CHƯƠNG V: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5.1 Thực trạng chăn nuôi và tiêu thụ bò thịt ở thị trấn Bắc Yên – huyện
5.3 Định hướng và giải pháp đẩy mạnh chăn nuôi và tiêu thụ bò thịt trên địa bàn
5.3.1 Cơ sở của việc đề ra định hướng và giải pháp đầy mạnh chăn nuôi và tiêu thụ bò thịt trên địa bàn
- Căn cứ vào thực trạng quá trình chăn nuôi và tiêu thụ bò thịt trên địa bàn Thị trấn Bắc Yên trong thời gian qua và kế hoạch phát triển đàn bò trong những năm tiếp theo.
- Các phân tích về kết quả, hiệu quả chăn nuôi trong quá trình chăn nuôi và tiêu thụ bò thịt, cũng nhƣ xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và sự kết hợp giữa chúng.
- Căn cứ vào điều kiện chăn nuôi bò thịt của ba Bản đã nghiên cứu ta có thể suy rộng đƣợc những điều kiện chăn nuôi bò thịt ở các Bản khác trên địa bàn Thị trấn, do các bản, Tiểu khu còn lại có những điểm tương đồng với bản nghiên cứu nhƣ là hình thức chăn nuôi, giống bò, quy mô...
- Các chủ chương chính sách và một số chương trình khác liên quan đến phát triển chăn nuôi và tiêu thụ bò thịt của UBND Thị trấn Bắc Yên, UBND huyện Bắc Yên và Chính quyền địa phương.
- Căn cứ theo kế hoạch năm 2015 sản lƣợng thịt bò ở Việt Nam đạt khoảng 310 nghìn tấn hơi, tương đương với 144 nghìn tấn thịt xẻ, lúc này tỷ lệ thịt bò cũng mới chỉ chiếm 3% tổng sản lƣợng thịt xẻ (4,707 triệu tấn).
Muốn tăng tỷ lệ thịt bò lên 6% tổng sản lượng thịt và được 1,5 kg/người/năm, nước ta phải nhập 139 nghìn tấn thịt xẻ (1,5kg/người/năm), tương đương với đầu tƣ một khoản tiền là 350 triệu USD. Tuy vậy, tổng số thịt bò tiêu thụ năm 2015 mới đạt 3,0kg/người/năm, tương đương 30% thịt bò tiêu thụ năm 2005 của Trung Quốc. Năm 2020 sản lƣợng thịt bò hơi đạt 424,9 nghìn tấn thịt hơi,
tương đương với 200 nghìn tấn thịt xẻ. Kế hoạch về số lượng bò và sản lượng thịt bò của nước ta đến năm 2015 thể hiện qua bảng 5.10:
Bảng 5.10: Kế hoạch về số lƣợng bò và sản lƣợng thịt bò giai đoạn 2007 - 2015
ĐVT 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015
Số lƣợng Triệu con 6,77 7,11 7,46 7,84 8,23 8,64 9,07 9,53 10,00
Tốc độ tăng đàn % 4,00 5,00 5,00 5,00 5,00 5,00 5,00 5,00 5,00
Sản lƣợng thịt bò hơi 1000 tấn 174,90 189,77 205,90 222,37 239,05 255,78 273,17 291,20 310,13
Tốc độ tăng % 10,00 8,50 8,50 8,00 7,50 7,00 6,80 6,60 6,50
Thịt bò/người kg 2,05 2,20 2,36 2,51 2,67 2,82 2,98 3,13 3,30
Dân số Triệu người 85,20 86,30 87,40 88,50 89,60 90,70 91,80 92,90 94,00 Nguồn: Theo đề án phát triển đàn bò Bộ Nông nghiệp, 2007
Chiến lƣợc phát triển chăn nuôi đến năm 2020. Trong chiến lƣợc, mục tiêu về số lƣợng bò và sản lƣợng thịt bò đến năm 2015 và 2020 nhƣ sau:
Đàn bò thịt: tăng bình quân 4.8% năm, đạt khoảng 12,5 triệu con, trong đó bò lai đạt trên 50% vào năm 2020. Tổng sản lƣợng thịt bò năm 2010 đạt 222,4 ngàn tấn, năm 2015 đạt 310 ngàn tấn, chiếm 3% tổng sản lƣợng thịt bò xẻ các loại , bình quân 3,3kh thịt bò/người/năm.
