Ch ương 1: TỔNG QUAN VỀ MPLS MPLS là một công nghệ kết hợp đặc điểm tốt nhất giữa định tuyến lớp ba và chuyển pháp cải tiến việc chuyển tiếp gói trên mạng bằng các nhãn được gắn với mỗi
Trang 1CHUY ỂN MẠCH NHÃN ĐA
(MPLS MultiProtocol Label Switching)
Tác gi ả: Trần Thị Tố Uyên
Trang 2M ục lục
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ MPLS 3
Chương 2: CẤU HÌNH MPLS CƠ BẢN 13
LAB 2-1: Cấu hình MPLS frame-mode cơ bản 16
Chương 3: TỔNG QUAN VỀ MPLS VPN 28
Chương 4: GIAO THỨC ĐỊNH TUYẾN EIGRP PE-CE 43
LAB 4-1: Cấu hình định tuyến EIGRP PE-CE cơ bản 46
LAB 4-2: Cấu hình mạng sử dụng BGP CC và EIGRP SoO 62
Chương 5: GIAO THỨC ĐỊNH TUYẾN OSPF PE-CE 75
LAB 5-1 – Cấu hình định tuyến OSPF PE-CE 86
LAB 5-2—OSPF Sham-Links 101
Chương 6: KỸ THUẬT LƯU LƯỢNG TRONG MPLS 112
Trang 3Ch ương 1: TỔNG QUAN VỀ MPLS
MPLS là một công nghệ kết hợp đặc điểm tốt nhất giữa định tuyến lớp ba và chuyển
pháp cải tiến việc chuyển tiếp gói trên mạng bằng các nhãn được gắn với mỗi gói IP,
MPLS-enable ATM switch ra quyết định theo nội dung nhãn tốt hơn việc định tuyến
không cần phải bỏ đi cơ sở hạ tầng sẵn có Cấu trúc MPLS có tính mềm dẻo trong bất
MPLS hỗ trợ mọi giao thức lớp hai, triển khai hiệu quả các dịch cụ IP trên một mạng
trên một đường trục Internet Bằng việc tích hợp MPLS vào kiến trúc mạng, Các ISP
có thể giảm chi phí, tăng lợi nhuận, cung cấp nhiều hiệu quả khác nhau và đạt được
Đặc điểm mạng MPLS:
- Không có MPLS API, cũng không có thành phần giao thức phía host
- MPLS chỉ nằm trên các router
- MPLS là giao thức độc lập nên có thể hoạt động cùng với giao thức khác IP
- MPLS giúp đơn giản hoá quá trình định tuyến và làm tăng tính linh động của
các tầng trung gian
Thay thế cơ chế định tuyến lớp ba bằng cơ chế chuyển mạch lớp hai
MPLS hoạt động trong lõi của mạng IP Các Router trong lõi phải enable MPLS trên
được tách ra khi gói ra khỏi mạng MPLS Nhãn (Label) được chèn vào giữa header
đường đi MPLS tập trung vào quá trình hoán đổi nhãn (Label Swapping) Một trong
Công thức để gán nhãn gói tin là:
Network Layer Packet + MPLS Label Stack
Không gian nhãn (Label Space): có hai loại Một là, các giao tiếp dùng chung giá trị
nhãn (per-platform label space) Hai là, mỗi giao tiếp mang giá trị nhãn riêng,
(Per-interface Label Space)
MPLS Gồm hai loại: Hop by hop signal LSP - xác định đường đi khả thi nhất theo
Trang 4Internet có ba nhóm ứng dụng chính: voice, data, video với các yêu cầu khác nhau
Voice yêu cầu độ trễ thấp, cho phép thất thoát dữ liệu để tăng hiếu quả Video cho
phép thất thoát dữ liệu ở mức chấp nhận được, mang tính thời gian thực (realtime)
Data yêu cầu độ bảo mật và chính xác cao MPLS giúp khai thác tài nguyên mạng đạt
hiệu quả cao
MPLS VPN: Nhà cung cấp dịch cụ có thể tạo VPN lớp 3 dọc theo mạng đường trục
cho nhiều khách hàng, chỉ dùng một cơ sở hạ tầng công cộng sẵn có, không cần các ứng dụng encrytion hoặc end-user
MPLS Traggic Engineer: Cung cấp khả năng thiết lập một hoặc nhiều đường đi để điều khiển lưu lượng mạng và các đặc trưng thực thi cho một loại lưu lượng
MPLS QoS (Quality of service): Dùng QoS các nhà cung cấp dịch vụ có thể cung cấp
MPLS Unicast/Multicast IP routing
…
Điểm vượt trội của MPLS so với mô hình IP over ATM
Khi hợp nhất với chuyển mạch ATM, chuyển mạch nhãn tận dụng những thuận lợi
ATM, Frame, Replay và IP Internet trên một mặt phẳng đơn trong một đường đi tốc
độ cao Các mặt phẳng (Platform) công cộng hỗ trợ các dịch vụ này để tiết kiệm chi
phí và đơn giản hóa hoạt động cho nhà cung cấp đa dịch vụ ISP sử dụng chuyển
MGX8800, Router chuyển mạch đa dịch vụ 8540 và các chuyển mạch Cisco ATM
giúp quản lí mạng hiệu quả hơn xếp chồng (overlay) lớp IP trên mạng ATM Chuyển
trúc phân cấp (hierarchical structure) trong một mạng của ISP
Sự tích hợp:
MPLS xác nhập tính năng của IP và ATM chứ không xếp chồng lớp IP trên ATM
MPLS giúp cho cơ sở hạ tầng ATM thấy được định tuyến IP và loại bỏ các yêu cầu
ánh xạ giữa các đặc tính IP và ATM MPLS không cần địa chỉ ATM và kỹ thuật định
Độ tin cậy cao hơn:
xung quanh một đám mây ATM Tuy nhiên có nhiều vấn đề xảy ra do các PCV link
định tuyến Một link ATM bị hỏng làm hỏng nhiều router-to-router link, gây khó khăn
cho lượng cập nhật thông tin định tuyến và nhiều tiến trình xử lí kéo theo
MPLS sử dụng hàng đợi và bộ đếm của ATM để cung cấp nhiều loại dịch vụ khác
nhau Nó hỗ trợ quyền ưu tiên IP và loại dịch vụ (class of service – cos) trên chuyển
Khác với MPLS, xếp lớp IP trên ATM nảy sinh nhiều bất lợi, đặc biệt trong việc hỗ
Trang 5MPLS hỗ trợ các dịch vụ này, kế thừa thời gian và công việc theo các chuẩn và
MPLS có thể tính được các dịch vụ IP VPN và rất dễ quản lí các dịch vụ VPN quan
MPLS đi qua một đường trục và đến điểm ra đúng của nó Kết hợp MPLS với
MP-BGP (Mutiprotocol Broder Gateway Protocol) tạo ra các dịch vụ VNP dựa trên nền
MPLS (MPLS-based VNP) dễ quản lí hơn với sự điều hành chuyển tiếp để quản lí
