt, đối với các nước lớn, ASEAN luôn là đối tác không thể bỏ qua, đặc biệt là trong bối cảnh khu vực CA - TBD đang được đánh giá là khu vực năng động, trỗi dậy mạnh mẽ trong thế kỷ XXI
Với Mỹ, đối tác lớn của khu vực đã coi trọng và ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc Đông Á và CA - TBD, cam kết tiếp tục hỗ trợ ASEAN xây dựng Cộng đồng, nhấn mạnh ASEAN là đối tác kinh tế quan trọng của Mỹ, tiếp tục triển khai Sáng kiến kết nối ASEAN - Mỹ Hiện nay, Mỹ là bạn hàng lớn thứ tư của ASEAN với tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt trên 200 tỷ USD (2017),
1 Xem http/: danso.org/dong-nam-a/, ngày 8-12-2017.
Trang 4đồng thời cũng là một trong những nước đứng đầu về đầu tư trực tiếp vào ASEAN với số vốn FDI đạt 306,5 tỷ USD (2017) Các nỗ lực xây dựng năng lực như “Sáng kiến gắn kết kinh tế mở rộng” và các chương trình hỗ trợ kỹ thuật như “Kết nối ASEAN thông qua thương mại và đầu tư” đang được Mỹ và các nước ASEAN tích cực hành động
Với Trung Quốc, ASEAN được coi là khu vực quan trọng để Trung Quốc thực hiện chiến lược cân bằng với Mỹ Trung Quốc đã có những hỗ trợ nhất định đối với ASEAN khắc phục khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997; tăng cường buôn bán đầu tư vào ASEAN, tạo điều kiện cho ASEAN đầu tư nhiều Trung Quốc nhằm tạo ràng buộc hơn nữa các nền kinh tế ASEAN vào lục địa Trung Hoa; cùng ASEAN xây dựng FTA; giảm hoặc xóa nợ cho một số nước Đông Nam Á, nhất là các thành viên ASEAN mới; cung cấp hàng trăm triệu USD tín dụng ưu đãi và viện trợ phát triển cho nhiều nước khác, trong đó có các dự án phát triển Tiểu vùng Mekong mở rộng… Hiện nay, Trung Quốc và ASEAN đã nhất trí hợp tác kinh tế -thương mại và đầu tư tiếp tục là nền tảng quan hệ; cam kết thúc đẩy hợp tác hai bên thông qua việc triển khai hiệu quả “Kế hoạch hành động 2016 - 2020” và sớm hoàn tất các thủ tục nâng cấp ACFTA nhằn thực hiện cam kết của lãnh đạo cấp cao
về mục tiêu kim ngạch thương mại hai chiều đạt 1.000 tỷ USD và tổng mức đầu tư đạt 150 tỷ USD vào năm 2020
Bên cạnh đó, ASEAN hiện đang thu hút sự chú ý của các quốc gia khác như: Với Nhật Bản có chính sách “Đàn chim nhạn bay và chủ trương hướng về Châu Á”; Ấn Độ có “Chính sách hướng Đông” và “Hành động hướng Đông”; Năm
2017, Australia công bố Sách trắng đối ngoại đầu tiên trong vòng 14 năm; Liên
Bang Nga ngày càng thể hiện sự quan tâm nhiều hơn trong chính sách đối với khu vực CA - TBD Có thể nhận diện chính sách của Nga tại khu vực này bao gồm: nâng cao chất lượng hợp tác Nga - Trung, trước hết trong lĩnh vực kinh tế, khoa học - kỹ thuật và nhân đạo; đa dạng hóa tối đa quan hệ kinh tế và chính trị của Nga
ở CA - TBD, bao gồm cả tiểu khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á
Trong cơ chế hợp tác liên khu vực, ASEAN nhận thấy Đông Bắc Á và Đông Nam Á là các khu vực có giao thương nội khối phát triển mạnh mẽ nhất Mặt khác,