Về quan điểm : Phát triển chăn nuôi bò thành ngành sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thịt bò cho tiêu dùng trong nước. Chăn nuôi bò gắn với thị trường, đảm bảo an toàn dịch bệnh, vệ sinh thú y, bảo vệ môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Chăn nuôi bò là một trong nhiều ngành có lợi thế phát triển. Cần khuyến khích đầu tƣ phát triển chăn nuôi bò trang trại, công nghiệp và sản xuất hàng hóa.
Đến năm 2020 chăn nuôi của nước ta phù hợp với một nước nông nghiệp có tỷ trọng GDP của ngành chăn nuôi đạt trên 42% trong nông nghiệp. Ngành chăn nuôi cơ bản khống chế có hiệu quả các bệnh nguy hiểm, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. (Theo định hướng phát triển chăn nuôi bò thịt ở nước ta đến năm 2020)
5.3.2 Định hướng thúc đẩy chăn nuôi và tiêu thụ bò thịt 5.3.2.1 Định hướng chăn nuôi bò thịt
- Phát triển chăn nuôi bò thịt nằm trong chiến lƣợc tổng thể phát triển sản xuất chăn nuôi của huyện Bắc Yên. Thị trấn Bắc Yên đã và đang thực hiện Đề án phát triển đàn bò (2015 - 2020), nhằm tăng quy mô và chất lƣợng đàn bò thịt trên địa bàn, với mục tiêu đến 2020 có tổng đàn bò là hơn 500 con.
- Phát triển chăn nuôi bò thịt phải gắn với công tác lai tạo và cải tạo chất lượng giống theo hướng thịt, trước mắt đến 2020 là theo hướng “Mông”
hoá.
- Đầu tƣ cho chăn nuôi bò thịt phải chú trọng đầu tƣ theo chiều sâu, là cơ sở cho việc chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào trong chăn nuôi nhằm tăng năng suất và tăng hiệu quả chăn nuôi.
- Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi bò thịt theo hướng sản xuất hàng hoá
5.3.2.2 Định hướng tiêu thụ bò thịt
- Khuyến khích hộ chăn nuôi vỗ béo những con bò không đủ tiêu chuẩn làm giống (trên 24 tháng tuổi) bằng hình thức nuôi nhốt và thay thế vào đó là
kết hợp.
- Có sự liên hệ giữa Chính quyền địa phương, hộ chăn nuôi bò thịt, các chủ thu gom địa phương và các lái buôn ngoài tỉnh giúp quá trình tiêu thụ thuận lợi, các bên cùng có lợi.
- Nâng cấp cơ sở hạ tầng các chợ đầu mối tạo điều kiện cho việc mua - bán bò trên địa bàn ngày càng thuận lợi.
- Quảng bá hình ảnh và chất lƣợng thịt bò Thị trấn bắc Yên.
5.3.3 Một số giải pháp thúc đẩy chăn nuôi và tiêu thụ bò thịt
Từ thực trạng chăn nuôi và tiêu thụ bò thịt trên địa bàn Thị trấn Bắc Yên cho ta thấy những điểm hạn chế nhƣ cơ cấu giống trong tổng đàn hiện nay chủ yếu là giống bò vàng địa phương năng suất thấp, thiếu thức ăn cho bò trong mùa đông, hệ thống cơ sở hạ tầng các chợ đầu mối còn hạn chế gây cản trở cho việc tiêu thụ bò thịt... Tôi thấy giải pháp để thay đổi cơ cấu giống trong đàn cần đƣợc trú trọng hàng đầu
5.3.3.1 Thay đổi cơ cấu giống trong đàn
Chất lượng giống có ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất và hiệu quả chăn nuôi bò thịt. Với thực trạng giống bò thịt hiện có của địa phương, phần lớn là giống có năng suất thấp, chính vì vậy giải pháp về giống có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho quá trình phát triển chăn nuôi bò thịt ở địa phương. Việc cải tạo chất lượng giống bò thịt ở Thị trấn Bắc Yên theo hướng nâng cao năng suất thịt là giải pháp mang tính chiến lƣợc bền vững, góp phần làm tăng nhanh tốc độ phát triển chăn nuôi bò thịt trên địa bàn cả về lƣợng và chất.