phía VNP và các thành viên VNP, dịch vụ MPSL-based VNP còn có thể mở rộng để
Các dịch vụ VPN hướng dẫn cách MPLS hỗ trợ mọi thông tin định tuyến để phân cấp
điểm ra vào của mạng Với MPSL, kĩ thuật lưu lượng truyền ở biên của AS được gắn
nhãn để liên kết với điểm tương ứng Sự tách rời của định tuyến nội khỏi định tuyến
Internet đầy đủ cũng giúp hạn chế lỗi, ổn định và tăng tính bảo mật
MPLS cung cấp các khả năng điều khiển lưu lượng để sửng dụng hiệu quả tài nguyên
Các hình th ức hoạt động của MPLS
MPLS ở lối vào đánh dấu một gói đến lớp chuyển tiếp tương đương (FEC –
Forwarding Equivalence Class) cụ thể
Trong mạng MPLS nhãn điều khiển mọi hoạt động chuyển tiếp Điều này có nhiều
tra cứu (lookup) thay thế nhãn mà không ảnh hưởng đến header lớp mạng Các bộ
ATM-switch cần được điều khiển bởi một thành phần điều khiển MPLS dựa vào
IP (IP-base MPLS control element) như bộ điều khiển chuyển mạch nhãn (LSC -
Label Switch Controller) Đây là dạng cơ bản của sự kết hợp IP với ATM
- Khi một gói vào mạng nó được chuyển đến lớp chuyển tiếp tương đương (FEC -
Forwarding Equivalence Class) Router có thể sử dụng thông tin gói, như cổng
vào (ingress) hay giao tiếp (interface) Các gói đi vào mạng được gán các nhãn
khác nhau Quyết định chuyển tiếp được thực hiện dễ dàng bởi router ngõ vào Điều này không có trong sự chuyển tiếp thông thường, vì sự xác định lộ trình của
router khác với thông tin lộ trình trên gói
đường chưa được sử dụng Con đường đó được chọn trước hoặc ngay khi gói đi
vào mạng tốt hơn sự lựa chọn bởi các thuật toán định tuyến thông thường Trong
MPLS, một nhãn có thể được dùng để đại diện cho tuyến, không cần kèm trong
gói Đây là dạng cơ bản của MPLS Traffic Engineering
Trang 6- "Lớp dịch vụ (Class of service)" của gói được xác định bởi nút MPLS vào (ingress
MPLS node) Một nút MPLS vào có thể huỷ tuyến hay sửa đổi lịch trình để điều
MPLS QoS
Nhãn (Label) trong MPLS
giá trị khác nhau Một gói có
bên ngoài được xem xét Hình 2 mô tả định dạng tiêu đề của MPLS
Trong đó:
- EXP=Experimental (3 bit): dành cho thực nghiệm Cisco IOS sử dụng các bit này
để giữ các thông báo cho QoS; khi các gói MPLS xếp hàng có thể dùng các bit
EXP tương tự như các bit IP ưu tiên (IP Precedence)
- S=Bottom of stack (1 bit): là bít cuối chồng Nhãn cuối chồng bit này được thiết
gói thành các tế bào ATM, dùng giá trị VCI/CPI tương ứng đã trao đổi trong mặt
tin cổng ra tương ứng Cuối cùng, router ngõ ra (egress router) sắp xếp lại các tế bào
thành một gói
Trang 7Trong đó:
GFC (Generic Flow Control): Điều khiển luồng chung
VPI (Virtual Path Identifier): nhận dạng đường ảo
VCI (Virtual Channel Identifier): nhận dạng kênh ảo
PT (Payload Type): Chỉ thị kiểu trường tin
CLP (Cell Loss Priority): Chức năng chỉ thị ưu tiên huỷ bỏ tế bào
HEC (Header error check): Kiểm tra lỗi tiêu đề
điều khiển MPLS Nút MPLS có thể thực hiện định tuyến lớp ba hoặc chuyển mạch
Forwarding Information Base) để chuyển tiếp các gói Mỗi nút MPLS có hai bảng liên
quan đến việc chuyển tiếp là: cơ sở thông tin nhãn (LIB - Label Information Base) và
LFIB LIB chứa tất cả các nhãn được nút MPLS cục bộ đánh dấu và ánh xạ của các
ATM Cell header GFC VPI VCI PT CLP HEC Header l ớp 3 D ữ liệu
Nhãn
Gói qua SONET/SDH PPP Header Nhãn Header l ớp 3 D ữ liệu
Ethernet Ethernet Header Nhãn Header l ớp 3 D ữ liệu
Trang 8nhãn này đến các nhãn được nhận từ láng giềng (MPLS neighbor) của nó LFIB sử
MPLS phải chạy một giao thức định tuyến IP để trao đổi thông tin định tuyến đến các
nút MPLS khác trong mạng Các nút MPLS enable ATM sẽ dùng một bộ điều khiển
nhãn (LSC – Label Switch Controller) như router 7200, 7500 hoặc dùng một mô đun
Các giao thức định tuyến Link-state như OSPF và IS-IS là các giao thức được chọn vì
chúng cung cấp cho mỗi nút MPLS thông tin của toàn mạng Trong các bộ định tuyến
thông thường, bản định tuyến IP dùng để xây dựng bộ lưu trữ chuyển mạch nhanh
(Fast switching cache) hoặc FIB (dùng bởi CEF - Cisco Express Forwarding) Tuy
nhiên với MPLS, bản định tuyến IP cung cấp thông tin của mạng đích và subnet
prefix Các giao thức định tuyến link-state gửi thông tin định tuyến (flood) giữa một
các router nối trực tiếp với nhau bằng cách dùng giao thức phân phối (LDP – Label
Distribution Protocol) hoặc TDP (Cisco ‘s proproetary Tag Distribution protocol)
Các nhãn được trao đổi giữa các nút MPLS kế cận để xây dựng nên LFIB MPLS
dùng một mẫu chuyển tiếp dựa trên sự hoán đổi nhãn để kết nối với các mô đun điều
đến được, sự liên kết, và ánh xạ giữa FEC và địa chỉ trạm kế (next-hop address)
Các mô đun điều khiển MPLS gồm:
Định tuyến Unicast (Unicast Routing)
Định tuyến Multicast (Multicast Routing)
Các thành ph ần mặt phẳng dữ liệu và mặt phẳng điều khiển của MPLS
Trang 9Cisco Express Forwarding (CEF) là nền tảng cho MPLS và hoạt động trên các router
đơn giản và khả năng chuyển tiếp gói IP CEF tránh việc viết lại overhead của cache
