Mối quan hệ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động sẽ được phápluật điều chỉnh như doanh nghiệp nộp thuế cho nhà nước, dân cư mua cổ phiếu, tráiphiếu tín phiếu của các doanh nghiệ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ HỒNG GIANG
PHÁP LUẬT VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
TỪ THỰC TIỄN CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ HỒNG GIANG
PHÁP LUẬT VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
TỪ THỰC TIỄN CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ Luật kinh tế “Pháp luật về tài chính doanhnghiệp từ thực tiễn các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Thành phố Hồ Chí Minh” làcông trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu trong luận văn được thu thập từ thực tế và có nguồn gốc rõ ràng,đáng tin cậy, được xử lý trung thực khách quan và không sao chép của bất cứ côngtrình nghiên cứu nào trước đây
TP Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 08 năm 2019
Tác giả
Ngô Hồng Giang
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 9
1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 9
1.1.1 Định nghĩa và chức năng của tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 9
1.1.2 Các nguồn hình thành tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 11
1.2 Khái niệm pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 12
1.2.1 Định nghĩa pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 12
1.2.2 Đặc điểm pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 13
1.3 Nguồn của pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 15
1.4 Nội dung của pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 16
1.4.1 Các quy định về hình thành, tạo lập vốn và tài sản của doanh nghiệp nhỏ và vừa 17
1.4.2 Các quy định điều chỉnh hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa 17
1.4.3 Các quy định điều chỉnh hoạt động quản lý, sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp nhỏ và vừa 22
1.4.4 Các quy định điều chỉnh hoạt động mua bán, chuyển nhượng vốn, rút vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa. .23
1.4.5 Các quy định về doanh thu, chi phí của doanh nghiệp nhỏ và vừa 26
1.4.6 Các quy định điều chỉnh hoạt động nộp thuế, phí và nghĩa vụ tài chính khác của doanh nghiệp nhỏ và vừa 28
1.4.7 Các quy định điều chỉnh hoạt động phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp .30
1.4.8 Các quy định về hình thành, quản lý và sử dụng các loại quỹ của doanh nghiệp nhỏ và vừa .30 1.4.9 Các quy định điều chỉnh hoạt động tiếp cận Quỹ bảo lãnh tín dụng
Trang 51.5 Chủ thể quan hệ pháp luật tài chính doanh nghiệp 321.6 Khách thể của quan hệ pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 37
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
40
2.1 Thực trạng pháp luật về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 40
2.1.1 Thực trạng pháp luật về hình thành, tạo lập vốn và tài sản của doanh nghiệp nhỏ và vừa 40 2.1.2 Thực trạng pháp luật về điều chỉnh hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa 41 2.1.3 Thực trạng pháp luật về điều chỉnh hoạt động quản lý, sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp nhỏ và vừa 42 2.1.4 Thực trạng pháp luật về điều chỉnh hoạt động chuyển nhượng vốn, rút vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa 43 2.1.5 Thực trạng pháp luật về điều chỉnh hoạt động doanh thu, chi phí của doanh nghiệp nhỏ và vừa 44 2.1.6 Thực trạng pháp luật về điều chỉnh hoạt động nộp thuế, phí, nghĩa vụ tài chính khác của doanh nghiệp nhỏ và vừa 45 2.1.7 Thực trạng pháp luật về hình thành, quản lý, sử dụng các loại quỹ của doanh nghiệp nhỏ và vừa 46 2.1.8 Thực trạng pháp luật về điều chỉnh hoạt động phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp nhỏ và vừa 46 2.1.9 Thực trạng pháp luật về điều chỉnh hoạt động tiếp cận Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa và Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 47
2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về tài chính doanh nghiệp của các doanh nghiệpnhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 48
2.2.1 Thực trạng doanh nghiệp và các yếu tố địa phương tác động đến việc thi hành pháp luật về tài chính doanh nghiệp từ thực tiễn các doanh nghiệp nhỏ và
Trang 62.2.2 Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về tài chính doanh nghiệp của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
54
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
603.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về tài chính doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả thực hiện 60
3.1.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về tài chính doanh nghiệp 60 3.1.2 Định hướng nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa 61
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tài chính doanh nghiệp 613.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa từ thực tiễn các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Hồ Chí Minh 64
KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AFTA (ASEAN Free Trade Area) Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN
ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
(Association of Southeast Asian Nations)
ASEM (The Asia-Europe Meeting) Hội nghị thượng đỉnh Á - Âu
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á –
(Pacific Economic Cooperation) Thái Bình Dương
BTC Bộ Tài chính
CP Chính phủ
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
IFC (International Finance Corporation) Tổ chức tài chính quốc tế
GDP (Gross Dometic Product) Tổng sản phẩm quốc nội
Internet Hệ thống thông tin toàn cầu
NĐ Nghị định
NQ Nghị quyết
QĐ Quyết định
SWOT Mô hình phân tích SWOT
(Strengths, Weaknesses, Opportunities, Threats)
TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh
TT Thông tư
TTg Thủ tướng
WB (World Bank) Ngân hàng thế giới
WTO (World Trade Organization) Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1 Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước đang
phát triển 35
Trang 91 Tính cấp thiết của đề tài
MỞ ĐẦU
“Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, đượcđăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” (Điều 4,Khoản 7, Luật Doanh nghiệp 2015) Tài chính doanh nghiệp bao hàm những nguồnlực tài chính, những quỹ tiền tệ khác nhau, đại diện cho mối quan hệ của các chủ thểtrong xã hội Mối quan hệ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động sẽ được phápluật điều chỉnh như doanh nghiệp nộp thuế cho nhà nước, dân cư mua cổ phiếu, tráiphiếu tín phiếu của các doanh nghiệp của ngân hàng, của kho bạc nhà nước, ngườilao động và các doanh nghiệp nộp tiền vào quỹ Bảo hiểm xã hội,…
Trong điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay, các doanh nghiệpnhỏ và vừa phải tự lo nguồn lực tài chính của mình và sử dụng có hiệu quả cácnguồn lực tài chính của doanh nghiệp và phải sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệuquả các nguồn lực tài chính đã huy động
Tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa là một công cụ khai thác, thu hút cácnguồn tài chính nhằm đảm bảo nhu cầu đầu tư phát triển của doanh nghiệp Để thựchiện quá trình sản xuất kinh doanh trước hết doanh nghiệp phải có vốn kinh doanh,đây là yếu tố vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp Việc thu hút, khai thác đảmbảo vốn cho kinh doanh đối với doanh nghiệp đã trở thành động lực và thúc đẩydoanh nghiệp tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường
Tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò đòn bẩy kích thích và điều tiếtsản xuất kinh doanh thể hiện ở việc tạo ra sức mua hợp lý để thu hút vốn đồng thờicũng phải xác định giá bán hợp lý khi phát hành cổ phiếu, bán hàng hóa, dịch vụ sẽ
có tác động tích cực đến sản xuất kinh doanh, vốn được quay vòng nhanh, khả năngsinh lời lớn
Tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò trong việc sử dụng vốn mộtcách tiết kiệm và có hiệu quả được coi là điều kiện tồn tại và phát triển của mỗidoanh nghiệp Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, yêu cầu sản xuất với,phải bán những sản phẩm mà thị trường cần và chấp nhận chứ không được bán cáimình có,
Trang 10để đáp ứng nhu cầu này người quản lý doanh nghiệp phải sử dụng vốn một cách tiết kiệm và có hiệu quả.
Tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa là công cụ hiệu quả để kiểm tra các hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh thông qua tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp, thông qua các chỉ tiêu như: hệ số nợ, hiệu suất và hiệu quả sửdụng vốn, cơ cấu thành phần vốn Để phát huy có hiệu quả công cụ kiểm tra tàichính, các doanh nghiệp cần phải tổ chức tốt công tác kế toán, xây dựng chỉ tiêuthích hợp, duy trì chế độ phân tích tài chính của doanh nghiệp
Do vậy, vai trò của tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa vô cùng quan trọng vìvậy doanh nghiệp cần phải quản lý tài chính một cách rõ ràng, minh bạch, bên cạnh
đó pháp luật về tài chính doanh nghiệp sẽ giúp đơn vị kinh doanh vững chắc, đúngtheo quy định của Nhà nước
Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa haycòn gọi là doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có quy mô nhỏ xét về góc cạnhvốn, lao động hay lợi nhuận Căn cứ vào quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa có thểchia thành ba loại là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.Tiêu chí để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa được quy định cụ thể theo Điều 6,Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ dựa trên tiêu chí sốlượng lao động, doanh thu hoặc vốn điều lệ
Bên cạnh đó, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Kếhoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ gắn với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bànThành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015 – 2020 Mục đích của chương trình này lànhằm khuyến khích, thu hút doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư, nâng cao năng lựccạnh tranh, phát triển mạnh lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và từng bước hình thànhnhóm ngành sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ để đáp ứng yêu cầu sản xuất, lắpráp sản phẩm hoàn chỉnh trên địa bàn Thành phố, bước đầu tham gia vào chuỗi cungứng Kế hoạch xác định giải pháp, phân công nhiệm vụ các đơn vị có liên quannhằm hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp với các nhiệm vụ chính như sau:
Trang 11- Cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động sảnxuất kinh doanh.
- Tạo môi trường thuận lợi hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệpđổi mới sáng tạo trong nền kinh tế hiện nay
- Bảo đảm quyền kinh doanh, quyền bình đẳng tiếp cận nguồn lực và cơ hộikinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Giảm chi phí kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Theo số liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp của Bộ Kếhoạch và Đầu tư, tính đến ngày 31/12/2018, cả nước có 714.755 doanh nghiệp đanghoạt động, tăng 9,2% so với cùng thời điểm năm 2017, trong đó thành phố Hồ ChíMinh có 228.267 doanh nghiệp, chiếm 31,9% số doanh nghiệp đang hoạt động của
cả nước Bên cạnh đó, theo thống kê một số chỉ tiêu về phát triển doanh nghiệp,Thành phố Hồ Chí Minh đang dẫn đầu như: Số doanh nghiệp đang hoạt độngthời điểm
31/12/2018 với 228.267 doanh nghiệp; Số doanh nghiệp đang hoạt động bình quântrên 1000 dân năm 2018 với 26,5 người; Số lao động trong doanh nghiệp đang hoạtđộng có kết quả sản xuất kinh doanh với 2.937.000 người; Doanh thu thuần củadoanh nghiệp năm 2017 là 4.685.000 tỷ
Tuy nhiên, số liệu điều tra cũng chỉ ra, mặc dù số lượng doanh nghiệp pháttriển nhanh nhưng quy mô doanh nghiệp thì chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và siêunhỏ, hiệu quả của chỉ tiêu lợi nhuận còn nhiều hạn chế Trong tổng số 228.267doanh nghiệp đang hoạt động, chỉ có 83.089 doanh nghiệp hoạt động có lãi, chiếm36,4%; số còn lại là kinh doanh hòa vốn và thua lỗ, do vậy năm 2017, Thành phố
Hồ Chí Minh là địa phương có tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh có lãi thấp nhất cảnước [2]
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về tài chính
doanh nghiệp từ thực tiễn các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình Kết quả nghiên cứu nhằm sáng
Trang 12tỏ một số nội dung lý luận pháp luật về tài chính doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệpvừa và nhỏ tại thành phố Hồ Chí Minh có cái nhìn sâu sắc hơn, toàn diện hơn về sự
Trang 13tác động của pháp luật tài chính đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, từ đó doanh nghiệp có những chính sách, chiến lược phù hợp hơn trong việcthúc đẩy doanh nghiệp hoạt động theo đúng pháp luật, góp phần nâng cao giá trịdoanh nghiệp.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đề tài nghiên cứu pháp luật về tài chính doanh nghiệp từ thực tiễn các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Hồ Chí Minh là một đề tài mới tại Việt Nam hiệnnay
Bên cạnh đó, trong phạm vi luận văn của mình, tác giả xin tập trung tổngquan tình hình nghiên cứu về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa:
Phạm Văn Hồng (2007) “Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
trong quá trình hội nhập quốc tế”, luận án đã tiến hành phân tích và đánh giá về sự
phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Nghiêncứu đã phân tích và tổng kết những vấn đề lý luận chung về doanh nghiệp nhỏ vàvừa, nghiên cứu và phân tích thực trạng môi trường kinh doanh phát triển doanhnghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam cũng như đánh giá thực trạng các doanh nghiệp nhỏ
và vừa trong thời gian qua
Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh phát triển doanhnghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong thời gian tới với nội dung chính:
- Đối với vấn đề chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa, nghiên cứu đã khái quáthóa các nội dung cơ bản của doanh nghiệp nhỏ và vừa, phân tích, đánh giá và cáctiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Nghiên cứu đã phân tích cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp nhỏ vàvừa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Bên cạnh những cơ hội mà các doanhnghiệp nhỏ và vừa sẽ gặt hái được thì các doanh nghiệp cũng phải đối mặt với nhiềuthách thức, phân tích một số yêu cầu đặt ra đối với Nhà nước, các hiệp hội và bảnthân các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 14- Nghiên cứu đưa ra những kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừacủa một số nước trên thế giới, đặc biệt là những nước có điều kiện tương đồng vớiViệt Nam như Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan,…
- Nghiên cứu đã đề cập đến thực trạng môi trường thể chế phát triển doanhnghiệp nhỏ và vừa, tổng kết và phân tích một số văn bản pháp luật và các chính sách
có tác động trực tiếp đến sự phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Bên cạnh đó, thôngqua các kết quả khảo sát, điều tra, nghiên cứu đã đánh giá cụ thể về thực trạng doanhnghiệp nhỏ và vừa làm nền tảng cho các đề xuất và các giải pháp cụ thể đối với Nhànước, các hiệp hội và các doanh nghiệp nhỏ và vừa để tiếp tục đẩy mạnh phát triểndoanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Lê Ngọc Nương (2018) “Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển các doanh
nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thái Nguyên”, luận án đã tập trung phân tích,
đánh giá và lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự phát triển của cácdoanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thái Nguyên Luận án trình bày cơ sở lýluận và thực tiễn về những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp côngnghiệp nhỏ và vừa gồm: trình độ công nghệ sản xuất, chính sách của Nhà nước,nguồn nguyên liệu, lao động, năng lực quản lý, chính sách hỗ trợ của địa phương vàtiếp cận tài chính
Luận án đã đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự phát triểncủa doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thái Nguyên Thông qua phân tíchđịnh lượng bằng mô hình cấu trúc tuyến tính, luận án đã chứng minh được 7 nhân tốđược đưa vào phân tích đều có ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp công nghiệpnhỏ và vừa tỉnh Thái Nguyên gồm: trình độ công nghệ sản xuất, chính sách của Nhànước, nguồn nguyên liệu, lao động, năng lực quản lý, chính sách hỗ trợ của địaphương và tiếp cận tài chính
Trong đó, nhân tố trình độ công nghệ sản xuất và tiếp cận tài chính là hainhân tố có ảnh hưởng lớn nhất Căn cứ vào quan điểm và mục tiêu phát triển doanhnghiệp công nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian tới, kết hợp với những vấn đề còn
Trang 15tồn tại trong phát triển doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Thái Nguyên vàkết quả
Trang 16phân tích mô hình SWOT các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh TháiNguyên, luận án đề xuất 05 nhóm giải pháp:
- Hoàn thiện chính sách về khoa học công nghệ;
- Hoàn thiện chính sách nguồn nguyên liệu cho phát triển doanh nghiệp côngnghiệp nhỏ và vừa;
- Hoàn thiện các chính sách về lao động trong doanh nghiệp công nghiệp nhỏ
2030
Bài tạp chí “Phát triển nguồn tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà
Nội” của tác giả: Trần Thị Thanh Tú, Đinh Thị Thanh Vân đăng trên Tạp chí Khoa
học Đại học Quốc gia Hà Nội: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 31, Số 3 (2015) 21-31.Bài viết tập trung phân tích, đánh giá thực trạng nguồn vốn tài chính của doanhnghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội chủ yếu là vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp;nguồn vốn vay từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng cung cấp cho, doanh nghiệpnhỏ và vừa chưa tương xứng với tiềm năng; những nguyên nhân cơ bản trong việchạn chế doanh nghiệp nhỏ và vừa huy động vốn xuất phát từ yếu tố vĩ mô, trình độnhận thức, quản lý của doanh nghiệp và rào cản về tài sản thế chấp của ngân hàng
Từ đó, các tác giả đề xuất các giải pháp để phát triển nguồn tài chính chodoanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng quản lý, quảntrị kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa: để đối phó với rủi ro và khủng hoảng ;
Trang 17trường và xã hội của Hà Nội; phát triển các sản phẩm cho vay không cần tài sản thếchấp.