Trang 5do trọng tâm của nền kinh tế thế giới đang dịch chuyển dần về CA - TBD, nên vai trò, ý nghĩa của một cộng đồng Đông Á sẽ ngày càng tăng Cơ chế RCEP được thành lập do Trung Quốc khởi xướng (2012) được 10 nước ASEAN tham gia cùng các nước khác như Australia, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và New Zealand Cách tiếp cận “Con đường ASEAN” trong RCEP đã chứng tỏ nó là cơ chế xây dựng sự đồng thuận tốt nhất ở Đông Á Bởi lẽ RCEP ít mang tính chính trị và vai trò trung tâm ASEAN đang được hoan nghênh Do đó, RCEP được xem như mở rộng mô hình FTA ASEAN+1 trong việc thúc đẩy thương mại và đầu tư Tất cả các cường quốc khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ đều nhất trí với vai trò trung tâm của ASEAN, ít nhất là trong hội nhập kinh tế khu vực
Ở quy mô khu vực CA - TBD, một số quốc gia ASEAN cũng là thành viên sáng lập nên APEC Đây là Diễn đàn của 21 nền kinh tế ở hai bờ Thái Bình Dương,
ra đời từ năm 1989 Tại APEC Bogor năm 1994, APEC đã thông qua một chương trình tự do hóa thương mại đầy tham vọng với mục tiêu giảm thuế quan xuống mức
0 - 5 % đối với các nền kinh tế thành viên thuộc nhóm các nước phát triển vào năm
2010 và đến năm 2020 đối với các thành viên thuộc nhóm các nước đang phát triển APEC là diễn đàn kinh tế mở, nhằm xúc tiến các biện pháp kinh tế, thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa các nền kinh tế thành viên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện ASEAN được coi là hạt nhân để xây dựng Cộng đồng APEC 2020, một cơ chế quan trọng của cấu trúc kinh tế CA - TBD
Trong cơ chế TPP được xây dựng từ Thỏa thuận Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPSEPA - 2006), một trong những thành viên của ASEAN tham gia sáng lập là Singapore, Brunei Các nước thành viên TPP chiếm 37,5% GDP của thế giới và 26% thương mại toàn cầu Mỹ tham gia thúc đẩy đàm phán việc thành lập TPP từ năm 2007 với tham vọng dẫn dắt TPP nhằm đối trọng lại với RCEP Tuy nhiên, năm 2017, Mỹ tuyên bố rút khỏi TPP làm ảnh hưởng tới tiến trình hội nhập của các quốc gia thành viên Để khắc phục tình trạng này, 11 nước thành viên còn lại đã đàm phán và nhất trí đổi TPP thành CPTPP Với Hiệp định này, 11 quốc gia thành viên đang hướng tới xây dựng thỏa thuận thương mại tự do chất lượng cao, cắt giảm thuế quan, tiến tới mức thuế quan chung, thiết lập khuôn
Trang 6khổ chung về sở hữu trí tuệ, áp dụng tiêu chuẩn chung về môi trường đầu tư và nguồn nhân lực, xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và quốc gia thành viên Mức độ thể chế hóa hợp tác của CPTPP rất cao, tính ràng buộc của nó có thể thúc đẩy CPTPP phát triển nhanh chóng; mức độ tự do hóa thương mại và đầu tư
mà CPTPP thực hiện cũng cao hơn hẳn so với khuôn khổ khu vực mậu dịch tự do
mà Đông Á hiện có Hiện nay, có 4 nước ASEAN là thành viên CPTPP và hai quốc gia khác là Thái Lan và Philippines đang xem xét việc gia nhập CPTPP
3.2 Các cơ chế ARF, ADMM+, Shangri-La… đóng vai trò là bộ khung để xây dựng cấu trúc an ninh khu vực và liên khu vực
Một số cơ chế điển hình của ASEAN được chú ý như: ARF - cơ chế hợp tác an ninh đa phương đầu tiên ở Châu Á - Thái Bình Dương do ASEAN sáng lập ARF được tổ chức hàng năm, mang tính đối thoại rộng rãi, thu hút mạnh mẽ sự tham gia của nhiều nước trên thế giới, trong đó có hầu hết cường quốc lớn ARF hướng tới xây dựng lòng tin và nền ngoại giao phòng ngừa trong khu vực ARF chứng tỏ là một hình thức hợp tác thích ứng với tình hình mới, phù hợp với khu vực Châu Á -Thái Bình Dương và đã có những đóng góp đáng kể đối với an ninh khu vực