trong môi trường lõi IP bằng cách sử dụng một cơ sở thông tin chuyển tiếp (FIB –
Forwarding Information Base) để quyết định chuyển mạch Nó phản ánh toàn bộ nội
dung của bảng định tuyến IP (IP routing table), ánh xạ 1-1 giữa FIB và bảng định
đích trong bảng định tuyến với các trạm kế tiếp (next-hop adjacencies) tương ứng
gói tin Trên router còn duy trì hai cấu trúc khác là cơ sở thông tin nhãn (LIB – Label
Information Base) và cơ sở thông tin chuyển tiếp nhãn (LFIB – Label Forwarding
Information Base) Giao thức phân phối sử dụng giữa các láng giềng MPLS có nhiệm
được giao thức phân phối nhãn sử dụng khi địa chỉ mạng đích trong bảng định tuyến được ánh xạ với nhãn nhận được từ router xuôi dòng LFIB thuộc mặt phẳng dữ liệu
và chứa nhãn cục bộ (local label) đến nhãn trạm kế ánh xạ với giao tiếp ngõ ra
(outgoing interface), được dùng để chuyển tiếp các gói được gán nhãn Như vậy,
thông tin về các mạng đến được do các giao thức định tuyến cung cấp dùng để xây
FIB LIB được tạo nên dựa vào giao thức phân phối nhãn và từ LIB kết hợp với FIB
tạo ra LFIB
MPLS lấy giá trị trong nhãn của gói vừa đến làm chỉ mục đến LFIB Khi giá trị nhãn
label) từ mục con (subentry) và gửi gói qua giao tiếp ngõ ra tương ứng đến trạm kế đã được xác định Nếu nút MPLS chứa nhiều LFIB trên mỗi giao tiếp, nó sử dụng giao
Trang 10toán chuyển tiếp thông thường sử dụng nhiều thuật toán như unicast, multicast và các
gói unicast có thiết lập bit ToS Tuy nhiên, MPLS chỉ dùng một thuật toán chuyển tiếp
thành công nghệ chuyển mạch có tính thực thi cao MPLS còn có thể dùng để chuyển
giúp MPLS có thể tương thích tốt với việc chuyển đổi các mạng từ IPv4 lên IPv6
- Gán nhãn MPLS (trên LSR)
- Giao thức phân phối nhãn (LDP - label distribution protocol hay TDP - tag
distribution protocol ) thực hiện gán nhãn và trao đổi nhãn giữa các LSR trong
gán cục bộ trên router hoặc trên giao tiếp của router
TDP Lệnh này có thể được cấu hình toàn cục hoặc trên giao tiếp:
Router(config-if)#mpls label protocol {ldp | tdp}
711 LDP dùng cổng TCP 646
Có 4 loại thông điệp LDP:
Discovery: quảng cáo và chấp nhận sự có mặt của LSR trong mạng
Session: Thiết lập, bảo dưỡng và hủy phiên làm việc giữa các LSR
Advertisement: quảng cáo ánh xạ nhãn tới FEC
Notification: báo hiệu lỗi
Trang 11Phân ph ối nhãn bằng giao thức phân phối nhãn LDP
Trong một miền MPLS, một nhãn gán tới một địa chỉ (FIB) đích được phân phối tới
các láng giềng ngược dòng sau khi thiết lập session Việc kết nối giữa mạng cụ thể
LFIB và LIB MPLS dùng các phương thức phân phối nhãn như sau:
- Yêu cầu xuôi dòng (Downstream on demand)
Trang 12Có hai chế độ duy trì nhãn:
ngay khi IGP hội tụ và số lượng nhãn lưu giữ rất lớn cho từng đích đến cụ thể nên tốn
bộ nhớ
không phải trạm kế của đích đến chỉ định nên giảm thiểu được bộ nhớ
Các lo ại nhãn đặc biệt
Untagged: gói MPLS đến được chuyển thành một gói IP và chuyển tiếp đến đích Nó được dùng trong thực thi MPLS VPN
Nhãn Implicit-null hay POP: Nhãn này được gán khi nhãn trên (top label) của gói
MPLS đến bị bóc ra và gói MPLS hay IP được chuyển tiếp tới trạm kế xuôi dòng Giá
cho những trạm kế cuối
Nhãn Explicit-null: được gán để giữ giá trị EXP cho nhãn trên (top label) của gói đến
Nhãn trên được hoán đổi với giá trị 0 và chuyển tiếp như một gói MPLS tới trạm kế
xuôi dòng Nhãn này sử dụng khi thực hiện QoS với MPLS
Nhãn Aggregate: với nhãn này, khi gói MPLS đến nó bị bóc tất cả nhãn trong chồng
nhãn ra để trở thành một gói IP và thực hiện tra cứu trong FIB để xác định giao tiếp
ngõ ra cho nó
Trang 13Ch ương 2: CẤU HÌNH MPLS CƠ BẢN
Ở chế độ khung, MPLS sử dụng một nhãn 32 bit chèn vào giữa tiêu đề lớp 2 và lớp 3
Các dạng đóng gói lớp 2 như HDLC, PPP, Frame Relay, và Ethernet dựa trên kiểu
khung (frame) nên có thể hoạt động ở chế độ khung (frame mode) hoặc chế độ tế bào
(cell mode), ngoại trừ ATM chỉ hoạt động ở chế độ tế bào
Basic frame-mode MPLS
Trang 14Các b ước cấu hình frame-mode MPLS cơ bản
Các bước cấu hình dựa trên sơ đồ trên
CEF là một thành phần thiết yếu cho chuyển mạch nhãn (label switching) và chịu
trách nhiệm sắp xếp và cài đặt nhãn trong một mạng MPLS Cấu hình CEF toàn cục
trên các router R1, R2, R3 và R4 bằng lệnh:
Router(config)#ip cef [distributed]
phép CEF trên giao tiếp bằng cách dùng lệnh:
Router(config-if)#ip route-cache cef
Dùng từ khóa [distribute] thể hiện khả năng của chuyển mạch CEF được chia sẻ
Ở đây ta xét giao thức OSPF Cho phép các giao tiếp trên các router tham gia vào
Router(config)#router ospf process-id
Router(config-router)#network ip-address wild-card mask area area-id
Cho phép giao thức phân phối nhãn là một bước tùy chọn Ngầm định, LDP là giao
không phải là giao thức ngầm định hoặc nếu muốn chuyển đổi qua lại giữa LDP và
TDP Lệnh này nên cấu hình trong chế độ toàn cục ( Router(config)# ) tốt hơn trên
giao tiếp ( Router(config-if)# ) Tuy nhiên lệnh cấu hình trên giao tiếp sẽ ghi đè lên