Trang 18Những công trình nghiên cứu trên đây đã giúp tác giả có những kiến thức quý
báu để tác giả tham khảo, kế thừa trong quá trình thực hiện để tài luận văn “Pháp
luật về tài chính doanh nghiệp từ thực tiễn các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Hồ Chí Minh”.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm nhận diện thực trạng pháp luật về tàichính doanh nghiệp nhỏ và vừa, những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thựchiện chế định này của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh; từ
đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa
Từ mục tiêu nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn tập trung cácnội dung chính sau đây:
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Thực trạng pháp luật về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa và thực tiễn thựctiễn thực hiện của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh
- Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về tài chính doanh nghiệpnhỏ và vừa và nâng cao hiệu quả thi hành từ thực tiễn các doanh nghiệp nhỏ và vừatại thành phố Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa từthực tiễn thực hiện của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh
- Khách thể nghiên cứu: Luận văn chỉ nghiên cứu tài chính của các doanhnghiệp nhỏ và vừa
- Phạm vi nghiên cứu: Từ khi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có hiệulực (từ 01/01/2018)
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ
Trang 19về nhà nước và pháp luật, về tài chính doanh nghiệp để nghiên cứu, luận giải, giảithích, đánh giá thực trạng pháp luật và đề xuất giải pháp hoàn thiện và thực hiệnpháp luật về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Tác giả luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, phương pháp
hệ thống hóa, tổng hợp ở chương 1 để tìm hiểu một số vấn đề lý luận về tài chínhdoanh nghiệp và pháp luật tài chính doanh nghiệp
- Tác giả luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, so sánh, ởchương 2 để tìm hiểu thực trạng pháp luật tài chính doanh nghiệp tại Việt Nam nóichung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
- Phương pháp tổng hợp, quy nạp, diễn dịch được tác giả luận văn sử dụng ởchương 3 để đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ vàvừa
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Tác giả luận văn hy vọng, kết quả nghiên cứu có thể là tài liệu tham khảo cógiá trị cho các nhà xây dựng chính sách, pháp luật ở trung ương và địa phương trongviệc nghiên cứu, xây dựng pháp luật về tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nghiên cứu này cũng có thể là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viênchuyên ngành Luật kinh tế, quản trị tài chính doanh nghiệp và những ai có nhu cầunghiên cứu sâu hơn về tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa
7 Kết cấu của luận văn
Cấu trúc của luận văn bao gồm: ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tàiliệu tham khảo, nội dung nghiên cứu gồm ba chương chính
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ vàvừa
Chương 2 Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về tài chính doanhnghiệp từ thực tiễn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hồ ChíMinh
Chương 3 Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trang 20Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tếcủa mỗi quốc gia Tại Việt Nam, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số lượng rấtlớn Những doanh nghiệp này đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế, tạo việclàm góp phần tăng thu nhập cho dân cư, ổn định xã hội Mặt khác, các doanh nghiệpnhỏ và vừa có vai trò phục vụ những thị trường ngách của nền kinh tế, điều mà cácdoanh nghiệp lớn không đáp ứng
1.1.1 Định nghĩa và chức năng của tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa là một bộ phận thuộc hệ thống tài chínhcủa kinh tế thị trường Tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa là phạm trù kinh tế kháchquan gắn với kinh tế hàng hóa tiền tệ, tính chất và sự phát triển của tài chính doanhnghiệp và phụ thuộc vào sự phát triển của kinh tế hàng hóa
Tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa tổng hợp các mối quan hệ kinh tế trongquá trình tạo lập, quản lý và sử dụng quỹ tiền tệ trong sản xuất - kinh doanh củadoanh nghiệp nhằm mục tiêu nhất định
Tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa có những chức năng chính sau:
- Xác định và sử dụng nguồn vốn nhằm đảm bảo nhu cầu vốn đầu tư cho quátrình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa gắn liền với quá trình hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp Trong quá trình này có các quan hệ tài chính doanh nghiệp
đa dạng phát sinh như quan hệ giữa các thành viên hoặc cổ đông, những người sởhữu doanh nghiệp với nhau trong góp vốn, mua cổ phần hình thành vốn điều lệ củadoanh nghiệp; quan hệ giữa những người sở hữu doanh nghiệp với nhau hoặc vớibên thứ ba trong mua bán, chuyển nhượng vốn, cổ phần; quan hệ giữa các thànhviên hoặc cổ đông, những người sở hữu doanh nghiệp với nhau trong chia lợi
Trang 21nhuận, lợi tức; quan hệ thanh toán với các chủ thể khác trong xã hội trong thực hiệnthanh toán các
Trang 22hợp đồng; quan hệ nộp thuế giữa doanh nghiệp và Nhà nước; quan hệ tín dụng vớingân hàng thương mại hay các tổ chức tín dụng; quan hệ trả lương giữa người sửdụng lao động và người lao động,
Sự luân chuyển của quỹ tiền tệ, vốn kinh doanh gắn liền với các yếu tốnguyên vật liệu và sức lao động; ngoài phần đầu tư ban đầu, tài chính doanh nghiệpcòn được bổ sung từ kết quả kinh doanh; sự vận động vốn kinh doanh vì mục tiêulợi nhuận
- Chức năng phân phối thu nhập của doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng động viên khai thác các nguồn vốn tàichính trong nền kinh tế để hình thành vốn kinh doanh và sử dụng vốn vào các mụcđích khác nhau Nguồn tài chính chủ yếu cho quá trình hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay là nguồn vốn tự có của chủ doanhnghiệp, ở mỗi loại hình doanh nghiệp, nguồn vốn còn được khai thác từ thị trườngvốn và thị trường tiền tệ trong dân cư như phát hành cổ phiếu, trái phiếu, cũng nhưnhững khoản đầu tư từ nước ngoài
Chức năng phân phối thể hiện công dụng và khả năng của phạm trù tài chínhtrong việc phân phối dưới hình thức giá trị của cải xã hội trên các khâu của quá trìnhtái sản xuất, phân phối trong sản xuất, trong trao đổi và tiêu dùng
- Chức năng giám đốc trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp Thể hiện khả năng của tài chính trong việc giám sát tính mục đích, tính hiệu
quả của việc tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp Cũng như chứcnăng phân phối, chức năng giám đốc của tài chính doanh nghiệp là khả năng mangtính khách quan và nhờ vào đó có thể phát hiện những hạn chế trong khâu phân phối
và điều chỉnh quá trình phân phối nhằm thực hiện mục tiêu hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp
Có thể nói, thuộc tính khách quan của chức năng giám đốc của tài chínhdoanh nghiệp được xuất phát từ nguyên lý sau đây: doanh nghiệp khi bỏ vốn vào