* Mục tiêu giải pháp về giống
Cải thiện đàn bò thịt hiện đang nuôi dƣỡng tại Thị trấn Bắc Yên theo hướng “Mông” hoá - to về tầm vóc, tăng trọng lượng cơ thể, tỷ lệ thịt xẻ cao, thích nghi với điều kiện tự nhiên và thời tiết khí hậu tại Thị trấn, phù hợp với các hình thức chăn nuôi bò thịt của huyện.
* Cải tạo giống bò thịt hiện tại theo hướng “Mông” hoá - Quan điểm về cải tạo đàn bò thịt ở Thị trấn Bắc Yên
Với tầm vóc bé, trọng lƣợng nhỏ và tỷ lệ thịt xẻ thấp của giống bò vàng
thấp, giá thành sản xuất sản phẩm cao. Có hai hướng nâng cao được năng suất chăn nuôi bò thịt ở Bắc Yên: một là, thay thế hoàn toàn các giống cũ bằng các giống mới có năng suất cao phù hợp với địa phương; hai là, cải tạo đàn giống hiện đang nuôi dưỡng theo hướng nâng cao năng suất thịt.
Trong thực trạng chăn nuôi bò thịt hiện nay ở Thị trấn Bắc Yên (có tới 80% là giống bò vàng địa phương), thì việc thay thế tới 80% giống bò hiện đang nuôi dƣỡng bằng giống mới có năng suất cao hơn là không khả thi với một số lý do chính sau: chi phí thay đổi giống cho toàn Thị trấn là rất lớn và không thể giải quyết ngay trong một thời gian ngắn, việc thay đổi còn phụ thuộc vào nguồn cung ứng giống; thêm vào đó, những giống mới đƣợc thay thế cần phải thích nghi được với điều kiện tự nhiên, và điều kiện chăn nuôi của địa phương.
Như vậy, cải tạo đàn bò vàng địa phương về tầm vóc và trọng lượng là giải pháp phù hợp với đặc điểm chăn nuôi trên địa bàn nhằm nâng cao năng suất trong chăn nuôi bò thịt. Trên địa bàn Thị trấn và những vùng lân cận có giống bò Mông đạt những tiêu chuẩn làm giống và đó cũng là một nguồn gen quý của cả nước nói chung và của huyện nói riêng. Trong thời gian từ nay tới 2020, thực hiện việc cải tạo đàn bò địa phương theo hướng “Mông” hoá là giải pháp khả thi nhất.
* Công tác cải tạo đàn bò thịt địa phương theo hướng “Mông” hoá:
- Thống kê và lựa chọn bò cái sinh sản đủ tiêu chuẩn.
- Bình tuyển bò đực Mông.
- Loại thải các bò không đủ tiêu chuẩn làm giống
- Chỉ sử dụng bò đực Mông đã qua bình tuyển thụ tinh trực tiếp hoặc gián tiếp (thụ tinh nhân tạo) cho số bò cái sinh sản đủ tiêu chuẩn.
Cải tạo giống bò địa phương theo hướng “Mông” hoá được tóm tắt bằng sơ đồ 5.3:
Để quá trình cải tạo đàn bò thịt nhanh và hiệu quả, cần: thành lập hệ thống kỹ thuật viên làm công tác giống ở khắp các xã trên địa bàn huyện; mở lớp tập huấn về kỹ thuật nuôi bò đực giống và chăm sóc bò cái sinh sản cho hộ chăn nuôi; các kỹ thuật viên làm công tác lấy tinh của những bò đực Mông đạt tiêu
sóc thoả đáng) - Giữ tinh đông lạnh của giống bò đực Mông (nếu cần), sau đó tiến hành thụ tinh nhân tạo cho những bò cái đủ tiêu chuẩn của các hộ dựa trên chu kỳ sinh sản của bò cái và sự ủng hộ từ phía hộ chăn nuôi; thường xuyên mở lớp tập huấn để các hộ chăn nuôi cập nhật kiến thức tiên tiến nhất về chăn nuôi bê đến 24 tháng tuổi, đồng thời bình tuyển những con bò bước vào tuổi trưởng thành, nếu đạt tiêu chuẩn thì khuyến cáo, có chính sách hỗ trợ hộ để lại làm giống, nếu không đạt tiêu chuẩn, khuyến khích hộ nhanh chóng đƣa vào nuôi nhốt vỗ béo rồi bán.