Trang 15LDP sử dụng địa chỉ IP cao nhất trên một giao tiếp loopback như là một LDP router
ID Nếu không có địa chỉ loopback thì địa chỉ IP cao nhất trên router sẽ trở thành
LDP router ID Muốn buộc một giao tiếp trở thành LDP router ID dùng lệnh:
Router(config)#mpls ldp router-id {interface | ip-address} [force]
Giao tiếp loopback được khuyến khích vì chúng luôn hoạt động
Router(config-if)#mpls ip
Router#show ip cef
Router#show mpls interfaces
Xem trạng thái của tiến trình khám phá LDP Hiển thị thông tin khám phá LDP của
láng giềng và các giao tiếp mà tiến trình khám phá LDP đang chạy
Hình trên thể hiện hoạt động của mặp phẳng điều khiển cho prefix 10.10.10.101/32 từ
10.10.10.101/32:
Trang 16B ước 1: R1 gửi một implicit null hay POP label tới R2 Giá trị 3 đại diện cho nhãn
implicit-null R1 quảng bá (propagates) implicit-null đến R2, R2 thực hiện chức năng
POP dữ liệu chuyển tiếp từ R4 tới 10.10.10.101/32 Nếu R1 quảng bá một nhãn
explicit-null, LSR R2 ngược dòng không POP nhãn nhưng gán một giá trị nhãn là 0
Ví d ụ :
R1#show mpls ldp bindings
<output truncated>
tib entry: 10.10.10.101/32, rev 4
local binding: tag: imp-null
remote binding: tsr: 10.10.10.102:0, tag: 16
ra 16 Nhãn ra được nhận từ R2 Nhãn cục bộ 17 được quảng bá bằng sự chia sẻ nhãn đến R4 Nhãn 17 được R4 dùng để chuyển tiếp dữ liệu đến 10.10.10.101/32
Các bước sau biểu diễn đường chuyển tiếp dữ liệu từ R4 tới 10.10.10.101/32
R4 áp đặt nhãn 17 lên gói dữ liệu từ R4 tới 10.10.10.101/32 R3 thực hiện tra cứu
LFIB (LFIB lookup) và hoán đổi nhãn 17 thành 16 và chuyển tiếp gói dữ liệi tới R2
R2 nhận gói dữ liệu từ R3, thực hiện chức năng pop của trạm kế cuối, bóc nhãn 16 và
LAB 2-1: C ấu hình MPLS frame-mode cơ bản
Mô t ả
LSR1#show run
Building configuration
Trang 17Current configuration : 912 bytes
!
version 12.2
service timestamps debug datetime msec
service timestamps log datetime msec
Gateway of last resort is not set
10.0.0.0/8 is variably subnetted, 7 subnets, 2 masks
Prefix Next Hop Interface
0.0.0.0/0 drop Null0 (default route handler entry)
0.0.0.0/32 receive
Trang 18Corresponding hwidb fast_if_number 5
Corresponding hwidb firstsw->if_number 5
Internet address is 10.10.10.1/30
ICMP redirects are always sent
Per packet load-sharing is disabled
IP unicast RPF check is disabled
Inbound access list is not set
Outbound access list is not set
IP policy routing is disabled
BGP based policy accounting is disabled
Interface is marked as point to point interface
Hardware idb is Serial0/1
Fast switching type 4, interface type 60
IP CEF switching enabled
IP CEF Fast switching turbo vector
Input fast flags 0x0, Output fast flags 0x0
ifindex 4(4)
Slot 0 Slot unit 1 Unit 1 VC -1
Transmit limit accumulator 0x0 (0x0)
IP MTU 1500
LSR1#show mpls interfaces
Interface IP Tunnel Operational
Serial0/1 Yes (tdp) No Yes
Trang 19Gateway of last resort is not set
10.0.0.0/8 is variably subnetted, 7 subnets, 2 masks
O 10.10.10.8/30 [110/128] via 10.10.10.6, 00:23:26, Serial0/1
C 10.10.10.0/30 is directly connected, Serial0/0
C 10.10.10.4/30 is directly connected, Serial0/1
O 10.10.10.104/32 [110/129] via 10.10.10.6, 00:23:26, Serial0/1
C 10.10.10.102/32 is directly connected, Loopback0
O 10.10.10.103/32 [110/65] via 10.10.10.6, 00:23:26, Serial0/1
O 10.10.10.101/32 [110/65] via 10.10.10.1, 00:23:26, Serial0/0
Trang 20LSR2#show ip cef
Prefix Next Hop Interface
0.0.0.0/0 drop Null0 (default route handler entry)
Corresponding hwidb fast_if_number 4
Corresponding hwidb firstsw->if_number 4
Internet address is 10.10.10.2/30
ICMP redirects are always sent
Per packet load-sharing is disabled
IP unicast RPF check is disabled
Inbound access list is not set
Outbound access list is not set
IP policy routing is disabled
BGP based policy accounting is disabled
Interface is marked as point to point interface
Hardware idb is Serial0/0
Fast switching type 4, interface type 60
IP CEF switching enabled
IP CEF Fast switching turbo vector
Input fast flags 0x0, Output fast flags 0x0
ifindex 3(3)
Slot 0 Slot unit 0 Unit 0 VC -1
Transmit limit accumulator 0x0 (0x0)
IP MTU 1500
LSR2#show cef int s0/1
Serial0/1 is up (if_number 5)
Corresponding hwidb fast_if_number 5
Corresponding hwidb firstsw->if_number 5
Internet address is 10.10.10.5/30
Trang 21ICMP redirects are always sent
Per packet load-sharing is disabled
IP unicast RPF check is disabled
Inbound access list is not set
Outbound access list is not set
IP policy routing is disabled
BGP based policy accounting is disabled
Interface is marked as point to point interface
Hardware idb is Serial0/1
Fast switching type 4, interface type 60
IP CEF switching enabled
IP CEF Fast switching turbo vector
Input fast flags 0x0, Output fast flags 0x0
ifindex 4(4)
Slot 0 Slot unit 1 Unit 1 VC -1
Transmit limit accumulator 0x0 (0x0)
IP MTU 1500
LSR2#show mpls int