Trang 23thu được là yếu tố quan trọng nhất, quyết định phương hướng và cách thức đầu tưcủa doanh
Trang 24nghiệp, chính vì vậy đòi hỏi tất yếu là phải có quá trình giám sát tính hiệu quả của việc sử dụng đồng vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2 Các nguồn hình thành tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa
Để tiến hành một quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cũng cần phải
có vốn, đây được hiểu là ngân sách của doanh nghiệp để phục vụ hoạt động sản xuất
và kinh doanh của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, vốn là điều kiện tiênquyết có ý nghĩa quyết định đến các bước tiếp theo của quá trình kinh doanh, điềunày đóng vai trò vô cùng quan trọng, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình và vôhình được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục tiêu tạo ra lợi nhuận Vốn kinh doanhtrong doanh nghiệp là dòng tiền tệ nhằm phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh.Vốn kinh doanh phải có trước khi diễn ra hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Vốn kinh doanh sau khi ứng ra được sử dụng vào kinh doanh và sau mộtchu kỳ hoạt động phải được thu về để ứng tiếp cho chu kỳ hoạt động tiếp theo
Vốn kinh doanh của một doanh nghiệp vừa và nhỏ được huy động, khai thác
Bên cạnh đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo theo Điều 6 Luật
Trang 25- Nguồn vốn tín dụng có hỗ trợ, bảo lãnh của Nhà nước;
- Nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước;
- Nguồn vốn hỗ trợ từ miễn, giảm thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất, tiền sử dụngđất và các khoản khác phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;
- Nguồn vốn hợp pháp từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.Tuy nhiên, nguồn vốn hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được quy định trên phải
được lập dự toán, thẩm định, phê duyệt, quyết toán theo quy định của pháp luật
Ngoài ra, theo Điều 8, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng quy định vềviệc hỗ trợ tiếp cận tín dụng cho các doanh nghiệp
1 Trong từng thời kỳ, Chính phủ quyết định chính sách hỗ trợ tổ chức tíndụng tăng dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa; khuyến khích tổ chức tíndụng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên xếp hạng tín nhiệm doanhnghiệp và biện pháp phù hợp khác; khuyến khích thành lập tổ chức tư vấn độc lập
để xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa được cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ xây dựngphương án sản xuất, kinh doanh khả thi, tăng cường năng lực quản trị, kỹ năng quản
lý, minh bạch hóa tài chính của doanh nghiệp để nâng cao khả năng tiếp cận tíndụng
3 Doanh nghiệp nhỏ và vừa được cấp bảo lãnh tín dụng tại Quỹ bảo lãnh tíndụng doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định tại Điều 9 của Luật này
1.2 Khái niệm pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.1 Định nghĩa pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa
Pháp luật về tài chính doanh nghiệp là tổng hợp các văn bản pháp luật mangtính bắt buộc chung, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và đượccông bố công khai để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tạo lập,phân phối và sử dụng các loại vốn của doanh nghiệp và quỹ tiền tệ nhằm mục đíchthực hiện các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 26Pháp luật về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa là tổng hợp các văn bản phápluật mang tính bắt buộc chung và các văn bản riêng hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ vàvừa, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và được công bố công khai
Trang 27để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sửdụng các loại vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa; sử dụng, quản lý quỹ tiền tệ nhằmmục đích thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ vàvừa.
1.2.2 Đặc điểm pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa
Pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa là một bộ phận của hệ thốngpháp luật tài chính doanh nghiệp Pháp luật tài chính doanh nghiệp tổng hợp các quyphạm pháp luật trong hệ thống các văn bản pháp luật, điều chỉnh các quan hệ tàichính phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng các loại vốn và quỹ tiền
tệ của doanh nghiệp nhằm phục vụ mục đích sản xuất - kinh doanh của doanhnghiệp
Đặc điểm của pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa mang tính chấtcủa pháp luật tư, trong đó, thể hiện ở các điểm sau đây:
- Pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa làm cơ sở pháp lý đánh giá hoạtđộng hợp pháp của doanh nghiệp trong sản xuất - kinh doanh
- Pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa bị chi phối bởi tính chất củacác quan hệ kinh tế của doanh nghiệp như sở hữu vốn, hoạt động kinh doanh của hệthống doanh nghiệp quốc gia
- Tính chặt chẽ của pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa: do tính chấtphức tạp của quan hệ tài chính doanh nghiệp nên đòi hỏi pháp luật tài chính doanhnghiệp nói chung, pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa nhỏ và vừa nói riêngcần được quy định chặt chẽ cả về nội dung và thủ tục
- Pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa vừa mang tính chuyên ngành(điều chỉnh lĩnh vực tài chính của doanh nghiệp); vừa mang tính liên ngành (đượcquy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau)
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa là:+ Doanh nghiệp: doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quyđịnh của pháp luật về doanh nghiệp, đáp ứng các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ
và vừa theo quy định của pháp luật
Trang 28+ Cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.(Điều 2, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017)
Trang 29- Phương pháp điều chỉnh của của pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ vàvừa là các phương tiện, biện pháp, cách thức tác động lên các quan hệ xã hội dopháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa điều chỉnh Thông qua đó, pháp luật tácđộng vào các quan hệ tài chính một cách đồng bộ làm nảy sinh, xác lập, bảo vệ, pháttriển hoặc phòng ngừa, ngăn cấm, hạn chế đến sự nảy sinh, tồn tại, phát triển cácquan hệ tài chính mà nhà cầm quyền mong muốn trong các lĩnh vực hoạt động nhấtđịnh của Nhà nước, doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Có sự kết hợp giữa quy phạm pháp luật với các quy định nội bộ của doanhnghiệp Pháp luật vừa có những quy định (nội dung và thủ tục) bắt buộc hoặc hướngdẫn doanh nghiệp thực hiện (ví dụ pháp luật về trích lập quỹ, pháp luật thuế, kếtoán,…), vừa tạo cơ sở pháp lý hình thành các quy định nội bộ doanh nghiệp thểhiện sự tự chủ của doanh nghiệp trong kinh doanh như: quy chế trả lương, quy chếchi tiêu nội bộ, quy định về phân phối lợi nhuận,…
- Pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa điều chỉnh các mối quan hệ tàichính bên trong doanh nghiệp và các mối quan hệ tài chính bên ngoài doanh nghiệp.Pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa điều chỉnh các mối quan hệ tài chínhbên trong doanh nghiệp như quan hệ giữa các đồng sở hữu của doanh nghiệp vớinhau và với doanh nghiệp trong quá trình tạo lập, chuyển nhượng vốn, quản lý, sửdụng vốn, tài sản, các quỹ tài chính của doanh nghiệp và phân phối lợi nhuận Phápluật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa khác với các quy định nội bộ của doanhnghiệp nhỏ và vừa Các mối quan hệ về doanh thu, chi phí, lợi nhuận, trích lập và sửdụng các quỹ chủ yếu do điều lệ của doanh nghiệp nhỏ và vừa quy định vì mỗidoanh nghiệp có những quy định nội bộ riêng; tuy nhiên các mối quan hệ tài chínhnày phải phù hợp với quy định của pháp luật Chẳng hạn, doanh nghiệp phải có một
số quỹ nhất định và mục đích sử dụng, mức trích lập quỹ thường được pháp luật quyđịnh Ngoài ra, pháp luật còn điều chỉnh các mối quan hệ tài chính doanh nghiệpnhỏ và vừa bên ngoài doanh nghiệp như nộp thuế cho Nhà nước, vay tín dụng củangân hàng hay các tổ chức tín dụng,…
Trang 301.3 Nguồn của pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nguồn của pháp luật về tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa là các văn bảnpháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xãhội phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các loại vốn và quỹ tiền
tệ nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Hệ thống pháp luật về tài chính doanh nghiệp vừa và nhỏ, bao gồm:
- Hiến pháp năm 2013: các quy định về thành phần kinh tế, về sở hữu, vềdoanh nghiệp, về đầu tư,…
- Bộ luật dân sự năm 2015: các quy định về thành phần kinh tế, về sở hữu, vềdoanh nghiệp, về pháp nhân,…
- Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017;
- Luật Doanh nghiệp năm 2014;
- Luật Đầu tư năm 2014;
- Luật Đất đai: các quy định về tài chính đất đai đối với doanh nghiệp
- Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 và Luật quản lý, sử dụng vốn nhànước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp: đối với doanh nghiệp cóvốn của Nhà nước
- Luật Chứng khoán 2006 (sửa đổi 2010);
- Luật Các tổ chức tín dụng 2010;
- Các luật về thuế;
- Luật Kiểm toán độc lập năm 2011;
- Luật Kế toán năm 2015
Một số văn bản dưới luật quan trọng, bao gồm:
- Nghị định s ố 163 / 20 1 6/N Đ -CP ng ày 21 tháng 12 năm 2016 của Chính phủquy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước;
- Nghị định số 34/2018/NĐ-CP ngày 08 tháng 03 năm 2018 của Chính phủ
về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệpnhỏ và vừa;
Trang 31- Nghị định số 38/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 03 năm 2018 của Chính phủquy định chi tiết về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo;
- Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 03 năm 2018 của Chính phủ
hướng dẫn quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
1.4 Nội dung của pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa
Pháp luật tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa điều chỉnh các nhóm quan hệ xãhội, tạo thành các nhóm quy phạm sau đây:
- Nhóm quy phạm tạo cơ sở pháp lý hình thành, tạo lập vốn và tài sản củadoanh nghiệp nhỏ và vừa
- Nhóm quy phạm điều chỉnh hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp nhỏ
Trang 321.4.1 Các quy định về hình thành, tạo lập vốn và tài sản của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa được hình thành từ đầu tư (doanh nghiệp
tư nhân), góp vốn (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh) và mua cổ phần(công ty cổ phần) Theo Luật doanh nghiệp (khoản 13 Điều 4), góp vốn là việc góptài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty Tổng giá trị tài sản do các thành viên đãgóp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danhđược gọi là vốn điều lệ Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặcgóp thêm vốn điều lệ của công ty đã được thành lập Pháp luật cấm kê khai khốngvốn điều lệ, không góp đủ vốn điều lệ như đã đăng kí, cố ý định giá tài sản góp vốnkhông đúng giá trị (khoản 5 Điều 17)
1.4.2 Các quy định điều chỉnh hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp nhỏ
và vừa
Vốn kinh doanh của một doanh nghiệp được huy động, khai thác từ nhữngnguồn vốn sau:
1.4.2.1 Nguồn vốn thuộc chủ sở hữu
Đây là nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp Đối với các loại hìnhdoanh nghiệp khác nhau, nguồn hình thành nguồn vốn này cũng khác nhau
Theo quy định của pháp luật, để được kinh doanh trong một lĩnh vực cụ thể,nguồn vốn này phải đạt đến một mức độ nhất định
Các doanh nghiệp thường xác định quy mô nguồn vốn chủ sở hữu ở mức vừaphải để vừa tranh thủ các khoản nợ, làm tăng mức doanh lợi vốn và vừa san sẻ rủi rotrong kinh doanh
1.4.2.2 Các nguồn vốn tín dụng
Vốn từ nguồn tín dụng là các khoản vốn mà doanh nghiệp có thể huy độngdưới hình thức vay của các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảohiểm, hoặc các tổ chức tài chính trung gian khác và cũng có thể bằng hình thứcdoanh nghiệp phát hành trái phiếu để huy động vốn cho đầu tư phát triển sản xuất
Trang 33Những hình thức tín dụng điển hình hiện nay bao gồm:
- Tín dụng ứng tiền qua tài khoản,
đi vay phải có tài khoản tại một ngân hàng nhất định, vì thế uy tín của người đi vay
là điều kiện thay cho việc bảo lãnh hoặc cầm cố, thế chấp tài sản
Tín dụng thương mại cũng là một hình thức tín dụng khá phổ biến Khác vớitín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại là khoản vay tương đương với giá trị hànghóa mua bán chịu giữa người mua và người bán
Theo quy định của pháp luật các doanh nghiệp thỏa mãn các điều kiện củapháp luật sẽ được vay vốn ở các tổ chức tín dụng trên cơ sở giao kết hợp đồng tíndụng ngân hàng
Tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng vốn, các doanh nghiệp có thể được vay vốntheo các kỳ hạn khác nhau như ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Nguồn vốn tín dụngngắn hạn đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động của các doanh nghiệp trong kinh doanh.Nguồn vốn tín dụng trung hạn và dài hạn đáp ứng nhu cầu về vốn của doanh nghiệp
để mua sắm tài sản cố định, sửa chữa mới, mở rộng quy mô thiết bị, máy móc, dâychuyền công nghệ trong sản xuất kinh doanh
Ngoài ra, doanh nghiệp có thể được vay vốn tại ngân hàng đầu tư và pháttriển để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp các công trình xây dựng cơ bảntrong sản xuất, kinh doanh
Dẫn chứng căn cứ pháp lý về huy động vốn trong công ty cổ phần:
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định:
"3- Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn".(theo khoản 3 Điều 110)
Trang 34"3-Cổ phần được quyền chào bán c ủa công ty cổ phần là tổng số cổ phần cácloại mà Đại hội đồng c ổ đông q uyết định sẽ chào bán để huy động vốn Số cổ phầnđược quyền chào bán của công ty cổ phần tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp làtổng số cổ phần các loại mà công ty sẽ bán để huy động vốn, bao gồm cổ phần đãđược đăng ký mua và cổ phần chưa được đăng ký mua.