Năm 2006, ADMM ra đời đánh dấu sự khởi đầu của cơ chế hợp tác quốc phòng chính thức, đầy đủ Cơ chế này tạo khuôn khổ cho đối thoại và tham vấn cấp
Bộ trưởng Quốc phòng về các vấn đề chiến lược, quốc phòng - an ninh và là nền tảng để thúc đẩy hợp tác trên thực tế giữa lực lượng vũ trang các nước ASEAN ADMM coi trọng hợp tác thực chất nhằm tạo ra khả năng, sức mạnh chung để đẩy lùi nguy cơ xung đột, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực
Năm 2010, ADMM+ lần đầu tiên đã được tổ chức thành công tại Việt Nam Đây là cơ chế có sự tham dự của Bộ trưởng Quốc phòng của 18 quốc gia (10 nước ASEAN và 8 nước đối tác, đối thoại của ASEAN) nhằm bàn thảo các biện pháp duy trì hòa bình, an ninh khu vực Cơ chế này được đánh giá là một trong những
bộ khung làm nên vai trò trung tâm của ASEAN hiện nay
Tham gia cơ chế EAS, ASEAN góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định
và củng cố mối quan hệ hợp tác tin cậy giữa các nước thành viên trong lĩnh vực an ninh - chính trị; tạo dựng mối quan hệ mới về chất giữa các nước Đông Á theo chiều
Trang 7hướng hữu nghị, ổn định lâu dài; hợp tác toàn diện ngày càng chặt chẽ cả về song phương và đa phương Ngoài ra, ASEAN cũng chú trọng các cơ chế an ninh khu vực khác, như Đối thoại Shangri-La, Hội thảo An ninh Châu Á - Thái Bình Dương (APSEC)… góp phần nâng tầm vị thế của ASEAN đối với an ninh khu vực
3.3 Trách nhiệm của ASEAN đối với việc đảm bảo hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không ở khu vực Biển Đông
Biển Đông là một trong những “điểm nóng” về an ninh và ổn định của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Ở khu vực này, các tuyên bố chủ quyền của một số quốc gia và vùng lãnh thổ chồng lấn lên nhau, bao gồm tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei khiến cho tình hình rất phức tạp Hiện tại, trong khu vực Biển Đông đang tồn tại hai loại tranh chấp chủ quyền: (1) tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Hoàng Sa (giữa Việt Nam và Trung Quốc) và quần đảo Trường Sa (giữa các bên gồm Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, Đài Loan); (2) tranh chấp ranh giới các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các nước có bờ biển đối diện hoặc liền kề (như tranh chấp về ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Thái lan
có liên quan giữa Việt Nam và Thái Lan…) Các tranh chấp này đã ảnh hưởng đến một loạt quan hệ song phương giữa các quốc gia trong khu vực và nó cũng gây căng thẳng cho mối quan hệ giữa Trung Quốc đối với khối ASEAN
Trong khu vực, ASEAN đã có nhiều nỗ lực nhằm giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông chủ yếu thông qua thương lượng, đàm phán để xây dựng lòng tin giữa các bên nhằm kiềm chế xung đột tiềm tàng, ngăn chặn đụng độ quân sự làm phức tạp thêm tình hình Các văn bản pháp lý của ASEAN đã được thông qua như: TAC (1976); SEANWFZ (1995); Tuyên bố Manila - Tuyên bố Biển Đông (1992); DOC (2002) giữa Trung Quốc và ASEAN là minh chứng cho nỗ lực này Các hoạt động này đã khẳng định rõ vai trò của ASEAN trong việc giải quyết các tranh chấp trong khu vực