Interface IP Tunnel Operational
Serial0/0 Yes (ldp) No Yes
Serial0/1 Yes (ldp) No Yes
service timestamps debug datetime msec
service timestamps log datetime msec
Trang 22Gateway of last resort is not set
10.0.0.0/8 is variably subnetted, 7 subnets, 2 masks
C 10.10.10.8/30 is directly connected, Serial0/0
Trang 230.0.0.0/0 drop Null0 (default route handler entry)
Corresponding hwidb fast_if_number 4
Corresponding hwidb firstsw->if_number 4
Internet address is 10.10.10.9/30
ICMP redirects are always sent
Per packet load-sharing is disabled
IP unicast RPF check is disabled
Inbound access list is not set
Outbound access list is not set
IP policy routing is disabled
BGP based policy accounting is disabled
Interface is marked as point to point interface
Hardware idb is Serial0/0
Fast switching type 4, interface type 60
IP CEF switching enabled
IP CEF Fast switching turbo vector
Input fast flags 0x0, Output fast flags 0x0
ifindex 3(3)
Slot 0 Slot unit 0 Unit 0 VC -1
Transmit limit accumulator 0x0 (0x0)
IP MTU 1500
LSR3#show cef int s0/1
Serial0/1 is up (if_number 5)
Corresponding hwidb fast_if_number 5
Corresponding hwidb firstsw->if_number 5
Internet address is 10.10.10.6/30
ICMP redirects are always sent
Per packet load-sharing is disabled
IP unicast RPF check is disabled
Trang 24Inbound access list is not set
Outbound access list is not set
IP policy routing is disabled
BGP based policy accounting is disabled
Interface is marked as point to point interface
Hardware idb is Serial0/1
Fast switching type 4, interface type 60
IP CEF switching enabled
IP CEF Fast switching turbo vector
Input fast flags 0x0, Output fast flags 0x0
ifindex 4(4)
Slot 0 Slot unit 1 Unit 1 VC -1
Transmit limit accumulator 0x0 (0x0)
IP MTU 1500
LSR3#show mpls interfaces
Interface IP Tunnel Operational
Serial0/0 Yes (ldp) No Yes
Serial0/1 Yes (ldp) No Yes
Trang 25version 12.2
service timestamps debug datetime msec
service timestamps log datetime msec
Gateway of last resort is not set
10.0.0.0/8 is variably subnetted, 7 subnets, 2 masks
C 10.10.10.8/30 is directly connected, Serial0/1
Prefix Next Hop Interface
0.0.0.0/0 drop Null0 (default route handler entry)
0.0.0.0/32 receive
Trang 26Corresponding hwidb fast_if_number 5
Corresponding hwidb firstsw->if_number 5
Internet address is 10.10.10.10/30
ICMP redirects are always sent
Per packet load-sharing is disabled
IP unicast RPF check is disabled
Inbound access list is not set
Outbound access list is not set
IP policy routing is disabled
BGP based policy accounting is disabled
Interface is marked as point to point interface
Hardware idb is Serial0/1
Fast switching type 4, interface type 60
IP CEF switching enabled
IP CEF Fast switching turbo vector
Input fast flags 0x0, Output fast flags 0x0
ifindex 4(4)
Slot 0 Slot unit 1 Unit 1 VC -1
Transmit limit accumulator 0x0 (0x0)
IP MTU 1500
LSR4#show mpls int
Interface IP Tunnel Operational
Serial0/1 Yes (ldp) No Yes
Trang 27State: Oper; Msgs sent/rcvd: 26/26; Downstream
Trang 28Ch ương 3: TỔNG QUAN VỀ MPLS VPN
công cộng có sẵn để thực thi các kết nối point-to-point giữa các site khách hàng Một
nhau thông qua mạng của nhà cung cấp dịch vụ (SP – service provider) Trong các
khác nhau của cùng khách hàng được kết nối với nhau bằng các kết nối point-to-point
chuyên dụng (lease line, Frame Relay,…) Chi phí thực hiện phụ thuộc vào số lượng
site khách hàng Các site kết nối dạng full mesh sẽ làm gia tăng chi phí theo cấp số
Nhìn chung, VPN gồm các vùng sau:
hàng khác nhau Các router kết nối các site cá nhân với mạng của nhà cung
point-to-point qua hạ tầng mạng của nhà cung cấp dịch vụ Các thiết bị của
nhà cung cấp dịch vụ mà nối trực tiếp vối CE router được gọi là router biên
phía nhà cung cấp (PE – Provifer edge) Mạng của nhà cung cấp còn có các
là các rouer nhà cung cấp (P - Provider) Dựa trên sự tham gia của nhà cung
Khi Frame Relay và ATM cung cấp cho khách hàng các mạng riêng, nhà cung cấp
không thể tham gia vào việc định tuyến khách hàng Các nhà cung cấp dịch vụ chỉ vận
cho khách hàng kết nối ảo tại lớp 2; Đó là mô hình Overlay Nếu mạch ảo là cố định,
permanent virtual circuit) Nếu mạch ảo được thiết lập theo yêu cầu (on-demand) thì được gọi là mạch ảo chuyển đổi (SVC – switch virtual circuit) Hạn chế chính của mô
hình Overlay là các mạch ảo của các site khách hàng kết nối dạng full mesh (ngoại trừ
thì tổng số lượng mạch ảo cần thiết cho việc tối ưu định tuyến là N(N-1)/2
layer) hay mạch chuyển vận lớp 2 (dữ liệu dạng frame hoặc cell) giữa các site khách
hàng bằng cách sử dụng các thiết bị Frame Relay hay ATM switch làm PE Do đó nhà
cung cấp dịch vụ không thể nhận biết được việc định tuyến ở phía khách hàng Sau
đó, Overlay VPN thực thi các dịch vụ qua IP (lớp 3) với các giao thức định đường
cung cấp vẫn trong suốt đối với khách hàng, và các giao thức định tuyến chạy trực