5- Công ty có thể thay đổi vốn ề u l ệ t đi rong các trường hợp theo quyết địnhcủa Đại hội đồng cổ đông, công ty hoàn trả một phần vốn góp cho cổ đông theo tỷ lệ
sở hữu cổ phần của họ trong công ty nếu công ty đã hoạt động kinh doanh liên tụctrong hơn 02 năm, kể từ ngày đăng ký doanh nghiệp và bảo đảm thanh toán đủ cáckhoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho cổ đông;" (Khoản 3, 5Điều
111)
Như vậy, công ty cổ phần có thể huy động vốn bằng cách:
1 Chào bán cổ phần là việc công ty tăng thêm số lượng cổ phần được quyềnchào bán và bán các cổ phần đó trong quá trình hoạt động để tăng vốn điều lệ
Hội đồng quản trị sẽ quyết định thời điểm, phương thức và giá bán cố phần.Giá bán cố phần không được thấp hơn giá thị trường tại thời điếm chào bán hoặc giátrị được ghi trong sổ sách của cổ phần tại thời điểm gần nhất, trừ trường hợp:
(i) Cổ phần chào bán lần đầu tiên cho những người không phải là cổ đông sáng
- Chào bán cho các cổ đông hiện hữu.
(i) Chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu là trường hợp công ty tăng thêm
Trang 35(ii) Chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu của công ty cổ phần không phải
là công ty cổ phần đại chúng thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014(khoản 2 Điều 124 Luật Doanh nghiệp 2014) Công ty phải thông báo bằng văn bảnđến các cổ đông chậm nhất 15 ngày trước ngày kết thúc thời hạn đăng ký mua cổphần Kèm theo thông báo phải có mẫu phiếu đăng ký mua cổ phần do công ty pháthành Trường hợp phiếu đăng ký mua cổ phần không được gửi về công ty đúng hạnnhư thông báo thì cổ đông có liên quan coi như đã không nhận quyền ưu tiên mua
cổ đông có quyền chuyển quyền ưu tiên mua cổ phần của mình cho người khác.Trường hợp cổ phần dự kiến chào bán không được cổ đông và người nhận chuyểnquyền ưu tiên mua đăng ký mua hết thì Hội đồng quản trị có quyền bán số cổ phầnđược quyền chào bán còn lại cho cổ đông hoặc người khác theo cách thức hợp lývới điều kiện không thuận lợi hơn những điều kiện đã chào bán cho các cổ đông, trừtrường hợp Đại hội đồng cổ đông có chấp thuận khác hoặc cổ phần được bán qua Sởgiao dịch chứng khoán
(iii) Chào bán cổ phần của công ty cổ phần niêm yết và đại chúng thực hiệntheo các quy định của pháp luật về chứng khoán
- Chào bán cổ phần ra công chúng.
Chào bán cổ phần ra công chúng là việc chào bán cổ phần theo một trong cácphương thức sau đây:
(i) Thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả Internet;
(ii) Chào bán cổ phần cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tưchứng khoán chuyên nghiệp;
(iii) Chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định.Hình thức chàobán cổ phần ra công chúng bao gồm chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng, chàobán thêm cổ phần hoặc quyền mua cổ phần ra công chúng và các hình thức khác.Điều kiện chào bán cổ phần ra công chúng gồm:
(iv) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán
từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kể toán;
Trang 36(v) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải cólãi, đồng thời không có lỗ kế tính đến năm đăng ký chào bán;(vi) Có phương án pháthành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổđông thông qua.
Chào bán cổ phần ra công chúng thực hiện theo các quy định của pháp luật vềchứng khoán
- Chào bán cổ phần riêng lẻ
(i) Chào bán cổ phần riêng lẻ là việc công ty cổ phần chào bán cổ phần chodưới một trăm nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp vàkhông sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc internet
(ii) Việc chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty cổ phần đại chúng được thựchiện theo quy định của pháp luật chứng khoán
(iii) Việc chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty cổ phần không phải là công
ty cổ phần đại chúng được thực hiện theo quy định tại Điều 123 Luật Doanhnghiệp
2014 Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định chào bán cổ phầnriêng lẻ, công ty phải thông báo việc chào bán cổ phần riêng lẻ với cơ quan đăng kýkinh doanh Công ty có quyền bán cổ phần sau 05 ngày làm việc, kể từ ngày gửithông báo mà không nhận được ý kiến phản đổi của Cơ quan đãng ký kinh doanh
2 Phát hành phiếu,trái trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác theoquy định của pháp luật và Điều lệ công ty để huy động vốn
Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người
sở hữu đối với một phần vốn nợ của công ty cổ phân phát hành Trái phiếu thực chất
là một hợp đồng vay để tăng vốn vay của công ty
Trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần có quyền phát hành trái phiếutheo quy định của pháp luật để đáp ứng nhu cầu cho vốn kinh doanh Trường hợpĐiều lệ công ty không quy định khác thì Hội đồng quản trị có quyền quyết định loạitrái phiếu, tông giá trị trái phiếu và thời điểm phát hành
Trang 37(i) Không thanh toán đủ cả gốc và lãi của trái phiếu đã phát hành;
Trang 38(ii) Không thanh toán hoặc thanh toán không đủ các khoản nợ đến hạn trong
03 năm liên tiếp trước đó
Việc phát hành trái phiếu cho các chủ nợ là tổ chức tài chính được lựa chọnkhông bị hạn chế bởi quy định trên
3 Một số hình thức huy động vốn khác
Ngoài các hình thức huy động vốn nêu trên, có thể kể đến các hình thức huyđộng vốn khác được ghi nhận trong Điều lệ như vay tài sản, vay tín dụng, chuyển từcác quỹ sở hữu, giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư và chuyển thành cổ phần cho các cổđông, chuyển trái phiếu thành cổ phiếu theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông vàquy định của pháp luật,
1.4.3 Các quy định điều chỉnh hoạt động quản lý, sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của vốn cố định gắn liềnvới hình thái biểu hiện vật chất của nó là tài sản cố định Tài sản cố định trong cácdoanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu, mà đặc điểm của chúng là tham giavào chu kỳ sản xuất Trong quá trình đó, giá trị của tài sản cố định không bị tiêu haohoàn toàn trong lần sử dụng đầu tiên mà nó được chuyển dịch dần dần từng phầnvào giá thành sản phẩm của các chu kỳ sản xuất tiếp theo
Nếu phân chia theo hình thái vật chất, tài sản cố định có hai loại là tài sản cốđịnh hữu hình và tài sản cố định vô hình
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhìn chung tài sản cố định không bịthay đổi hình thái hiện vật nhưng năng lực sản xuất và giá trị của chúng bị giảmdần, tức là tài sản cố định bị hao mòn Có hai loại hao mòn tài sản là hao mòn hữuhình và hao mòn vô hình Những tài sản cố định có hình thái vật chất thường bị cảhai loại hao mòn, còn những tài sản cố định có hình thái phi vật chất thì chỉ bị haomòn vô hình như bằng phát minh sáng chế, thương hiệu sản phẩm,…
Bộ phận giá trị đại diện cho phần hao mòn được gọi là khấu hao Tiền khấuhao là một yếu tố chi phí sản xuất, một bộ phận của giá thành sản phẩm Khi sản
Trang 39khấu hao dùng để tái sản xuất giản đơn tài sản cố định nên người ta còn gọi là quỹkhấu hao cơ bản.