Để tăng tính pháp lý cho hoạt động của các bên ở Biển Đông, hiện nay, ASEAN và Trung Quốc đã thông qua được bộ khung Bộ quy tắc về cách ứng xử ở Biển Đông (COC) và ASEAN đang nỗ lực cùng Trung Quốc sớm hoàn thành COC
Trang 84 Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, giao lưu kinh tế thương mại của tỉnh Bình Định trong điều kiện hội nhập khu vực hiện nay
Qua phân tích về vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc quyền lực ở CA- TBD, ta thấy ASEAN có tiếng nói rất quan trọng ở một khu vực được sự quan tâm hàng đầu của các nước lớn qua sự điều chỉnh chiến lược của họ và cũng là nơi
đã và đang phát triển năng động nhất của thế giới trong thế kỷ 21, điều đó vừa tạo
ra những thách thức nhưng cũng đem lại cơ hội rất lớn cho ASEAN và các nước thành viên của mình phát triển nhanh chóng Vận hội đó có thể được chứng minh thông qua việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, giao lưu kinh tế thương mại ở tỉnh Bình Định của Việt Nam trong điều kiện hội nhập khu vực hiện nay sau đây: Bình Định là một trong 05 tỉnh của Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung -nằm ở trung tâm của trục Bắc - Nam Việt Nam, là cửa ngõ ra biển gần nhất và thuận lợi nhất của Tây Nguyên, nam Lào, đông bắc Campuchia và Thái Lan (bằng cảng biển quốc tế Quy Nhơn và Quốc lộ 19)
Bình Định có hệ thống giao thông đồng bộ với đường bộ, đường sắt quốc gia, cảng biển quốc tế, sân bay; có hệ thống cấp điện, cấp nước, các dịch vụ bưu chính -viễn thông, tài chính, ngân hàng, các cơ sở giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khoẻ đảm bảo đáp ứng nhu cầu của mọi người dân và doanh nghiệp Ngoài ra, hạ tầng phục vụ
du lịch, vui chơi giải trí đã và đang được quan tâm đầu tư, nâng cấp Bên cạnh 134 km
bờ biển với nhiều bãi biển, thắng cảnh biển và nguồn lợi thuỷ sản, Bình Định còn có nhiều loại khoáng sản, như: đá granite, ilmenite, cát, cao lanh, đất sét, suối khoáng, vàng Với 1,6 triệu dân, trong đó trên 50% trong tuổi lao động, có truyền thống cần
cù, sáng tạo, Bình Định có thể cung cấp một nguồn nhân lực dồi dào
Bên cạnh đó, TP Quy Nhơn - Bình Định cũng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để trở thành trung tâm tăng trưởng kinh tế phía Nam của vùng, là đầu mối giao thông đường bộ và cảng biển phục vụ trực tiếp cho vùng Tây Nguyên là một trong những ưu tiên Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam cũng phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Theo đó, cảng Quy Nhơn - Bình Định là cảng tổng hợp quốc gia phục
vụ chủ yếu cho các KCN và trung chuyển các sản phẩm dầu,…
Trang 9Tất cả các yếu tố trên giúp Bình Định có lợi thế vượt trội trong liên kết, giao lưu kinh tế khu vực và quốc tế
Thực hiện tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững” theo nguyên tắc “bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”.
Sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP ngày 27/02/2007, Chương trình hành động
“Một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO”; giao các bộ, ngành, địa phương triển khai các nhiệm vụ cụ thể nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, đưa nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới Thực hiện Nghị quyết này, trên cơ sở lợi thế của mình, Bình Định đã tích cực mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế đối ngoại với nhiều đối tác, dưới nhiều hình thức, trên nhiều lĩnh vực (trao đổi hàng hóa, đầu tư sản xuất, hợp tác khoa học kỹ thuật), tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi và khai thác hiệu quả các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
4.1 Một số thành tựu của giao lưu kinh tế thương mại, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Bình Định
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã ký kết Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) vào năm 2000 và tham gia 08 Hiệp định Thương mại tự do (FTA) khu vực và song phương Cụ thể, Việt Nam và các nước ASEAN ký các Hiệp định thương mại tự do giữa khối ASEAN với các đối tác Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ôt-xtrây-lia, Niu-Di-lân, với Ấn Độ Ngoài ra
đã ký FTA song phương là FTA Việt Nam - Nhật Bản năm 2008 và FTA Việt Nam - Chi-lê năm 2011, FTA với Hàn Quốc, Liên minh thuế quan Nga - Bê-la-rút
- Ca-dắc-xtan và đang tích cực tham gia đàm phán các FTA khác như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), FTA với Liên minh châu Âu (EU), Khối thương mại tự do châu Âu (EFTA) gồm các nước Thụy Sỹ, Na-uy, Lích-tân-xten
và Ai-xơ-len, v.v Những Hiệp định đã ký kết tạo nhiều cơ hội thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam trong đó có Bình Định hội nhập nhanh với kinh tế thế giới
Trang 10Đến nay Bình Định đã có quan hệ mua bán với hơn 156 quốc gia và vùng lãnh thổ Ngoài ra, Bình Định Định cũng đã quan hệ thương mại với nhiều quốc gia và lãnh thổ trên khắp Châu lục; nhiều nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan… là đối tác thương mại quan trọng của Tỉnh Đây là thành tựu quan trọng thể hiện sự cố gắng phấn đấu của việc thực hiện chính sách đối ngoại đổi mới, toàn diện của lãnh đạo, các cơ quan đoàn thể của tỉnh Bình Định
Kết quả mở rộng thị trường và quan hệ hợp tác Bình Định thể hiện khả năng sẵn sàng tham gia sâu rộng vào các hoạt động HNKTQT, bắt đầu có tiếng nói trong các diễn đàn Hội nhập, từng bước thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Bình Định, tạo điều kiện phát triển mô hình kinh tế hướng đến xuất khẩu, giao lưu kinh tế, mở rộng dịch vụ Logistics, đóng góp thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước khẳng định hình ảnh và vị thế của một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên và lao động
* Hoạt động HNKTQT Bình Định đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế:
Thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ từ khi gia nhập vào WTO, Bình Định đã duy trì phát triển kinh tế - xã hội Giai đoạn 2008 đến 2016, tuy bị tác động bởi sự biến động của kinh tế các nước trên thế giới trực tiếp là các nước có quan
hệ giao thương nhưng hoạt động xuất nhập khẩu vẫn có bước tăng trưởng Riêng đối với kim ngạch xuất khẩu đều tăng qua các năm Cụ thể: giai đoạn 2010 - 2016 tổng kim ngạch xuất khẩu thực hiện đạt 2.707,5 triệu USD, tốc độ tăng bình quân hàng năm 10,2% Hàng hóa xuất khẩu của Bình Định trong đó ngành hàng gỗ và đồ gỗ, thủy sản, may mặc, giày da,… hiện nay đã có mặt trên 156 nước và vùng lãnh thổ
* Góp phần thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Quán triệt và thực hiện chính sách mở cửa kinh tế Đảng và Nhà nước, Bình Định không ngừng đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI Nhờ thực hiện tốt các cam kết HNKTQT, cụ thể cam kết gia nhập WTO đã giúp cho các nhà đầu tư FDI tin tưởng và nâng cao sức hấp dẫn khi tham gia vào các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm niền Trung trong đó có Bình Định Đến nay đã có 59 dự án FDI từ các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư với tổng vốn đầu tư khoảng là 1.762,47