BÒ CÁI SINH SẢN BÒ CÁI TƠ
Bê cái đƣợc bú sữa Bê đực đƣợc
bú sữa
Bê cái sinh trưởng Bê đực
sinh trưởng
NUÔI NHỐT
(Vỗ béo trong thời gian 3 tháng)
Hệ thống thu gom địa phương và lái buôn ngoài tỉnh BÒ ĐỰC
MÔNG Lấy tinh
Sơ đồ 5.3: Cải tạo đàn bò địa phương theo hướng “Mông” hoá Chúng tôi dự kiến, nếu thực hiện tốt giải pháp này, đến năm 2020 sẽ cải tạo đƣợc khoảng 60% giống trong đàn.
5.3.3.2 Tăng cường chủ động về thức ăn
Chế biến một số phụ phẩm làm thức ăn cho bò: những công nghệ chế biến này phải đảm bảo đơn giản dễ áp dụng không tốn kém và đem lại hiệu quả kinh tế cao.
- Chế biến rơm bằng Urê để làm tăng giá trị dinh dƣỡng cho bò:
Tỷ lệ giữa rơm và thóc thường biến động từ 0,7 : 1 đến 1 : 1. Như vậy hàng năm trên địa bàn Thị trấn có vài nghìn tấn rơm, đây là một loại phụ phế phẩm nông nghiệp khá lớn cần đƣợc sử dụng có hiệu quả. Nhƣng hiện nay phần lớn rơm bị bỏ lại trên đồng ruộng hoặc đốt thành tro làm phân bón. Rơm chƣa chế biến chứa nhiều chất xơ, rất khó tiêu hoá, nghèo protein, và muối khoáng nên trâu bò không ăn đƣợc nhiều. Để nâng cao giá trị dinh dưỡng của rơm rạ người ta đã áp dụng phương pháp chế biến rơm bằng Urê. Ở nước ta giá Urê còn đắt nên Viện chăn nuôi đã cải tiến phương pháp chỉ sử dụng lƣợng Urê thấp, đồng thời bổ sung thêm vôi để chế biến rơm đã thu đƣợc kết quả tốt. Các nhà khoa học Bộ môn nghiên cứu bò Viện Chăn nuôi đã làm thí nghiệm và rút ra kết kuận nhƣ sau:
Trong mùa khô (mùa thiếu thức ăn xanh cho bò) nếu bổ sung rơm ủ Urê và một phần protein nhỏ, bò có thể tăng 400g/ngày.
Khi đầu tƣ thức ăn bổ sung có hàm lƣợng protein và năng lƣợng cho đàn bê lai hướng thịt không gây lỗ cho chăn nuôi quảng canh mà lãi suất trên vốn đầu tƣ đạt 11,52 - 47,52 %.
- Áp dụng hệ thống chăn nuôi trồng cây thức ăn dưới tán cây hoặc hàng rào quanh vườn:
Ở Thị trấn bắc Yên có số lƣợng đáng kể về diện tích đất rừng. Lợi dụng cây thức ăn mọc dưới tán để chăn nuôi đây là phương thức có nhiều ý nghĩa. Cái lợi của phương thức chăn nuôi bò dưới tán cây là:
+ Tăng độ phì của đất do phân và nước tiểu của con vật thải ra.
+ Bớt cỏ dại trên đất trồng.
+ Tăng giá trị trên một đơn vị diện tích từ sản phẩm của cây và của gia súc.
+ Lợi dụng bóng mát, giảm nhiệt cho gia súc vào mùa nóng.
Trồng một số loại cây họ đậu và cây bụi vừa là cây thức ăn gia súc vừa có tác dụng chống xói mòn và làm giầu dinh dƣỡng cho đất. Ví dụ cây keo dậu là cây được rất nhiều nước nhiệt đới nghiên cứu và áp dụng , được coi là cây thức ăn gia súc nhiệt đới lý tưởng.
- Quy hoạch và sử dụng đất trống, nghèo dinh dƣỡng để trồng một số loại cỏ có năng suất cao nhƣ cỏ voi, cỏ VA 06....
Nếu thực hiện tốt giải pháp này, dự kiến đến 2020 hộ chăn nuôi trên địa bàn sẽ đủ cỏ cho chăn nuôi bò thịt trong cả năm.