Trong nền kinh tế có nhiều loại hình doanh nghiệp thuộc các hình thức sởhữu khác nhau Do đó, sự điều chỉnh của pháp luật đối với quá trình tạo lập, quản
lý, sử dụng và định đoạt vốn cố định của các loại hình doanh nghiệp có sự khácnhau
Doanh nghiệp phải có kế hoạch sử dụng và những giải pháp bảo toàn, pháttriển vốn lưu động Bảo toàn vốn lưu động là bảo toàn được giá trị thực của vốn, bảođảm được sức mua của vốn không bị giảm sút so với ban đầu
Trong nền kinh tế thị trường, hướng đầu tư của một doanh nghiệp không chỉkhép kín, giới hạn trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp mà còn có thể đầu tư một bộphận vốn kinh doanh của doanh nghiệp được đầu tư dài hạn bên ngoài nhằm mụcđích sinh lời, được gọi là đầu tư ngân sách của doanh nghiệp
Đầu tư ngân sách của doanh nghiệp ra bên ngoài nhằm tìm kiếm lợi nhuận vàbảo đảm an toàn về vốn Có nhiều hình thức đầu tư ngân sách ra bên ngoài như:doanh nghiệp bỏ vốn để mua cổ phiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp khác, gópvốn liên doanh với các doanh nghiệp khác
Trong nhiều trường hợp, nhờ đầu tư ngân sách ra bên ngoài mà doanh nghiệp
có thể tự tháo gỡ được nguy cơ phá sản, giải tỏa cho hướng đầu tư đang bế tắc Tuynhiên, điều quan trọng nhất khi đi tới quyết định đầu tư ngân sách ra bên ngoài làdoanh nghiệp phải cân nhắc độ an toàn và tin cậy của dự án Đầu tư ngân sách củadoanh nghiệp ra bên ngoài là một bộ phận của quyền tự do kinh doanh của doanhnghiệp trong nền kinh tế thị trường Tất cả các loại hình doanh nghiệp đều có quyềnnày Tuy vậy, điều kiện để thực hiện quyền đầu tư ngân sách được pháp luật quyđịnh cho mỗi loại hình doanh nghiệp có khác nhau
1.4.4 Các quy định điều chỉnh hoạt động mua bán, chuyển nhượng vốn, rút vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Đối với doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn:
Theo Luật Doanh nghiệp 2014, các vấn đề pháp lý liên quan đến việc chuyểnnhượng vốn góp gồm mua lại phần vốn góp và chuyển nhượng phần vốn góp
Trang 40+ Mua lại phần vốn góp: trường hợp thành viên Công ty bỏ phiếu không tánthành đối với quyết định của Hội đồng thành viên về các vấn đề sau thì có quyềnyêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình: sửa đổi, bổ sung các nội dung trongĐiều lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thànhviên; tổ chức lại công ty; các trường hợp khác quy định tại Điều lệ công ty.
Yêu cầu mua lại phần vốn góp phải bằng văn bản và được gửi đến công tytrong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông qua quyết định vấn đề trên Trong thời hạn
15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu Công ty phải mua lại phần vốn góp củathành viên theo giá thỏa thuận hoặc giá thị trường hoặc giá theo nguyên tắc trongĐiều lệ Việc thanh toán chỉ được thực hiện sau khi thanh toán đủ phần vốn gópđược mua lại, công ty đã thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác cóliên quan
Trường hợp công ty không mua lại phần vốn góp thì thành viên đó có quyềnchuyển nhượng phần vốn góp của mình cho thành viên khác hoặc người khác khôngphải là thành viên
+ Chuyển nhượng phần vốn góp: trường hợp Công ty không mua lại phầnvốn góp theo quy định trên, thành viên có quyền tự do chuyển nhượng phần vốngóp thì trình tự chuyển nhượng phần vốn góp được thực hiện như sau: phải chàobán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn gópcủa họ trong công ty với cùng điều kiện; chỉ được chuyển nhượng cho người khôngphải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc khôngmua hết trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày chào bán
- Đối với doanh nghiệp Cổ phần:
Doanh nghiệp cổ phần quy định cổ đông "không được rút vốn đã góp bằng cổphần phổ thông dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khácmua lại cổ phần" (Khoản 1 Điều 115 Luật Doanh nghiệp năm 2014) nhưng "được tự
do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông khác và cho người không phải là
cổ đông" (điểm d Khoản 1 Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm 2014) Tuy nhiên, xuất