Trang 29Mô hình ngang cấp (peer-to-peer) được phát triển để khắc phục nhược điểm của mô
hình Overlay và cung cấp cho khách hàng cơ chế vận chuyển tối ưu qua SP backbone
Trong mô hình peer-to-peer, thông tin định tuyến được trao đổi giữa các router khách
hàng và các router của nhà cung cấp dịch vụ, dữ liệu của khách hàng được vận chuyển
qua mạng lõi của nhà cung cấp Thông tin định tuyến của khách hàng được mang giữa
các router trong mạng của nhà cung cấp (P và PE), và mạng khách hàng (các CE
router) Mô hình này không yêu cầu tạo ra mạch ảo Quan sát hình trên ta thấy, các
CE router trao đổi tuyến với các router PE trong SP domain Thông tin định tuyến của
khách hàng được quảng bá qua SP backbone giữa các PE và P và xác định được đường đi tối ưu từ một site khách hàng đến một site khác Việc phát hiện các thông tin định tuyến riêng của khác hàng đạt được bằng cách thực hiện lọc gói tại các router kết
trình này xem như là thực thi các PE peer-topeer chia sẻ (shared PE peer-to-peer)
Hình sau mô tả những việc triển khai mô hình peer-to-peer
Trang 30Ki ến trúc và thuật ngữ trong MPLS VPN
Trong kiến trúc mạng MPLS VPN, các router biên mang thông tin định tuyến khách
hàng, cung cấp định tuyến tối ưu cho lưu lượng giữa các site của khách hàng Mô hình
MPLS-based VPN cũng giúp cho khách hàng sử dụng không gian địa chỉ trùng lắp
(overlapping address spaces), không giống như mô hình peer-to-peer truyền thống
trong việc định tuyến lưu lượng khách hàng yêu cầu nhà cung cấp phải gán địa chỉ IP
riêng cho mỗi khách hàng (hoặc khách hàng phải thực hiên NAT) để tránh trùng lắp
không gian địa chỉ MPLS VPN là một dạng thực thi đầy đủ của mô hình peer-to-peer;
MPLS VPN backbone và các site khách hàng trao đổi thông tin định tuyến lớp 3, và
backbone Miền (domain) MPLS VPN, giống như VPN truyền thống, gồm mạng của
khách hàng và mạng của nhà cung cấp Mô hình MPLS VPN giống với mô hình
router PE dành riêng (dedicated PE router model) trong các dạng thực thi VPN ngang
khách hàng, lưu lượng khách hàng được tách riêng trên cùng router PE nhằm cung
Các thành phần chính của kiến trúc MPLS VPN:
các router trải rộng trên nhiều site của cùng một khách hàng Các router CE – là
trên, mạng khách hàng của CustomerA gồm các router CE1-A, CE2-A và các thiết bị
trong Site 1 và Site 2 của CustomerA Các router CE của Customer A là CE1-A và
CE2-A, và router CE của Customer B là CE1-B và CE2-B
Trang 31Mạng của nhà cung cấp – miền thuộc điều khiển của nhà cung cấp gồm các router
biên (edge) và lõi (core) để kết nối các site thuộc vào các khách hàng trong một hạ
biên của nhà cung cấp trong miền MPLS VPN cho khách hàng A và B Router P1, P2,
P3 và P4 là các router nhà cung cấp (provider router)
Mô hình định tuyến MPLS VPN
MPLS VPN giống như mô hình mạng ngang cấp với router dành riêng Từ một router
CE, chỉ cập nhật IPv4, dữ liệu được chuyển tiếp đến router PE CE không cần bất kỳ
(default)) cho phép nó trao đổi thông tin định tuyến IPv4 với các router PE Trong mô
hình MPLS VPN, router PE thực hiện rất nhiều chức năng Trước tiên nó phải phân
tách lưu lượng khách hàng nếu có nhiều hơn một khách hàng kết nối tới nó Vì thế,
backbone thực hiện bằng một tiến trình định tuyến trong bảng định tuyến toàn cục
Router P cung cấp chuyển mạch nhãn giữa các router biên của nhà cung cấp và không
các router P và do đó cấu trúc mạng nội bộ của mạng SP trong suốt đối với khách
hàng Hình sau mô tả chức năng của router PE
VRF - Virtual Routing and Forwarding Table
Khách hàng được phân biệt trên router PE bằng các bảng định tuyến ảo (virtual
routing tables) hoặc các instance, còn được gọi là VRF (virtual routing and
forwarding tables/instances) Thực chất nó giống như duy trì nhiều router riêng biệt
cho các khách hàng kết nối vào mạng của nhà cung cấp chức năng của VRF giống
VPN cụ thể VRF cũng chứa một bảng chuyển tiếp CEF cho VRF riêng biệt
(VRF-specific CEF forwarding table) tương ứng với bảng CEF toàn cục xác định các yêu
Trang 32VRF chứa một bảng định tuyến IP tương ứng với bảng định tuyến IP toàn cục, một
định giao thức định tuyến trao đổi với các router CE (routing protocol contexts) VRF
còn chứa các định danh VPN (VPN identifier) như thông tin thành viên VPN (RD và
RT) Hình sau cho thấy chức năng của VRF trên một touter PE thực hiện tách tuyến
khách hàng
Cisco IOS hỗ trợ các giao thức định tuyến khác nhau như những tiến trình định tuyến
riêng biệt (OSPF, EIGRP,…) trên router Tuy nhiên, một số giao thức như RIP và
BGP, IOS chỉ hỗ trợ một instance của giao thức định tuyến Do đó, thực thi định
các tiến trình riêng biệt (OSPF), hay như nhiều instance của cùng một giao thức định
Chú ý: các giao tiếp VRF có thể là luận lý (logical) hoặc vật lý (physical) nhưng mỗi
giao tiếp chỉ được gán với một VRF
Route Distinguisher, Route Targets, MP-BGP, và Address Families
Trong mô hình MPLS VPN, router PE phân biệt các khách hàng bằng VRF Tuy