5.3.3.3 Tổ chức tốt mạng lưới thị trường
Tiêu thụ bò thịt là yếu tố quyết định đến hiệu quả chăn nuôi, là mục tiêu cơ bản quyết định đến sự phát triển chăn nuôi bò thịt, vì vậy tiêu thụ bò thịt và giá bán bò thịt được mọi người chăn nuôi quan tâm và là nỗi lo thường xuyên của người chăn nuôi. Trong cơ chế thị trường, việc phát triển chăn nuôi bò thịt phải tính đến thị trường tiêu thụ ổn định và tiềm năng. Để cùng hộ chăn nuôi tháo gỡ trong tiêu thụ bò thịt, chúng tôi đưa ra một số giải pháp thị trường như sau:
- Hoàn thiện mạng lưới thị trường để giải quyết đầu ra ổn định cho sản phẩm bò thịt sản xuất ra: xây dựng và nâng cấp hệ cơ sở hạ tầng các chợ đầu mối buôn bán trâu bò; tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho người chăn nuôi, chủ thu gom và các lái buôn ngoài huyện và tỉnh tham gia thị trường bò thịt; tổ chức liên doanh, liên kết giữa người chăn nuôi, lò mổ, với nhà hàng, siêu thị.
- Nâng cao được vị thế của người chăn nuôi khi tham gia thị trường, đáp ứng đƣợc các nhu cầu cho sản xuất: xây dựng đƣợc nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm thịt bò Bắc Yên (dựa trên tiêu chuẩn thịt bò Mông) từ đó nhằm nâng cao được giá trị sản phẩm, giúp người tiêu dùng sử dụng sản phẩm có chất lượng và có thể truy xuất nguồn gốc. Bằng cách: xây dựng đƣợc các nhóm chăn nuôi và
liên kết thành hiệp hội chăn nuôi, giết mổ và phân phối sản phẩm thịt bò Bắc Yên; có một qui trình kỹ thuật chăn nuôi bò lấy thịt theo hướng chất lượng (tài liệu đơn giản, dễ hiểu, dễ sử dụng); có đƣợc nhãn hiệu tập thể trên sản phẩm thịt bò Bắc Yên khi bán tại các siêu thị, nhà hàng, khách sạn tại Sơn la, Hà Nội và các tỉnh thành khác; nhãn hiệu tập thể đƣợc công nhận bởi Cục sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ.
Để bò thịt có thể tiêu thụ tốt, trong tương lai cần phát triển công nghiệp chế biến tại chỗ, mặc dù là rất khó khăn đối với một huyện còn nghèo nhƣ Bắc Yên. Tuy nhiên, đó là một việc hết sức cần thiết và nên làm vì nông nghiệp sẽ khó có thể phát triển nếu nhƣ không phát triển ngành công nghiệp chế biến song song. Nhưng trước mắt, khuyến khích xây dựng các điểm giết mổ, bán thịt bò tại huyện. Thêm vào đó nên quy hoạch hình thành các điểm thu mua tại các xã, tiến tới hình thành các chợ mua bán trâu bò mà trung tâm các xã đều có 1 điểm tập trung thu gom bò.
5.3.3.4 Các nhóm giải pháp khác
* Phối hợp hài hoà các hình thức chăn nuôi:
- Khuyến khích các hộ áp dụng hình thức chăn nuôi bò bán chăn thả và có bổ sung thêm thức ăn tại chuồng nhằm góp phần tăng quy mô và cải thiện đàn bò thịt ở địa phương.
- Khuyến cáo cho hộ chăn nuôi áp dụng hình thức nuôi nhốt đối với bò loại thải, không đủ tiêu chuẩn làm giống, có độ tuổi trên 24 tháng nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho hộ chăn nuôi, và đồng thời sử dụng vốn mua những con giống tốt từ ngoài địa phương làm giống gây dựng quy mô ở hộ góp phần xoá đói giảm nghèo.
* Làm tốt công tác thú y:
- Duy trì tốt mạng lưới thú y từ huyện đến cơ sở, công tác tiêm phòng định kỳ các bệnh thường gặp.
- Đầu tƣ đủ các trang thiết bị cần thiết phục vụ cho các hoạt động của mạng lưới thú y từ huyện đến cơ sở.