nhiên, thông tin này cần được mang theo giữa các router PE để cho phép truyền dữ
khách hàng và quảng bá thông tin này bằng mạng trục chia sẻ của nhà cung cấp
(shared provider backbone) Điều này thực hiện bằng việc kết hợp với RD (route
distinguisher) trong bảng định tuyến ảo (virtual routing table) trên một router PE RD
là một định danh 64-bit duy nhất, thêm vào trước 32-bit địa chỉ tuyến được học từ
router CE tạo thành địa chỉ 96-bit duy nhất có thể được chuyển vận giữa các router PE
trong miền MPLS Do đó chỉ duy nhất một RD được cấu hình cho 1 VRF trên router
Trang 33PE Địa chỉ 96-bit cuối cùng (tổng hợp của 32-bit địa chỉ khách hàng và 64-bit RD) được gọi là một địa chỉ VPNv4
Địa chỉ VPNv4 trao đổi giữa các router PE trong mạng nhà cung cấp RD có thể có
khác nhau, 1:100 và 1:101, ưu tiên quảng bá địa chỉ VPNv4 trên router PE
Giao thức dùng để trao đổi các tuyến VPNv4 giữa các PE là multiprotocol BGP
(MP-BGP) IGP yêu cầu duy trì iBGP (internal BGP) khi thực thi MPLS VPN Do đó, PE
AS Hiện tại, Cisco hỗ trợ cả OSPFv2 và ISIS trong mạng nhà cung cấp như là IGP
MP-BGP cũng chịu trách nhiệm chỉ định nhãn VPN Khả năng mở rộng là lý do chính
phép sử dụng địa chỉ VPNv4 trong môi trường MPLS VPN với dãy địa chỉ trùng lắp
cho nhiều khách hàng
session và kèm theo các nguyên tắc thực thi của iBGP liên quan đến thuộc tính của
BGP (BGP attributes) Nếu VPN mở rộng ra khỏi phạm vi một AS, các VPNv4 sẽ
trao đổi giữa các AS tại biên bằng MP-eBGP session
Route targets (RT) là những định danh dùng trong MPLS VPN domain khi triển khai
MPLS VPN nhằm xác định thành viên VPN của các tuyến được học từ các site cụ thể
ecxtended community (64 bit) mã hóa với một gía trị tương ứng với thành viên VPN
sách các thuộc tính community mở rộng cho VPN router target được kết hợp với nó
Export RT dùng để xác định thành viên VPN và được kết lớp với mỗi VRF Export
các tuyến VPNv4 được thêm vào VRF cho khách hàng cụ thể Định dạng của RT
Trang 34giống như giá trị RD Sự tương tác của RT và giá trị RD trong MPLS VPN domain
khi cập nhật được chuyển thành cập nhật MP-BGP như hình sau
Khi thực thi các cấu trúc mạng VPN phức tạp (như: extranet VPN, Internet access
VPNs, network management VPN,…) sử dụng công nghệ MPLS VPN thì RT giữ vai
trò nồng cốt Một địa chỉ mạng có thể được kết hợp với một hoặc nhiều export RT khi
viên của nhiều VPN
Các tiến trình xảy ra trong suốt quá trình quảng bá tuyến ở hình trên như sau:
PE1-AS1 PE1 kết hợp một giá trị RD 1:100 và một giá trị export RT 1:100 khi cấu hình
cho VRF trên router PE1-AS1 Các tuyến học từ CE1-A được phân phối vào tiến trình
MP-BGP trên PE1-AS1 với prefix 172.16.10.0/24 và thêm vào đầu giá trị RD 1:100
và nối thêm export RT 1:100 để gửi đi địa chỉ VPNv4 khi tham gia cập nhật
MP-iBGP giữa các PE Nhãn VPN (3 byte) được gán cho mỗi địa chỉ học từ các tiến trình
BGP RT
giá trị RT có thể được dùng để thực thi trên cấu trúc mạng VPN phức tạp, trong đó
VPN chỉ được hiểu bởi egress PE (mặt phẳng dữ liệu) kết nối trực tiếp với CE quảng
bá mạng đó Các trạm kế (next hop) phải được học từ IGP khi thực thi MPLS VPN
Trang 35Cập nhật MP-BGP được nhận bởi PE2 và tuyến được lưu trữ trong bảng VRF tương ứng cho Customer A dựa trên nhãn VPN Các tuyến MP-BGP nhận được được phân
Các thuộc tính commynity BGP mở rộng khác như SoO (site of origin) có thể dùng
site cụ thể từ tuyến học được của PE và ứng dụng trong việc chống vòng lặp tuyến
(routing loop) vì nó xác định được nguồn của site nên có thể ngăn việc quảng cáo lại
PE học được SoO cho phép lọc lưu lượng dựa trên site mà lưu lượng đó xuất phát
giữa các site
Khi thực thi một MPLS VPN, mọi VPN site thuộc vào một khách hàng có thể liên lạc
intranet VPN RT có thể được sử dụng để thực hiện cấu trúc VPN phức tạp, các site
management VPN, central services VPN và Internet access VPN có thể được triển
khai
Address family là một khái niệm quan trọng trong hoạt động của MP-BGP cho phép
2283 “Multiprotocol Extensions for BGP-4”, BGPv4 chỉ có khả năng mang thông tin định tuyến thuộc vào IPv4 BGP-4 có thể mang thông tin của nhiều giao thức lớp
(account) một giao thức lớp mạng cụ thể liên quan đế một trạm kế (next hop) như
NLRI (network layer reachability information) Hai thuộc tính mới được thêm vào của
BGP là MP_REACH_NLRI (Multiprotocol Reachable NLRI ) và MP_UNREACH_NLRI (Multiprotocol Unreachable NLRI) MP_REACH_NLRI mang một tập các đích đến được (reachable destination) với thông tin trạm kế được
dùng để chuyển tiếp cho các đích đến này MP_UNEACH_NLRI mang một tập các đích không đến được Cả hai thuộc tính này là optional và nontransitive Vì thế, một
BGP speaker không hỗ trợ tính năng đa giao thức này sẽ bỏ qua thông tin được mang
trong các thuộc tính này và sẽ không chuyển nó đến các BGP speaker khác
PE thực chất là một LER biên (Edge LSR) và thực hiện tất cả chức năng của một
Edge LSR PE yêu cầu LDP cho việc gán và phân phối nhãn cũng như chuyển tiếp
các gói được gắn nhãn Cộng thêm các chức năng của một Edge LSR, PE thực thi một
giao thức định tuyến (hay định tuyến tĩnh) với các EC trong một bảng định tuyến ảo
(virtual routing table) và yêu cầu MP-BGP quảng bá các mạng học được từ CE như
các VPNv4 trong MP-iBGP đến các PE khác bằng nhãn VPN
Router P cần chạy một IGP (OSPF hoặc ISIS) khi MPLS cho phép chuyển tiếp các
NLRI đến các P và PE để thực thi một MP—iBGP session giữa các PE (mặt phẳng điều khiển – control plane) LDP chạy trên các router P để gán và phân phối nhãn
Trang 36Ho ạt động của mặt phẳng điều khiển MPLS VPN
điều khiển của MPLS VPN
Các router CE được kết nối với các PE, và một IGP, BGP, hay tuyến tĩnh (static
route) được yêu cầu trên các CE cùng với các PE để thu thập và quảng cáo thông tin
NLRI Trong MPLS VPN backbone gồm các router P và PE, một IGP kết hợp với
domain IGP dùng để trao đổi thông tin NLRI, ánh xạ (map) các NLRI này vào
MP-BGP MP-BGP được duy trì giữa các PE trong một miền MPLS VPN và trao đổi cập
Các gói từ CE đến PE luôn được quảng bá như các gói Ipv4 Hoạt động của mặt
Trang 37Sau đây là các bước hoạt động của mặt phẳng điều khiển MPLS VPN (minh họa bằng
hình trên): Cập nhật Ipv4 cho mạng 172.16.10.0 được nhận bởi egress PE (mặt phẳng
VPNv4 gắn với RD 1:100, SoO, và RT 1:100 dựa trên cấu hình VRF trên PE1-AS1
10.10.10.101/32 từ PE1-AS1 tới PE2-AS2 nhanh chóng được thay thế ngay khi mạng
MPLS VPN của nhà cung cấp được thiết lập và thực hiện quảng bá VPNv4 trong
2a: Router PE2-AS1 yêu cầu một nhãn cho 10.10.10.101/32 sử dụng LDP ánh
P1-AS1 PE1-AS1 xác định một nhãn implicit-null cho 10.10.10.101/32, chỉnh
LDP reply
2b: P1-AS1 sử dụng nhãn implicit-null nhận được từ PE1-AS1 làm giá trị
nhãn xuất (outbound label) của nó, xác định một nhãn (L1) cho
10.10.10.101/32, và sửa mục trong LFIB cho 10.10.10.101/32 Sau đó P1-AS1
2c: P2-AS1 dùng nhãn L1 làm giá trị nhãn xuất, xác định nhãn L2 cho
10.10.10.101/32, và sửa mục trong LFIB cho 10.10.10.101/32 Sau đó P2-AS1
để nhận các tuyến với RT 1:100 nên chuyển cập nhật VPNv4 thành Ipv4 và
chèn tuyến trong VRF cho Customer A Sau đó nó quảng bá tuyến này tới
CE2-A
Nhãn trên (top lable) được gán và hoán đổi (swap) để chuyển tiếp gói dữ liệu đi trong
lõi MPLS Nhãn thứ hai (nhãn VPN) được kết hợp với VRF ở router PE để chuyển
của SP
Trang 38Khi dữ liệu được chuyển tiếp tới một mạng cụ thể dọc theo mạng VPN qua lõi MPLS,
chỉ có nhãn trên (top lable) trong chồng nhãn bị hoán đổi (swap) khi gói đi qua
backbone Nhãn VPN vẫn giữ nguyên và được bóc ra khi đến router PE ngõ ra
(egress)/xuôi dòng(downstream) Mạng gắn với một giao tiếp ngõ ra thuộc vào một
VRF cụ thể trên router phụ thuộc vào giá trị của nhãn VPN
hình trên: CE2-A tạo ra một gói dữ liệu với địa chỉ nguồn 172.16.20.1 và đích là
172.16.10.1 PE2-AS1 nhận gói dữ liệu, thêm vào nhãn VPN V1 và nhãn LDP L2 rồi
LDP L2 thành L1 P1-AS1 nhận gói dữ liệu và bóc (pop) nhãn trên (top label) ra vì nó
được gán nhãn (nhãn VPN là V1) được chuyển tiếp đến PE1-AS1 PE1-AS1 bóc nhãn
VPN V1 ra và chuyển tiếp gói dữ liệu đến CE1-A nơi có địa chỉ mạng 172.16.10.0 được định vị
Mô t ả
cách của một giao thức định tuyến thông thường Trên PE, bối cảnh định tuyến
(routing context) VRF (hay các bối cảnh họ địa chỉ (address family context)) được
yêu cầu để trao đổi tuyến giữa PE và CE Các tuyến này sau đó được phân phối lẫn
nhau nhờ cào tiến trình MP-BGP trên VRF
cung cấp Các bước tối thiểu để cấu hình chuyển tiếp MPLS trên PE như sau:
1 Cho phép CEF
Các bước này đã được giải quyết ở những chương trước nên ở đây ta chỉ quan tâm đến cấu hình định danh VRF
Trang 39Cấu hình VRF trên PE
RD tạo bảng chuyển tiếp và định tuyến RD được thêm vào đầu địa chỉ Ipv4 của
khách hàng để chuyển chúng thành địa chỉ VPNv4 duy nhất Cấu hình thông số RD
RouterPE(config-vrf)#rd route-distinguisher
RD có thể được dùng theo các dạng sau:
RD chỉ thay đổi khi xóa VRF đi RD là duy nhất cho một VRF cụ thể Không có hai
VRF trên một router mà cùng giá trị RD Nếu thiết lập cùng RD cho nhiều VRF trên
% Cannot set RD, check if it's unique
Trang 40
Cấu hình chính sách nhập và xuất cho các community mở rộng của MP-BGP Chính
sách này dùng để lọc tuyến cho RT cụ thể
Router(config-vrf)#route-target {import | export | both}
route-target-ext-community
trên giao tiếp đó nên phải cấu hình lại
Ví d ụ:
PE1-AS1(config)#interface serial4/0
PE1-AS1(config-if)#ip add 172.16.1.1 255.255.255.252
PE1-AS1(config-if)# ip vrf forwarding CustomerA
% Interface Serial4/0 IP address 172.16.1.1 removed due to enabling VRF
CustomerA PE1-AS1(config-if)#ip add 172.16.1.1 255.255.255.252
Router#show ip vrf
Router#show ip vrf interfaces
VPN Mục đích của bước này là chắc rằng các tuyến VPNv4 có thể được chuyển vận
qua mạng trục của nhà cung cấp bằng MP-iBGP Router P là trong suốt đối với tiến
trình này nên nó không mang bất kỳ tuyến nào của khách hàng Các bước cấu hình